Để rèn luyện tư duy và nâng cao năng lực nhận thức cho học sinh có nhiều phương pháp trong việc tổ chức hoạt động của học sinh trong quá trình học tập, việc sử dụng phương pháp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội dung kiến thức của từng bài, từng phần và đối tượng học sinh, điều kiện, phương tiện dạy học…. Sử dụng phiếu trong hoạt động học tập nhằm để học sinh tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử nghiêm, quy nạp, suy diễn để tìm ra kiến thức, giải quyết vấn đề. Hoạt động này phù hợp với nội dung kiến thức học sinh phải nắm mà tôi đã áp dụng trong quá trình dạy chương II: “Tính quy luật của hiện tượng di truyền” – Sinh học lớp 12 Ban KHTN và đã đem lại hiệu quả thiết thực.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH HỌC
-TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH HỌC 12
ĐỀ TÀI: Sử dụng kênh hình để thiết kế phiếu học tập trong dạy học
Chương I – Cá thể và quần thể sinh vật, Sinh học 12 (cơ bản)
Ths.Phạm Thị Phương Anh Hoàng Thị Thơ
Lớp : Sinh 4B MSV: 14S3011131
Huế, tháng 11 năm 2017
Trang 2PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Khi soạn bài theo phương pháp học tập thụ động, giáo viên dự kiến chủ yếu lànhững hoạt động trên lớp của chính mình ( thuyết trình, giảng giải, vẽ sơ đồ, biểu diễnphương tiện trực quan, đặt câu hỏi…), hình dung trước chút ít về hành động hưởngứng của học sinh ( sẽ trả lời như thế nào, sẽ rút ra nhận xét gì khi giáo viên biểu diễntranh, sẽ có ý kiến gì khi thầy giáo trình bày một bảng số liệu, đưa ra một vấn đềmới )
Khi mà lượng thông tin ngày càng nhiều, thời gian học tập trên lớp của họcsinh lại có hạn, đặc biệt chương trình sinh học lớp 12 nâng cao với tổng số tiết theophân phối chương trình của Bộ GD – ĐT là 70 tiết/năm học, gồm 3 phần lớn: Ditruyền; tiến hoá, sinh thái học ( Bằng lượng kiến thức của chương trình lớp 11, 12không phân ban) Theo phương pháp dạy học thụ động, thông tin đi theo một chiều từthầy đến trò chắc chắn sẽ không đạt được mục tiêu của bài học, chính vì vậy khi soạnbài những dự kiến của giáo viên trong một tiết dạy phải tập trung chủ yếu vào các hoạtđộng của học sinh, đặt học sinh vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, thầy chỉđạo, điều khiển để học sinh tự lực lĩnh hội kiến thức, phải tạo điều kiện cho học sinhđược suy nghỉ tích cực, bộc lộ những suy nghỉ của mình trong quá trình thảo luận,tranh luận trong nhóm và tích cực tìm ra tri thức dưới sự chỉ dẫn của giáo viên
Cố gắng khắc phục tình trạng “truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duysáng tạo của người học” là tư tưởng chỉ đạo cho việc đổi mới phương pháp dạy họcđang đặt ra cho toàn Ngành giáo dục ( Nghị quyết Trung ương II khoá VIII)
Để rèn luyện tư duy và nâng cao năng lực nhận thức cho học sinh có nhiềuphương pháp trong việc tổ chức hoạt động của học sinh trong quá trình học tập, việc
sử dụng phương pháp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội dung kiến thức của từngbài, từng phần và đối tượng học sinh, điều kiện, phương tiện dạy học… Sử dụngphiếu trong hoạt động học tập nhằm để học sinh tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thửnghiêm, quy nạp, suy diễn để tìm ra kiến thức, giải quyết vấn đề Hoạt động này phùhợp với nội dung kiến thức học sinh phải nắm mà tôi đã áp dụng trong quá trình dạychương II: “Tính quy luật của hiện tượng di truyền” – Sinh học lớp 12 Ban KHTN và
đã đem lại hiệu quả thiết thực
Trong tất cả các tài liệu, sách giáo khoa phục vụ cho giảng dạy, học tập ở cácmôn học đều được biên soạn dựa trên hai kênh cơ bản đó là: Kênh chữ và kênh hình.Kênh chữ giúp cho học sinh, giáo viên đọc để nắm những kến thức cơ bản của bàihọc, bài dạy từ đó rút ra những nhận xét, những kết luận chính về nội dung của bài.Kênh hình giúp cho học sinh, giáo viên nắm được một cách chính xác kiến thức cơ
Trang 3bản, giúp người học, người dạy nắm được bản chất của vấn đề, qua đó khắc sâu kiếnthức và dễ nhớ kiến thức
Trong các giáo trình, tài liệu Sinh học sử dụng kênh hình trong quá trình học tập
là đặc biệt quan trọng và cần thiết Người ta vẫn thường nói Sinh học là khoa học thựcnghiệm – Đúng vậy, nhưng việc tiến hành thực nghiệm trong sinh học lại vô cùngphức tạp và khó khăn vì nhiều lý do khác nhau như: Chương trình giảng dạy, điềukiện cơ sở vật chất, thời gian để tổ chức, thời gian để có được kết quả… Vì vậy,những thực nghiệm về Sinh học không dễ thực hiện mà chỉ áp dụng hạn chế ở một sốtiết học mà chương trình quy định Trong trường hợp đó việc sử dụng kênh hình trongdạy học sinh học ngoài việc cung cấp kiến thức, dễ nhớ kiến thức còn giúp học sinhphát triển óc tư duy trìu tượng, biết phân tích hình ảnh để lĩnh hội kiến thức một cáchkhoa học Do bề dày của cuốn sách mà kênh hình trong các sách giáo khoa, tàiliệu tham khảo thường không đưa được nhiều hình ảnh vào đó, nhất là ởtrường chuyên Để giúp học sinh có được một kiến thức vững chắc về khoa học cơbản, thì việc bổ sung, tìm kiếm những hình ảnh chuẩn, chính xác khoa học là rất cầnthiết Việc trình chiếu những hình ảnh minh họa trên các thiết bị dạy học chỉ là chớpnhoáng, khó đọng lại trong óc suy nghĩ của học sinh, không đủ thời gian để các emnghiền ngẫm, phân tích và sau này nữa là ôn tập kiến thức cho việc tham gia các kỳthi học sinh giỏi các cấp Tôi thấy việc sưu tầm các hình ảnh phục vụ cho dạy học làcần thiết, đặc biệt là các hình ảnh chuẩn để qua đó học sinh có thể tiếp thu kiến thứctốt nhất, nhẹ nhàng đồng thời phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh trongquá trình học tập mang lại hiệu quả
Nhận thấy được vai trò và tầm quan trọng của phiếu học tập và kênh hình tôi đãthực hiện đề tài: “Sử dụng kênh hình để thiết kế phiếu học tập trong dạy học Chương I
- Cá thể và quần thể sinh vật, Sinh học 12 (cơ bản)” giúp học sinh chủ động rènluyện tư duy, nâng cao năng lực nhận thức, dễ nhớ kiến thức, phát triển óc tư duy trìutrượng và lĩnh hội kiến thức một cách khoa học
Trang 4PHẦN HAI: NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận của việc của việc xây dựng và sử dụng phiếu học tập
1 Lược sử về vấn đề nghiên cứu
Trước yêu cầu thức tiễn đặt ra cho các ngành khoa học nói chung và giáo dục nóiriêng đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích cực hóa người học, với các biên pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực, chủ động đã trở thành xu hướng của nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực
Vào những năm 1960, nhiều nghiên cứu về các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động học tập tự lực, chủ động, sáng tạo đã được đặt ra Nhưng các nghiên cứu mới chủ yếu về mặt lý thuyết Từ sau những năm 1970 trở đi, các nghiên cứu về các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động học tập tự lực mới được quan tâm nghiên cứu đồng
bộ cả về lý thuyết và thực hành Trong đó nổi bật là các công trình nghiên cứu: “Cải tiến phương pháp dạy và học nhằm phát huy trí thông minh của học sinh” của tác giả Nguyễn Sỹ Tý - 1971 “Kiểm tra kiến thức bằng phiếu kiểm tra” của tác giả Lê Nhân – 1974…
Đặc biệt sau nghị quyết Trung ương IV khóa VII ( tháng 2 – 1993 ), nghị quyết
TW II khóa VIII ( tháng 4 – 2002 ) của Đảng về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trở thành vấn đề quan trọng cấp bách của nghành Giáo Dục trong giai đoạn hiện nay Để tổ chức được các phương pháp dạyhọc tích cực đòi hỏi phải có các phương tiện tham gia tổ chức như: Bài tập, bài tập tình huống, bài toán nhận thức, câu hỏi trắc nghiệm, phiếu học tập,…
Đối với môn sinh học cũng vậy cho đến nay đã có nhiều công trình đã được đưa
- Dạy – tự học của GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn
- Tổ chức hoạt động học tập tự lực trong dạy học Sinh thái học lớp 11 THPT – Phan Thị Bích Ngân ( luận án thạc sĩ )…
2 Khái niệm phiếu học tập
Phiếu học tập hay còn gọi là phiếu hoạt động (activity sheet) hay phiếu làm việc.Phiếu học tập là những “tờ giấy rời”, in sẵn những công tác độc lập hoặc làm theo nhóm nhỏ được phát cho từng học sinh tự lực hoàn thành trong một thời gian
Trang 5ngắn của tiết học hoặc tự học ở nhà Mỗi phiếu học tập có thể giao cho học sinh một hoặc vài nhiệm vụ nhận thức cụ thể nhằm hướng tới kiến thức kỹ năng hay rèn luyện thao tác tư duy để giao cho học sinh.
3 Vai trò của phiếu học tập
3.1 Phiếu học tập là một phương tiện truyền tải nội dung dạy học
Trong quá trình dạy học phiếu học tập được sử dụng như một phương tiện để truyền tải kiến thức, nội dung của phiếu chính là nội ding hoạt động học tập của học sinh Thông qua việc hoàn thành các yêu cầu nhất định trong phiếu một cách độc lập hay có sự trợ giúp của giáo viên mà học sinh lĩnh hội được một lượng kiến thức tươngứng
3.2 Phiếu học tập là một phương tiện hứu ích trong việc rèn luyện các kỹ năng cho học sinh.
Để hoàn thành được các yêu cầu do phiếu học tập đưa ra học sinh phải huy động hầu như tất cả các kỹ năng hành động, thao tác tư duy: quan sát, phân tích, tổng hợp,
so sánh, phán đoán, suy luận, khái quát hóa, hệ thống hóa, cụ thể hóa,… Vì vậy sử dụng phiếu học tập trong quá trình dạy học sẽ giúp cho học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng cơ bản
3.3 Phiếu học tập phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện năng lực
tự học tự nghiên cứu cho học sinh.
Trong quá trình tổ chức dạy học cho học sinh có thể sử dụng phiếu học tập giao cho mỗi cá nhân hoặc nhóm học sinh hoàn thành, bắt buộc học sinh phải chủ động tìm tòi kiến thức Vì vậy, tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh được nâng lên…
Mặt khác mỗi phiếu học tập có thể dùng trong nhiều khâu của quá trình tự học như nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập củng cố, kiểm tra đánh giá… dưới nhiều hình thứcnhư ở lớp hoặc ở nhà… có thể cần sự giúp đỡ của giáo viên hoặc không Do vậy phiếuhọc tập còn phát huy được khả năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh
3.4 Phiếu học tập là kế hoạch nhỏ để tổ chức dạy học.
Phiếu học tập thường được thiết kế dưới dạng bản có nhiều cột, nhiều hàng thể hiện nhiều tiêu chí Vì vậy, ưu thế của phiếu học tập là khi muốn xác định một nội dung kiến thức, thỏa mãn nhiều tiêu chí hay xác định nhiều nội dung với các tiêu chí khác nhau Với phiếu học tập một nhiệm vụ học tập phức tạp được định hướng rõ ràng, diễn đạt ngắn gọn như một kế hoạch nhỏ dưới dạng bảng hoạc sơ đồ… Phiếu học tập có thể sửu dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học
Trang 63.5 Phiếu học tập đảm bảo thông tin hai chiều giữa dạy và học, làm cơ sở cho việc uốn nắn, chỉnh sửa những lệch lạc trong hoạt động nhận thức của người học.
Sử dụng phiếu học tập trong dạy học, giáo viên có thể kiểm soát, đánh giá được động lực học tập của học sinh thông qua kết quả hoàn thành phiếu học tập, thông qua báo cáo kết quả cá nhân, thảo luận trong tập thể từ đó chỉnh sửa, uốn nắn những lệch lạc trong hoạt động nhận thức của học sinh Do đó phiếu học tập đã trở thành phương tiện giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò – trò đó là mối liên hệ thường xuyên liên tục
3.6 Phiếu học tập là một biện pháp hữu hiệu trong việc hướng dẫn học sinh tự học.
Đối với hoạt động tự học phiếu học tập là một biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ học sinh trong việc tự lực chiếm lĩnh tri thức Nó có tác dụng định hướng cho học sin tự nắm bắt nội dung phần này như thế nào? nội dung phần nào là nội dung trọng tâm? Với vai trò đó nó đã giúp đỡ người thầy rât nhiề trong hoạt đọng dạy học Làm cho chất lượng dạy học ngày càng được nâng cao nhất là trong xu thế hiện nay việc tự học trở nên rất quan trọng
4 Phân loại phiếu học tập
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại phiếu học tập:
4.1 Căn cứ vào mục đích lý luận dạy học.
4.1.1 Phiếu học tập dùng trong quá trình hình thành kiến thức mới
Sử dụng để truyền thụ kiến thức mới cho học sinh thông qua việc dẫn dắt học sinh hoàn thành các yêu cầu trong phiếu học tập, học sinh đã lĩnh hội được lượng kiến thức nhất định Dạng này cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa giáo viên hướng dẫn và học sinh
4.1.2 Phiếu học tập dùng để củng cố hoàn thện kiến thức
Loại phiếu học tập này sử dụng sau khi học sinh đã học xong từng phần, từng bài, từng chương để giúp học sinh nắm vững kiến thức đã học, đảm bảo tính hệ thống, tính liên tục và tính logic của kiến thức trong chương trình
4.2.3 Phiếu học tập dùng để kiểm tra dánh giá
Được dùng trong các bài kiểm tra 1 tiết, 15 phút, kiểm tra học kỳ, kiểm tra năm học Giúp học sinh khắc sâu, hệ thống hóa lại kiến thức, giúp giáo viên nắm bắt được tình hình học tập của học sinh để điều chỉnh lại phương pháp dạy học cho phù hợp
Trang 74.2 Căn cứ vào nguồn thông tin sử dụng để hoàn thành phiếu học tập.
4.2.1 Phiếu học tập khai thác kênh chữ:
Thường được dùng trong các khâu dạy bài mới, nội dung của phần dạy này đi kèm với kênh “đọc thông tin” hay “nghiên cứu mục, bài…”
4.2.2 Phiếu học tập khai thác kênh hình
Đây được xem là dạng phiếu tích cực với học sinh, có thể sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học giúp học sinh phát triển kỹ năng quan sát, phân tích nguồn thông tin để hoàn thành phiếu học tập là kênh hình trong SGK, tranh ảnh, phim
tư liệu,…
4.2.3 Phiếu học tập khai thác cả kênh chữ và kênh hình
So với hai dạng trên thì dạng này phổ biến hơn nhiều bởi chương trình SGK đổi mới có cả kênh chữ và kênh hình đi kèm với nhau Dạng này yêu cầu học sinh vừa đọc thông tin, vừa quan sát hình mới có thể hoàn thành phiếu học tập
4.3 Căn cứ vào tiêu chí sử dụng phiếu học tập để rèn luyện kỹ năng cho hoc sinh
4.3.1 Phát triển kỹ năng quan sát
- Ví dụ: quan sát hình vẽ và nêu các dạng đột biến gen phù hợp vào bảng dưới đây.4.3.2 Phát triển kỹ năng phân tích
- Ví dụ: phân tích đặc tính của enzyme
4.3.3 Phát triển kỹ năng so sánh
- Ví dụ: Hãy so sánh cấu trúc và chức năng của AND và ARN
4.3.4 Phát triển kỹ năng quy nạp, khái quát hóa
- Ví dụ: Hãy nêu kết luận khái quát từ những thí nghiệm lai một cặp tính trạng.4.3.5 Phát triển kỹ năng suy luận, đề xuất giả thuyết
- Ví dụ: Mã mở đầu và mã kết thúc trên mARN có đối mã tương ứng hay không? Chúng có khả năng đột biến không? Nếu có thì gây hậu quả gì?
4.3.6 Phát triển kỹ năng áp dụng kiến thức đã học
- Ví dụ: Một tế bào sinh dục có kiểu gen AaBbDd thực tế giảm phân cho ra bao nhiêu loại giao tử? Các loại giao tử đó là gì?
Trang 8+ Ví dụ1: Đọc thông tin mục II.2 SGK trang 183, hoàn thành sơ đồ sau:
+ Ví dụ 2: Qua nhứng kiến thức đã họ trong bài 34 Hãy kết nối thông tin hai cột sao cho phù hợp…
Kiểu hoạt động là liên hệ, vận dụng kiến thức cũ, nghiên cứu kiến thức mới, so sánh nội dung hoạt động, chú thích các quá trình… Để đạt hiệu quả sử dụng phiếu học tập cao, đảm bảo bảo thời gian thực hiện phần dẫn yêu cầu ngắn gọn,
Các thao tác, công việc học sinh cần thực hiện là:
Đọc thông tin mục II SGK nâng cao trang 127
- Quan sát sơ đồ trong phiếu học tập
- Tìm ý thích hợp
- Điền vào phiếu và hoàn thành phiếu học tập
- Phần quy định thời gian thực hiện
Hoàn thành phiếu học tập phải thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định tuỳ
vào khối lượng công việc mà thời gian có thể là 5 phút, 10 phút… dài hơn hoặc
ngắn hơn… Ngoài ra cũng cần căn cứ vào trình độ học sinh, thời gian tiết học…
Tuy nhiên phần này không bắt buộc phải để trong phiếu học tập, nó có thể được giáo viên thông báo bằng lời trong quá trình phát phiếu
- Phần đáp án
Trang 9Thường tách biệt với các phần trên được sử dụng để giáo viên chỉnh sữa, bổ xung cho học sinh hay căn cứ đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức cho học sinh
6 Yêu cầu sư phạm của phiếu học tập
Để thiết kế một phiếu học tập tốt cần tuân thủ 10 quy tắc sau đây:
* Quán triệt mục tiêu, nội dung bài học
Mục tiêu của bài học không chỉ là hoàn thành kiến thức, kỹ năng mà quan trọnghơn là phải phát triển tư duy và vận dụng kiến thức Do đó trong quá trình dạy học có sử dụng phiếu học tập, giáo viên luôn bám sát mục tiêu bài học, không
bó, gượng ép
* Có khối lượng công việc vừa phải
* Có phần chỉ dẫn nhiệm vụ đủ rõ
* Có khoảng trống thích hợp để học sinh điền kết quả của công việc đã làm
* Có hình thức trình bày gây hào hứng làm việc
* Có quy định thời gian làm bài
* Có chỗ để điền tên học sinh để khi cần giáo viên đánh giá trình độ học sinh
* Có đánh số thứ tự
7 Quy trình thiết kế phiếu học tập
Gồm các bước sau:
Bước 1: Phân tích nội dung bài dạy
Là bước xác định thành phần kiến thức, tầm quan trọng, mối quan hệ của
mạch kiến thức trong bài và giữa các bài trong chương
Bước 2: Xác định rõ từng mục tiêu bài học
Phải xác định rõ sau khi học xong bài này học sinh phải lĩnh hội được gì ? Hay
Trang 10vận dụng như thế nào ? Rèn luyện được thao tác tư duy nào ?
Bước 3: Xác định nội dung của phiếu học tập
Xác định phiếu học tập được xây dựng với mục tiêu như thế nào ? Truyền tải kiến thức gì, rèn luyện kỹ năng gì ? Hoặc dùng trong khâu nào của quá trình dạy học Bước 4: Chuyển nội dung kiến thức thành điều cho biết và điều cần tìm
Từ kết quả của việc phân tích nội dung bài dạy và xác định mục tiêu của
bài phải xem xét để lĩnh hội được nội dung hay đạt được mục tiêu của bài phải
gợi mở cho biết những gì và tìm kiếm những gì
Bước 5: Diễn đạt nội dung trên thành phiếu học tập
Phác thảo phiếu học tập cần xây dựng
Bước 6: Xây dựng đáp án và thời gian hoàn thành phiếu học tập
Căn cứ vào thời gian phân phối của chương trình nội dung của phiếu mà
quy định thời gian hoàn thành phiếu học tập một cách hợp lý để phát huy được tính tích cực của phiếu học tập cũng như đánh giá đúng khách quan học sinh Sau khi sử dụng phiếu học tập phải xây dựng đáp án chuẩn
Bước 7: Hoàn thành phiếu học tập chính thức
Là bước viết phiếu học tập chính thức chuẩn bị cho việc sử dụng phiếu học tập vào các khâu của quá trình dạy học
8 Sử dụng phiếu học tập trong dạy học sinh học
8.1.Quy trình chung về việc sử dụng phiếu học tập
Bước 1: Giao phiếu học tập cho học sinh
Bước 2: Đưa các chỉ dẫn, gợi ý nhằm trợ giúp, tư vấn cho hoạt động của
học sinh
Bước 3: Để học sinh làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, hoàn thành phiếu học tập Bước 4: Học sinh báo cáo kết quả hoàn thành phiếu học tập
Bước 5: Thảo luận nhóm hoặc cả lớp
Bước 6: Uốn nắn, chỉnh sửa, nhận xét, đánh giá đưa ra đáp án
8.2.Sử dụng phiếu học tập trong các khâu của quá trình dạy học
8.2.1.Sử dụng phiếu học tập để hình thành kiến thức mới
- Mục đích của việc sử dụng phiếu học tập loại này là để học sinh lĩnh hội được kiến thức mới vì vậy giáo viên cần phát phiếu học tập sau khi ghi đề mục
Trang 11- Để học sinh hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong phiếu học tập cần có thời gian và định hướng để học sinh nghiên cứu, xử lý thông tin hoàn thành phiếu sau đó để đại diện trình bày, lớp nhận xét, bổ xung
- Cuối cùng giáo viên chốt lại kiến thức cần lĩnh hội
8.2.2 Sử dụng phiếu học tập để hoàn thiện, hệ thống hoá kiến thức
Hoàn thiện, hệ thống hoá kiến thức là khâu củng cố của quá trình dạy học sau mỗi bài, mỗi phần mỗi chương … khi học sinh đã ít nhiều lĩnh hội được kiến thức.Vì vậy giáo viên không phát phiếu học tập trước mà phát trong khâu củng cố
8.2.3 Sử dụng phiếu học tập để kiểm tra, đánh giá
Mục đích của việc sử dụng phiếu học tập lúc này là để kiểm tra mức độ lĩnh
hội kiến thức của học sinh Vì vậy phiếu học tập dùng trong khâu này là tương tự như đề kiểm tra, được phát đến từng học sinh, giáo viên không cần gợi ý hay định hướng cho học sinh để việc kiểm tra đánh giá được khách quan
8.3 Hướng dẫn tự học
8.3.1 Khái niệm tự học
“ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ sử dụng các năng lực trí tuệ quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp … có khi cả cơ bắp ( khi sử dụng công cụ thực hành ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, ( như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, không ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi, …) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại thành sở hữu của mình” [10] Để tự học người học phảI huy động hết mọi nguồn lực có trong tay và trong tầm tay ( nội lực) trước khi sử dụng khi sử dụng hỗ trợ từ người khác ( ngoại lực )
8.3.2 Hướng dẫn tự học bằng phiếu học tập
Có nhiều phương tiện hỗ trợ cho việc tự học của học sinh.Tuy nhiên, trong số đó phiếu học tập là loại phương tiện thông dụng nhất của giáo viên nhằm hỗ trợ học sinh tự học Trong quá trình sử dụng phiếu học tập,chu trình dạy tự học đươc vận dụng một
cách triệt để.Có thể chia làm các bước sau:
Bước 1: Giáo viên giao phiếu học tập cho học sinh, gợi ý cho học sinh cách tìm thông tin, cách giải quyết yêu cầu của phiếu, tương ứng với giai đoạn hướng dẫn của thầy
( Nếu hướng dẫn tự học ở nhà trong phiếu học tập phải có những gợi ý hướng dẫn
Trang 12cách tìm tòi thông tin để hoàn thành phiếu học tập)
Bước 2: Ứng với giai đoạn tự nghiên cứu của trò: học sinh tự đọc tìm tòi, quan sát, phân tích, tổng hợp, phát hiện vấn đề, theo yêu cầu của phiếu học tập
Bước 3: Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm, các em tự trao đổi, thảo luận
với nhau Sau đó tự trình bày tự thể hiện kiến thức của mình trước tập thể,
các nhóm khác nhận xét, bổ xung thêm
Bước 4: Trong khi HS thảo luận thầy giữ vai trò là người trọng tài, nhận xét, thẩm định kết quả của học sinh Học sinh tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa chữa, điều chỉnh chuẩn hoá kiến thức
II Cơ sở của việc sử dụng kênh hình
1 Cơ sở lý luận
Đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghị quyết TW4 khóa VIII và được thể chế hóa trong luật giáo dục – đào tạo điều 24.2 “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện những kỹ năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”
Khác với quá trình trong nghiên cứu khoa học quá trình nhận thức trong học tập không phát hiện những điều loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích lũy được thông qua những kênh chữ, kênh hình Trong học tập nghiên cứu, kênh hình là điều cần thiết giúp học sinh khám phá, những hiểu biết mới đối với bản thân Học sinh sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình nhờ kênh hình Từ đó người học cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học
Từ năm 2000 Bộ GD&DT đã thực hiện biên soạn lại chương trình và Sách giáo khoa Sinh học từ lớp 10 đến lớp 12 Đây là đổi mới mang tính cấp thiết Sách giáo khoa mới có nhiều cải tiến đáng kể không chỉ về nội dung kiến thức mà có sự cải tiến
về số lượng và chất lượng kênh hình Sách giáo khoa thay đổi đòi hỏi cả người dạy và
cả người học phải có sự thay đổi về phương pháp dạy và học cho phù hợp để có chất lượng cao trong giáo dục
2 Cơ sở thực tiễn
Sách giáo khoa sinh học về thông tin kênh chữ và kênh hình trình bày với màu sắc hấp dẫn, thu hút sự chú ý tìm tòi của học sinh, đồng thời học sinh cũng có thể tìm hiểu các lĩnh vực này trong thực tế đời sống
Việc đổi mới dạy học đang đi vào chiều sâu, giáo viên được bồi dưỡng kiến thức
Trang 13chuyên môn, phương pháp giảng dạy mới, được xem các tiết dạy minh họa nên có điều kiện tìm hiểu kĩ hơn về phương pháp giảng dạy mới.
3 Quan niệm về kênh hình trong sách giáo khoa
Kênh hình bao gồm những ảnh chụp, tranh vẽ, hình ảnh, sơ đồ, đồ thị,… Theo quan điểm có tính chất cổ điển song có tính sư phạm của việc biên soạn và sử dụng sách giáo khoa (sách giáo khoa bao gồm hai phần: bài viết và cơ chế sư phạm) Theo quan điểm này kênh hình là một bộ phận của cơ thể sư phạm Còn theo quan niệm phổbiến thì kênh hình là một bộ phận tương đương với phần bài viết (theo quan điểm sáchgiáo khoa gồm phần kênh chữ và kênh hình)
4 Phân loại kênh hình
4.1 Phân loại theo chức năng
Phân loại theo chức năng kênh hình được chia làm 4 loại chính:
- Loại minh họa: để cụ thể hóa nội dung sự kiện quan trọng Loại này thường đượcghi kèm những yêu cầu và hướng dẫn thực hiện
- Loại cung cấp thông tin: thường không có chú thích tuy nhiên có thể chú thích ngắn gọn để học sinh tìm hiểu nội dung của sự kiện mà không diễn tả thành văn
- Loại vừa cung cấp thông tin vừa minh họa cho kênh chữ có lời hướng dẫn khai thác, sử dụng thông tin
- Loại dùng để rèn luyện kỹ năng thực hành, kiểm tra kiến thức Loại này thường kèm theo câu hỏi và hướng dẫn sử dụng
4.2 Phân loại theo hình thức
Theo hình thức kênh hình gồm các loại sau:
- Sơ đồ, đồ thị: phản ánh tiến trình của một quá trình, hiện tượng
- Tranh ảnh sinh học gồm: tranh ảnh về hình thái ngoài, tranh ảnh về cấu tạo trongcủa sinh vật
5 Vai trò của kênh hình
Nguyên tắc trực quan là một nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học hiện nay nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng hình ảnh và hình thành khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật, đồng thời phát triển tư duy, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm
Đồ dùng trực quan gồm nhiều loại: hiện vật, tranh ảnh, sơ đồ, đồ thị, … Trong các đồ dùng trực quan kênh hình trong sách giáo khoa đảm bảo đầy đủ các yêu cầu:
Trang 14tính khoa học, tính sư phạm, tình hấp dẫn,… Và hiện nay sách giáo khoa sinh học trong điều kiện kinh tế, khoa học, kỹ thuật, mỹ thuật,… đã giành cho kênh hình một tỷ
lệ đáng kể
Kênh hình trong có vai trò to lớn đối với việc phát triển năng lực học sinh:
- Kênh hình không chỉ sử dụng trong khi trình bày kiến thức mới mà cả khi ôn tập,tổng kết, kiểm tra, hoạt động ngoại khóa và thực hành Kênh hình trong sinh học có chức năng chủ yếu làm đa dạng nguồn kiến thức, tạo hình ảnh giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách sinh động, làm bài giảng sinh học trở nên bớt khô khan và hấp dẫn
- Kênh hình là một phương tiện trực quan trong dạy học sinh học Sử dụng kênh hình trong sinh học có ý nghĩa lớn trong việc bồi dưỡng kiến thức cho học sinh
Do tính khoa học thực nghiệm của sinh học nên học sinh không thể tri giác, quan sát các cấu tạo, các chu trình, quá trình sinh học… đang học Do đó để cho học sinh hình dung một cách chân thực, sinh động thì ngoài lời giảng của giáo viên phải có phương tiện trực quan mà phổ biến nhất hiện nay vẫn là kênh hình Trong sách giáo khoa sinh học kênh hình bao giờ cũng gắn liền với nội dung bài viết Nội dug bài viết là cơ sở để hiểu kênh hình, ngược lại kênh hình lại làm phong phú, sâu sắc thêm kiến thức bài viết Qua khai thác kênh hình trong sách giáo khoa còn có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ, bồi dưỡng cho học sinh những quan điểm và cảm xúc thẩm mĩ
- Bên cạnh đó kênh hình còn có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển năng lực họcsinh như: kĩ năng quan sát, trí tưởng tượng, phân tích, đánh giá và năng lực tư duy ngôn ngữ Qua sử dụng kênh hình học sinh cũng dần trở nên năng động, tựtin, linh hoạt trước tập thể và ngày càng làm chủ kiến thức của mình Như vậy việc sử dụng kênh hình trong dạy học sinh học là một biện pháp hữu hiệu nằm trong tổng thể các biện pháp nhằm phát triển các năng lực học sinh, nâng cao chất lượng, hoàn thành mục tiêu dạy học bộ môn
6 Ý nghĩa của kênh hình
Việc khai thác kênh hình trong dạy học sinh học có ý nghĩa quan trọng trên cả bamặt: kiến thức, kỹ năng, thái độ
Kiến thức: kênh hình góp phần quan trọng trong việc tái hiện lại các quá trình sinh học, củng cố, khắc sau kiến thức.Kênh hình trong sách giáo khoa giúp hệ thống hóa kiến thức, kiểm tra, đánh giá, đánh giá học sinh
Kĩ năng: qua việc khai thác kênh hình trong dạy học sinh học đã rèn cho họcsinh các năng lực nhận thức: tri giác, kỹ năng quan sát, trí tưởng tượng, nănglực tư duy ngôn ngữ
Thái độ: khai thác kênh hình trong dạy học sinh học góp phần bồi dưỡng cho
Trang 15học sinh quan điểm của chủ nghĩa duy vật sinh học và cảm xúc thẩm mĩ Hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học Phát huy thái độ học tập tích cực của học sinh.
Như vậy, sử dụng kênh hình trong dạy học sinh học là một biện pháp hữu hiệu nằm trong tổng thể các biện pháp nhằm phát triển năng lực học sinh, nâng cáo chất lượng, hoàn thành mục tiêu dạy học bộ môn
III Sử dụng kênh hình để thiết kế các phiếu học tập trong giảng dạy Chương I –
Cá thể và quần thể sinh vật.
1 Phân tích logic cấu trúc nội dung chương trình Sinh thái học – THPT
Toàn bộ nội dung của môn học, của từng bài học đều có mối liên hệ logic với nhau Nếu như mối liên hệ này bị vi phạm thì việc tiếp thu tri thức gặp nhiều khó khăn
vì muốn nghiên cứu một nội dung mới cần gắn cái chưa biết với cái đã biết
Phân tích logic cấu trúc nội dung chương trình là cơ sở quan trọng cho việc thiết
kế và sử dụng phiếu học tập để tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Việc phân tích logic cấu trúc nội dung chương trình cần đi đôi với việc cập nhật hóa và chính xáchóa kiến thức; đặc biệt chú ý tính kế thừa và phát triển qua mỗi bài, mỗi chương và toàn bộ chương trình Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng cho việc dự kiến khả năng mã hóa nội dung kiến thức đó thành phiếu học tập
Cần chú ý khi tiến hành phân tích logic nội dung chương trình Sinh thái học phảivận dụng phương pháp luận tiếp cận cấu trúc – hệ thống Trong chương trình Sinh họcphổ thông chương trình theo SGK mới thì Sinh thái học được đưa vào dạy vào phần cuối cùng của chương trình Sinh học lớp 12 Sự phân bố lại như vậy phù hợp với tiếp cận cấu trúc – hệ thống Các kiến thức Sinh thái học trong chương trình THPT được trình bày theo các cấp độ tổ chức sống, từ các hệ thống nhỏ, đến các hệ thống trung, lên các hệ thống lớn: tế bào cơ thể quần thể quần xã sinh quyển, vì vậy Sinh học 12 là lớp cuối cấp, chủ yếu đề cập đến cấp độ cơ thể trở lên Điều này phù hợp với một đặc điểm của sinh học hiện đại là dựa trên lí thuyết về các cấp độ của tổ chức sống, xem giới hữu cơ như những hệ thống có cấu trúc, gồm những thành phần tương tác với nhau và với môi trường, tạo nên khả năng tự thân vận động, phát triển của hệ thống Mỗi hệ lớn gồm những hệ nhỏ, mỗi hệ thống nhỏ lại gồm những hệ nhỏ hơn Giữa các hệ nhỏ với nhau, giữa các hệ nhỏ với hệ lớn, cũng như giữa các hệ lớn với môi trường đều có những mối quan hệ tương tác phức tạp, tạo nên những đặc trưng của mỗi cấp tổ chức Điều này cũng làm cho tầm hiểu biết của học sinh Trung học phổ thông được mở rộng so với học sinh Trung học cơ sở Chương trình sinh học Trung học cơ sở mới chỉ đề cập chủ yếu tới cấp độ cơ thể và cung cấp cho học sinh một sự hiểu biết rất sơ sài về các cấp tổ chức dưới cơ thể và trên cơ thể