Cá nhân luôn có lý lịch dân sự cho phép phân biệt với cá nhân khác. Sự tồn tại của tư cách chủ thể quan hệ pháp luật của cá nhân lệ thuộc vào một số điều kiện. Mặt khác, ta biết rằng trên nguyên tắc, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật ngang nhau và, một cách ngoại lệ, một cá nhân nào đó có thể mất năng lực pháp luật trong một hoặc nhiều quan hệ đặc thù; trái lại, không phải mọi cá nhân đều có năng lực hành vi ngang nhau và có những cá nhân ở trong tình trạng mất năng lực hành vi tổng quát hoặc có năng lực hành vi không đầy đủ (gọi chung là không có năng lực hành vi): luật xác định rằng người không có năng lực hành vi cần được bảo vệ. Cuối cùng, có những cá nhân, dù đã thành niên, ở trong tình trạng suy đồi về nhân cách: luật nói rằng những cá nhân này có thể ở bị đặt trong tình trạng bị hạn chế năng lực hành vi để các giao dịch của họ được giám sát nhằm tránh gây thiệt hại cho người khác, cũng như để bảo vệ quyền lợi của chính họ trong điều kiện những quyền lợi ấy có nguy cơ bị hy sinh trong những giao dịch được xác lập một cách thiếu cân nhắc.
Trang 1TÌM HIỂU VỀ LUẬT DÂN SỰ
Chương I Cá nhân
Cá nhân luôn có lý lịch dân sự cho phép phân biệt với cá nhân khác Sự tồn tại của tư cách chủ thể quan hệ pháp luật của cá nhân lệ thuộc vào một số điều kiện Mặt khác, ta biết rằng trên nguyên tắc, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật ngang nhau và, một cách ngoại lệ, một cá nhân nào đó có thể mất năng lực pháp luật trong một hoặc nhiều quan hệ đặc thù; trái lại, không phải mọi cá nhân đều có năng lực hành vi ngang nhau và có những cá nhân ở trong tình trạng mất năng lực hành vi tổng quát hoặc có năng lực hành vi không đầy đủ (gọi chung là không có năng lực hành vi): luật xác định rằng người không có năng lực hành vi cần được bảo vệ Cuối cùng, có những cá nhân,
dù đã thành niên, ở trong tình trạng suy đồi về nhân cách: luật nói rằng những cá nhân này có thể ở bị đặt trong tình trạng bị hạn chế năng lực hành vi để các giao dịch của họ được giám sát nhằm tránh gây thiệt hại cho người khác, cũng như để bảo vệ quyền lợi của chính họ trong điều kiện những quyền lợi ấy có nguy cơ bị hy sinh trong những giao dịch được xác lập một cách thiếu cân nhắc
Mục I Lý lịch dân sự của cá nhân
Lý lịch dân sự của cá nhân hình thành từ ba yếu tố: họ và tên, hộ tịch, và nơi cư trú
I Họ và tên
Khái niệm Họ và tên là danh xưng bắt buộc mà một cá nhân phải có để phân
biệt với những những cá nhân khác, nhất là khi được xướng lên ở nơi công cộng Họ và
tên bao gồm hai phần: họ, để chỉ định nguồn gốc gia đình; tên (đúng ra là tên và chữ lót
hoặc tên đệm), để chỉ định một người không phải là một người khác Tất nhiên, chỉ họ
và tên thôi chưa đủ để phân biệt các cá nhân trong tất cả mọi trường hợp; nhưng rõ ràng, trong hầu hết các quá trình giao tiếp phổ thông, họ và tên là công cụ phân biệt hữu hiệu nhất
1 Quyền được đặt họ và tên
Mỗi người có quyền có họ và tên Nguyên tắc này được chính thức thừa nhận trong
luật viết (BLDS Ðiều 28 khoản 1) Quyền có họ và tên được hiểu như quyền được gọi, được xưng hô, quyền tự xưng bằng họ và tên, trong quan hệ với người khác Tương ứng với quyền có họ và tên, mỗi người có nghĩa vụ có họ và tên: Nghĩa vụ có họ và tên được xác lập trong mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước: cá nhân phải có họ và tên, vì điều
đó cần thiết cho việc quản lý dân cư, cho việc quản lý hộ tịch và lý lịch tư pháp của cá nhân
1
Trang 2Sử dụng họ và tên Theo BLDS Ðiều 28 khoản 2, cá nhân xác lập, thực hiện quyền và
nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận Thực ra, cá nhân có nghĩa vụ sử dụng họ và tên thật của mình không chỉ trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự Cá nhân chỉ được phép sử dụng họ và tên khác, không phải là họ và tên được ghi trong chứng thư khai sinh, trong những trường hợp mà luật không cấm Ðặc biệt, họ và tên thật phải được sử dụng trong các giấy tờ giao dịch với cơ quan Nhà nước
2 Ðặt họ
Nguyên tắc lấy họ cha Cá nhân, khi sinh ra, được mang họ cha Trong một số cộng
đồng dân tộc ít người ở Việt Nam có thể tồn tại tục lệ cho con lấy họ mẹ Bởi vậy,
BLDS Ðiều 55 khoản 1 quy định rằng “họ của trẻ sơ sinh là họ của người cha hoặc họ
của người mẹ theo tập quán ” Dẫu sao, tục lệ lấy họ mẹ không phổ biến; điều đó có
nghĩa rằng tục lệ lấy họ cha mang tính nguyên tắc
Ðặt họ cho trẻ bị bỏ rơi Luật viết hiện hành không có quy định về việc đặt họ cho trẻ
bị bỏ rơi Trong trường hợp có người nhận nuôi trẻ bị bỏ rơi, thì theo quy định của luật,
họ và tên của người nhận nuôi được ghi vào các ô dành cho cha, mẹ trong giấy khai sinh (Nghị định số ngày Ðiều 21 đoạn chót) Ðiều đó cho phép nghĩ rằng trẻ bị bỏ rơi trong trường hợp này sẽ mang họ của người cha nuôi (nếu có đủ cha, mẹ nuôi hoặc chỉ có cha nuôi) hoặc họ của mẹ nuôi (nếu chỉ có mẹ) Nhưng trong trường hợp không có ai nhận nuôi trẻ bị bỏ rơi, thì cơ quan hộ tịch vẫn phải đăng ký khai sinh: hẳn khi đó chính cá nhân, tổ chức nhận nuôi dưỡng cùng với cơ quan hộ tịch phải chọn cho trẻ bị bỏ rơi một
họ, theo tập quán của nơi đăng ký khai sinh1[2] Thông thường, họ được lựa chọn trong trường hợp này là họ được mang bởi đa số hoặc nhiều cư dân trong vùng nơi phát hiện đứa trẻ hoặc bơi đăng ký khai sinh cho đứa trẻ
B Thay đổi họ và tên
Thay đổi họ Theo khoản 1 Ðiều 29 BLDS, việc thay đổi họ được cho phép trong những
trường hợp sau đây: 1 - Theo yêu cầu của đương sự, mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của mình; 2 - Theo yêu cầu của cha, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ tên mà cha, mẹ đẻ đã đặt; 3 - Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người con khi xác định cha,
mẹ cho con; 4 - Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại; 5 - Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc từ nhỏ mà tìm ra nguồn gốc truyền thống của mình; 5 - Các trường hợp khác do pháp luật quy định Luật nói thêm rằng việc thay đổi
họ, tên cho người có đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó Ta có nhận xét:
1[2] Trong thực tiễn áp dụng pháp luật ở Pháp, họ trong trường hợp này sẽ được lựa chọn giữa các từ được dùng để đặt tên
2
Trang 3- Việc thay đổi họ, trong luật Việt Nam, chỉ được thực hiện trên cơ sở có yêu cầu của những người có liên quan chứ không bao giờ là hệ quả đương nhiên của một giao dịch hoặc một sự kiện pháp lý (ví dụ, nhận con nuôi).
- Trường hợp thứ nhất ghi trên, theo tập quán, chỉ được áp dụng đối với việc thay đổi tên: “họ” trước hết là một giá trị tinh thần, giá trị đạo đức; thay đổi họ với lý do rằng mang một họ nào đó, thì sẽ bị mất danh dự là một thái độ phủ nhận nguồn gốc và bị coi như phi đạo đức
- Việc thay đổi họ của người dưới 18 tuổi được thực hiện theo đơn yêu cầu của cha, mẹ (Nghị định số 83-CP ngày 10/10/1998 Điều 53 khoản 2) Đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên, thì phải có sự đồng ý của người đó (cùng điều luật)
Thay đổi tên Việc thay đổi tên được cho phép trong những trường hợp tương tự như
đối với việc thay đổi họ Việc thay đổi tên thường được yêu cầu trong trường hợp thứ nhất của khoản 1 Ðiều 29 BLDS; trong các trường hợp còn lại, các yêu cầu thường chỉ dừng lại ở việc thay đổi họ
Thủ tục Trong luật Việt Nam hiện hành, việc thay đổi họ, tên được thực hiện trong
khuôn khổ thủ tục điều chỉnh chứng thư khai sinh về phần họ tên Điều đó có nghĩa rằng
cơ quan có quyền cho phép thay đổi họ tên là UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền (đúng hơn là UBND tỉnh nơi đăng ký khai sinh)2[7]
Người muốn xin thay đổi họ, tên phải lập một bộ hồ sơ xin thay đổi nội dung chứng thư
hộ tịch (đúng hơn là chứng thư khai sinh), bao gồm: đơn xin thay đổi họ, tên, bản chính giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình của người có đơn yêu cầu, chứng minh nhân dân và các giấy tờ cần thiết khác theo quy định tại Điều 29 BLDS Trong trường hợp không có các giấy tờ này thì phải có giấy tờ hợp lệ khác thay thế Đơn xin thay đổi họ, tên phải nêu rõ lý do và có xác nhận của UBND xã nơi cư trú, cũng như UBND xã nơi đăng ký khai sinh
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, UBND tỉnh phải ra quyết định của mình Nếu xét thấy việc thay đổi họ, tên là có lý do chính đáng, thì UBND quyết định cho phép thay đổi họ, tên Quyết định cho phép thay đổi họ, tên được Sở tư pháp ghi vào
sổ đăng ký thay đổi họ, tên và được ghi nhận trên bản chính giấy khai sinh của đương
sự
II Hộ tịch
Tình trạng nhân thân và chứng thư hộ tịch Cá nhân được phân biệt với cá nhân khác
bằng việc xác định những yếu tố tạo thành tình trạng nhân thân Quan niệm cổ điển chỉ
2[7] Giải pháp này được thừa nhận tại Điều 52 Nghị đinh số 83-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch Thực ra, điều luật nói trên được soạn thảo một cách khá lúng túng Tiêu đề của điều luật là “thẩm quyền đăng ký việc thay đổi họ, tên…” Tiêu đề đó cho phép nghĩ rằng các cơ quan được liệt kê trong điều luật chỉ là các cơ quan đăng ký việc thay đổi họ, tên, còn cơ quan cho phép thay đổi họ tên là cơ quan khác Thế nhưng, cũng chính điều luật này lại nói rõ rằng cơ quan được liệt kê trong điều luật là cơ quan có thẩm quyền cho phép thay đổi họ tên (UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); còn cơ quan đăng ký, theo Điều 53 tiếp sau đó, lại là cơ quan khác (Sở tư pháp)
3
Trang 4coi như chất liệu của tình trạng nhân thân những yếu tố gắn liền cá nhân với Nhà nước
và gia đình: quốc tịch, quan hệ cha-con, mẹ-con và quan hệ vợ chồng Trong quan niệm hiện đại, các yếu tố cấu thành tình trạng nhân thân rất đa dạng: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo, tình trạng hôn nhân và gia đình, dân tộc, quốc tịch, Một số yếu tố cơ bản của tình trạng nhân thân được chính thức ghi nhận trong những giấy tờ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lập, gọi là chứng thư hộ tịch
Khái niệm chứng thư hộ tịch Ðó là văn bản do cơ quan Nhà nước lập nhằm ghi nhận
những sự kiện đáng chú ý nhất trong đời sống dân sự của cá nhân Ba loại chứng thư hộ tịch quan trọng nhất là giấy khai sinh, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và giấy chứng
tử
Lập chứng thư hộ tịch
1 Những người tham gia vào việc lập chứng thư hộ tịch
Người lập chứng thư hộ tịch Người lập chứng thư hộ tịch là Chủ tịch ủy ban nhân dân
cấp có thẩm quyền đăng ký hộ tịch Nghị định số 83-CP ngày 10/10/1998, khi quy định rằng Chủ tịch UBND có quyền ký và cấp các chứng thư hộ tịch, không dự liệu khả năng
ủy quyền của Chủ tịch UBND cho một người khác để ký chứng thư hộ tịch Tuy nhiên, trong thực tiễn, Chủ tịch UBND cấp tỉnh thường uỷ quyền cho Giám đốc Sở tư pháp ký các chứng thư hộ tịch chỉ liên quan đến công dân việt Nam
Sở Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo chứng thư hộ tịch do Chủ tịch UBND tỉnh ký và lập, lưu trữ sổ đăng ký hộ tịch Cán bộ hộ tịch tư pháp là người soạn thảo chứng thư hộ tịch do Chủ tịch UBND xã ký và lập, lưu trữ sổ đăng ký hộ tịch
Người khai Người khai là người đến cơ quan đăng ký hộ tịch để xác nhận với người
lập chứng thư hộ tịch về việc xảy ra sự kiện cần được ghi nhận bằng chứng thư hộ tịch Trong việc đăng ký kết hôn, người khai là những người kết hôn Trong việc khai sinh và khai tử, người khai là người thân tích của người có tên trong chứng thư hộ tịch hoặc một
cơ quan, tổ chức có trách nhiệm theo quy định của pháp luật về hộ tịch
Người làm chứng Vai trò của người làm chứng chỉ được ghi nhận trong thủ tục lập
một vài loại chứng thư hộ tịch
- Làm chứng việc đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi - Ðăng ký lại
việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi là một thủ tục đặc biệt được cho phép trong trường hợp việc đăng ký hộ tịch đã được thực hiện, như bản chính chứng thư hộ tịch
và sổ gốc đã bị mất hoặc hư hỏng mà không sử dụng được (Nghị định số 83-CP ngày 10/10/1998 Ðiều 63) Người xin đăng ký lại phải làm đơn có xác nhận của hai người làm chứng.(Ðiều 65)
- Làm chứng việc khai tử cho người chết không rõ tung tích - Người phát hiện người
chết không rõ tung tích phải báo ngay cho UBND cấp xã hoặc Công an cơ sở nơi có
4
Trang 5người chết để lập biên bản xác nhận tình trạng người chết không rõ tung tích (Nghị định đã dẫn Ðiều 31) Biên bản phải có chữ ký của người phát hiện ra người chết không rõ tung tích, đại diện Công an xã, đại diện ủy ban nhân dân và hai người làm chứng (cùng điều luật).
- Làm chứng cho việc nhận con - Trong trường hợp một người (chưa nộp đơn xin nhận
con) mà tính mạng bị cái chết đe dọa do bịnh tật hoặc do các nguyên nhân khác, không thể đến ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu công nhận người khác là con mình, thì đơn được thay thế bằng văn bản có xác nhận của hai người làm chứng về nguyện vọng nhận con của người đó (Nghị định đã dẫn Ðiều 48)
Người làm chứng phải có đủ các điều kiện quy định tại khoản 3 Ðiều 19 Nghị định đã dẫn, tức là phải: 1 - Ðủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; 2 - Biết rõ sự việc liên quan đến việc làm chứng; 3 - Không có quyền và lợi ích liên quan đến việc làm chứng Cần lưu ý rằng người làm chứng chỉ ký vào các giấy tờ có tác dụng thiết lập hồ
sơ xin đăng ký hộ tịch, không ký vào chứng thư hộ tịch
2 Các quy định riêng về việc lập giấy khai sinh
Khai việc sinh Người khai việc sinh, trên nguyên tắc, là cha, mẹ hoặc người thân thích
của người được khai sinh (BLDS Ðiều 55 khoản 2) Trường hợp trẻ bị bỏ rơi, thì người khai sinh là cá nhân, tổ chức nhận hoặc được chỉ định tiếp nhận nuôi dưỡng trẻ đó (BLDS Ðiều 56 khoản 2)
Việc khai sinh phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày sinh của trẻ; đối với các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, thì thời hạn này là 60 ngày Trong trường hợp trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, thì việc khai sinh phải được cá nhân, tổ chức nhận nuôi dưỡng thực hiện sau 30 ngày, kể từ ngày phát hiện mà không tìm được cha, mẹ (Nghị định đã dẫn Điều 21)
Trong trường hợp khai sinh trễ hạn hoặc khai lại việc sinh, thì, mặc dù luật không quy định rõ, có thể tin rằng người phải khai vẫn là cha, mẹ, người thân thích, người đại diện theo pháp luật của người được khai sinh hoặc chính người được khai sinh, nếu người này có đủ năng lực hành vi
3 Các quy định riêng về việc lập giấy chứng tử
Khai việc tử Người khai việc tử là người thân thích, chủ nhà hoặc cơ quan, đơn vị, tổ
chức nơi có người chết (BLDS Ðiều 60 khoản 1) Việc khai tử phải được thực hiện trong vòng 48 giờ kể từ khi người đó chết (Nghị định đã dẫn Ðiều 28) Ðối với khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, thì thời hạn trên không quá 15 ngày (cùng điều luật) Nếu việc khai tử được thực hiện trên cơ sở có quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết, thì người khai tử cũng chính là người đã yêu cầu Toà án ra quyết định đó Người khai tử phải xuất trình được giấy báo tử do cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định tại Ðiều
33 Nghị định đã dẫn
5
Trang 6Trong trường hợp người chết không rõ tung tích, thì, một khi được phát hiện, người phát hiện phải báo ngay cho UBND cấp xã hoặc Công an cơ sở nơi có người chết để lập biên bản xác nhận tình trạng người chết không rõ tung tích, như đã biết Trong thời hạn 72 giờ, kể từ khi phát hiện người chết, nếu không tìm được người thân thích và được phép của Công an cấp có thẩm quyền, thì UBND nơi có người chết thực hiện việc khai và đăng ký khai tử cùng một lúc (cùng Ðiều 28).
Nội dung giấy chứng tử Giấy chứng tử được lập theo mẫu do Bộ Tư pháp thống nhất
quản lý việc phát hành Ngày và nơi chết của người chết không rõ tung tích, nếu không xác định được, thì được quy ước là ngày và nơi lập biên bản (Ðiều 34) Ngày chết của người được Toà án ra quyết định tuyên bố là đã chết do Toà án xác định (BLDS Ðiều 91 khoản 2); nếu không xác định được, thì ngày chết được quy ước là ngày quyết định liên quan có hiệu lực pháp luật (cùng điều luật)
4 Các quy định riêng về việc lập giấy chứng nhận kết hôn
Khai đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam sống tại Việt Nam Các bên kết hôn
phải lập tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý việc phát hành Tờ khai phải có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi công tác (đối với cán bộ, công chức, người lao động, lực lượng vũ trang nhân dân) hoặc của UBND xã nơi cư trú (đối với nhân dân) của mỗi bên (Nghị định đã dẫn Ðiều 23) Việc xác nhận tình trạng hôn nhân này có giá trị không quá ba mươi ngày (cùng điều luật) Trong trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hay người kia đã chết, thì phải nộp bản sao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án về việc cho ly hôn hoặc bản sao giấy chứng tử (cùng điều luật)
Các bên kết hôn phải tự mình nộp tờ khai đăng ký kết hôn tại UBND xã nơi cư trú của một trong hai bên, trừ trường hợp vắng mặt có lý do chính đáng, có xác nhận của UBND
xã nơi cư trú của người vắng mặt (Nghị định đã dẫn Ðiều 22 và 23)
Sau khi nhận đủ hồ sơ, UBND phải tiến hành xác minh và niêm yết công khai việc xin đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND trong vòng bảy ngày (Nghị định đã dẫn Ðiều 24) Việc xác minh nhằm bảo đảm rằng việc kết hôn không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Nếu cần xác minh thêm, thì thời hạn kéo dài không quá 7 ngày (cùng điều luật) Việc đăng ký kết hôn chỉ được tiến hành, nếu quá thời hạn trên mà không có ai phản đối việc kết hôn của các đương sự
Khai đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài Gọi là kết hôn có yếu tố nước ngoài, việc
kết hôn giữa công dân Việt nam vối công dân nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà có một bên đang định cư ở nước ngoài, và giữa công dân nước ngoài đang sống tại Việt Nam với nhau3[10] Theo đó:
3[10] Các phân tích chi ti t v vi c khai ế ề ệ đă ng ký k t hôn có y u t n c ngo i s ế ế ố ướ à ẽ đượ c th c hi n ự ệ trong khuôn kh môn Lu t gia ình I ổ ậ đ
6
Trang 7- Cơ quan đăng ký kết hôn là UBND tỉnh;
- Không có thủ tục niêm yết; thay vào đó là thủ tục xác minh do Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan Công an thực hiện Nội dung xác minh tất nhiên cũng xoay quanh những điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Trong một số trường hợp đặc thù, việc xác minh còn nhằm làm rõ những hậu quả có thể có của việc kết hôn đối với an ninh quốc gia
Nội dung giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn được
lập theo mẫu do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý việc phát hành Ngày kết hôn là ngày tiến hành lễ đăng ký kết hôn tại UBND xã (ngày UBND tỉnh cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kết hôn đối với việc kết hôn có yếu tố nước ngoài) Giấy chứng nhận kết hôn phải có chữ ký của các bên kết hôn
Thay đổi, cải chính nội dung chứng thư hộ tịch
Khái niệm Thay đội nội dung chứng thư hộ tịch là việc sửa đổi các ghi chép trong
chứng thư đó, một khi có lý do chính đáng hoặc trong những trường hợp khác được pháp luật thừa nhận Cải chính nội dung chứng thư hộ tịch là việc làm cho các chi tiết trong chứng thư phù hợp với sự thật hoặc hợp lý hơn
Chứng thư hộ tịch được phép thay đổi, cải chính và nội dung thay đổi, cải chính được phép Luật hiện hành chỉ dự liệu việc thay đổi, cải chính hộ tịch đối với chứng thư
khai sinh Tất nhiên, một khi nội dung chứng thư khai sinh thay đổi hoặc được cải chính, thì các giấy tờ hộ tịch khác cũng phải được điều chỉnh trên cơ sở áp dụng quy định tại Ðiều 55 Nghị định số 83-CP đã dẫn Vấn đề là phải làm thế nào trong trường hợp Giấy khai sinh không thay đổi cũng không có cải chính, nhưng các chứng thư hộ tịch khác lại
có những chi tiết không phù hợp với Giấy khai sinh (ví dụ: Giấy chứng nhận kết hôn ghi
tên, họ hoặc ngày sinh, nơi sinh không đúng so với giấy khai sinh)? Có lẽ, trong trường
hợp này, vẫn phải dựa vào Ðiều 55 Nghị định đã dẫn để điều chỉnh các chứng thư hộ tịch khác, trên cơ sở đối chiếu nội dung của các chứng thư đó với nội dung của giấy khai sinh4[11] Mặt khác, Ðiều 55 chỉ nói về việc điều chỉnh các giấy tờ liên quan của người có
hộ tịch được thay đổi, cải chính; nhưng nếu các dữ kiện được thay đổi, cải chính được ghi nhận trong giấy tờ của người khác, thì các giấy tờ của người sau này cũng phải được điều chỉnh (ví dụ: nếu tên cha được thay đổi, thì tên cha ghi trên Giấy khai sinh của con phải được điều chỉnh)
Ðối tượng thay đổi bao gồm họ, tên, chữ đệm; đối tượng cải chính bao gồm họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh Dân tộc của một người, nếu được xác định không đúng, có thể được xác định lại Nơi sinh không được liệt kê trong các đối tượng được cải chính
giấy khai sinh, ví dụ, họ tên đương sự, ngày, tháng năm, nơi sinh Có những ghi chép rất riêng của chứng thư hộ tịch khác, chẳng hạn, ngày kết hôn trên Giấy chứng nhận kết hôn Trong điều kiện không có các quy định cho phép cải chính, điều chỉnh trực tiếp đối với các chứng thư hộ tịch khác không phải là chứng thư khai sinh, có lẽ phải thừa nhận rằng việc sửa chữa sai sót trong các chứng thư này được thực hiện theo cách thông thường: viên chức hộ tịch viết chồng lên chỗ có sai sót và ký tên, đòng dấu bên cạnh
7
Trang 8Nói chung, các đối tượng có thể được cải chính rất giới hạn, trong khi bất kỳ ghi nhận nào trong chứng thự hộ tịch cũng có thể sai Không thể nói rằng những chi tiết nào trong giấy khai sinh mà không thể được cải chính hoặc điều chỉnh, thì có thể được sửa chữa trong trường hợp có sai sót, theo thủ tục thông thường: làm thế nào lý giải những cách
xử lý không giống nhau đối với các ghi chép khác nhau trên cùng một chứng thư hộ tịch ? Hẳn pháp luật về hộ tịch còn cần được hoàn thiện ở điểm này
Người yêu cầu thay đổi, cải chính Người có tên trong Giấy khai sinh có quyền yêu
cầu thay đổi cải chính hộ tịch cho mình Trong trường hợp người này chưa đủ 18 tuổi hoặc đã thành niên mà không có năng lực hành vi, thì việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người này do cha, mẹ hoặc người giám hộ yêu cầu (Nghị định đã dẫn Ðiều 53 khoản 2) Ðối với người chưa thành niên từ đủ 9 tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó (cùng điều luật)
Thẩm quyền và thủ tục thay đổi, cải chính Cơ quan có thẩm quyền cho phép việc
thay đổi, cải chính là UBND tỉnh nơi cư trú hoặc nơi đăng ký khai sinh của người có đơn yêu cầu (Nghị định đã dẫn Ðiều 52)
Người có yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch phải nộp đơn kèm theo các giấy tờ cần thiết
do luật quy định5[12] Ðơn phải nói rõ lý do và các nội dung xin thay đổi, cải chính, có xác nhận của UBND xã nơi người yêu cầu cư trú (Nghị định đã dẫn Ðiều 53 khoản 1) Trong trường hợp nơi nộp đơn không phải là nơi đăng ký khai sinh, thì đơn phải có xác nhận của UBND xã nơi đăng ký khai sinh (cùng điều luật)
Thời hạn giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sờ hợp lệ (Ðiều 53 khoản 2) Quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch được đăng ký vào sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch do Sở tư pháp giữ và được ghi nhận trên bản chính giấy khai sinh của đương sự
III Nơi cư trú
Sự cần thiết của việc xác định nơi cư trú Hộ tịch giúp phân biệt một cá nhân với một
cá nhân khác Nhưng để xác lập và thực hiện các giao dịch với người khác, cá nhân phải
ở trong tình trạng có thể được liên lạc Cá nhân không liên lạc được không thể được coi
là chủ thể hiện thực của quyền và nghĩa vụ pháp lý: người ta sẽ không biết làm thế nào gọi người đó đến để tiếp nhận việc thực hiện một nghĩa vụ hoặc để đáp ứng quyền yêu cầu của một người khác
Trong quan niệm truyền thống, đời sống pháp lý của cá nhân nhất thiết phải gắn với một nơi chốn nào đó Luật gọi nơi chốn đó là nơi cư trú Chế định nơi cư trú là biện pháp
5[12] Xem lại thủ tục thay đổi họ, tên
8
Trang 9định vị cá nhân trong không gian, về phương diện pháp lý Nơi cư trú phải là một điểm
cố định trên lãnh thổ chứ không thể là một điểm di động Điều đó cũng có nghĩa rằng mỗi người chỉ có một nơi cư trú: một người có nơi cư trú tại nhiều hơn một điểm cố định coi như luôn di động giữa các điểm cố định đó
Xác định nơi cư trú dựa vào quan hệ quản lý hành chính về trật tự xã hội
Nơi cư trú, trên nguyên tắc, là nơi đăng ký thường trú Theo BLDS Ðiều 48 khoản
1, nơi cư trú của một cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường trú Quy tắc này có lẽ được áp dụng chủ yếu đối với người có đầy đủ năng lực hành vi hoặc từ đủ mười lăm tuổi trở lên và được phép có nơi cư trú riêng trong những trường hợp dự liệu tại các Ðiều 49 khoản 2 và 50 khoản 2 BLDS: người chưa thành niên dưới 15 tuổi có thể đăng ký thường trú nơi một nơi khác với nơi đăng ký thường trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ, nhưng luôn có nơi cư trú (theo luật) trùng với nơi cư trú của những người sau này
Trường hợp cá nhân không có nơi đăng ký thường trú Nếu cá nhân không có đăng
ký thường trú ở bất kỳ nơi nào nhưng lại thường xuyên sinh sống ở một nơi, thì hẳn nơi này phải được coi là nơi cư trú của đương sự Nếu cá nhân không có hộ khẩu thường trú
và không có nơi thường xuyên sinh sống, thì nơi cư trú của người đó là nơi tạm trú và có đăng ký tạm trú (BLDS Ðiều 48 khoản 1)
Trong trường hợp cá nhân không có hộ khẩu thường trú, không có nơi thường xuyên sinh sống và cũng không đăng ký tạm trú ở một nơi nào đó, thì nơi cư trú là nơi người
đó đang sinh sống, làm việc hoặc nơi có tài sản hoặc nơi có phần lớn tài sản, nếu tài sản của người đó ở nhiều nơi (BLDS Ðiều 48 khoản 2)
Lợi ích của việc lựa chọn nơi cư trú có giới hạn: không có tranh chấp liên quan đến
việc thực hiện hợp đồng, nơi cư trú được lựa chọn là địa điểm liên lạc, trao đổi thông tin giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng; có tranh chấp và cần đến vai trò của
Toà án, thì “Toà án nơi cư trú” được hiểu là Toà án nơi cư trú được lựa chọn theo thoả
thuận và các giấy tờ, tài liệu được tống đạt, chuyển giao cho đương sự trong vụ án đến nơi cư trú được lựa chọn ấy Trong mọi trường hợp, việc lựa chọn nơi cư trú để thực hiện hợp đồng không có hiệu lực đối với người thứ ba Mặt khác, việc thay đổi nơi cư trú đã được lựa chọn chỉ có thể được thực hiện với sự thoả thuận của các bên giao kết hợp đồng Và một khi nghĩa vụ theo hợp đồng chấm dứt, thì nơi cư trú được lựa chọn cũng biến mất
Mục II Tư cách chủ thể quan hệ pháp luật của cá nhân
Trên nguyên tắc, cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật từ khi được sinh ra cho đến khi chết Tuy nhiên, trong một vài trường hợp ngoại lệ, luật có thể thừa nhận tư cách chủ
9
Trang 10thể quan hệ pháp luật của cá nhân trước khi cá nhân sinh ra hoặc phủ nhận tư cách đó ngay trong lúc cái chết sinh học của cá nhân còn chưa được xác định rõ
A - Cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật trước khi sinh ra
Tư cách chủ thể có điều kiện đối với một vài quan hệ pháp luật đặc thù Có một
nguyên tắc được quán triệt trong luật La-tinh và cũng được chấp nhận trong luật thực
định Việt Nam: trẻ thành thai coi như sinh ra mỗi khi sự suy đoán đó có lợi cho trẻ ấy Với nguyên tắc đó, cá nhân đã thành thai mà chưa sinh ra có thể hưởng một số quyền Ví
dụ: con đã thành thai trước khi người để lại di sản chết là người thừa kế của người chết, nếu sinh ra và còn sống (BLDS Ðiều 638 khoản 1) Song, tư cách chủ thể quan hệ
pháp luật của cá nhân trong trường hợp này luôn lệ thuộc vào điều kiện: cá nhân phải sinh ra và còn sống Nếu không sinh ra hoặc sinh ra mà không còn sống, cá nhân coi như không bao giờ tồn tại như là chủ thể của quan hệ pháp luật Mặt khác, tư cách chủ thể đó chỉ được thừa nhận cho một vài quan hệ pháp luật được luật xác định rõ, không phải cho tất cả quan hệ pháp luật Tư cách chủ thể quan hệ pháp luật của người chưa được sinh ra
là tư cách chủ thể không hoàn hảo
Thế nào là cá nhân sinh ra và còn sống ? Theo BLDS Điều 60 khoản 2, trẻ sơ sinh,
nếu chết sau khi sinh, thì phải được khai sinh và khai tử; nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay, thì không phải khai sinh và khai tử Có thể nhận thấy rằng luật thực định Việt Nam có xu hướng dựa vào chế định đăng ký khai sinh để thiết lập chứng
cứ không thể đảo ngược về sự tồn tại của trẻ sơ sinh còn sống: được đăng ký khai sinh, trẻ được coi như sinh ra và còn sống, dù có thể chết ít lâu sau đó Theo Nghị định số 83-
CP ngày 10/10/1998 Điều 20, trẻ em sinh ra sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết, thì phải đăng ký khai sinh6[14]
B Cá nhân không còn là chủ thể quan hệ pháp luật ngay trong lúc cái chết sinh học chưa được ghi nhận
1 Mất một phần tư cách chủ thể: cá nhân mất tích
Khái niệm Cá nhân biệt tích mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống
hay đã chết, gọi là cá nhân mất tích Không chắc chắn về số phận của đương sự, đó là nét đặc trưng của tình trạng mất tích
Sự mất tích có thể được duy trì không hạn định trong thời gian như là một tình trạng thực tế, chứ không phải là một tình trạng pháp lý, nếu không có ai yêu cầu Toà án ra một quyết định tuyên bố mất tích Cả khi có người yêu cầu Toà án làm việc đó, thì không
Câu chữ của điều luật có thể gây ngộ nhận: “không phải” có nghĩa là “không có nghĩa vụ’ chứ không nhất thiết là
“không có quyền” Vậy, nếu muốn, thì cha, mẹ hoặc người thân thích cũng có thể khai sinh cho trẻ sinh ra mà sống không đến 24 giờ ? Sẽ tránh được các cuộc tranh cãi, nếu người làm luật nói: “…, thì coi như không tồn tại
và không được khai sinh”
10
Trang 11phải lúc nào Toà án cũng ra quyết định tuyên bố mất tích: tình trạng mất tích, với tư cách
là một sự kiện pháp lý, có hai cấp độ - vắng mặt và mất tích
a Vắng mặt
Ðịnh nghĩa Ðược coi là vắng mặt người biệt tích trong sáu tháng liền (BLDS Ðiều 84)
Biệt tích, nghĩa là đương sự không còn xuất hiện ở nơi cư trú và cũng không để lại tin tức Tình trạng vắng mặt không được xác nhận bằng một quyết định của Toà án Khi có đơn yêu cầu, Toà án, trên cơ sở thừa nhận các bằng chứng về việc đương sự biệt tích từ sáu tháng liên tục trở lên, sẽ ra thông báo tìm kiếm đương sự theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và chính thông báo này đặt cơ sở cho việc áp dụng các quy tắc chi phối tình trạng vắng mặt của cá nhân
Các quy tắc chi phối tình trạng vắng mặt của cá nhân
Về phương diện gia đình, nếu người vắng mặt có con chưa thành niên, thì con được đặt dưới sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha hoặc mẹ còn lại Nếu không còn cha hoặc mẹ, thì,
dù luật không quy định, con chưa thành niên phải có người giám hộ Nếu người vắng mặt có vợ (chồng), thì tình trạng vắng mặt không ảnh hưởng đến việc duy trì quan hệ hôn nhân; vợ hoặc chồng của người vắng mặt không có quyền xin ly hôn chỉ vì mỗi lý
do vắng mặt của người sau này
Về phương diện tài sản, người vắng mặt được đại diện bởi người quản lý tài sản được Toà án chỉ định theo các quy định tại khoản 1 và khoản Ðiều 85 BLDS:
- Ðối với tài sản đã được người vắng mặt uỷ quyền quản lý, thì người được uỷ quyền tiếp tục quản lý;
- Ðối với tài sản chung, thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;
- Tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý, thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu
vợ hoặc chồng đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, thì con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý;
- Nếu không có người được quy định như trên, thì Toà án chỉ định một người trong
số người thân thích quản lý tài sản của người vắng mặt; nếu không có người thân thích, thì Toà án chỉ định một người khác quản lý tài sản
b Mất tích
Ðịnh nghĩa Ðược coi là mất tích người đã biệt tích (khỏi nơi cư trú) từ hai năm liên tục
trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết, mặc dù đã
áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Vậy có nghĩa rằng tình trạng mất tích chỉ được xác nhận về phương diện pháp lý sau khi tình trạng vắng mặt đã được xác nhận do hiệu lực của việc thực hiện các biện pháp thông báo, tìm kiếm của Toà án Vả lại, việc xác nhận mất tích không đương nhiên
mà phải trên cơ sở có đơn yêu cầu và có đủ các điều kiện để xác nhận theo quy định của
11