Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đã có những tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sinh kế của người dân.. Do vậy vấn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
VŨ HOÀNG CƯỜNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC CHUYỂN MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG, ĐÔ THỊ TẠI PHƯỜNG BÃI CHÁY, THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
VŨ HOÀNG CƯỜNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC CHUYỂN MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG, ĐÔ THỊ TẠI PHƯỜNG BÃI CHÁY, THÀNH PHỐ HẠ LONG,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Vũ Hoàng Cường, học viên Lớp Cao học quản lý đất đai K20 (khóa học 2012 – 2014), Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ: “Đánh giá tác động của công tác
chuyển mục đích sử dụng đất để phát triển hạ tầng, đô thị tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” là sản phẩm nghiên cứu, thảo luận của cá
nhân tôi, không phải sao chép từ các đề tài nghiên cứu khác Các số liệu thể hiện trong luận văn được điều tra từ thực tế, có cơ sở Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực và kết quả từ nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Học viên
Vũ Hoàng Cường
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô giảng dạy lớp Cao học quản lý đất đai K20, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã rất tâm huyết truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong thực tiễn quản lý đất đai và các lĩnh vực chuyên môn có liên quan trong 02 năm học, giúp cho các học viên nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách khoa học, sáng tạo, làm cơ sở vận dụng vào thực tiễn công tác Những kiến thức mà các Thầy, Cô đã giảng dạy thực sự là nền tảng vững chắc để tôi có thể hoàn thành Luận văn Thạc sỹ này và sau này có thể học nâng cao hơn nữa
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Thế Hùng – Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Phát triển Quốc tế, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài để tôi có thể nghiên cứu, viết đề tài đúng hướng, đảm bảo chất lượng nội dung và tiến độ yêu cầu Tôi cũng xin được cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để các học viên hoàn thành tốt khóa học và
đủ điều kiện để bảo vệ Luận văn Thạc sỹ trong thời gian sớm nhất
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, cơ quan, đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học và nghiên cứu, thực hiện đề tài Luận văn Thạc sỹ
Do thời gian có hạn và kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên đề tài Luận văn này còn nhiều hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo, đóng góp của các Thầy, Cô, các chuyên gia và những người quan tâm đến đề tài nghiên cứu này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Học viên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu của đề tài: 2
2.1 Mục tiêu tổng quát: 2
2.2 Mục tiêu cụ thể: 2
3 Yêu cầu của đề tài: 3
4 Ý nghĩa của đề tài: 3
4.1 Ý nghĩa khoa học: 3
4.2 Ý nghĩa thưc tiễn: 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Cơ sở lý luận của việc chuyển mục đích sử dụng đất 4
1.2 Cơ sở pháp lý của chuyển mục đích sử dụng đất 5
1.2.1 Căn cứ để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất 5
1.2.2 Các hình thức chuyển mục đích sử dụng đất 5
1.2.3 Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất 6
1.3 Cơ sở thực tiễn 9
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới liên quan đến nội dung đề tài 9
1.3.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam có liên quan đến đề tài 15
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
Trang 62.1.2 Phạm vi, địa điểm nghiên cứu 27
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: 27
2.2 Nội dung nghiên cứu: 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp thu thập các tài liệu, thông tin liên quan 28
2.3 2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn để thu thập các tài liệu sơ cấp 28
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của phường Bãi Cháy 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.3 Đánh giá chung về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Bãi Cháy 46
3.2 Thực trạng, kết quả công tác chuyển mục đích sử dụng đất tại phường Bãi Cháy 47
3.2.1 Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn phường Bãi Cháy 47
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất 53
3.2.3 Tình hình biến động đất đai 56
3.2.4 Kết quả công tác chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn phường 60
3.2.5 Xu hướng chuyển mục đích sử dụng đất 62
3.3 Những tác động của chuyển mục đích sử dụng đất 62
3.3.1 Tác động tích cực: 62
3.3.2 Tác động tiêu cực: 70
3.4 Những khó khăn, cản trở trong công tác chuyển mục đích sử dụng đất 74
3.4.1 Việc thu hồi đất để thực hiện dự án không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết được phê duyệt, đặc biệt là việc thu hồi đất rừng đặc dụng 74
3.4.2 Tiến độ thực hiện tại một số dự án chậm hoặc không triển khai, gây lãng phí nguồn lực đất đai và ảnh hưởng đến đời sống nhân dân 75
3.4.3 Chính sách về đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng có nhiều thay đổi, gây khó khăn cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 77
Trang 73.5 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác chuyển mục đich sử dụng
đất trên địa bàn phường 78
3.5.1 Giải pháp về phía Nhà nước 78
3.5.2 Giải pháp về phía Chủ dự án 79
3.5.3 Giải pháp về phía chính quyền phường 79
3.5.4 Giải pháp về phía người dân 80
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Đề nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Gia tăng dân số phường Bãi Cháy qua các năm 40 Bảng 3.2 Tình hình lao động của phường Bãi Cháy qua các năm 40 Bảng 3.3 Hiện trạng, cơ cấu sử dụng đất phường Bãi Cháy năm 2012 55 Bảng 3.4 Tình hình biến động cơ cấu sử dụng đất phường Bãi Cháy giai đoạn
2005-2012 57 Bảng 3.5 Tình hình biến động diện tích các loại đất theo mục đích sử dụng đất
phường Bãi Cháy giai đoạn 2005 - 2012 59 Bảng 3.6 Tình hình chuyển mục đích sử dụng đất phường Bãi Cháy giai đoạn
2000-2005 60 Bảng 3.7 Tình hình chuyển mục đích sử dụng đất phường Bãi Cháy giai đoạn
2006-2010 62 Bảng 3.8 Tình hình thu ngân sách của Ủy ban Nhân dân phường Bãi Cháy 63 Bảng 3.9 Các dự án kinh doanh hạ tầng kỹ thuật, khu đô thị mới trên địa bàn
phường Bãi Cháy 64 Bảng 3.10 Một số khách sạn mới hình thành trên địa bàn phường Bãi Cháy 66 Bảng 3.11 Danh sách một số dự án chuyển mục đích sử dụng đất sai quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất chi tiết được phê duyệt giai đoạn 2006-2010 74 Bảng 3.12 Danh sách các dự án treo, dự án chậm tiến độ 76
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ địa hình Việt Nam 16
Hình 3.1 Sơ đồ địa giới hành chính phường Bãi Cháy 30
Hình 3.2 Du lịch trên Vịnh Hạ Long 34
Hình 3.3 Vị trí các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 37
Hình 3.4 Cổng vào khu công nghiệp Cái Lân 38
Hình 3.5 Phối cảnh khách sạn 5 sao IMICO 39
Hình 3.6 Biểu đồ biến động diện tích các loại đất qua các năm 56
Hình 3.7 Một góc khu dân cư du lịch Đông Hùng Thắng, phường Bãi Cháy 65
Hình 3.8 Khách sạn Hoàng Gia Hạ Long 67
Hình 3.9 Biểu đồ đóng góp ngân sách của các doanh nghiệp vào ngân sách trên địa bàn phường Bãi Cháy qua các năm 68
Hình 3.10 Hiện trạng cảnh quan phường Bãi Cháy năm 2013 nhìn từ trên cao 72
Hình 3.11 Trận lụt ngày 06/6/2012 tại khu phố 6 phường Bãi Cháy 73
Hình 3.12 Sạt lở đất đá năm 2013 tại khu phố 4 phường Bãi Cháy 73
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong lịch sử phát triển của loài người, dù ở giai đoạn nào hay quốc gia nào, trình độ phát triển cao hay lạc hậu thì đất đai luôn chiếm giữ một vai trò tối quan trọng trong hệ thống tư liệu sản xuất của con người, là khởi nguồn của mọi của cải vật chất và là yếu tố cơ bản trong môi trường sống của con người Ngày nay, với các tiến bộ về khoa học kỹ thuật, sự phụ thuộc của con người vào đất đai ngày càng giảm, tuy nhiên đất đai vẫn là điều kiện không thể thiếu được của các ngành kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của việc sử dụng đất, phân bổ quỹ đất cho các lĩnh vực để phát triển nền kinh tế - xã hội của các quốc gia ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh bùng nổ dân số, cạn kiệt tài nguyên và biến đổi khí hậu hiện nay
Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam hiện vẫn còn là một nước nông nghiệp, do vậy sự phụ thuộc vào đất đai là rất lớn Đi lên từ nền văn minh lúa nước, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu hoàn thành mục tiêu đến năm 2020
cơ bản đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Quá trình
đô thị hóa, công nghiệp hóa đang ngày càng sôi động, đặc biệt tại các trung tâm thành phố lớn và khu vực lân cận, cùng với sự bùng nổ dân số dẫn đến nhu cầu về đất đai ngày càng lớn, trong khi quỹ đất là có hạn Điều này dẫn đến xu thế tất yếu phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, đồng thời gây nên áp lực cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc phân bổ quỹ đất cho các ngành để sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đã có những tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sinh kế của người dân Bên cạnh những tác động tích cực như đáp ứng nhu cầu về đất đai cho quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, tăng thu nhập, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng các dịch vụ an sinh xã hội… thì quá trình này cũng mang lại những tác động tiêu cực không thể tránh khỏi
Trang 11như diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, an ninh lương thực không đảm bảo, chất lượng, thu nhập của một bộ phận người dân bị thu hồi đất đi xuống, nảy sinh các tệ nạn xã hội… Đặc biệt tình trạng dự án treo, dự án chậm tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng đang là vấn đề nhức nhối, là nguyên nhân gây nên nhiều vụ khiếu kiện phức tạp, đông người trong thời gian qua
Phường Bãi Cháy là một phường trung tâm của thành phố Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh, là phường trọng điểm về phát triển kinh tế và du lịch, nằm bên cạnh Vịnh Hạ Long – một trong bẩy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới Những năm qua tình hình phát triển kinh tế - xã hội của phường đã có những kết quả tích cực, làm thay đổi bộ mặt đô thị và nâng cao đời sống nhân dân Đã có rất nhiều dự án được triển khai thực hiện, mang lại hiệu quả như kỳ vọng, nhưng cũng có nhiều dự
án không được thực hiện, kéo dài nhiều năm gây lãng phí đất đai và ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân trong vùng dự án Do vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để
có thể đánh giá được những mặt tích cực và tiêu cực của sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất đất đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, từ đó đúc rút kinh nghiệm, bài học để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý Nhà
nước về đất đai trên địa bàn phường Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá tác động
của công tác chuyển mục đích sử dụng đất để phát triển hạ tầng, đô thị tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn
thạc sỹ cho mình dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thế Hùng
2 Mục tiêu của đề tài:
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá được kết quả và các tác động của công tác chuyển mục đích sử dụng đất tới quá trình phát triển hạ tầng, đô thị và đời sống nhân dân của phường Bãi Cháy; xác định những mặt còn hạn chế, bất cập và đề xuất giải pháp khắc phục
2.2 Mục tiêu cụ thể:
(1) Đánh giá được kết quả của công tác chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ phát triển hạ tầng, đô thị tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;
Trang 12(2) Đánh giá được tác động của việc chuyển mục đích sử dụng đất đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Phường, trong đó đặt trọng tâm phân tích tác động đối với sự phát triển hạ tầng, đô thị và những tác động đối với đời sống của nhân dân;
(3) Xác định được những mặt còn hạn chế, bất cập trong công tác chuyển mục đích sử dụng đất của phường; đề xuất được một số giải pháp nhằm phát huy các kết quả đã đạt được, khắc phục các tồn tại, hạn chế trong công tác chuyển mục đích sử dụng đất tại phường Bãi Cháy
3 Yêu cầu của đề tài:
- Cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới nhất quy định về chuyển mục đích sử dụng đất của Nhà nước ta
- Các tài liệu thu thập phải đầy đủ, chính xác, khách quan
- Đánh giá được tổng quát thực trạng quá trình chuyển mục đích sử dụng đất tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến hết năm 2012, những tác động tích cực và tiêu cực đối với sự phát triển hạ tầng, đô thị
và đời sống nhân dân
- Các giải pháp đề xuất với các cơ quan quản lý của Nhà nước phải có tính thực tiễn, khả thi, được rút ra từ quá trình điều tra thực địa và ý kiến các bên liên quan
4 Ý nghĩa của đề tài:
4.2 Ý nghĩa thưc tiễn:
Việc nghiên cứu đề tài để thấy được thực trạng công tác chuyển mục đích sử dụng đất tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, những mặt kết quả đã đạt được, những tác động tích cực và những mặt còn tồn tại với sự phát triển
hạ tầng, đô thị và đối với đời sống nhân dân trên địa bàn phường, từ đó có giải pháp thực hiện đối với các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Khái niệm
Chuyển mục đích sử dụng đất là nội dung mới được đề cập đến ở lần sửa đổi thứ hai của Luật Đất đai 1993 (năm 2001) và chính thức được bổ sung vào các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai ở Luật Đất đai 2003 và hiện tại là Luật Đất đai
2013 Việc quy định các nội dung này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người đang sử dụng đất muốn chuyển mục đích đất sang mục đích khác, đồng thời cũng giảm thiểu
về thủ tục hành chính cho cơ quan quản lý Nhà nước Thay vì cơ quan Nhà nước cơ thẩm quyền phải ra quyết định thu hồi đất rồi sau đó mới lại ra quyết định giao đất cho chính người sử dụng đó thì chỉ phải làm thủ tục công nhận cho người sử dụng đất được chuyển mục đích sử dụng [19, tr 119]
Như vậy, chuyển mục đích sử dụng đất là việc cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền đồng ý cho người sử dụng chuyển mục đích sử dụng với những diện tích đất cụ thể từ mục đích này sang mục đích khác [19, tr 116]
1.1.2 Cơ sở lý luận của việc chuyển mục đích sử dụng đất
Từ xưa đến nay, đất đai luôn có một vai trò tối quan trọng trong hệ thống tư liệu sản xuất của con người, là khởi nguồn của mọi của cải vật chất mà con người tạo ra Không một quốc gia, một nền kinh tế nào, dù lạc hậu hay phát triển mà không cần đến đất đai, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Xã hội càng phát triển, nền kinh tế càng đa dạng với nhiều ngành nghề khác nhau thì nhu cầu sử dụng đất càng lớn Tuy nhiên thực tế tổng diện tích đất lại cố định, không thể sản sinh Điều này tất yếu dẫn đến việc phải lấy đất của ngành này để chuyển mục đích sử dụng sang ngành khác quan trọng, cấp thiết hơn
Trong tiến trình phát triển của các quốc gia, đặc biệt ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, cơ cấu nền kinh tế luôn có xu hướng chuyển dịch từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp Ở giai đoạn phát triển thấp trước đây, nền kinh tế của Việt Nam còn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất lao
Trang 14động thấp, đòi hỏi diện tích đất canh tác nông nghiệp phải lớn mới đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp của người dân Đến giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, năng suất lao động trong ngành nông nghiệp đã tăng đáng kể nhờ ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất thâm canh Do vậy diện tích đất canh tác nông nghiệp không đòi hỏi lớn mà vẫn có thể đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Trong khi đó các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, các khu đô thị không ngừng phát triển, mở rộng, nhu cầu sử dụng đất ngày cảng lớn, đòi hỏi phải điều tiết đất từ quỹ đất hiện có của ngành nông nghiệp
Việc chuyển mục đích sử dụng đất liên quan đến rất nhiều đối tượng, ngành kinh tế, trong đó người nông dân là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất Người thực hiện điều tiết, phân bổ quỹ đất, quyết định việc thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất là Nhà nước, thông qua việc ban hành hệ thống văn bản pháp quy và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để quản lý và định hướng việc chuyển mục đích sử dụng đất theo đúng đường lối, định hướng phát triển Nếu Nhà nước thực hiện tốt công tác này sẽ có tác động tích cực, thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và đời sống của người dân, còn nếu thực hiện không tốt sẽ gây hậu quả tiêu cực theo chiều hướng ngược lại
1.2 Cơ sở pháp lý của chuyển mục đích sử dụng đất
1.2.1 Căn cứ để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
Theo Điều 52 Luật Đất đai 2013, căn cứ để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất gồm:
+ Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt
+ Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
1.2.2 Các hình thức chuyển mục đích sử dụng đất
Theo Điều 57 Luật Đất đai 2013, chuyển mục đích sử dụng đất có 02 trường hợp:
Trang 15+ Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:
a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;
b) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;
c) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;
d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;
đ) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất; e) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;
g) Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải
là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp Khi chuyển mục đích sử dụng đất thuộc các trường hợp nêu trên thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng
+ Các trường hợp chuyển mục đích không thuộc quy định tại Điều 57 Luật Đất đai 2013 thì người sử dụng đất chỉ cần đăng ký với Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có đất
1.2.3 Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất
a Giai đoạn trước ngày 01/7/2014:
- Văn bản của Trung ương:
+ Luật Đất đai được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003
Trang 16+ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
+ Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
+ Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
+ Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền
số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần
+ Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
+ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
+ Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
+ Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 09/4/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
+ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Trang 17+ Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
+ Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa
- Văn bản của UBND tỉnh Quảng Ninh:
+ Quyết định số 4505/2007/QĐ-UBND ngày 05/12/2007 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc quy định hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
+ Quyết định số 499/2010/QĐ-UBND ngày 11/02/2010 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
+ Quyết định số 398/2012/QĐ-UBND ngày 27/02/2012 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành Bộ đơn giá bồi thường tài sản đã đầu tư vào đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
+ Quyết định số 3288/2012/QĐ-UBND ngày 12/12/2012 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành Quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư các dự án phát triển kinh tế - xã hội có sử dụng đất, mặt nước; công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng – kinh doanh khu đô thị, dự án phát triển khu nhà
ở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
+ Quyết định số 999/2013/QĐ-UBND ngày 15/4/2013 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành quy định tạm thời để xác định các dự án giao đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
b Giai đoạn từ ngày 01/7/2014 đến nay:
- Luật Đất đai được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2013
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất
Trang 18- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất
- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới liên quan đến nội dung đề tài
a Trung Quốc:
Ở Trung Quốc, chế độ sở hữu về đất đai là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa
về đất đai - đó là chế độ sở hữu Nhà nước và chế độ sở hữu tập thể của quần chúng lao động Trung Quốc có tổng diện tích 9,6 triệu km2, là nước đứng thứ 4 thế giới
về tổng diện tích và thứ 2 thế giới về diện tích đất [23] Trong hơn 20 năm thực hiện chính sách cải cách, nền kinh tế của Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn, mức tăng trưởng GDP của Trung Quốc đạt 9,7%/năm, được xếp vào nước có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới Bên cạnh những thành công đã đạt được, quá trình tăng trưởng kinh tế nóng và quy mô dân số lớn của Trung Quốc chứa đựng nhiều nguy cơ và thách thức lớn Quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang các loại đất khác (chủ yếu là đất công nghiệp và đất ở) đã làm cho diện tích đất canh tác ngày càng giảm, diện tích đất canh tác bình quân đầu người của Trung Quốc chỉ bằng 1/3 mức trung bình trên thế giới Cạnh tranh giữa sản xuất nông nghiệp và sản xuất công nghiệp, phát triển đô thị ngày càng gay gắt, giá thành sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng làm cho tốc độ tăng thu nhập của nông dân giảm dần (từ 3,09% năm 1980 xuống còn 2,47% năm 1997), ngày càng tụt hậu so với mức tăng ngày càng nhanh của thu nhập dân cư thành phố Khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa dân cư nông thôn và thành thị ngày càng xa nhau [1, tr 17]
Trước những khó khăn, thách thức to lớn, Nhà nước Trung Quốc đã có những giải pháp điều chỉnh trong công tác quản lý và sử dụng đất đai nhằm sử dụng đất một cách hiệu quả, tiết kiệm, bền vững, trong đó đặc biệt chú trọng công tác quy
Trang 19hoạch sử dụng đất Các nguyên tắc, nội dung quy hoạch sử dụng đất và các giải pháp bảo vệ đất nông nghiệp, sử dụng đất tiết kiệm được đề ra cụ thể như sau:
- Các nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất:
+ Phải bảo vệ nghiêm ngặt 120 triệu ha đất canh tác;
+ Sử dụng đất phải tiết kiệm, đem lại hiệu quả sử dụng cao nhất;
+ Bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu và lợi ích sử dụng đất của các ngành kinh
tế, xã hội và các địa phương;
+ Tăng cường bảo vệ môi trường, phát triển sinh thái tự nhiên nhằm duy trì và nâng cao chất lượng sống cho người dân của cả nước;
+ Tăng cường kiểm soát vĩ mô của Nhà nước đối với việc sử dụng đất
- Nội dung quy hoạch sử dụng đất:
Nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải xác định được 16 chỉ tiêu thuộc 2 nhóm sau:
+ Nhóm các chỉ tiêu phải bảo đảm thực hiện nghiêm ngặt: gồm 06 chỉ tiêu (đất canh tác, đất lúa nước phải bảo vệ vĩnh cửu, đất phát triển đô thị, đất xây dựng, đất
bổ sung cho đất canh tác bị chuyển mục đích sang đất xây dựng, đất khai thác mỏ) Các chỉ tiêu nêu trên được xác định trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia và được phân bổ cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh phân bổ tiếp đến từng huyện, quận và quy hoạch của cấp huyện phân bổ tiếp đến từng xã
+ Nhóm các chỉ tiêu được thực hiện linh hoạt (có thể thay đổi giữa các loại chỉ tiêu cùng nhóm trong quá trình thực hiện): thuộc nhóm này gồm 9 chỉ tiêu (đất trồng cây ăn quả, đất rừng, đất trồng cỏ, đất xây dựng, đất hầm mỏ, đất công nghiệp, đất xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, diện tích đất tăng thêm cho xây dựng, đất thương mại - dịch vụ)
Hàng năm, căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất được duyệt, Chính phủ giao chỉ tiêu chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích khác cho từng tỉnh Trên cơ sở đó, các tỉnh giao chỉ tiêu này cho từng huyện, xã để thực hiện
- Các giải pháp chủ yếu để bảo vệ đất nông nghiệp:
Trang 20+ Trong quy hoạch sử dụng đất cấp Quốc gia phải xác định được diện tích đất canh tác cần phải bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Nhà nước, trong đó phải chỉ rõ diện tích đất canh tác cơ bản (chiếm 80% tổng diện tích canh tác) có chất lượng tốt nhất cần được duy trì vĩnh cửu và không được phép chuyển đổi mục đích
sử dụng dưới bất cứ lý do gì
+ Hàng năm Chính phủ công bố kế hoạch sử dụng đất của từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó chỉ cho phép từng địa phương được sử dụng một số diện tích đất canh tác nhất định cho mục đích xây dựng theo đúng quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt Trên cơ sở đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân bổ cụ thể cho từng đơn vị hành chính cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp huyện phân bổ kế hoạch sử dụng đất đến từng đơn vị xã để thực hiện
+ Việc chuyển mục đích sử dụng đất canh tác sang sử dụng vào các mục đích khác phi nông nghiệp phải được phê duyệt tại cấp tỉnh và Chính phủ
+ Trong kế hoạch sử dụng đất tại mỗi địa phương phải xác định cụ thể diện tích đất canh tác được khai thác mới để bù đắp cho diện tích đất canh tác phải chuyển mục đích sang đất xây dựng; các biện pháp để kế hoạch khả thi
+ Hàng năm ngành tài nguyên và đất đai tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát việc bảo vệ quỹ đất canh tác tại từng địa phương Trường hợp quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất bị vi phạm thì tùy từng mức độ vi phạm mà người đứng đầu địa phương
sẽ bị xử lý hành chính hoặc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đất bị vi phạm sẽ bị thu hồi (kể cả trường hợp đã đầu tư), người vi phạm phải nộp khoản tiền đầu tư để tạo ra diện tích đất nông nghiệp mới bù đắp vào phần diện tích bị mất
- Các giải pháp chủ yếu để sử dụng đất tiết kiệm:
+ Không giao đất ở trực tiếp cho người dân để xây dựng nhà ở, các dự án phát triển nhà ở chỉ được phép xây dựng nhà ở cao tầng với mật độ theo quy định
+ Quy định suất đầu tư tối thiểu làm cơ sở khi xét duyệt các dự án đầu tư và kiểm tra, giám sát các dự án đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện dự án (ví dụ như tỉnh Quảng Tây không giao đất để làm sân golf hoặc xây nhà ở dạng biệt thự)
Trang 21+ Chỉ cho phép sử dụng đất vào mục đích sản xuất trong các khu công nghiệp theo quy hoạch được duyệt mà không giao đất cho các cơ sở sản xuất riêng lẻ nhằm khai thác tối đa các công trình kết cấu hạ tầng Trường hợp đặc biệt (không thể bố trí trong khu, cụm công nghiệp) thì mới giao đất cho dự án có vị trí ngoài khu công nghiệp [5, tr 9-11]
b Nhật Bản:
Nhật Bản nằm trong nhóm các quốc gia phát triển G8, là nước tiến hành cải cách kinh tế sớm nhất châu Á, quá độ từ nền kinh tế phong kiến tiểu nông lên công nghiệp hóa Hiện Nhật Bản là một quốc gia công nghiệp hiện đại, tuy nhiên đơn vị sản xuất nông nghiệp chính vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước Với tổng diện tích chưa đến 0,38 triệu km2, bị chia tách thành hàng ngàn đảo lớn, nhỏ, tài nguyên nghèo nàn, đặc biệt diện tích đất canh tác rất hạn chế Đứng trước sức ép về nhu cầu đất cho công nghiệp hóa và dân số đông, Nhật Bản đã chú trọng áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp để thâm canh tăng năng suất
Cũng giống như mô hình của các quốc gia G8 khác, chế độ sở hữu đất đai của Nhật Bản thừa nhận sở hữu và thừa kế của tư nhân Đất đai được chia cho mọi nông dân tạo nên tầng lớp nông dân sở hữu nhỏ ruộng đất Chính sách khuyến khích phát triển sản xuất được ban hành tạo ra động lực thúc đẩy nông dân áp dụng khoa học công nghệ tăng năng suất cây trồng
Trong lĩnh vực công nghiệp, Nhật Bản áp dụng chính sách phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, tỷ lệ đóng góp của các ngành phi nông nghiệp trong thu nhập dân cư nông thôn ngày càng tăng (năm 1950 là 29%, năm 1990 là 85%) [5, tr 19] Công nghiệp phát triển tạo nên kết cấu hạ tầng (giao thông, thông tin, đào tạo, nghiên cứu…) hoàn chỉnh, thúc đấy nông nghiệp tăng trưởng, tạo nên năng suất đất đai cao
Với các chính sách tiết kiệm đất triệt để, chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp, hạn chế tối đa sự chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất ở, sự kết hợp hài hòa giữa nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp, thành thị đã có tác động tích cực
Trang 22đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản, góp phần tạo nên sự phát triển thần
kỳ của Nhật Bản và giữ cho Nhật Bản luôn nằm trong các nước phát triển hàng đầu thế giới
c Đài Loan:
Đài Loan là một quốc đảo với diện tích 36.000 km2 Cũng như các quốc gia châu Á khác, Đài Loan cũng đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp Vào cuối thế kỷ XIX, cải cách ruộng đất ở Đài Loan được tiến hành Quyền sử dụng đất được chuyển từ địa chủ thu tô sang chủ đất thực sự quản lý, sử dụng đất đai Nông nghiệp phát triển theo hướng thâm canh, chuyên sâu, là nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ của Đài Loan
Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, công nghiệp phát triển chậm, Đài Loan thực hiện chính sách “Ly nông bất ly hương”, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn đã thu hút hều hết lao động tăng thêm hàng năm Tỷ lệ thất nghiệp giảm
từ 6,5% năm 1952 xuống còn dưới 3% và giữ ở mức này cho đến nay Từ năm 1952 đến năm 1954, mỗi năm chỉ có khoảng 0,3% đến 2,3% tổng số lao động nông thôn chuyển ra thành phố, vừa đủ với khả năng tạo việc làm của công nghiệp Khi tốc độ công nghiệp hóa chậm lại (năm 1971, kinh tế nông thôn có vai trò điều tiết, giữ lao động tăng thêm hàng năm ở lại nông thôn [5, tr 21]
Trong suốt 30 năm công nghiệp hóa (bắt đầu từ năm 1949), Đài Loan tập trung phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc, mạng lưới điện…)
Hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh cho phép phân bổ sản xuất công nghiệp trên toàn lãnh thổ, nhờ đó có thể phân tán công nghiệp về nông thôn Điều này đã mang lại những hiệu quả to lớn trong cả ngắn và dài hạn cho nền kinh tế - xã hội của Đài Loan
d Canada:
Canada có tổng diện tích 9,98 triệu km2, lớn thứ 2 trên thế giới Canada là một liên bang có 10 tỉnh, trong đó mỗi tỉnh có độc quyền về đất đai và tài nguyên, do đó chính phủ trung ương không có vai trò trong việc quản lý đất đai Mỗi tỉnh đều có
hệ thống quy hoạch sử dụng đất riêng Các hệ thống này có sự khác biệt, nhưng nguyên tắc là khá giống nhau
Trang 23Thành phố và chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch phát triển (như quy hoạch tổng thể) và các quy hoạch vùng Các chính quyền cấp tỉnh xây dựng khuôn khổ pháp lý cho việc lập kế hoạch và quy hoạch và đóng vai trò hoạch định chính sách và giám sát Trong trường hợp tỉnh có sự quan tâm mạnh mẽ trong một vấn đề, tỉnh sẽ quy định các hoạt động một cách trực tiếp, ví dụ như bảo vệ đất nông nghiệp Thông thường chính quyền cấp tỉnh kiểm soát trực tiếp việc phân chia đất đai
Công tác quy hoạch sử dụng đất được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật của cơ quan lập pháp tỉnh, với một đạo luật đặc biệt cho thành phố thủ đô và một Luật Quy hoạch cho 200 thành phố còn lại Theo Luật Quy hoạch chính quyền tỉnh xây dựng chính sách sử dụng đất, khu quy hoạch hoặc mỗi thành phố lập kế hoạch phát triển, và các thành phố xây dựng bản quy hoạch đất đai (zoning by law) trong
đó bao gồm kế hoạch chi tiết và các quy định về sử dụng đất và các tiêu chuẩn phát triển [5, tr 16]
đ Hoa Kỳ
Chế độ sở hữu đất đai của Hoa Kỳ cũng là chế độ tư hữu về đất đai Với diện tích tự nhiên 9,83 triệu km2, Hoa Kỳ là nước có diện tích tự nhiên lớn thứ 3 trên thế giới Nền kinh tế Hoa Kỳ đang ở giai đoạn hậu công nghiệp, trong đó ngành dịch vụ
và công nghiệp đóng góp chủ yếu vào GDP Ngành nông nghiệp chỉ đóng góp 1% vào GDP của Hoa Kỳ, nhưng chiếm tới 60% giá trị sản xuất nông nghiệp của thế giới [24] Tuy có diện tích lớn và nền kinh tế phát triển với công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới nhưng Hòa Kỳ vẫn rất chú trọng công tác quản lý, sử dụng đất Trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phân bổ quỹ đất cho các ngành của Hoa Kỳ cần xem xét các vấn đề sau:
- Sử dụng và tuân theo việc sử dụng cân đối và hài hòa cũng như duy trì sản lượng liên tục;
- Sử dụng cách tiếp cận đa ngành mang tính hệ thống có suy xét tích hợp các yếu tố vật lý, sinh học, kinh tế và các khoa học khác;
- Ưu tiên chọn lựa và bảo vệ các diện tích có lợi ích môi trường thiết yếu;
- Dựa vào sự đánh giá sẵn có trong bản tóm tắt về đất công, tài nguyên đi kèm cũng như các ý nghĩa khác;
Trang 24- Xem xét việc sử dụng hiện tại và tiềm năng sử dụng đất công;
- Xem xét tính khan hiếm tương đối của các giá trị liên quan và sự sẵn sàng của các phương thức lựa chọn (bao gồm cả tái chế) cũng như nơi nhận thực rõ được những giá trị đó;
- Cân nhắc ích lợi dài hạn so với ích lợi trong ngắn hạn;
- Tạo ra sự tuân thủ các luật về kiểm soát ô nhiễm có thể áp dụng bao gồm không khí, nước, tiếng ồn và các tiêu chuẩn ô nhiễm khác hoặc các kế hoạch thực hiện của Liên bang;
- Trong chừng mực phù hợp với các luật quy định về quản lý đất công, phối hợp kiểm kê sử dụng đất, quy hoạch và các hoạt động quản lý đất công cùng với quy hoạch sử dụng đất và các chương trình quản lý của các Bộ và cơ quan Liên bang, chính quyền các bang và địa phương
sử dụng đất một cách tiết kiệm và bền vững Kinh nghiệm quản lý đất đai của các nước phát triển, nhất là các nước châu Á có điều kiện tự nhiên – xã hội giống nước
ta như Trung Quốc, Nhật Bản sẽ là bài học quý báu để Nhà nước ta xem xét, vận dụng triển khai thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
1.3.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam có liên quan đến đề tài
a Điều kiện đất đai của Việt Nam:
Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng đông nam châu Á với diện tích 331.212 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.200 km² biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, bao gồm
Trang 25cả Trường Sa và Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km²
Hình 1.1 Bản đồ địa hình Việt Nam
(Nguồn: [25])
Trang 26Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng tây bắc, đông bắc, Tây Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20% Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam [25]
b Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam:
Theo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 được xác định như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau
- Định hướng phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế:
+ Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm
ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
+ Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh
+ Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững + Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh
+ Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông
Trang 27+ Phát triển hài hoà, bền vững các vùng, xây dựng đô thị và nông thôn mới + Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế + Phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân
+ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo
+ Phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững
+ Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai
+ Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Như vậy trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, việc phát triển công nghiệp, nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, phát triển hài hoà, bền vững các vùng, xây dựng đô thị và nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu Điều này đặt ra yêu cầu phải làm sao để cân đối được quỹ đất phân bổ cho các ngành và sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất để đảm bảo sử dụng đất một cách hiệu quả, tiết kiệm và bền vững
Trang 28- Chế độ sở hữu đất đai:
Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 quy định:
“1 Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
2 Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như sau:
a) Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất (sau đây gọi chung là quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất);
b) Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất;
c) Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
d) Định giá đất
3 Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai như sau:
a) Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất;
b) Thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất;
c) Điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại
4 Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất”
Như vậy có thể thấy Luật Đất đai năm 2003 đã làm rõ vai trò Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Nhà nước giữ quyền định đoạt cao nhất đối với đất đai bằng việc thực hiện những quyền năng cụ thể như quyết định mục đích sử dụng đất, quy định thời hạn sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, định giá đất Nhà nước có quyền hưởng lợi từ đất đai thông qua việc quy định các nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với người sử dụng đất
Với việc làm rõ vai trò của Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Luật Đất đai năm 2003 đã phân định rõ ranh giới giữa quyền của chủ sở hữu
Trang 29đất đai với quyền của người sử dụng đất, nâng cao nhận thức của người sử dụng đất đối về nghĩa vụ của họ đối với chủ sở hữu đất đai [19, tr 13]
- Quản lý Nhà nước về đất đai:
So với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 quy định đầy đủ và hoàn chỉnh hơn về các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định:
“1 Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai
2 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:
a) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó;
b) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính;
c) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
d) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
đ) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; e) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
g) Thống kê, kiểm kê đất đai;
h) Quản lý tài chính về đất đai;
i) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; k) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
l) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và
xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
m) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai;
n) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
3 Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại, đủ năng lực, bảo đảm quản lý đất đai có hiệu lực và hiệu quả”
Trang 30d Đánh giá tác động của hệ thống pháp luật, chính sách đất đai và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đến sự phát triển kinh
tế - xã hội và đời sống nhân dân:
Các hệ thống văn bản pháp luật, chính sách đất đai và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất ở nước ta có ảnh hưởng to lớn đến
sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân
Đối với đất nông nghiệp, việc quản lý được đổi mới theo hướng tăng dần quyền chủ động cho người sử dụng đất bắt đầu bằng Chỉ thị 100 (năm 1981) của Ban Bí thư Trung ương về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp Chỉ thị 100 đã làm thay đổi cơ chế quản lý hợp tác xã, tạo động lực khuyến khích lợi ích vật chất đối với người nhận khoán, nông dân phấn khởi, đầu tư thêm công sức, tiền vốn, vật tư, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tận dụng đất đai để phát triển sản xuất Tiếp đó Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp được ban hành năm
1988 nhằm vào giao khoán ổn định cho nông dân (thời hạn giao khoán 15 năm), người nông dân được chủ động thực hiện các khâu canh tác, ngoài các chi phí dịch
vụ cho hợp tác xã, thuế cho Nhà nước, xã viên được tự do sử dụng và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường [4]
Chính sách đất đai đã thúc đẩy mở rộng diện tích đất nông nghiệp nhờ khai hoang phục hóa, chuyển một số diện tích đất có khả năng sang đất sản xuất nông nghiệp, hạn chế tối đa việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, nhờ
đó từ năm 1990 đến năm 2002, diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp (bao gồm
cả đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản) đã tăng từ 6,9 triệu ha lên 9,4 triệu
ha, góp phần tăng thêm nguồn lực và tư liệu sản xuất cho nông nghiệp Trong 5 năm (1981-1985), sản lượng lương thực quy ra thóc của cả nước tăng 27%, năng suất lúa tăng 23,8%, diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng 62,1% Giá trị thu nhập sản phẩm nông nghiệp trên 1 ha đất nông nghiệp được sử dụng không ngừng tăng lên, năm 1996 đạt 13,5 triệu đồng, năm 2000 là 17,5 triệu đồng, năm
2003 là 19,3 triệu đồng [4]
Trang 31Chính sách đất đai cùng với nhiều chính sách nông nghiệp đã góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, từng bước thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn Trước thời kỳ đổi mới, việc giải quyết lương thực còn gặp nhiều khó khăn, hàng năm nước ta phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực Nhờ thay đổi các chính sách một cách hợp lý nên từ năm 1989 đến nay, nước ta liên tục xuất khẩu gạo với số lượng lớn và thu về ngoại tệ cho quốc gia Năm 1990, sản lượng lương thực cả nước đạt 21,5 triệu tấn, lương thực bình quân đầu người đạt 327,5 kg Đến năm 2003, sản lượng lương thực đã đạt 37,5 triệu tấn, lương thực bình quân đầu người đạt 464,8 kg Nhờ đảm bảo vững chắc lương thực, sản xuất nông nghiệp có điều kiện chuyển sang chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa
có giá trị cao để xuất khẩu
Vào những năm 1990, trước tình trạng nhiều địa phương tùy tiện cho chuyển đất trồng lúa sang sử dụng vào mục đích khác (như làm nhà ở, sản xuất gạch ngói, trồng cây ăn quả…), Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 247 ngày 28/4/1995 để kiểm soát việc sử dụng đất trồng lúa Khi an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, trong đó cho phép chuyển một phần đất trồng lúa kém hiệu quả sang mục đích khác có hiệu quả hơn (như nuôi trồng thủy sản, trồng loại cây khác) để tránh sự lãng phí đất đai
Chính sách đất đai nhằm khuyến khích nông dân tăng cường sử dụng đất có hiệu quả, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nói chung Để đáp ứng nhu cầu về đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước
đã ban hành và hoàn thiện các chính sách về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Nhờ
đó hệ thống cơ sở hạ tầng được nâng cấp nhanh chóng, nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp được hình thành, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và
ổn định đời sống nhân dân ở nông thôn
Trang 32Tại đô thị, các chính sách về đất đai cũng có tác động lớn tới quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, mang lại những kết quả tích cực Việc xây dựng các khu công nghiệp không những tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp mà còn kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ phục vụ trực tiếp cho sản xuất công nghiệp và hình thành mạng lưới dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của người lao động, đặc biệt là nhu cầu về nhà ở, qua đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dẩn tỷ trọng ngành nông nghiệp trong nền kinh tế Theo Bộ Kế hoạch – Đầu tư, đến năm
2010 cả nước đã có 162 khu công nghiệp đi vào hoạt động với tổng diện tích hơn 38.800 ha và 74 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng
và xây dựng cơ bản với tổng diện tích gần 14.800 ha Các khu công nghiệp phân bố
ở 61 tỉnh thành với tỷ lệ diện tích lấp đầy gần 48% và đã thu hút được trên 3.600 dự
án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 46,9 tỷ USD (chiếm 30% về số
dự án và 25% về vốn đầu tư của cả nước) và 3.200 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 254.000 tỷ đồng Hiện cả nước có 1,34 triệu lao động làm việc trong các khu công nghiệp Chỉ tính riêng trong năm 2009, các doanh nghiệp khu công nghiệp đã tạo ra 12,2 tỷ USD và 67,9 tỷ đồng doanh thu, xuất khẩu đạt 12,3 tỷ USD và 2.600 tỷ đồng, nộp ngân sách 689 triệu USD và 4.000 tỷ đồng
Các khu công nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của các địa phương, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân, nhất là tại các vùng kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn Tại một số nơi, việc phát triển các khu công nghiệp đã tạo ra các khu dân cư lân cận cung cấp dịch vụ cho hoạt động sản xuất, tạo tiền đề hình thành các cụm đô thị - sản xuất – dịch vụ liên kết, hỗ trợ phát triển Các khu công nghiệp đã thu hút nhiều nhà đầu tư lớn, có uy tín đầu tư vào Việt Nam như Canon, Samsung, Formosa Trình độ công nghệ của các dự án đầu tư ngày càng nâng cao, sử dụng công nghệ tiên tiến với lao động chất lượng cao, phức tạp, đòi hỏi nhiều kỹ năng
Theo quy hoạch, từ năm 2010 đến năm 2020 cả nước sẽ thành lập mới 106 khu công nghiệp với diện tích hơn 50.000 ha và mở rộng 26 khu công nghiệp với diện
Trang 33tích gần 6.000 ha Phấn đấu thu hút thêm khoảng 6.500 – 6.800 dự án với tổng vốn đầu tư trên 45 – 50 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đạt 50%, thu hút khoảng 2,1 – 2,2 triệu lao động Trong giai đoạn 2020, hoàn thiện cơ bản mạng lưới khu công nghiệp trên toàn lãnh thổ, với tổng diện tích 120.000 ha, đưa giá trị sản xuất công nghiệp trong các khu công nghiệp đạt 25% GDP cả nước [7]
Về phát triển đô thị, Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tính đến tháng 6/2012, mạng lưới đô thị quốc gia của Việt Nam đã có 760 đô thị; tỷ lệ đô thị hóa khoảng 31% và sẽ đạt khoảng xấp xỉ 45% vào đầu năm tới Hàng năm, khu vực đô thị đóng góp cho nền kinh tế khoảng 70% GDP và ngày càng khẳng định được vai trò, động lực cũng như là hạt nhân trong việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi vùng, mỗi địa phương và của cả đất nước
Tuy nhiên sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp, khu đô thị đã làm thu hẹp diện tích đất canh tác nông nghiệp, gây ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia, gây sức ép lên việc khai thác tài nguyên thiên nhiên và năng lượng, ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường Mặt khác, quá trình này còn làm nảy sinh các vấn đề xã hội nan giải cần phải giải quyết như tình trạng thiếu hụt nhà ở, tệ nạn xã hội và đặc biệt là khó khăn trong công tác ổn định đời sống, chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm cho người dân sau khi bị thu hồi đất Tình trạng này đòi hỏi sự quan tâm nghiên cứu, tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn của các cơ quan Nhà nước và các chuyên gia trong lĩnh vực này
đ Một số đề tài nghiên cứu trong nước liên quan đến đánh giá tác động của quá trình chuyển mục đích sử dụng đất:
Ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về tác động của chuyển mục đích sử dụng đất đến sự phát triển kinh tế - xã hội Mới đây là đề tài “Nghiên cứu vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam” do Thạc sỹ Nguyễn Thị Xuân Hương làm chủ nhiệm đề tài Đề tài này
đã làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chuyển mục đích sử dụng đất của Việt Nam trong những năm vừa qua, trên cơ sở đó
đề xuất phương pháp và tài liệu hướng dẫn cách xác định nhu cầu diện tích đất phải chuyển mục đích sử dụng gắn với các chỉ tiêu tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh
Trang 34tế trong các phương án quy hoạch sử dụng đất cấp vùng và cả nước Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm một trong những cơ sở lý luận giúp các cơ quan quản lý Nhà nước chủ động trong việc chỉ đạo, tổ chức xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong cả nước và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Ngoài đề tài nghiên cứu nêu trên còn một số công trình nghiên cứu với quy
mô, phạm vi nhỏ hơn như đề tài “Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du – tỉnh Bắc Ninh” của Nguyễn Thị Ngọc Anh (Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp 1); công trình “Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp trên địa bàn thành phố Huế, giai đoạn 2006 – 2010” của Nguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Phúc Khoa, Trần Ngọc Quang (Tạp chí Khoa học số 71 năm 2012) hay công trình “Thay đổi mục đích sử dụng đất và đời sống kinh tế - xã hội của người dân trong vùng dự án Khu đô thị Nam Cần Thơ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ” của Huỳnh Phú Hiệp, Lê Quang Trí (Tạp chí Khoa học số 18a năm 2011) v.v Nội dung của các công trình nghiên cứu này đều nhằm làm rõ thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất và các tác động tới phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm, bền vững, phát huy các mặt tích cực, hạn chế các tiêu cực do tác động của chuyển mục đích sử dụng đất đến tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đời sống nhân dân
Tại Quảng Ninh, cho đến nay cũng đã có một số đề tài nghiên cứu liên quan đến công tác thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất như đề tài “Đánh giá thực trạng công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp tại thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh” của Nguyễn Văn Bản (Luận văn thạc sỹ Quản lý đất đai khóa 18, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên); đề tài “Đánh giá công tác bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn thành phố Hạ Long- tỉnh Quảng Ninh” của Đặng Quốc Hưng (Luận văn thạc sỹ Quản lý đất đai khóa 18, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên) hay đề tài “Đánh giá công tác Giải phóng mặt bằng của một số dự án trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” của Dương Hồng Minh (Luận văn thạc sỹ Quản lý đất đai khóa 18, Trường
Trang 35Đại học Nông lâm Thái Nguyên)… Các đề tài này đều tập trung vào làm rõ các vấn
đề liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng và đánh giá tác động của việc thu hồi đất tới đời sống của nhân dân trong khu vực bị ảnh hưởng Các đề tài này cũng đã đúc kết được những kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, những tồn tại, bất cập hiện nay và đề xuất biện pháp khắc phục
Trong lĩnh vực phát triển du lịch, cũng đã có một số đề tài nghiên cứu như
“Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Quảng Ninh” của Vương Minh Hoài (Luận văn thạc sỹ ngành Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế, năm 2011) hay
đề tài “Du lịch Quảng Ninh – thực trạng và giải pháp” của Tô Thị Hải An (Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Trường Đại học Ngoại thương, năm 2009) Tuy nhiên điểm hạn chế của các đề tài nghiên cứu này là mới chỉ phân tích được các tiềm năng tự nhiên và nhân văn của du lịch Quảng Ninh mà chưa có
sự gắn kết với hệ thống cơ sở hạ tầng, đô thị - một nhân tố rất quan trọng trong việc phát triển du lịch bền vững
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng và những vấn đề liên quan đến công tác chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, những tác động của nó đến quá trình phát triển hạ tầng, đô thị và đời sống của nhân dân sau khi bị thu hồi đất trên địa bàn phường
2.1.2 Phạm vi, địa điểm nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: các số liệu, thông tin về chuyển mục đích sử dụng đất đề tài thu thập để tổng hợp, phân tích, đánh giá được lấy từ năm 2005 đến hết năm 2012
- Địa điểm nghiên cứu: được xác định trên địa bàn phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
2.1.3 Thời gian nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9/2013 đến tháng 10/2014
2.2 Nội dung nghiên cứu:
Gồm 05 nội dung:
(1) Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của phường Bãi Cháy
(2) Thực trạng, kết quả công tác chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn phường Bãi Cháy
(3) Những tác động của chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới sự phát triển hạ tầng, đô thị và đời sống nhân dân trên địa bàn Phường (4) Xác định khó khăn, cản trở của công tác chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn phường Bãi Cháy
(05) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác chuyển mục đich sử dụng đất trên địa bàn Phường
Trang 372.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập các tài liệu, thông tin liên quan
Phương pháp này sử dụng và kế thừa những tài liệu đã có về vấn đề nghiên cứu như: các công trình nghiên cứu trước đó; các văn bản quy phạm pháp luật, quy định, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai; các số liệu, thông tin của các
cơ quan, tổ chức đã được tổng hợp, công bố; các hồ sơ, dữ liệu địa chính lưu trữ tại các cơ quan Nhà nước và UBND phường; tài liệu, thông tin từ các nguồn: giáo trình, bài giảng, sách báo, tạp chí, internet…
Cụ thể phần nghiên cứu tổng quan của đề tài sẽ được viết trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó về công tác chuyển mục đích sử dụng đất và các tác động của nó tới sự phát triển hạ tầng, đô thị và đời sống nhân dân đã được công
bố qua các kênh như sách báo, tạp chí, mạng internet…; phần phân tích thực trạng của đề tài cũng sử dụng một số số liệu, thông tin liên quan đến công tác chuyển mục đích sử dụng đất của các cơ quan Nhà nước, tổ chức đã được tổng hợp, công bố gồm các quyết định phê duyệt quy hoạch, phê duyệt dự án, bản đồ quy hoạch sử dụng đất; số liệu thống kê, kiểm kê đất đai qua các năm… Sử dụng phương pháp này sẽ tiết kiệm được thời gian, kinh phí thu thập và tổng hợp số liệu, đồng thời tăng độ tin cậy của các số liệu cũng như tránh được sự chồng chéo, thiếu nhất quán giữa các thông tin khi viết đề tài
2.3 2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn để thu thập các tài liệu sơ cấp
Phương pháp này được sử dụng để thu thập số liệu, thông tin từ việc đi điểu tra thực tế bằng các phiếu điều tra được xây dựng sẵn theo các nhóm chỉ tiêu cụ thể và phỏng vấn trực tiếp các đơn vị, cá nhân liên quan thuộc các cơ quan quản lý Nhà nước của địa phương, Chủ dự án và các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất hoặc chịu ảnh hưởng của chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn Phường, cụ thể:
- Điều tra, phỏng vấn các đơn vị, doanh nghiệp, chủ dự án kinh doanh dịch vụ
du lịch trên địa bàn Phường
+ Mục tiêu: có được các số liệu về hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp để đánh giá những hiệu quả của công tác chuyển mục đích sử dụng đất và
Trang 38những khó khăn, cản trở trong quá trình thực hiện dự án của doanh nghiệp trên địa bàn phường
+ Phương pháp điều tra: phỏng vấn trực tiếp đơn vị, doanh nghiệp, Chủ dự án
thông qua mẫu phiếu điều tra số 1 (Mẫu số 1 - Phụ lục 3) Tổng số phiếu điểu tra
phỏng vấn: 50 phiếu
- Điều tra, phỏng vấn cơ quan Nhà nước quản lý về lĩnh vực bồi thường giải phóng mặt bằng (gồm Ban Quản lý dự án công trình thành phố Hạ Long, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Hạ Long, UBND phường Bãi Cháy – thành phố Hạ Long)
+ Mục tiêu: có được các số liệu về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại các dự án phát triển hạ tầng, đô thị để đánh giá được tình hình của công tác này
và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện
+ Phương pháp điều tra: phỏng vấn trực tiếp thông qua mẫu phiếu điều tra số 2
(Mẫu số 2 - Phụ lục 3) Tổng số phiếu điều tra phỏng vấn: 50 phiếu
Việc chọn mẫu dự án để điều tra, phỏng vấn chủ yếu tập trung vào các dự án trọng điểm, có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội và hạ tầng đô thị của Phường, đồng thời ảnh hưởng đến nhiều hộ dân, đặc biệt là các hộ phải di chuyển nơi ở đến khu tái định cư và chuyển đổi nghề nghiệp mới
Ngoài ra, phương pháp này còn sử dụng kết quả từ việc phỏng vấn, xin ý kiến của các chuyên gia về những kinh nghiệm, cách thức quản lý trong công tác chuyển mục đích sử dụng đất
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của phường Bãi Cháy
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Phường Bãi Cháy nằm ở phía Tây thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh với tổng diện tích 17,1314 km2, có 03 mặt giáp biển với vị trí địa lý như sau:
+ Phía Bắc giáp phường Giếng Đáy và sông Cửa Lục
+ Phía Nam giáp Vịnh Hạ Long
+ Phía Đông giáp sông Cửa Lục
+ Phía Tây giáp phường Hùng Thắng
Hình 3.1 Sơ đồ địa giới hành chính phường Bãi Cháy
(Nguồn: Google map - 2014)
Bãi Cháy nằm bên bờ Vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới 02 lần được UNESCO công nhận và được bầu chọn là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới - có tầm quan trọng về kinh tế chính trị, an ninh quốc phòng Trong những năm qua tình hình kinh tế của phường có sự phát triển mạnh, hệ thống cơ sở
Trang 40hạ tầng được quan tâm đầu tư nâng cấp, đặc biệt là giao thông Về đường bộ, phường Bãi Cháy có Quốc lộ 18A và cầu Bãi Cháy là tuyến đường huyết mạch, lối liền hai miền Đông – Tây của tỉnh Quảng Ninh cũng như giữa tỉnh Quảng Ninh với các tỉnh, thành khu vực Đông Bắc Bộ Về đường sắt, Bãi Cháy là điểm dừng cuối cùng của tuyến đường sắt Yên Viên – Hạ Long, nằm cạnh ga Hạ Long sắp được hoàn thành và đưa vào vận hành Về đường thủy, Bãi Cháy có cảng nước sâu Cái Lân lớn nhất Miền Bắc đang không ngừng được mở rộng, cảng tàu du lịch Bãi Cháy
và cảng dầu B12, đáp ứng nhu cầu rất lớn về tập kết, vận chuyển hàng hóa, khách
du lịch trong nước và quốc tế, là đầu mối cung cấp xăng dầu cho cả Miền Bắc Với
vị trí địa lý rất thuận lợi, Bãi Cháy có điều kiện quan trọng để phường phát triển kinh tế năng động, đa dạng và hoà nhập với việc phát triển kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật trong nước và quốc tế
- Địa hình, địa mạo:
Bãi Cháy có địa hình đa dạng gồm cả đồi núi và đất bằng ven biển, được chia thành các tiểu vùng sau:
+ Tiểu vùng đồi núi chạy dài từ phường Hùng Thắng ra tới giáp cầu Bãi Cháy gồm các dải đồi cao trung bình 80m, điểm cao nhất là đỉnh núi Bãi Cháy với chiều cao 170m, độ dốc trung bình từ 15 - 20%, xen kẽ giữa đồi núi là thung lũng nhỏ, hẹp + Tiểu vùng đất bằng ven biển ở phía Nam đường Hạ Long chạy dài từ khu dân cư du lịch Đông Hùng Thắng đến bến phà cũ, độ cao trung bình từ 0,5 - 5m Trong những năm qua diện tích đất bằng không ngừng được mở rộng do việc san lấp các bãi cạn ven Vịnh thành các khu đô thị mới, cơ sở hạ tầng đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ
Qua kết quả khảo sát địa chất công trình, kết cấu địa chất chủ yếu là đất sỏi sạn, cuội sỏi, cát sét ổn định, cường độ chịu tải cao từ 2,5 - 4,5 kg/cm2
thuận lợi cho xây dựng các công trình
Với đặc điểm địa hình, địa mạo như trên, Bãi Cháy không thích hợp để phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên cần chú trọng công tác chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng nhằm giữ gìn môi trường, cảnh quan sinh thái khu vực Vịnh Hạ Long