1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết hậu quả của việc loại bỏ hộ gia đình, tổ hợp tác khỏi chủ thể quan hệ pháp luật dân sự theo tinh thần của bộ luật dân sự năm 2015

95 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều luật về tài sản chung của HGĐ theo BLDS năm 2005 này không có quy định cụ thể về việc phân tách giữa tài sản của các thành viên HGĐ với tài sản chung của HGĐ, trường hợp hai vợ chồn

Trang 1

NGÔ THỊ THU TRANG

GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ CỦA VIỆC LOẠI BỎ HỘ GIA ĐÌNH, TỔ HỢP TÁC KHỎI CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ THEO TINH THẦN CỦA

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

(Định hướng ứng dụng)

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THỊ THU TRANG

GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ CỦA VIỆC LOẠI BỎ HỘ GIA ĐÌNH, TỔ HỢP TÁC KHỎI CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ THEO TINH THẦN CỦA

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Ngô Thị Thu Trang

Trang 4

cảm ơn chân thành nhất tới:

Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Đào tạo sau đại học cùng các giảng viên đã tận tình chỉ dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi Đăng Hiếu- người hướng dẫn và cũng là người đã luôn tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Do kiến thức còn hạn hẹp, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến của quý thầy cô và những người quan tâm đến đề tài để giúp luận văn hoàn thiện hơn

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Ngô Thị Thu Trang

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

4 Các phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

6 Bố cục (các chương) của luận văn 4

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỘ GIA ĐÌNH, TỔ HỢP TÁC……….… 5

1.1 Hộ gia đình, tổ hợp tác trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực 5

1.1.1 Hộ gia đình 5

1.1.2 Tổ hợp tác 18

1.2 Hộ gia đình, tổ hợp tác sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực 25

1.2.1 Khái quát về hộ gia đình, tổ hợp tác 25

1.2.2 Chế độ tài sản của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác 28

1.2.3 Trách nhiệm dân sự của thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác 32

1.2.4 Giao dịch dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác 34

1.2.5 Hậu quả pháp lý đối với giao dịch dân sự do thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện……… 34

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ HỘ GIA ĐÌNH, TỔ HỢP TÁC……….37

2.1 Giải quyết hậu quả của việc loại bỏ chủ thể hộ gia đình, tổ hợp tác theo tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015 37

Trang 7

2.2 Một số vướng mắc trong thực tiễn 53

2.2.1 Những bất cập trong thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch có sự tham gia của hộ gia đình 53

2.2.2 Các vướng mắc thực tiễn liên quan đến tổ hợp tác 63

CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ HƯỚNG GIẢI QUYẾT VÀ ĐỀ XUẤT VĂN BẢN HƯỚNG DẪN BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ HỘ GIA ĐÌNH, TỔ HỢP TÁC 69

3.1 Một số kiến nghị 69

3.2 Đề xuất văn bản hướng dẫn 72

PHẦN KẾT LUẬN 75

Trang 8

Trong khi vẫn còn rất nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực trước BLDS năm 2015 vẫn đang điều chỉnh trực tiếp HGĐ và THT thì đạo luật gốc- Luật chung điều chỉnh các QHPL dân sự lại có sự đột phá quá lớn Việc thay đổi này kéo theo những hậu quả pháp lý không thể lường trước được trong việc thực thi pháp luật và những ý kiến trái chiều trong nghiên cứu luật pháp Nhưng tính đến thời điểm này, chưa có một văn bản hướng dẫn chính thức và

rõ ràng về HGĐ và THT

Lý do thực tiễn

HGĐ và THT vẫn còn tồn tại phổ biến trong các mối quan hệ, vẫn còn

là cái tên quen thuộc với người dân, việc làm biến mất ngay nhóm chủ thể này khỏi đời sống của người dân nói chung và đời sống pháp luật nói riêng đã gây

ra những xáo trộn không cần thiết Việc nghiên cứu về nhóm chủ thể này nhằm có những cái nhìn sâu hơn về lý do tại sao BLDS năm 2015 quy định theo hướng loại bỏ HGĐ và THT ra khỏi chủ thể của QHPL dân sự để có những ứng dụng trong thực tiễn nhằm đảm bảo thực thi pháp luật hiệu quả, đảm bảo ổn định đời sống pháp luật cho người dân

Trang 9

Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Giải quyết hậu quả của

việc loại bỏ hộ gia đình, tổ hợp tác khỏi chủ thể của quan hệ pháp luật dân

sự theo tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Theo nguồn dữ liệu thu thập được, các công trình khoa học về HGĐ, THT trước khi BLDS năm 2015 có hiệu lực tập trung ở những bài viết chỉ ra được những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật về HGĐ, THT và đưa

ra những kiến nghị góp ý cho dự thảo sửa đổi BLDS năm 2005, những bài viết sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực tính đến thời điểm này là những bài viết theo chiều hướng nêu quan điểm ủng hộ hay không ủng hộ tinh thần của BLDS năm 2015 về việc loại bỏ HGĐ, THT ra khỏi chủ thể của phạm vi điều chỉnh của BLDS, một số bất cập khi thi hành theo tinh thần này của BLDS năm 2015 đối với HGĐ và THT Tính đến thời điểm nghiên cứu, chưa có

công trình khoa học nào là Luận văn Thạc sĩ Luật học nghiên cứu về “Giải

quyết hậu quả của việc loại bỏ hộ gia đình và tổ hợp tác khỏi của thể của quan hệ pháp luật dân sự theo tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015”

Trước khi BLDS năm 2015 có hiệu lực có thể kể đến một số bài viết:

- “Bình luận về chủ thể quan hệ pháp luật dân sự trong Bộ luật Dân sự năm

2005”, tác giả Trương Thanh Đức, Hội thảo Tổng kết thi hành Bộ luật Dân sự

năm 2005 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam

- “Hộ gia đình- Những vấn đề đặt ra khi sửa đổi chế định chủ thể trong Bộ

luật Dân sự năm 2005”, tác giả Lê Thị Hoàng Thanh- Phạm Văn Bằng, Tạp

chí Nghiên cứu lập pháp số 20/2012

- “Hộ gia đình, tổ hợp tác trong Bộ luật Dân sự sửa đổi”, tác giả Vũ Thị

Hồng Yến, Đại học Luật Hà Nội

Trang 10

- “Góp ý về 10 vấn đề trọng tâm lấy ý kiến nhân dân trong dự thảo Bộ luật

Dân sự (sửa đổi)”, tác giả Bùi Đăng Hiếu, Tạp chí luật học- số đặc biệt tháng

6/2015

Sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực có thể kể đến:

- “Quy định mới về chủ thể trong Bộ luật Dân sự năm 2015: Có đáng để xã

hội phải gánh chịu hậu quả?”, tác giả Nguyễn Tiến Lập

- “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Cừ- Nguyễn Thị Huệ

Những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra được những quan điểm về

việc HGĐ, THT có nên được coi là chủ thể của QHPL dân sự nữa hay không,

những bất cập khi công nhận và không công nhận HGĐ, THT là chủ thể của

QHPL dân sự nhưng chưa chỉ ra được hướng giải quyết đích xác cho hậu quả

của việc không công nhận HGĐ, THT là chủ thể của QHPL dân sự nữa Đây

là một vấn đề trọng tâm mà Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả hướng đến

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu mà luận văn này hướng tới chính là việc làm rõ

hơn các quy định của BLDS năm 2015 về HGĐ, THT đặt trong mối tương

quan với BLDS năm 2005, bên cạnh đó nêu ra một số vấn đề thực tiễn trong

quá trình tác giả hành nghề và thu thập được, đồng thời nêu ra một số kiến

nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật dân sự về HGĐ, THT

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm khoa học pháp lý

về HGĐ, THT, các quy định pháp luật về HGĐ, THT, các thông tin, tư liệu

thực tế liên quan đến vấn đề này

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả tập trung vào các quy định của

BLDS năm 2005, BLDS năm 2015, một số văn bản pháp luật liên quan đến

HGĐ, THT và tình hình thực thi pháp pháp luật về HGĐ, THT trên thực tiễn

Trang 11

để thấy được sự thay đổi trước và sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực đồng

thời thấy được những vướng mắc, những bất cập do sự thay đổi đó

4 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tác giả xét các quy định của pháp

luật đặt trong mối tương quan với các vấn đề lý luận chung của đối tượng cần

nghiên cứu, tác giả xét từng khía cạnh, qua từng vấn đề để hiểu được bản chất

của các quy định;

- Phương pháp quan sát thực nghiệm: Thông qua hoạt động trong thực tế,

tiếp nhận thông tin, áp dụng pháp luật trong quá trình làm việc, nghiên cứu để

rút ra những nhận xét, đánh giá khách quan

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Thông qua những nghiên cứu trong luận văn, tác giả muốn đóng góp

cái nhìn tổng quan và hợp lý trong việc áp dụng các quy định pháp luật liên

quan đến HGĐ, THT, trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành để

đảm bảo thực thi BLDS năm 2015 một cách hiệu quả

Ý nghĩa thực tiễn

Qua những đóng góp của luận văn tác giả mong muốn phần nào đưa ra

được hướng giải quyết những vướng mắc, những hậu quả do sự thay đổi tư

cách chủ thể của HGĐ, THT trên thực tế, giúp những người hoạt động trong

các lĩnh vực pháp luật liên quan đến HGĐ, THT có thêm những cơ sở lý luận

và cơ sở pháp lý để áp dụng pháp luật chính xác trong quá trình hành nghề

6 Bố cục (các chương) của luận văn

Chương 1: Các quy định pháp luật về hộ gia đình, tổ hợp tác

Chương 2: Những vấn đề thực tiễn về hộ gia đình, tổ hợp tác

Chương 3: Kiến nghị hướng giải quyết và đề xuất văn bản hướng dẫn

Bộ luật Dân sự năm 2015 về hộ gia đình, tổ hợp tác

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỘ GIA ĐÌNH, TỔ HỢP TÁC

1.1 Hộ gia đình, tổ hợp tác trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực

1.1.1 Hộ gia đình

HGĐ được pháp luật Việt Nam ghi nhận từ rất sớm, được coi là một chủ thể pháp lý tham gia vào các QHPL dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh

doanh, thương mại, lao động,… HGĐ với tư cách là chủ thể của QHPL dân

sự được coi là vấn đề có nguồn gốc từ lịch sử, mang tính đặc thù và gắn liền với quá trình lập pháp của nước ta HGĐ không chỉ được công nhận về mặt pháp lý mà trên thực tế tham gia nhiều QHPL và nhiều dạng giao dịch dân sự (GDDS) khác nhau nhưng thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật dân

sự nói chung và về HGĐ nói riêng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập do còn chịu

sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau như quy định có tính đặc thù của pháp luật chuyên ngành, phong tục tập quán của xã hội, trình độ hiểu biết của người dân…

1.1.1.1 Khái niệm hộ gia đình

Theo Từ điển Luật học, HGĐ là “tập hợp nhóm người có quan hệ hôn

nhân, huyết thống và nuôi dưỡng”1 Còn trong BLDS năm 2005, HGĐ không

có khái niệm cũng như không được định nghĩa một cách chính thức, mà chỉ khẳng định HGĐ có thể là chủ thể trong QHPL dân sự

Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005:

“Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc

1 Viện Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa- Nhà xuất bản Tư pháp,

Hà Nội, tr.373

Trang 13

một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự thuộc các lĩnh vực này.”

Theo điều luật này, HGĐ có thể là chủ thể trong QHPL dân sự tuy nhiên không phải bất cứ HGĐ nào cũng là chủ thể của QHPL dân sự mà phải đáp ứng những điều kiện nhất định HGĐ được coi là chủ thể của QHPL dân

sự khi các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác Quy định này chỉ thừa nhận tư cách chủ thể của HGĐ khi giữa các thành viên có sự liên kết về mặt kinh tế và cũng chỉ thừa nhận tư cách chủ thể trong các quan hệ kinh tế, chứ không điều chỉnh tư cách chủ thể của HGĐ khi tham gia các giao dịch tiêu dùng Như vậy theo tinh thần của BLDS năm 2005, có thể coi HGĐ là chủ thể hạn chế của QHPL dân sự

1.1.1.2 Điều kiện về thành viên của hộ gia đình

BLDS năm 2005 không quy định rõ các điều kiện hay tiêu chí để xác định cá nhân như thế nào thì được coi là thành viên của HGĐ, trong khi đó cần xác định các điều kiện tiên quyết như sự liên hệ giữa các thành viên, độ tuổi của các thành viên, số lượng thành viên để xác định tư cách thành viên của HGĐ, từ đó xác định tư cách chủ thể tham gia QHPL dân sự của HGĐ

Để xác định một HGĐ có đủ điều kiện, có tư cách tham gia QHPL dân sự hay không, cũng như quyền và nghĩa vụ của HGĐ đó như thế nào thì cần phải xác định một HGĐ gồm những thành viên như thế nào

Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Hồng Yến thể hiện trong bài viết

“Hộ gia đình, tổ hợp tác trong Bộ luật Dân sự sửa đổi”2, thực tiễn áp dụng

2 http://hoiluatgiavn.org.vn:8080/attach/2014/07/29/Ho%20gia%20dinh,%20to%20hop%20tac%20trong%20 BLDS%20sua%20doi%20-%20Hong%20Yen.doc

Trang 14

các quy định của pháp luật dân sự để xác định thành viên HGĐ có nhiều cách vận dụng khác nhau:

- Căn cứ vào Sổ hộ khẩu và căn cứ thời điểm HGĐ được Cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) hoặc quyền sở hữu tài sản để xác định thành viên HGĐ Cách vận dụng này không giải quyết được điểm mấu chốt của vấn đề là việc xác định mối quan hệ và sự liên hệ giữa các thành viên

Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật cư trú, cụ thể tại Khoản 1

Điều 24 Luật Cư trú năm 2006: “Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc

cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân”, như vậy, mục đích của sổ hộ khẩu là nhằm quản lý việc đăng ký thường

trú của HGĐ và cá nhân, không phải có mục đích xác định số lượng và tư cách các thành viên trong HGĐ

Hơn nữa, những người có tên trong sổ hộ khẩu có quyền thực hiện việc tách, nhập nên HGĐ theo sổ hộ khẩu thường xuyên có sự biến động, trong khi chủ thể của QHPL dân sự cần có sự ổn định nhất định để tạo nên sự an toàn cần thiết cho những giao dịch mà chủ thể đó xác lập và thực hiện Một điểm bất hợp lý nữa là thực tế có không ít sổ hộ khẩu chỉ có một cá nhân, như vậy không phù hợp với tính chất một nhóm người của HGĐ

- Căn cứ vào số lượng thực tế những người đang cùng chung sống với nhau tại một gia đình vào thời điểm được cấp giấy chứng nhận QSD

và quyền sở hữu tài sản Có thể thấy được bất cập theo cách vận dụng này qua trường hợp cụ thể là khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HGĐ căn cứ vào số lượng nhân khẩu có thể tham gia vào khai thác và sử dụng đất tại thời điểm cấp giấy, nhưng trên giấy chứng nhận được cấp lại chỉ ghi tên đại diện chủ hộ, do vậy trên thực tế rất khó xác định được chính xác tại thời điểm đó ai là

Trang 15

đối tượng có quyền được cấp, liệu có bao gồm cả những người ở nhờ mà không hề nhập vào sổ hộ khẩu của gia đình hay không

Thông qua những nhận định trên, có thể thấy BLDS năm 2005 chưa xác định rõ được một số yếu tố thuộc về thành viên của HGĐ, đây cũng là những điều hợp lý cần được BLDS năm 2015 khắc phục:

- Cần thiết phải có quy định xác định rõ các mối quan hệ và sự liên hệ giữa các thành viên HGĐ, căn cứ vào ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống

và nuôi dưỡng

- Để coi là một HGĐ, nên quy định tối thiểu phải bao gồm bao nhiêu cá nhân trở lên, để đảm bảo sự phù hợp về mặt lý luận đồng thời đảm bảo được tính chất đa số khi có vấn đề phải biểu quyết giữa các thành viên trong HGĐ

- Cần quy định rõ mức độ thực hiện quyền và nghĩa vụ, mức độ thực hiện quyền định đoạt tài sản chung của các thành viên tương ứng với mức độ năng lực hành vi dân sự

Trên thực tế, HGĐ không phải là một chủ thể bất biến, cuộc sống gia đình và các quan hệ trong gia đình luôn có sự thay đổi, biến động Trường hợp trong hộ khẩu của HGĐ có thêm thành viên mới, ví dụ như con dâu hoặc con rể, hoặc con nuôi, hoặc cháu nhập về thì thành viên mới đó có được tính

là thành viên của HGĐ trong QHPL dân sự không? Nếu những người này cùng tham gia hoạt động sản xuất kinh tế chung của HGĐ thì có quyền đối với tài sản chung của HGĐ hay không?

Thực tiễn xét xử của Tòa án, ở mỗi thời điểm khác nhau như thời điểm hình thành tài sản, thời điểm được cấp giấy chứng nhận, thời điểm tòa thụ lý, thành viên của hộ cũng có những biến động làm ảnh hưởng đến việc xác định

thành viên của hộ

1.1.1.3 Về tài sản chung của hộ gia đình

Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2005:

Trang 16

"Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ.”

Tài sản chung của HGĐ được hiểu là khối tài sản do các thành viên của HGĐ cùng tạo lập nên trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế chung, các tài sản mặc dù thuộc sở hữu cá nhân nhưng có thỏa thuận góp vào khối tài sản chung, các tài sản được sử dụng vào mục đích hoạt động kinh tế chung Tài sản chung này bao gồm: QSD đất, QSD rừng, rừng trồng của HGĐ, bên cạnh đó là các tài sản HGĐ được tặng cho, thừa kế chung và các tài sản chung được tạo thành theo các căn cứ xác lập hợp pháp được quy định trong BLDS

Điều luật về tài sản chung của HGĐ theo BLDS năm 2005 này không

có quy định cụ thể về việc phân tách giữa tài sản của các thành viên HGĐ với tài sản chung của HGĐ, trường hợp hai vợ chồng là thành viên của HGĐ được nhận tặng cho chung hoặc 3 trong 5 thành viên HGĐ được thừa kế chung thì các tài sản đó có mặc nhiên là tài sản chung của HGĐ hay không? Điều luật cũng chưa đề cập đến trường hợp HGĐ được nhận chuyển nhượng QSĐ thì tài sản này có được coi là tài sản chung hay không? Trong thực tiễn, khi xác lập, thực hiện các giao dịch thường bị lẫn lộn hoặc cố tình cho rằng tài sản của các thành viên HGĐ là tài sản HGĐ và ngược lại Bất cập này đã

có tác động không nhỏ đến việc thực hiện các quyền sở hữu của HGĐ và thành viên HGĐ

BLDS năm 2005 không quy định một cách cụ thể và rõ ràng về căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản chung của HGĐ, chính vì vậy các chủ thể xác lập giao dịch không có căn cứ để xác định được tư cách chủ sở hữu đối với tài sản chung đó, khi mà thực tế vẫn còn tồn tại sự không thống nhất giữa nguồn gốc hình thành tài sản, về căn cứ xác lập quyền sở hữu với giấy tờ ghi

Trang 17

tên người đứng tên trên đó, có thể thấy sự bất cập này qua một số ví dụ điển hình sau:

- Theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm, ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 9 năm

2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì: “Chủ sở hữu tiền

gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm” Như vậy, tiền gửi tiết kiệm

theo pháp luật ngân hàng không căn cứ vào nguồn gốc tạo lập nên số tiền đó

là do thu được từ hoạt động kinh tế chung của HGĐ, do các thành viên đóng góp hay do thu nhập của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như quy định của BLDS năm 2005 mà căn cứ vào người đứng tên trên thẻ tiết kiệm đó, theo tinh thần của điều luật này thì hình thức của giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản đã quyết định đến chủ thể của giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản đó

- Một ví dụ khác là không ít các trường hợp cá nhân nhận chuyển nhượng QSD đất với nguồn tiền thanh toán giá trị chuyển nhượng là của riêng

cá nhân đó nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền lại cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên HGĐ Những trường hợp như thế này cần xác định tài sản thuộc sở hữu riêng của cá nhân hay thuộc sở hữu chung của HGĐ và khi định đoạt QSD đất này thì có nhất thiết phải có sự đồng ý của những người đang

có tên trong sổ hộ khẩu hay đang thực tế cùng chung sống tại thời điểm cấp

giấy chứng nhận hay không “Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn đã quy

chụp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với rất nhiều loại đất cho hộ gia đình”3, điều này gây ra rất nhiều bất cập trên thực tế, hầu hết QSD đất đều được cấp giấy chứng nhận theo một mẫu chung đó là mẫu Giấy chứng nhận

3 http://hoiluatgiavn.org.vn:8080/attach/2014/07/29/Ho%20gia%20dinh,%20to%20hop%20tac%20trong%20 BLDS%20sua%20doi%20-%20Hong%20Yen.doc

Trang 18

quyền sử dụng đất cho HGĐ không phụ thuộc nguồn gốc hình thành, tạo lập nên QSD đất đó như thế nào

Về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình quy định tại Điều 109 Bộ luật Dân sự năm 2005:

“1 Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung

của hộ theo phương thức thoả thuận

2 Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý”

Theo quy định tại khoản 1 trên, việc chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của HGĐ tôn trọng sự thoả thuận của các thành viên bảo đảm nguyên tắc và bản chất của QHPL dân sự, có nghĩa là tài sản chung đó có thể do một hoặc một vài thành viên chiếm hữu và sử dụng miễn là theo đúng phương thức đã được thoả thuận, trong khi đó tại khoản 2 quy định về quyền định đoạt lại chia làm hai nhóm: Nhóm tài sản chung là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý, nhóm thứ hai là các tài sản chung khác phải được đa số thành viên đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý

Giữa hai điều khoản có sự mâu thuẫn không hề nhỏ Theo quy định của BLDS, quyền sở hữu bao gồm ba quyền cơ bản là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt, ba quyền năng này tồn tại đồng thời và gắn liền với chủ sở hữu tài sản, trao cho chủ thể quyền sở hữu thì phải đồng thời trao cả ba quyền đó, nhưng ở quy định này, trong khi quyền chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của HGĐ được đặt theo chế độ “mềm”, tôn trọng và thực hiện theo phương thức thoả thuận thì quyền định đoạt lại được đặt theo chế độ “cứng”,

Trang 19

buộc phải đáp ứng điều kiện về sự đồng ý của các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên, hoặc phải đầy đủ hoặc đa số

Điều luật cũng còn một số điểm bất cập dễ nhận thấy như:

- Không quy định cách thức xác định thế nào tài sản chung có giá trị

lớn của HGĐ

- Không quy định hình thức thể hiện sự đồng ý của tất cả các thành viên

từ đủ 15 tuổi trở lên trong việc thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản chung Đối với các loại tài sản chung khác có giá trị không lớn, việc yêu cầu phải có sự đồng ý của đa số các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên gây khó khăn trong việc thực hiện trên thực tế

- Những trường hợp hợp đồng giao dịch đối với tài sản chung của HGĐ

mà không đáp ứng điều kiện về sự tham gia của các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên thì chưa có cách xử lý

- Điều luật chưa thể hiện tính pháp lý đối với những giao dịch như thuê, thế chấp, cầm cố, những giao dịch không có tính chất định đoạt

- Trong trường hợp định đoạt tài sản chung không phải là tài sản lớn đã

có sự đồng ý của đa số các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên nhưng lại không có

sự đồng ý của thành viên HGĐ đang chiếm hữu và sử dụng tài sản chung đó thì phải xử lý như thế nào nếu phát sinh tranh chấp

- Về độ tuổi của cá nhân được quyền quyết định đối với giao dịch liên

quan đến tài sản chung của HGĐ có sự không đồng nhất với quy định của Luật Đất đai, theo BLDS năm 2005 là đủ 15 tuổi, trong khi đó theo điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ- CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 quy định phải là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, cụ thể:

“Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng

đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp,

Trang 20

bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong

hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự”

Việc quy định không đồng nhất như trên dẫn đến thực tế áp dụng tại các cơ quan tổ chức khi tiến hành thủ tục liên quan đến QSD đất của HGĐ có sự lệch nhau, cụ thể là một bên là tổ chức hành nghề công chứng thì yêu cầu sự tham gia của tất cả các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên còn một bên là văn phòng đăng ký đất đai cho rằng chỉ cần tất cả các thành viên từ đủ 18 tuổi trở lên

1.1.1.4 Về người đại diện của hộ gia đình

Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2005:

"1 Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ

Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ pháp luật dân sự

2 Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả

Trang 21

Chủ hộ của HGĐ trong QHPL dân sự trên thực tế cho thấy có thể là chủ hộ theo hộ khẩu, có thể là người cao tuổi nhất, người đóng góp công sức tài sản nhiều nhất, hoặc một người đã thành niên theo sự thỏa thuận của tất cả

các thành viên trong hộ

Với cách quy định như vậy, cùng với quy định về xác định thành viên không rõ ràng dẫn đến khó khăn khi xác định một thành viên của HGĐ khi nào xác lập GDDS với tư cách cá nhân và khi nào xác lập GDDS với tư cách chủ hộ của HGĐ Do vậy cũng khó trong việc xác định trách nhiệm của thành viên HGĐ và của cả HGĐ đối với người thứ ba trong các GDDS

Một số bất cập khác trong quy định về người đại diện của HGĐ:

Theo quy định của BLDS năm 2005 thì chủ hộ có quyền xác lập các giao dịch vì lợi ích chung của hộ và trách nhiệm dân sự sẽ thuộc về HGĐ Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh cũng có quan điểm tương tự khi quy định đại diện HGĐ thực hiện việc đăng ký kinh doanh

Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 109 Bộ luật Dân sự năm 2005 lại phá vỡ thẩm quyền của người đại diện của HGĐ bằng quy định:

“2 Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị

lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý”

Quy định này khẳng định quyền quyết định của tất cả các thành viên từ

đủ 15 tuổi trở lên trong hộ là ngang bằng nhau, không tính đến quyền của chủ

hộ cũng như không phân định mức độ năng lực hành vi dân sự của các thành viên, trong khi các thành viên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc nhóm người chưa thành niên và có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ thì quyền

Trang 22

quyết định lại được đặt ngang bằng với các thành viên từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc nhóm người thành niên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Trong gia đình vẫn còn tồn tại và bị chi phối bởi những phong tục, truyền thống với nhiều thế hệ và các mối quan hệ thì việc đưa yếu tố bình đẳng, ngang bằng làm căn cứ để tạo ra quyết định chung của cả HGĐ là điều khó thực hiện Mặt khác điều này còn làm tăng nguy cơ rủi ro với các chủ thể khi xác lập giao dịch với HGĐ khi mà sự mâu thuẫn trong gia đình có thể xảy

ra bất cứ lúc nào

Dựa trên quy định này, một số chủ thể là thành viên trong HGĐ có thể lợi dụng sự biến động của giá cả thị trường, lợi dụng chi tiết việc định đoạt các tài sản là tư liệu sản xuất và các tài sản có giá trị lớn không có sự đồng ý của tất cả các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên để yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS đã xác lập trước đó vô hiệu, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quyền

và lợi ích hợp pháp của chủ thể đã xác lập giao dịch với HGĐ, bên cạnh đó đã gây phức tạp và xáo trộn các quan hệ xã hội

1.1.1.5 Về phạm vi các giao dịch hộ gia đình được phép tham gia

Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005:

“Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công

sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất - kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự thuộc các lĩnh vực này”

Một số dạng GDDS mà HGĐ tham gia với tư cách chủ thể chủ yếu như thế chấp tài sản để vay vốn các tổ chức tín dụng, mua bán tài sản phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình hoặc sản xuất kinh doanh và các giao dịch liên quan đến QSD đất

Phạm vi những giao dịch mà HGĐ được phép tham gia đã bị giới hạn

và đó chỉ là những giao dịch phục vụ cho hoạt động sản xuất- kinh doanh

Trang 23

Tuy nhiên, tài sản chung của HGĐ rất khó phân biệt những tài sản nào là tài sản dùng cho sản xuất - kinh doanh hay dùng cho sinh hoạt cũng như phạm vi những giao dịch trong các lĩnh vực sản xuất- kinh doanh đó cụ thể là những

giao dịch gì

Một bất cập phổ biến là cùng với tinh thần của BLDS năm 2005 về phạm vi giao dịch mà HGĐ được phép tham gia thì Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Khoản 7 Điều 113 về quyền và nghĩa vụ của HGĐ sử dụng đất

không phải là đất thuê có nêu rõ là HGĐ chỉ có quyền: “Thế chấp, bảo

lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất kinh doanh” Như vậy, HGĐ không được thế chấp QSD đất của hộ để vay tiền

dùng cho mục đích thiết yếu khác mà chỉ được dùng nguồn tiền vay được

để sản xuất kinh doanh

Các quy định trên đã hạn chế ở phạm vi rất rộng những giao dịch mà HGĐ được phép tham gia Điều này làm cho ý nghĩa và vai trò của một loại chủ thể có tính độc lập trong QHPL dân sự bị giảm thiểu đi rất nhiều

Thực tế, HGĐ tham gia rất nhiều QHPL và nhiều dạng GDDS khác nhau, nhưng với sự không hợp lý trong các quy định của pháp luật đã dẫn đến những hậu quả pháp lý khó giải quyết

1.1.1.6 Về trách nhiệm dân sự của hộ gia đình

Điều 110 Bộ luật Dân sự năm 2005:

"1 Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình

2 Hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình.”

Trang 24

Quy định trên không chỉ có sự bất cập về mặt lý luận Việc không có quy định rõ ràng, khắt khe để làm căn cứ xác định chủ hộ của HGĐ đã là một thiếu sót rất lớn, trong khi đây là điều kiện vô cùng quan trọng để trao quyền năng cho một người chủ hộ của một HGĐ trong việc thay mặt HGĐ thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của HGĐ đó Không có căn cứ xác định chủ hộ của HGĐ thì rất khó đảm bảo người chủ hộ đó có thực sự vì lợi ích của HGĐ khi xác lập các GDDS của HGĐ hay không, rất dễ dẫn đến trường hợp lạm quyền

vì lợi ích cá nhân, rồi khi đó HGĐ lại phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do chủ hộ HGĐ xác lập, thực hiện, trong đó bao gồm cả những trường hợp mà chủ hộ của HGĐ lại uỷ quyền cho một thành viên khác làm người đại diện của HGĐ thì còn rất nhiều tình huống có thể xảy ra

Điều luật trên chưa làm rõ được phạm vi các thành viên phải dùng tài sản riêng để gánh chịu trách nhiệm của cả HGĐ, đó là chỉ những thành viên nào có quyền quyết định đối với tài sản do HGĐ xác lập thì mới là người chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh từ giao dịch đó hay tất cả các thành viên của HGĐ đều phải chịu trách nhiệm

Thực tế, việc quy định HGĐ là chủ thể của QHPL dân sự như BLDS năm 2005 đã gây ra một số khó khăn cho hoạt động áp dụng pháp luật, đặc biệt là cho Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến HGĐ Thực tế không thấy có vụ kiện nào được Tòa án thụ lý có nguyên đơn là HGĐ, không thấy có bị đơn nào là HGĐ, không thấy có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nào là HGĐ Theo Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng Dân sự: “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”, như vậy HGĐ

không được xác định là đương sự trong vụ án dân sự

Trang 25

Từ thực tiễn thi hành BLDS năm 2005, với những phân tích nêu trên,

có thể nhận thấy quy định HGĐ là một chủ thể của QHPL dân sự có sự bất cập, nảy sinh phức tạp trong đời sống xã hội, quản lý Nhà nước và làm khó khăn trong giải quyết tranh chấp có liên quan đến chủ thể này

1.1.2 Tổ hợp tác

1.1.2.1 Khái niệm tổ hợp tác

Quy định của BLDS năm 2005 không đưa ra một khái niệm chính thức cho THT mà dựa trên cách thức hình thành của THT để định dạng nó

Khoản 1 Điều 111 Bộ luật Dân sự năm 2005:

“Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng

thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự”

Điều luật đã liệt kê những dấu hiệu cơ bản để nhận biết một THT: Gồm

từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản và công sức, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm, bị ràng buộc với nhau bằng một hợp đồng hợp tác Những điều kiện này có vẻ khá đầy đủ, nhưng với những điều kiện đơn giản như vậy đã coi THT là chủ thể của QHPL dân sự thì có nhiều điểm không hợp lý

Thực tế các cơ quan chức năng rất khó kiểm soát được tình hình hoạt động của THT vì không phải THT nào cũng phải đăng ký hoạt động, chính vì vậy việc áp dụng các quy định về thanh tra, thu thuế và lao động cũng khó thực hiện Đó là không kể đến có rất nhiều THT không đảm bảo những điều kiện cơ bản của BLDS năm 2005 nhưng vẫn hoạt động khá phổ biến gây rủi

ro không chỉ cho chính bản thân thành viên THT mà còn cho bên thứ ba

Trang 26

1.1.2.2 Điều kiện hình thành tổ hợp tác, về thành viên của tổ hợp tác

Điều kiện hình thành THT theo quy định tại Khoản 1 Điều 111 Bộ luật Dân sự năm 2005 (đã trích dẫn ở trên) có những sự bất hợp lý:

Thứ nhất căn cứ để xác lập và tạo nên THT là hợp đồng hợp tác thì chỉ cần “chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã”, việc chứng thực ở đây được hiểu là chứng thực chữ ký của các cá nhân trong hợp đồng, đó cũng phù hợp với thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã tại thời điểm này, nhưng như vậy cũng có nghĩa các vấn đề pháp lý khác của hợp đồng hợp tác khác như tư cách chủ thể của các cá nhân tham gia hợp đồng, nội dung của hợp đồng, tính pháp lý của hợp đồng không hề có sự chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cũng không có cơ sở để đảm bảo thực hiện, điều này sẽ gây khó khăn trong trường hợp phát sinh tranh chấp, quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị xâm phạm sẽ không được bảo vệ

Cũng theo quy định tại Khoản 1 Điều 111 Bộ luật Dân sự năm 2005 khi

“Tổ hợp tác đủ điều kiện để trở thành pháp nhân theo quy định của pháp luật

thì đăng ký hoạt động với tư cách pháp nhân tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền”, vậy việc đăng ký hoạt động này có phải là bắt buộc, hơn nữa như thế

nào để được coi là đủ điều kiện, đó là những thiếu sót chưa được đề cập đến

Việc quy định chuyển đổi như thế này gây ra nhiều bất cập trong việc

áp dụng, trong khi để được coi là pháp nhân thì phải đáp ứng bốn điều kiện cơ bản, chặt chẽ thì pháp luật lại cho phép một chủ thể khác chưa phải pháp nhân

có cách thức và điều kiện hình thành đơn giản hơn có thể biến đổi thành pháp nhân, một số THT có thể lợi dụng quy định này để biến đổi thành pháp nhân

vì những mục đích vụ lợi riêng, nhưng ngược lại các THT đã phát triển ở quy

mô lớn nhưng không muốn chuyển đổi thành pháp nhân vì muốn hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước dành cho loại hình kinh doanh này

Điều kiện thành viên THT cũng thể hiện những bất cập:

Trang 27

Theo điều 112 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Tổ viên tổ hợp tác là cá

nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”

Điều luật đã cá biệt hoá, giới hạn phạm vi thành viên THT, đó là chỉ có cá nhân mới có thể là thành viên của THT, pháp nhân và các tổ chức khác không thể là thành viên của THT Như vậy là mâu thuẫn với quyền tự do thoả thuận và tự do kinh doanh cũng như ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả hoạt động của THT

Điều kiện về độ tuổi thành viên THT có sự mâu thuẫn giữa các quy định trong cùng BLDS năm 2005: Theo quy định tại Điều 112 BLDS năm

2005 thì cá nhân phải từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mới được quyền tham gia hợp đồng hợp tác, trong khi đó tại Khoản 2 Điều 20 BLDS năm 2005 cho phép cá nhân từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện GDDS Như vậy, trong trường hợp cá nhân đủ 15 tuổi, có tài sản riêng nhưng lại bị hạn chế khi không thể góp vốn và trở thành thành viên của THT được

1.1.2.3 Điều kiện về tài sản chung của tổ hợp tác

Điều 114 Bộ luật Dân sự năm 2005:

“1 Tài sản do các tổ viên đóng góp, cùng tạo lập và được tặng cho chung là tài sản của tổ hợp tác

2 Các tổ viên quản lý và sử dụng tài sản của tổ hợp tác theo phương thức thoả thuận

3 Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn thể tổ viên đồng ý; đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ viên đồng ý.”

Nguồn hình thành tài sản của THT được khẳng định là có ba loại là do các tổ viên đóng góp, cùng tạo lập và được tặng cho chung Trong trường hợp

do nhu cầu hoạt động, THT có mua một số tài sản để sử dụng vào mục đích

Trang 28

chung thì tài sản này có mặc nhiên được coi là tài sản chung của THT không khi nguồn hình thành nên tài sản không phải là một trong những nguồn luật định Đối với một số loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì việc thoả thuận tài sản chung và đăng ký quyền sở hữu chung của THT được thực hiện theo phương thức nào, không có quy định cụ thể về vấn đề này

Tương tự như quy định đối với HGĐ, việc quản lý và sử dụng tài sản của THT được thực hiện theo phương thức thoả thuận trong khi đó việc định đoạt lại phải được toàn thể tổ viên đồng ý đối với tư liệu sản xuất và đa số tổ viên đồng ý đối với các tài sản còn lại BLDS năm 2005 cũng không có quy định về hình thức thể hiện sự đồng ý của các thành viên THT trong việc định đoạt tài sản chung Việc định đoạt tài sản theo điều luật này cũng có giới hạn hẹp chỉ bao gồm các giao dịch mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay trong khi còn có rất nhiều các giao dịch khác như thế chấp, cầm cố tài sản để vay tiền, cho thuê và thuê tài sản để thực hiện các công việc theo hợp đồng hợp tác

1.1.2.4 Về người đại diện của tổ hợp tác

Điều 113 Bộ luật Dân sự năm 2005:

“1 Đại diện của tổ hợp tác trong các giao dịch dân sự là tổ trưởng do các tổ viên cử ra

Tổ trưởng tổ hợp tác có thể uỷ quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc nhất định cần thiết cho tổ

2 Giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập, thực hiện

vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả tổ hợp tác.”

Tổ trưởng THT chỉ cần một điều kiện duy nhất là do các tổ viên đồng thuận cử ra, ngoài ra không có điều kiện gì về độ tuổi, trình độ cũng như khả năng của tổ trưởng THT Đây được hiểu là đại diện theo uỷ quyền không phải đại diện theo pháp luật, nhưng “văn bản uỷ quyền” hay nói cách khác là hình

Trang 29

thức thể hiện sự đồng thuận trong việc cử ra tổ trưởng THT lại không có quy định cụ thể

Trao quyền đại diện cho tổ trưởng THT bằng việc thay mặt THT xác lập, thực hiện GDDS vì mục đích hoạt động của THT nhưng lại kèm theo điều kiện “theo quyết định của đa số tổ viên”, điều này thật sự không hợp lý: Nếu trao quyền quyết định cho đa số tổ viên THT thì có cần thiết phải cử ra tổ trưởng THT và quyền hạn của THT trong trường hợp này được hiểu như thế nào, và ngược lại nếu đã trao quyền quyết định cho tổ trưởng THT thì sao lại phải có sự đồng ý của đa số tổ viên, quyền hạn của hai đối tượng này đã triệt tiêu lẫn nhau, trong trường hợp không có sự thống nhất thì việc quy định như vậy trở nên vô nghĩa

1.1.2.5 Về phạm vi các giao dịch tổ hợp tác được phép tham gia

Theo Điều 12 Nghị định 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác thì THT có một số quyền cơ bản như:

- Được lựa chọn ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm, hoạt động không giới hạn theo phạm vi hành chính địa phương nơi THT chứng thực hợp đồng hợp tác

- Trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu hoặc liên doanh, liên kết với tổ chức,

cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài để mở rộng sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật

- Được hưởng các chính sách hỗ trợ và tham gia xây dựng, thực hiện các kế hoạch, chương trình, dự án hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm và xoá đói, giảm nghèo ở địa phương

- Được mở tài khoản riêng tại ngân hàng theo quy định của pháp luật và theo cơ chế người đại diện được ghi trong hợp đồng hợp tác

Trang 30

1.1.2.6 Về trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác

Trách nhiệm dân sự của THT được quy định tại Điều 117 BLDS năm

2005 và được bổ sung thêm tại Điều 13 Nghị định 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác, cụ thể THT có trách nhiệm dân sự như sau:

“1 Tổ hợp tác phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền,

nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh tổ hợp tác

2 Tổ hợp tác chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của tổ; nếu tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của tổ thì tổ viên phải chịu trách nhiệm liên đới tương ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình

3 Thực hiện các thoả thuận đã cam kết với các tổ viên, tổ chức và cá nhân khác

4 Thực hiện các trách nhiệm đối với người lao động do tổ hợp tác thuê theo quy định của pháp luật về lao động

5 Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật”

Trang 31

Trách nhiệm dân sự có thể hiểu là hậu quả pháp lý khi cá nhân, tổ chức

có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, chậm thực hiện nghĩa vụ hoặc gây thiệt hại về vật chất, tinh thần

Khi có căn cứ làm phát sinh trách nhiệm dân sự thì THT chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của THT Kể cả trong trường hợp nghĩa vụ dân sự làm căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự có thể phân chia được theo phần thì THT với tư cách chủ thể của QHPL dân sự đó vẫn phải thực hiện trách nhiệm dân sự một cách trọn vẹn, không thể phân chia ra từng khoản riêng cho các tổ viên

Trong trường hợp tài sản chung của THT không đủ để thực hiện nghĩa

vụ chung của tổ thì tổ viên phải dùng tài sản riêng của mình để thực hiện nghĩa vụ tương ứng với phần đóng góp, điều này có thể hiểu trách nhiệm tài sản của tổ viên là trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của THT, thậm chí

tổ viên chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của THT kể cả trong trường hợp

đã ra khỏi THT hoặc THT đã chấm dứt nếu nghĩa vụ đó đã phát sinh khi người đó còn là tổ viên

Trong trường hợp tổ viên chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của THT bằng tài sản riêng của mình, thì người có quyền có thể yêu cầu từng tổ viên thực hiện nghĩa vụ tương ứng với phần quyền sở hữu của người đó trong tài sản chung của THT, hoặc yêu cầu một trong các tổ viên thực hiện nghĩa vụ theo trách nhiệm liên đới theo phần

Tuy nhiên, về phía các tổ viên thì không có quyền thỏa thuận về trách nhiệm riêng rẽ của từng người, và nếu có thỏa thuận thì cũng không có hiệu lực bắt buộc đối với người có quyền Quy định tại Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2005 về trách nhiệm liên đới theo phần là quy định bắt buộc các

tổ viên phải tuân thủ, nếu người có quyền yêu cầu

Trang 32

1.2 Hộ gia đình, tổ hợp tác sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực

Ngay tại Điều 1 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về phạm vi điều chỉnh của Bộ luật khẳng định “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ ”, như vậy

theo tinh thần của BLDS năm 2015 chỉ có cá nhân và pháp nhân là chủ thể của QHPL dân sự và là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật, nhưng thực tế sự không đồng nhất trong các quy định tiếp sau vẫn gây ra hai luồng ý kiến trái chiều

- Luồng ý kiến thứ nhất: Hoàn toàn công nhận HGĐ, THT không còn là chủ thể QHPL dân sự, loại bỏ hoàn toàn tư cách tham gia GDDS của HGĐ,

THT, các vấn đề pháp lý của HGĐ, THT về tài sản, quyền và trách nhiệm đều

quy về tài sản chung của các thành viên

- Luồng ý kiến thứ hai: Vẫn công nhận HGĐ, THT trực tiếp tham gia

QHPL dân sự với tư cách là chủ thể đặc thù

1.2.1 Khái quát về hộ gia đình, tổ hợp tác

HGĐ, THT được quy định chung trong một nhóm thuộc chương VI của BLDS năm 2015 chứ không tách biệt như Bộ luật cũ, điều đó khẳng định tư cách tham gia QHPL dân sự của hai đối tượng này là tương đương, cùng chịu

sự chi phối của một nhóm quy định chung

Điều 101 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Điều 101 Chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có sự tham gia của

hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

1 Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ pháp luật dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện

Trang 33

tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự biết

Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không

có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ pháp luật dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự do mình xác lập, thực hiện

2 Việc xác định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.”

Tạm bỏ qua những luồng ý kiến trái chiều, những tranh cãi xung quanh

tư cách chủ thể tham gia QHPL dân sự của HGĐ và THT, mặc dù, theo đúng tinh thần của các nhà soạn thảo BLDS năm 2015 là không thừa nhận tư cách chủ thể của HGĐ, THT trong QHPL dân sự, nhưng để phù hợp với các điều kiện đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình và lịch sử của Việt Nam, BLDS năm 2015 vẫn ghi nhận HGĐ, THT là những thực thể pháp lý đang tồn tại trong đời sống xã hội theo cách tiếp cận mới, đồng thời quy định cụ thể về chủ thể tham gia, tài sản chung cũng như trách nhiệm của đại diện HGĐ, THT Chính việc khẳng định thành viên của HGĐ, THT là chủ thể trực tiếp của HGĐ, THT trong QHPL dân sự nên chế độ tài sản và trách nhiệm dân sự của HGĐ, THT cũng theo đó mà thay đổi

Tuy vẫn công nhận sự tham gia của HGĐ trong QHPL dân sự nhưng BLDS năm 2015 vẫn không có định nghĩa chính thức về HGĐ trong khi đã thấy được những bất cập, những cách hiểu khác nhau về HGĐ theo quy định

cũ Định nghĩa hay khái niệm về THT cũng không hề được nhắc đến

Riêng đối với HGĐ sử dụng đất BLDS năm 2015 đã có chỉ dẫn đến quy định theo Luật Đất đai, theo quy định tại Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013:

Trang 34

“Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết

thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất.”

HGĐ theo Luật Đất đai được xác định dựa trên sổ hộ khẩu tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSD, nhận chuyển QSD đất Nếu khi thực hiện giao dịch chỉ căn cứ vào sổ hộ khẩu thì không hợp lý, cần căn cứ thêm vào quyết định cấp đất, giao đất, cho thuê đất của nhà nước để xác định những người có quyền sở hữu chung, nhưng thực tế quyết định cấp đất, giao đất, cho thuê đất cũng không hề có thông tin về số lượng thành viên của HGĐ

BLDS năm 2015 khẳng định chủ thể tham gia QHPL dân sự chỉ có cá nhân và pháp nhân, HGĐ và THT không phải chủ thể của QHPL dân sự Theo quy định của Điều 101 BLDS năm 2015 trên, trường hợp HGĐ và THT tham gia QHPL dân sự thì các thành viên của HGĐ và THT là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện GDDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện GDDS Như vậy, HGĐ và THT vẫn xuất hiện trong QHPL dân

sự nhưng lại không phải là chủ thể trực tiếp, chủ thể trực tiếp chính là các thành viên HGĐ và THT, mọi sự xác lập, thực hiện dân sự đều thông qua các thành viên của HGĐ và THT

Việc quy định như vậy có tính mâu thuẫn về mặt lý luận, trong một QHPL dân sự, vẫn nhận biết đó là HGĐ, đó là THT, vẫn công nhận HGĐ và THT đang tham gia vào QHPL dân sự nhưng lại không coi là chủ thể, vậy tư cách của HGĐ và THT nên được gọi là gì cho hợp lý Nếu muốn loại bỏ hoàn toàn HGĐ, THT thì không nên quy định về HGĐ và THT nữa, cũng không nên để nguyên một chương của BLDS để quy định về nhóm chủ thể này

Trang 35

Bên cạnh đó, BLDS năm 2015 vẫn chưa chỉ ra cách xác định thành viên HGĐ, THT Ngoài HGĐ sử dụng đất vẫn còn tồn tại HGĐ trong các lĩnh vực khác cũng như còn rất nhiều THT nhưng lại không có tiêu chí để xác định các thành viên

BLDS năm 2015 không có quy định về đại diện HGĐ và THT với tư cách độc lập, điều đó cho thấy đại diện của HGĐ và THT có thể là bất kỳ thành viên nào trong HGĐ, THT đó, địa vị pháp lý và vai trò của đại diện cũng không được quy định cứng mà có thể linh động, có thể chuyển giao và

có thể thông qua uỷ quyền để xác định đại diện của HGĐ, THT

Việc quy định rõ ủy quyền phải được lập thành văn bản là điểm tiến bộ của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005, thể hiện sự rõ ràng minh bạch ý chí của các thành viên HGĐ và THT trong việc cử người đại diện cho mình Trường hợp thành viên của HGĐ, THT tham gia QHPL dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của QHPL dân sự do mình xác lập, thực hiện

1.2.2 Chế độ tài sản của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác

1.2.2.1 Chế độ tài sản của các thành viên hộ gia đình

BLDS năm 2015 không quy định tài sản chung của HGĐ theo phương pháp liệt kê như BLDS năm 2005 Cụ thể theo Điều 212 Bộ luật

Dân sự năm 2015:

“Điều 212 Sở hữu chung của các thành viên gia đình

1 Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan

2 Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ

Trang 36

yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác

Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này.”

Theo điều luật trên thì tài sản của HGĐ chính là phép cộng tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung, dựa trên các nguồn cơ bản là tài sản

do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu một cách hợp pháp

Như vậy chế độ tài sản của HGĐ là chế độ sở hữu chung của các thành viên HGĐ, chế độ này được đảm bảo bằng việc các thành viên cùng chung sống, đóng góp và cùng tạo lập, việc tặng cho chung, thừa kế chung không còn được coi là nguồn tạo lập tài sản chung của HGĐ, quy định như vậy cũng đảm bảo đúng tinh thần của BLDS, khi không còn coi HGĐ là chủ thể trực tiếp của QHPL dân sự, thì việc HGĐ được tặng cho chung, thừa kế chung không có căn cứ để xác lập

Việc thực hiện ba quyền cơ bản của quyền sở hữu là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản chung của HGĐ cũng như tinh thần của BLDS năm 2005 là được thực hiện theo phương thức thỏa thuận Trong đó, việc định đoạt tài sản của HGĐ theo BLDS năm 2015 có điểm tiến

bộ so với BLDS năm 2005 khi để ba quyền cơ bản đó của quyền sở hữu đi cùng nhau, do nguồn gốc tài sản do các thành viên đóng góp và tạo lập chung nên các quyền của chủ sở hữu bao gồm cả quyền định đoạt được thực hiện theo phương thức thoả thuận để đảm bảo tính hợp lý và quyền lợi của các thành viên

Trang 37

Điểm mới là BLDS năm 2015 đã cụ thể những trường hợp đặc biệt hơn khi định đoạt tài sản cần sự đồng ý của các thành viên HGĐ, cụ thể: Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác

Nhưng sự bất hợp lý không phải không có, ở việc định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình, gọi chung là nhóm tài sản có giá trị lớn:

Thứ nhất là việc đánh đồng tài sản của “gia đình” là tài sản của “hộ gia đình” trong khi hai thuật ngữ này là khác nhau, tài sản của gia đình và tài sản của HGĐ cũng có thể hoàn toàn khác nhau trên thực tế nên việc lồng ghép như vậy là không phù hợp

Thứ hai là việc để quyền quyết định vào tất cả các thành viên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, việc quy định như vậy sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi ích hợp pháp của các thành viên có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ đặc biệt là nhóm các thành viên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, những thành viên này hoàn toàn có thể thông qua hoặc cùng người đại diện theo luật định thể hiện ý kiến của mình, việc bỏ qua nhóm thành viên này đặc biệt là trong trường hợp có thể người đại diện theo luật định của họ không phải là thành viên của HGĐ là một thiếu sót lớn

Quyền sở hữu là quyền được pháp luật ghi nhận cho mọi cá nhân không phân biệt các mức độ năng lực hành vi dân sự Cần phải làm rõ quyền

và khả năng định đoạt với người đã thành niên và người chưa thành niên cũng như có những hướng dẫn cụ thể trong trường hợp này

1.2.2.2 Chế độ tài sản của các thành viên tổ hợp tác

Điều 506 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Trang 38

“Điều 506 Tài sản chung của các thành viên hợp tác

1 Tài sản do các thành viên đóng góp, cùng tạo lập và tài sản khác theo quy định của pháp luật là tài sản chung theo phần của các thành viên hợp tác

Trường hợp có thỏa thuận về góp tiền mà thành viên hợp tác chậm thực hiện thì phải có trách nhiệm trả lãi đối với phần tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này và phải bồi thường thiệt hại

2 Việc định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu sản xuất khác phải có thỏa thuận bằng văn bản của tất cả các thành viên; việc định đoạt tài sản khác do đại diện của các thành viên quyết định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

3 Không được phân chia tài sản chung trước khi chấm dứt hợp đồng hợp tác, trừ trường hợp tất cả các thành viên hợp tác có thỏa thuận

Việc phân chia tài sản chung quy định tại khoản này không làm thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ được xác lập, thực hiện trước thời điểm tài sản được phân chia.”

Chế độ tài sản của THT theo quy định của BLDS năm 2015 cũng được xác định là do thành viên THT cùng đóng góp, cùng tạo lập và các tài sản hợp pháp khác Việc không quy định “tặng cho chung” là căn cứ xác lập tài sản chung của THT và thay thế bằng việc nhóm “tài sản khác” tưởng chừng đang

mở rộng nguồn tài sản của THT nhưng thực tế là đang bó hẹp lại, vì cũng giống như HGĐ, khi THT không được coi là chủ thể của QHPL dân sự thì các phương thức để THT trực tiếp xác lập các GDDS để tạo lập tài sản mới gần như là không có

Theo điều luật có thể thấy được tiền, QSD đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu sản xuất khác là một trong những tài sản của THT được công nhận giá trị pháp lý

Trang 39

Việc quy định trách nhiệm trả lãi trong trường hợp chậm thực hiện việc đóng góp tiền giúp đảm bảo tính thiện chí và tính nguyên tắc trong việc thực hiện thoả thuận chung

BLDS năm 2015 không nhắc đến quyền chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của THT, điều đó có nghĩa là tất cả các thành viên THT có tư cách ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng tài sản chung của THT mà không phải chịu sự chi phối của bất kỳ một sự thoả thuận nào, điều này là hoàn toàn hợp lý, vì THT là tập hợp những thành viên có thể không có mối liên hệ nào, bình đẳng trong việc tham gia, thực hiện quyền và nghĩa vụ, nên cần đảm bảo

sự công bằng thay vì để bị chi phối bởi sự thoả thuận, trong sự thoả thuận đó

có thể nghiêng về lợi ích của một thành viên nào đó của THT

QSD đất, nhà, xưởng sản xuất là ba nhóm tài sản được coi là có giá trị lớn, cần thiết việc định đoạt phải có sự đồng thuận của tất cả các thành viên của THT, nhưng việc trao quyền định đoạt tối đa cho người đại diện của THT đối với các tài sản khác thì cần phải xem xét kỹ, vì họ hoàn toàn có thể không

vì mục đích và lợi ích chung của THT khi thực hiện quyền đại diện, dù tài sản

đó có thể không có giá trị lớn

1.2.3 Trách nhiệm dân sự của thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác

Điều 103 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Điều 103 Trách nhiệm dân sự của thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác,

tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

1 Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc tham gia quan hệ pháp luật dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên

2 Trường hợp các thành viên không có hoặc không đủ tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ chung thì người có quyền có thể yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 288 của Bộ luật này

Trang 40

3 Trường hợp các bên không có thỏa thuận, hợp đồng hợp tác hoặc luật không có quy định khác thì các thành viên chịu trách nhiệm dân sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này theo phần tương ứng với phần đóng góp tài sản của mình, nếu không xác định được theo phần tương ứng thì xác

định theo phần bằng nhau.”

Nhìn thấy những bất cập trong việc xác định trách nhiệm dân sự của HGĐ, THT theo BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã đẩy cao trách nhiệm của các thành viên của HGĐ, THT bằng việc quy định nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc tham gia QHPL dân sự của HGĐ được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên, không phải là tài sản của HGĐ, THT như trước đây

Trong quá trình tạo lập khối tài sản chung của HGĐ và THT các thành viên của HGĐ, THT đều có trách nhiệm như nhau chính vì vậy việc thực hiện trách nhiệm dân sự cũng phải được san sẻ Tuy trường hợp các thành viên không có hoặc không đủ tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ chung thì người

có quyền có thể yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa vụ liên đới nhưng trách nhiệm của cá nhân các thành viên HGĐ, THT vẫn phải là trách nhiệm

ưu tiên

Điểm khác biệt giữa hai bộ luật cũ và mới là việc BLDS năm 2005 quy định việc thực hiện trách nhiệm dân sự được bằng tài sản chung của HGĐ và THT còn việc thực hiện trách nhiệm dân sự theo BLDS năm 2015 được thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên, cùng quy định trách nhiệm liên đới giữa các thành viên nhưng BLDS năm 2015 đã nêu rõ được phạm vi và các trường hợp áp dụng liên đới Điểm khác biệt này là phù hợp với tinh thần của BLDS năm 2015

Ngày đăng: 02/08/2019, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w