Thương mại điện tử chính là một công cụ hiện đại sử dụng mạng Internet giúp cho các doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thị trường thế giới, thu thập thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và chín
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 5
I.1 Khái niệm: 5
I.2 Vai trò của Thương mại điện tử: 5
I.3 Lịch sử hình thành Thương mại điện tử 5
I.3.1 Lịch sử Internet: 5
I.3.2 Lịch sử thương mại điện tử 6
I.4 An ninh và bảo mật trong Thương mại điện tử 9
I.5 Thanh toán điện tử: 13
I.6 E – Marketing: 14
I.7 Một số mô hình bán lẻ điện tử: 14
Chương II: THỰC TRẠNG, ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI TRANG AMAZON 17 II.1 Giới thiệu chung: 17
II.2 Thực trạng ứng dụng Thương mại điện tử của trang Amazon 18
II.2.1 Các hoạt động thương mại điện tử: 18
II.2.2 Phân tích trang web Amazon 21
II.2.3 Quy trình đặt hàng của khách hàng 26
II.2.4 Phân tích quy trình thanh toán của website: 32
II.2.5 E – Marketing: 35
II.2.6 Hỗ trợ khách hàng: 36
II.2.7 Những điểm nổi bậc: 37
Chương III GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 38
III.1 Những điểm đạt được và chưa đạt được: 38
III.1.1 Những điểm đạt được: 38
III.1.2 Những điểm chưa đạt: 39
Trang 2III.2 Giải pháp cho hoạt động Thương mại điện tử của Amazon.com 40
III.2.1 Những giải pháp: 40
III.2.2 Những kiến nghị, đề xuất: 41
III.3 Bài học kinh nghiệm và những hạn chế của đề tài: 42
III.3.1 Bài học kinh nghiệm 42
III.3.2 Hạn chế của đề tài: 43
Kết Luận 44
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những tiến bộ to lớn về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin trong những thập niên cuối của thế kỷ 20 đã tạo ra bước ngoặt mới cho sự phát triển kinh tế xã hội toàn cầu Chính trên nền tảng đó, một phương thức thương mại mới đã xuất hiện và phát triển nhanh chóng, đó là thương mại điện tử Thương mại điện tử chính là một công cụ hiện đại sử dụng mạng Internet giúp cho các doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thị trường thế giới, thu thập thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và chính xác hơn Với thương mại điện tử, các doanh nghiệp cũng có thể đưa các thông tin về sản phẩm của mình đến các đối tượng khách hàng tiềm năng khác nhau ở mọi nơi trên thế giới với chi phí thấp hơn nhiều so với các phương pháp truyền thống
Theo báo cáo thương mại điện tử 2012 của Wikipedia, tốc độ tăng trưởng về số lượng người
sử dụng Internet toàn cầu là 380% so với tháng 12 năm 2000, trong tổng dân số thế giới
6,767,805,208 người thì có 1,733,993,741 người sử dụng internet Trong khi điện thoại mất 38 năm, TV mất 13 năm nhưng internet chỉ mất 4 năm để đạt con số 50 triệu người dùng Hiện châu
Á là châu lục đứng đầu về số người sử dụng Internet với con số khoảng 922 triệu, châu Âu về nhì với 476 triệu và Bắc Mỹ chiếm vị trí thứ 3 với 271 triệu Trong khi đó nếu xét theo quốc gia thì Trung Quốc là quốc gia đứng đầu với 485 triệu người sử dụng Internet, chiếm hơn 36% dân số củaquốc gia này
Trang 4Vào khoảng năm 1994 khi tốc độ phát triển của Internet là 2300%/năm, mặc dù không có kinh nghiệm về bán hàng cũng như không nhiều hiểu biết về Internet, nhưng Jeffery Bezos đã sớm nhìn thấy tương lai của việc bán hàng qua mạng Và ông nhận thấy việc tìm kiếm tài liệu khó khăn nên ông đã nảy sinh ý tưởng bán sách qua mạng Và cũng năm đó, Amazon.com ra đời, công ty này ban đầu được đặt tên là Cadabra.Inc, nhưng tên này đã được thay đổi khi người ta phát hiện ra rằng đôi khi mọi người nghe tên là “Cadaver” (“tử thi”) Tháng 7/1995, tên gọi Amazon.com được chọn vì Amazon là tên con sông lớn nhất thế giới Cho nên tên gọi gợi lên quy mô lớn và cũng mộtphần vì nó bắt đầu bằng “A” , sẽ hiện lên đầu danh sách chữ cái Trụ sở chính của công ty đặt tại thành phố Seatte, bang Washington Chỉ một tháng sau, thị trường của Công ty đã mở rộng ra 50 bang của Mỹ và sang 45 nước khác; Các sản phẩm cũng được mở rộng, từ sách, băng đĩa nhạc, máy tính, ôtô đến các bộ phận, nội tạng của con người Amazon.com là một địa chỉ hết sức lôi cuốn mà ngay ngày đầu thành lập đã trở thành địa điểm tham khảo cho bất cứ ai muốn bán sản phẩm của mình
Trước những thành công của Amazon, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu hoạt động thương mại điện tử của Amazon.com”
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nội dung của bài thảo luận sẽ giúp người đọc hiểu rõ khái niệm, yêu cầu, lợi ích và tầm quan trọng của thương mại điện tử nói chung và cách mà Amazon.com đã lớn mạnh trên những sự sụp đổ của các công ty TMĐT tương tự Từ đó có thể rút ra bài học hữu ích cho bản thân của từng thành viên trong nhóm cũng như có được kiến thức hữu ích cho việc tham gia góp ý xây dựng Thương mại điện tử tại Việt nam trong thời gian tới
Với thời gian nghiên cứu hạn hẹp, nhóm chúng tôi chỉ có thể tập trung nghiên cứu trên một trang đang phát tiển ngày một lớn mạnh và bền vững hiện nay là trang “Amazon”
3 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu sử dụng cho đề tài bao gồm phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp lýthuyết với thực tiễn Đồng thời, để cung cấp thông tin được chính xác, cập nhật, đề tài có sử dụng một số sách, đề tài nghiên cứu về các vấn đề có liên quan, các tạp chí và thông tin trên Internet
4 Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thương mại điện tử
Chương 2: Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử của trang Amazon
Chương 3: Giải pháp phát triển và đề xuất, kiến nghị
Trang 5Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ.
I.1 Khái niệm:
Có nhiều khái niệm về thương mại điện tử (TMĐT), nhưng hiểu một cách tổng quát, TMĐT làviệc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại bằng những phương tiện điện tử TMĐT vẫn mang bản chất như các hoạt động thương mại truyền thống Tuy nhiên, thông qua các phương tiện điện tử mới, các hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh
Thương mại điện tử (TMĐT) là việc sử dụng các phương pháp điện tử để tiến hành quá trìnhlàm thương mại; hay chính xác hơn, TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua cácphương tiện công nghệ điện tử, mà không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của toàn
bộ quá trình giao dịch.Bất cứ thời điểm nào cũng có thể cung cấp cho người sử dụng Internet mọithông tin đầy đủ, cập nhật nhất
I.2 Vai trò của Thương mại điện tử:
Công nghệ thông tin đã và đang thay đổi thế giới (người ta nói nhiều đến thế giới “phẳng” hơn) cũng như tạo nên một cuộc cách mạng thực sự trong mọi lĩnh vực của khoa học và đời sống Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động SXKD cũng không nằm ngoài xu hướng đó Khái niệmứng dụng CNTT trong hoạt động thương mại hay còn gọi là thương mại điện tử ra đời và đang trởthành xu thế mới thay thế dần phương thức kinh doanh cũ với rất nhiều ưu thế nổi bật như nhanhhơn, rẻ hơn, tiện dụng hơn, hiệu quả hơn và không bị giới hạn bởi không gian và thời gian…vv
I.3 Lịch sử hình thành Thương mại điện tử.
I.3.1 Lịch sử Internet:
Năm 1969, mạng ARPAnet (tiền thân của Internet) được phát minh bởi các sinh viên cáctrường Đại học ở Mỹ Mạng có tên gọi là ARPAnet vì được ARPA (the Advanced ResearchProjects Agency - Bộ phận Dự án Nghiên cứu Cao cấp của Bộ Quốc Phòng Mỹ) tài trợ kinh phí.Mạng này ban đầu được phát triển với ý định phục vụ việc chia sẻ tài nguyên của nhiều máy tính,sau đó nó còn được dùng để phục vụ việc liên lạc, cụ thể nhất là thư điện tử (email)
Mạng ARPAnet được vận hành trên nguyên tắc không cần sự điều khiển trung tâm(without centralized control), cho phép nhiều người gửi và nhận thông tin cùng một lúc thông quacùng một đường dẫn (dây dẫn, như dây điện thoại) Mạng ARPAnet dùng giao thức truyền thôngTCP (Transmission Control Protocol)
Trang 6Sau đó, các tổ chức khác trên thế giới cũng bắt đầu triển khai các mạng nội bộ, mạng mở rộng,mạng liên tổ chức (inter-organization network) và nhiều chương trình ứng dụng, giao thức, thiết
bị mạng đã xuất hiện ARPA tận dụng phát minh IP (Internetworking Protocol – giao thức liênmạng) để tạo thành giao thức TCP/IP - hiện nay đang sử dụng cho Internet
Ban đầu, Internet chỉ được sử dụng trong các trường đại học, viện nghiên cứu, sau đó quân đội bắtđầu chú trọng sử dụng Internet, và cuối cùng, chính phủ (Mỹ) cho phép sử dụng Internet vào mụcđích thương mại Ngay sau đó, việc sử dụng Internet đã bùng nổ trên khắp các châu lục với tốc độkhác nhau
WWW được phát minh sau Internet khá lâu Năm 1990, Tim Berners-Lee củaCERN (the European Laboratory for Particle Physics – Phòng nghiên cứu Vật lý Hạt nhân ChâuÂu) phát minh ra WWW và một số giao thức truyền thông chính yếu cho WWW, trong đó cóHTTP (Hyper-text Transfer Protocol – giao thức truyền siêu văn bản) và URL (Uniform ResourceLocator - địa chỉ Internet) Ngày 16 tháng 07 năm 2004 Tim Berners-Lee được Nữ Hoàng Anhphong tước Hiệp Sĩ vì đã có công lớn trong việc phát minh ra WWW và phát triểnInternet toàncầu
Sau đó, các tổ chức, cá nhân khác tiếp tục phát minh ra nhiều ứng dụng, giao thức choWWW với các ngôn ngữ lập trình khác nhau, chương trình, trình duyệt trên các hệ điều hành khácnhau v.v Tất cả làm nên WWW phong phú như ngày nay
I.3.2 Lịch sử thương mại điện tử
Từ khi Tim Berners-Lee phát minh ra WWW vào năm 1990, các tổ chức, cá nhân đã tíchcực khai thác, phát triển thêm WWW, trong đó có các doanh nghiệp Mỹ Các doanh nghiệp nhậnthấy WWW giúp họ rất nhiều trong việc trưng bày, cung cấp, chia sẻ thông tin, liên lạc với đốitác một cách nhanh chóng, tiện lợi, kinh tế Từ đó, doanh nghiệp, cá nhân trên toàn cầu đã tíchcực khai thác thế mạnh của Internet, WWW để phục vụ việc kinh doanh, hình thành nên khái niệmTMĐT Chính Internet và Web là công cụ quan trọng nhất của TMĐT, giúp cho TMĐT phát triển
và hoạt động hiệu quả Mạng Internet được sử dụng rộng rãi từ năm1994 Công ty Netsscape tung
ra các phần mềm ứng dụng để khai thác thông tin trên Internet vào tháng 5 năm 1995 Công tyAmazon.com ra đời vào tháng 5 năm 1997 Công ty IBM tung ra chiến dịch quảng cáo cho các môhình kinh doanh điện tử năm 1997
Với Internet và TMĐT, việc kinh doanh trên thế giới theo cách thức truyền thống bao đờinay đã ít nhiều bị thay đổi, cụ thể như:
Trang 7Người mua nay có thể mua dễ dàng, tiện lợi hơn, với giá thấp hơn, có thể so sánh giá cả một cáchnhanh chóng, và mua từ bất kỳ nhà cung cấp nào trên khắp thế giới, đặc biệt là khi mua sảnphẩm điện tử download được (downloadable electronic products) hay dịch vụ cung cấp quamạng.
Internet tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì mối quan hệ một-đến-một (one-to-one) với
số lượng khách hàng rất lớn mà không phải tốn nhiều nhân lực và chi phí
Người mua có thể tìm hiểu, nghiên cứu các thông số về sản phẩm, dịch vụ kèm theo qua mạngtrước khi quyết định mua
Người mua có thể dễ dàng đưa ra những yêu cầu đặc biệt của riêng mình để nhà cung cấpđáp ứng, ví dụ như mua CD chọn các bài hát ưa thích, mua nữ trang tự thiết kế kiểu, mua máy tínhtheo cấu hình riêng
Người mua có thể được hưởng lợi từ việc doanh nghiệp cắt chi phí dành cho quảng cáotrên các phương tiện truyền thông, thay vào đó, giảm giá hay khuyến mãi trực tiếp cho người muaqua mạng Internet
Người mua có thể tham gia đấu giá trên phạm vi toàn cầu
Người mua có thể cùng nhau tham gia mua một món hàng nào đó với số lượng lớn để đượchưởng ưu đãi giảm giá khi mua nhiều
Doanh nghiệp có thể tương tác, tìm khách hàng nhanh chóng hơn, tiện lợi hơn, với chi phírất thấp hơn trong thương mại truyền thống
Những trung gian trên Internet cung cấp thông tin hữu ích, lợi ích kinh tế (giảm giá, chọnlựa giá tốt nhất ) cho người mua hơn là những trung gian trong thương mại truyền thống Cạnhtranh toàn cầu và sự tiện lợi trong việc so sánh giá cả khiến cho những người bán lẻ phải hưởngchênh lệch giá ít hơn
TMĐT tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp ở các nước đang phát triển cóthể cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn
Nhà cung cấp hàng hóa trên mạng có thể dùng chương trình giới thiệu tự động những mặthàng khác hay mặt hàng liên quan cho khách hàng của mình, dựa trên những thông tin đã thu thậpđược về thói quen mua sắm, món hàng đã mua của khách hàng
Ngành ngân hàng, giáo dục, tư vấn, thiết kế, marketing và những dịch vụ tương tự đã, đang
và sẽ thay đổi rất nhiều về chất lượng dịch vụ, cách thức phục vụ khách hàng dựa vào Internet vàTMĐT
Trang 8Internet giúp giảm chi phí cho các hoạt động thương mại như thông tin liên lạc,marketing, tài liệu, nhân sự, mặt bằng
Liên lạc giữa đối tác ở các quốc gia khác nhau sẽ nhanh chóng, kinh tế hơn nhiều
Mô hình cộng tác (affiliate) tương tự việc hưởng hoa hồng khi giới thiệu khách hàng đang bùng
nổ Ví dụ Amazon.com có chương trình hoa hồng cho các website nào dẫn được khách hàng đếnwebsite Amazon.com và mua hàng, mức hoa hồng từ 5% đến 15% giá trị đơn hàng
TMĐT được chia ra thành nhiều cấp độ phát triển Cách phân chia thứ nhất: 6 cấp độ phát triểnTMĐT:
Cấp độ 1 - hiện diện trên mạng: doanh nghiệp có website trên mạng Ở mức độ này, website rất
đơn giản, chỉ là cung cấp một thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm mà không có các chức năngphức tạp khác
Cấp độ 2 – có website chuyên nghiệp: website của doanh nghiệp có cấu trúc phức tạp hơn, có
nhiều chức năng tương tác với người xem, hỗ trợ người xem, người xem có thể liên lạc với doanhnghiệp một cách thuận tiện
Cấp độ 3 - chuẩn bị TMĐT: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán hàng hay dịch vụ qua mạng Tuy
nhiên, doanh nghiệp chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để phục vụ các giao dịch trên mạng.Các giao dịch còn chậm và không an toàn
Cấp độ 4 – áp dụng TMĐT: website của DN liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của
DN, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thếlàm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả
Cấp độ 5 - TMĐT không dây: doanh nghiệp áp dụng TMĐT trên các thiết bị không dây như điện
thoại di động, Palm (máy tính bỏ túi)v.v… sử dụng giao thức truyền không dây WAP (WirelessApplication Protocol)
Cấp độ 6 - cả thế giới trong một máy tính: chỉ với một thiết bị điện tử, người ta có thể truy cập vào
một nguồn thông tin khổng lồ, mọi lúc, mọi nơi và mọi loại thông tin (hình ảnh, âm thanh, phim,v.v…) và thực hiện các loại giao dịch
Cách phân chia thứ hai: 3 cấp độ phát triển TMĐT
Cấp độ 1 – thương mại thông tin (i-commerce, i=information: thông tin): doanh nghiệp có
website trên mạng để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ Các hoạt động mua bán vẫn thựchiện theo cách truyền thống
Trang 9Cấp độ 2 – thương mại giao dịch (t-commerce, t=transaction: giao dịch): doanh nghiệp cho
phép thực hiện giao dịch đặt hàng, mua hàng qua website trên mạng, có thể bao gồm cả thanh toántrực tuyến
Cấp độ 3 – thương mại tích hợp (c-business, c=colaborating, connecting: tích hợp, kết nối):
website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh nghiệp,mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làmgiảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả
I.4 An ninh và bảo mật trong Thương mại điện tử.
Giao dịch thương mại qua các phương tiện điện tử, trong đó mọi dữ liệu (kể cả chữ ký) đều
ở dạng số hoá, đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về tính bảo mật, an toàn, tránh mất tiền, lừa gạt, thayđổi thông tin, xâm nhập dữ liệu, v.v là các rủi ro ngày một lớn, không chỉ với người buôn bán,
mà cả với người quản lý, với từng quốc gia, vì các hệ thống điện tử có thể bị kẻ xấu (thường gọi
là "hacker") xâm nhập, đòi hỏi phải có các hệ thống bảo mật, an toàn được thiết kế trên cơ sở kỹ
thuật mã hóa hiện đại, và một cơ chế an ninh hữu hiệu (nhất là đối với các hệ thống có liên quantới an ninh quốc gia) Ngoài ra, còn có nhu cầu ngày càng tăng vì giữ gìn bí mật riêng tư
- Nhóm rủi ro về thủ tục quy trình giao dịch của tổ chức
- Nhóm rủi ro về luật pháp và các tiêu chuẩn công nghiệp
Các nhóm rủi ro này không hoàn toàn độc lập với nhau mà đôi khi chúng đồng thời cùng xảy đến và không xác định tách bạch rõ ràng được Nếu các rủi ro này đồng thời xảy ra, thiệt hại đối với tổ chức có thể rất lớn cả về uy tín, thời gian và chi phí đầu tư để khôi phục hoạt động trở lạibình thường
Trang 10- Virus
Virus tấn công vào thương mại điện tử thường gồm 3 loại chính: virus ảnh hưởng tới các tệp (file) chương trình (gắn liền với những file chương trình, thường là COM hoặc EXE), virus ảnh hưởng tới hệ thống (đĩa cứng hoặc đĩa khởi động), và virus macro Virus macro là loại virus phổ biến nhất, chiếm từ 75% đến 80% trong tổng số các virus được phát hiện Đây là loại virus đặcbiệt chỉ nhiễm vào các tệp ứng dụng soạn thảo, chẳng hạn như các tệp ứng dụng của MS Word, Excel và Power Point Khi ngườisử dụng mở các tài liệu bị nhiễm virus trong các chương trình ứng dụng, virus này sẽ tự tạo ra các bản sao và nhiễm vào các tệp chứa đựng các khuôn mẫu của ứng dụng, để từ đó lây sang các tài liệu khác
Các loại virus có thể gây ra những tác hại nghiêm trọng, đe doạ tính toàn vẹn và khả năng hoạt động liên tục, thay đổi các chức năng, thay đổi các nội dung dữ liệu hoặc đôi khi làm ngưng trệ toàn bộ hoạt động của nhiều hệ thống trong đó có các website thương mại điện tử Nó được đánh giá là mối đe doạ lớn nhất đối với an toàn của các giao dịch thương mại điện tử hiện nay.
- Tin tặc (hacker) và các chương trình phá hoại (cybervandalism)
Tin tặc hay tội phạm máy tính là thuật ngữ dùng để chỉ những người truy cập trái phép vào một website, một cơ sở dữ liệu hay hệ thống thông tin Thực chất mục tiêu của các hacker rất đa dạng Có thể là hệ thống dữ liệu của các website thương mại điện tử, hoặc với ý đồ nguy hiểm hơn chúng có thể sử dụng các chương trình phá hoại (cybervandalism) nhằm gây ra các sự cố, làm mất
uy tín hoặc phá huỷ website trên phạm vi toàn cầu Thí dụ như ngày 1-4-2001, tin tặc đã sử dụng chương trình phá hoại tấn công vào các máy chủ có sử dụng phần mềm Internet Information Server (IIS) của Microsoft nhằm làm giảm uy tín của phần mềm này và rất nhiều nạn nhân như hãng hoạt hình Walt Disney, Nhật báo phố Wall …đã phải gánh chịu hậu quả cả về tài chính và
uy tín.
- Rủi ro về gian lận thẻ tín dụng
Trong thương mại điện tử, các hành vi gian lận thẻ tín dụng xảy ra đa dạng và phức tạp hơnnhiều so với thương mại truyền thống Nếu như trong thương mại truyền thống, việc mất thẻ hoặc thẻ bị đánh cắp là mối đe doạ lớn nhất đối với khách hàng thì trong thương mại điện tử mối đe doạ lớn nhất là bị “mất” (hay bị lộ) các thông tin liên quan đến thẻ tín dụng hoặc các thông tin giao dịch sử dụng thẻ tín dụng trong quá trình thực hiện các giao dịch mua sắm qua mạng và các thiết bị
điện tử Các tệp chứa dữ liệu thẻ tín dụng của khách hàng thường là những mục tiêu hấp dẫn đối với tin tặc khi tấn công vào website thương mại điện tử Hơn thế, những tên tội phạm có thể đột nhập vào các cơ sở dữ liệu của website thương mại điện tử để lấy cắp các thông tin của khách
Trang 11hàng như tên, địa chỉ, điện thoại… với những thông tin này chúng có thể mạo danh khách hàng thiết lập các khoản tín dụng mới nhằm phục vụ những mục đích phi pháp.
- Tấn công từ chối dịch vụ
Tấn công từ chối dịch vụ (DOS - Denial Of Service attack, DDOS – Distributed DOS hay
DR DOS) là kiểu tấn công khiến một hệ thống máy tính hoặc một mạng bị quá tải, dẫn tới không thể cung cấp dịch vụ hoặc phải dừng hoạt động Sơ khai nhất là hình thức DoS (Denial of Service),lợi dụng sự yếu kém của giao thức TCP, tiếp đến là DDoS (Distributed Denial of Service) - tấn công từ chối dịch vụ phân tán, và gần đây là DRDoS - tấn công theo phương pháp phản xạ phân tán (Distributed Reflection Denial of Service)
Những cuộc tấn công DoS có thể là nguyên nhân khiến cho mạng máy tính ngừng hoạt động và trong thời gian đó, người sử dụng sẽ không thể truy cập vào các website thương mại điện
tử Những tấn công này cũng đồng nghĩa với những khoản chi phí rất lớn vì trong thời gian
website ngừng hoạt động, khách hàng không thể thực hiện các giao dịch mua bán Đồng thời, sự gián đoạn hoạt động này sẽ ảnh hưởng đến uy tín và tiếng tăm của doanh nghiệp, những điều không dễ dàng gì lấy lại được Mặc dù những cuộc tấn công này không phá huỷ thông tin hay truy cập vào những vùng cấm của máy chủ nhưng tạo ra phiền toái, gây trở ngại cho hoạt động của
nhiều doanh nghiệp Vụ tấn công DOS điển hình đầu tiên xảy ra vào tháng 2-2000, các hoạt động
tấn công liên tục khiến hàng loạt website trên thế giới ngừng hoạt động trong nhiều giờ, trong đó
có những website hàng đầu như: eBay ngừng hoạt động trong 5 giờ, Amazon gần 4 giờ, CNN gần 3.5 giờ, E-Trade gần 3 giờ, Yahoo và Buy.com và ZDNet cũng ngừng hoạt động từ 3 đến 4 giờ Ngay cả người khổng lồ Microsoft cũng đã từng phải gánh chịu hậu quả của những cuộc tấn công này Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều doanh nghiệp bị tấn công dưới hình thức này
- Kẻ trộm trên mạng (sniffer)
Kẻ trộm trên mạng (sniffer) là một dạng của chương trình theo dõi, nghe trộm, giám sát sự
di chuyển của thông tin trên mạng Khi sử dụng vào những mục đích hợp pháp, nó có thể giúp pháthiện ra những yếu điểm của mạng, nhưng ngược lại, nếu sử dụng vào các mục đích phi pháp, các phần mềm ứng dụng này sẽ trở thành các mối hiểm hoạ lớn và rất khó có thể phát hiện Kẻ trộm sửdụng các phần mềm này nhằm lấy cắp các thông tin có giá trị như thư điện tử, dữ liệu kinh doanh của các doanh nghiệp, các báo cáo mật…từ bất cử nơi nào trên mạng
Xem lén thư điện tử là một dạng mới của hành vi trộm cắp trên mạng Kỹ thuật xem lén thư điện
tử sử dụng một đoạn mã (ẩn) bí mật gắn vào thông điệp thư điện tử, cho phép người nào đó có thể giám sát toàn bộ các thông điệp chuyển tiếp được gửi đi cùng với thông điệp ban đầu Chẳng hạn
Trang 12một nhân viên phát hiện thấy lỗi kỹ thuật trong khâu sản xuất, anh ta lập tức gửi một báo cáo thôngbáo cho cấp trên thông báo phát hiện của mình Người này sau đó sẽ tiếp tục gửi thông báo đến tất
cả các bộ phận có liên quan trong doanh nghiệp Một kẻ nào đó sử dụng kỹ thuật xem lén thư điện
tử có thể theo dõi và biết được toàn bộ thông tin trong bức thư điện tử gửi tiếp sau đó bàn về vấn
đề này
Một số giải pháp phòng ngừa:
Biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay trong việc đảm bảo tính xác thực là sử dụng hạ tầng khóacông khai (PKI – Public Key Infrastructure) trong đó có sử dụng các thiết bị kỹ thuật, hạ tầng và quy trình để ứng dụng việc mã hóa, chữ kỹ số và chứng chỉ số Các kỹ thuật sử dụng trong Hạ tầngkhóa công khai có thể hiểu như sau:
Sử dụng kỹ thuật mã hoá thông tin:
- Ký thuật mã hóa đơn sử dụng một khoá khoá bí mật:
Mã hoá khoá bí mật, còn gọi là mã hoá đối xứng hay mã hoá khoá riêng, là việc sử dụng một khoá chung, giống nhau cho cả quá trình mã hoá và quá trình giải mã
- Ký thuật mã hóa kép sử dụng khoá công khai và khóa bí mật
Kỹ thuật mã hoá này sử dụng hai khoá khác nhau trong quá trình mã hoá và giải mã: một khoá dùng để mã hoá thông điệp và một khoá khác dùng để giải mã Hai mã khoá này có quan hệ với nhau về mặt thuật toán sao cho dữ liệu được mã hoá bằng khoá này sẽ được giải mã bằng khoá kia Khoá công cộng là phần mềm có thể công khai cho nhiều người biết, còn khoá riêng được giữ
bí mật và chỉ mình chủ nhân của nó được biết và có quyền sử dụng
- Chữ ký số (Digital signature)
- Phong bì số (Digital Envelope):
Tạo lập một phong bì số là một quá trình mã hoá sử dụng khoá công khai của người nhận (phần mềm công khai của người nhận, phần mềm này cũng do cơ quan chứng thực cấp cho người nhận, và được người nhận thông báo cho các đối tác biết để sử dụng khi họ muốn gửi thông điệp cho mình) Khóa bí mật này được dùng để mã hoá toàn bộ thông tin mà người gửi muốn gửi cho người nhận, khóa này đảm bảo chỉ có duy nhất người nhận là người mở được thông điệp để đọc
Vì duy nhất người nhận là người nắm giữ khóa tương ứng để giải mã (phần mềm bí mật hay khóa
bí mật, khóa này cũng do cơ quan chứng thực cấp cho người nhận)
- Chứng thư số hóa (Digital Certificate):
Nếu một bên phải được được mã hóa công khai của bên thứ 2 để có thể tiến hành mã hóa
và gửi thông điệp cho bên đó, mã hóa công khai này sẽ được lấy ở đâu và liệu bên này có thể đảm
Trang 13bảo định danh chính xác của bên thứ 2 không? Chứng thư điện tử xác minh rằng người cầm giữ mãkhóa công cộng hoặc mã khóa bí mật chính là người chủ của mã khóa đó Bên thứ ba, Cơ quan chứng thực, sẽ phát hành chứng thư điện tử cho các bên tham gia Nội dung Chứng thư điện tử baogồm: tên, mã khoá công khai, số thứ tự của chứng thực điện tử, thời hạn hiệu lực, chữ ký của cơ quan chứng nhận (tên của cơ quan chứng nhận có thể được mã hoá bằng mã khoá riêng của cơ quan chứng nhận) và các thông tin nhận dạng khác Các chứng thư này được sử dụng để xác minh tính chân thực của website (website certificate), của cá nhân (personal certificate) và của các công
ty phần mềm (software publisher certificate)
Các biện pháp cơ bản nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống TMĐT
Giải pháp an ninh nguồn nhân lực
Giải pháp về trang thiết bị an ninh mạng
Tác dụng của chính sách và quy trình bảo đảm an toàn đối vói hoạt động Thương mại điện tử:
Xây dựng chính sách về an ninh an toàn mạng và yêu cầu mọi người phải chấp hành có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng ý thức và thể chế hóa hoạt động bảo vệ an ninh cho thương mại điện tử Chính sách này thường bao gồm các nội dung sau:
- Quyền truy cập: xác định ai được quyền truy cập vào hệ thống, mức độ truy cập và ai giao quyềntruy cập
- Bảo trì hệ thống: ai có trách nhiệm bảo trì hệ thống như việc sao lưu dữ liệu, kiểm tra an toàn định kỳ, kiểm tra tính hiệu quả các biện pháp an toàn,…
- Bảo trì nội dung và nâng cấp dữ liệu: ai có trách nhiệm với nội dung đăng tải trên mạng intranet, internet và mức độ thường xuyên phải kiểm tra và cập nhật những nội dung này
- Cập nhật chính sách an ninh thương mại điện tử: mức độ thường xuyền và ai chịu trách nhiệm cập nhật chính sách an ninh mạng và các biện pháp đảm bảo việc thực thi chính sách đó
I.5 Thanh toán điện tử:
Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện thực tế và có hiệu quả khi đã tồn tại một hệ thống
thanh toán tài chính ở mức độ phát triển đủ cao, cho phép tiến hành thanh toán tự động (trong
đó "thẻ thông minh") có vai trò đặc biệt quan trọng trong kinh doanh bán lẻ; khi chưa có hệ thống
Trang 14này, thì thương mại điện tử chỉ giới hạn trong khâu trao đổi tin tức, còn việc buôn bán hàng hóa và dịch vụ vẫn phải kết thúc bằng trả tiền trực tiếp hoặc qua các phương tiện thanh toán truyền thông; hiệu quả sẽ thấp, rất có thể không đủ bù đắp chi phí trang bị phương tiện thương mại điện tử.
I.6 E – Marketing:
Tiếp thị điện tử (e-marketing) là cách thức tiếp thị vận dụng các tính năng của Internet nhằm mục đích cuối cùng là phân phối được sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ đến thị trường tiêu thụ
Các quy tắc cơ bản của tiếp thị điện tử cũng giống như tiếp thị trong môi trường kinh doanh truyền
thống Hoạt động tiếp thị vẫn theo trình tự: Sản phẩm – Giá thành - Xúc tiến thương mại - Thị trường tiêu thụ.
Tuy nhiên, tiếp thị điện tử gặp khó khăn ở vấn đề cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của thị trường mục tiêu (số lượng người sử dụng internet, mức độ sử dụng, tốc độ truy cập mạng, ) Nếu
cơ sở hạ tầng còn yếu kém thì người tiêu thụ không có nhiều cơ hội tiếp cận với mạng Internet, tìmthông tin trên Net, mua hàng trực tuyến, tham gia đấu giá trên mạng, Như vậy, e-marketing khó
có thể có ảnh hưởng đến người tiêu dùng ở thị trường đó
Phân biệt e-marketing, e-commerce và e-business
E-marketing là cách thức dùng các phương tiện điện tử để giới thiệu, mời chào, cung cấp thông tin về sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ của nhà sản xuất đến người tiêu dùng và thuyết phục họ chọn nó
E-commerce chỉ các hoạt động mua bán thông qua các phương tiện điện tử
E-business chỉ tất cả những hoạt động kiếm tiền từ mạng, từ việc bán hàng hoá, dịch vụ chođến tư vấn, đầu tư
I.7 Một số mô hình bán lẻ điện tử:
Mô hình marketing trực tiếp bằng đơn đặt hàng qua thư
Theo nghĩa rộng, marketing trực tiếp là marketing được thực hiện không qua các trung gian Các nhà marketing trực tiếp nhận đơn đặt hàng từ khách hàng, bỏ qua kênh phân phối bán buôn và bán lẻ truyền thống
- Các hãng với hệ thống kinh doanh dựa trên đơn đặt hàng qua thư có lợi thế khi chuyển sang bán hàng trực tuyến, vì họ có sẵn các hệ thống tác nghiệp xử lý thanh toán, quản trị tồn kho và thực hiện đơn hàng tốt
- Ví dụ điển hình thành công của mô hình này là Lands End
Mô hình bán hàng trực tiếp từ các nhà sản xuất
Trang 15- Người bán hàng có thể hiểu rõ thị trường của họ vì quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng, và người tiêu dùng nhận được nhiều thông tin về sản phẩm qua quan hệ trực tiếp với nhà sản xuất Hãng Dell đầu tiên sử dụng marketing trực tiếp kết hợp với tiếp cận bán hàng qua đơn đặt hàng, cung cấp hàng hóa của họ theo yêu cầu riêng của khách hàng
- Các hãng ô tô trước kía chỉ phân phối ô tô qua các đại lý bán ô tô Khi một khách hàng mong muốn một tính năng hoặc màu sắc đặc biệt, khách hàng phải chờ đợi nhiều tuần lễ hoặc nhiều tháng cho đến khi lô sản phẩm xuất xưởng có được chiếc ô tô như mong đợi Nhà sản xuất tiến hành nghiên cứu thị trường để đánh giá xem các tính năng nào và màu sắc nào bán chạy nhất, sau
đó họ sản xuất các sản phẩm mà họ dự định bán
Mô hình các nhà bán lẻ điện tử thuần túy
- Các nhà bán lẻ điện tử ảo (thuần túy) là các công ty bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng qua Internet mà không duy trì kênh bán hàng vật lý
- Amazon.com là ví dụ trước tiên cho các nhà bán lẻ điện tử thuộc loại này
Các nhà bán lẻ điện tử ảo có lợi thế liên quan đến tổng chi phí thấp và các quá trình kinh doanh được tổ chức hợp lý Các nhà bán lẻ điện tử có thể thuộc loại kinh doanh hàng hóa đa dụng hoặc hàng hóa chuyên dụng
- Các nhà bán lẻ điện tử kinh doanh hàng hóa chuyên dụng hoạt động trong một thị trường hẹp (ví
dụ Cattoys.com) Các doanh nghiệp kinh doanh chuyên sâu như vậy không thể tồn tại trong thế giới vật lý vì họ không có đủ khách hàng
Mô hình các nhà bán lẻ điện tử hỗn hợp
Một hãng đồng thời vận hành cả các cửa hàng vật thể, cả các site bán lẻ trực tuyến được gọi
là nhà bán hàng hỗn hợp “click and mortar” trên mô hình kinh doanh đa kênh
Ví dụ: các cửa hàng bách hóa của Macys (Macys.com) hoặc Sears (Sears.com), các cửa hàng hạ giá của Wal-Mart (waltmart.com)
Mô hình bán lẻ trên phố trực tuyến
Phố trực tuyến bao gồm hai loại: Danh mục tham khảo và Phố bán hàng với các dịch vụ chia sẻ
- Danh mục tham khảo Loại phố này về cơ bản là một danh mục được tổ chức theo sản phẩm
Các tờ catalog hoặc quảng cáo biểu ngữ (banner ads) trên site quảng cáo các sản phẩm hoặc cửa hàng Khi người dùng mạng kích chuột vào một sản phẩm hoặc một cửa hàng cụ thể, họ được dẫn đến cửa hàng của người bán, nơi mà họ sẽ thực hiện các giao dịch
- Phố bán hàng với các dịch vụ chia sẻ Trên các phố với các dịch vụ chia sẻ, người tiêu dùng có
Trang 16thể tìm thấy các sản phẩm, đặt mua, thanh toán và thỏa thuận vận chuyển Phố chủ có thể cung cấpcác dịch vụ này, nhưng thông thường các dịch vụ được các cửa hàng độc lập thực hiện Chủ các cửa hàng trả tiền thuê hoặc phí giao dịch cho chủ website Choicemall.com là một ví dụ thuộc loại này
Các mô hình B2C khác
Một số mô hình khác được sử dụng trong TMĐT B2C Một số mô hình sử dụng trong B2C đồng thời cũng được sử dụng trong TMĐT B2B, B2B2C, G2B và các loại hình TMĐT khác
Trang 17Chương II: THỰC TRẠNG, ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI
TRANG AMAZON
II.1 Giới thiệu chung:
Địa điểm kinh doanh Khắp nơi trên thế giới
Người đứng đầu
Jeffrey P.Bezos(Giám đốc điều hành, chủ tịch hội đồng quản trị)
Sản phẩm
Amazon.com, A9.com, Alexa Internet, IMDb, Amazon Kindle, Amazon Web Services
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh 1.406 tỉ USD (2010)
Amazon.com Inc (mã niêm yết trên sàn NASDAQ: AMZN) là một công ty thương mại điện tử của Mỹ đặt tại Seattle, bang Washington Đây là hệ thống bán lẻ lớn nhất của Mĩ với doanhthu bán hàng qua Interet gần gấp ba lần Amazon là công ty kinh doanh đa ngành, đa nghề như sách, dịch vụ mua bán nhạc, phần mềm tin học, trang trí nội thất, game…Quảng cáo của Amazon đập vào mắt ta bất cứ khi nào ta click vào Internet Các chuyên gia gọi Amazon.com là một trong những công ty có tiềm năng và triển vọng bậc nhất hiện nay Với doanh thu hàng tỷ đô la/năm trong vòng 4 năm hình thành và phát triển, rõ ràng siêu thị bán lẻ qua mạng này là một trong những người khổng lồ của thế giới thương mại điện tử
Khi biết tốc độ phát triển của Internet là 2300%/năm vào những năm đầu thập kỷ 90, mặc
dù không có kinh nghiệm về bán hàng cũng như không nhiều hiểu biết về Internet nhưng Jeff Bezos – sau này là người sáng lập đồng thời là tổng giám đốc điều hành của Amazon - đã sớm nhìn thấy tương lai của việc bán hàng qua mạng Tháng 7/1995, công ty chuyên bán sách qua
Trang 18mạng mang tên con sông hùng vĩ nhất Nam Mỹ ra đời với mục tiêu sử dụng Internet để chuyển hoạt động mua sách sang một hình thức nhanh nhất, dễ dàng nhất và đem lại nhiều ích lợi nhất có thể Dù lượng khách hàng và lượng sản phẩm bán ra tăng lên đáng kể trong những ngày đầu kinh doanh thương mại điện tử, Amazon vẫn duy trì những cam kết ban đầu là luôn cung cấp cho kháchhàng sự thoả mãn tối đa Amazon.com là nơi để mọi người đến tìm mua bất cứ thứ gì một cách trực tuyến Hàng triệu người ở trên khắp 220 quốc gia đã đánh giá Amazon là website bán lẻ hàng đầu Sản phẩm mà Amazon cung cấp bao gồm thiếp điện tử miễn phí, đấu giá trực tuyến, hàng triệu đầu sách, đĩa CD, phim ảnh, đĩa DVD, đồ chơi và trò chơi, đồ điện tử, đồ làm bếp, máy tính
và nhiều sản phẩm khác
Hiện nay, Amazon đã trở thành website thương mại điện tử lớn nhất thế giới với doanh số bán hàng trên mạng internet gấp gần ba lần doanh thu của hãng xếp hạng nhì là Staples.Inc tại thời điểm tháng 1 năm 2010, Amazon đã cung cấp hàng triệu sản phẩm cho hơn 17 triệu người dùng trên 160 quốc gia, ngoài ra Amazon còn cung cấp đấu giá trực tuyến và chợ điện tử
II.2 Thực trạng ứng dụng Thương mại điện tử của trang Amazon.
II.2.1 Các hoạt động thương mại điện tử:
(Amazon phát triển qua thời kỳ 1995-1999)
7/1995 Amazon bắt đầu kinh doanh sách trực tuyến
15-5-1997 Amazon cổ phần hoá công ty
Trang 193/1998 Amazon.com Kids ra đời, cung cấp sách cho thiếu nhi
11/6/1998 Amazon kinh doanh thêm mặt hàng đĩa CD
4/8/1998 Amazon mua lại tập đoàn Junglee Corp và PlanetAll
16/11/1998 Amazon mở cửa hàng ảo bán phim ảnh và quà tặng
29/3/1999 Amazon mở trang đấu giá cạnh tranh với eBay
7/1999 Amazon mở cửa hàng ảo bán đồ chơi và đồ điện tử
29/9/1999 Amazon khai trương chợ điện tử zShop.com
6/2001 Amazon đã khai trương dịch vụ đăng ký phần mềm trên website
của hãng
Amazon bán máy tính trên mạng11/2002 Amazon mở cửa hàng quần áo trên mạng
2003 Amazon bán sách trực tuyến theo trang Amazon Page
14/4/2004 Amazon tung ra dịch vụ tìm kiếm ( A9.com )
2 / 2005 Amazon đã giới thiệu dịch vụ mới cho phép gửi hàng hoá mà
khách hàng đặt mua tới bất cứ đâu với mức chi phí cố định là 79 USD/năm
8/2007 Amazon khai trương hệ thống thanh toán trực tuyến
9/2007 Amazon khai trương dịch vụ bán nhạc trực tuyến AmazonMP3
nhằm cạnh trang với Apple iTunes
12/2007 Amazon bắt tay Warner kinh doanh nhạc số phi DRM
2008 Amazon bắt đầu bán nhạc "không DRM" ra toàn cầu
4/2008 Amazon khai trương dịch vụ shopping bằng tin nhắn
Ngày 15/9/2008 Trang web IMDb.com của Amazon bắt đầu cho phép người dùng
xem phim và chương trình truyền hình mà không thu bất kỳ khoản phí nào
2009 Amazon mua lại Zappos và cửa hàng bán lẻ giày, quần áo
Lexcycle
2010 Amazon mua lại Touchco, Woot , Quidsi , BuyVIP, Amie Street
2011 Amazon mua lại Lovefilm, The Book Depository, Pushbutton
Sản phẩm kinh doanh
Amazon đã mở các nhánh bán lẻ đĩa nhạc, băng Video và đĩa DVD, phần mềm, điện tử tiêudùng, đồ nhà bếp, dụng cụ, thiết bị làm cỏ, làm vườn, đồ chơi trò chơi, đồ trẻ em, quần áo, đồ thể thao, thực phẩm, trang sức, đồng hồ, thiết bị chăm sóc cá nhân và y tế, sản phẩm làm đẹp, nhạc cụ,vải vóc, rau quả, nguyên liệu công nghiệp và khoa học…
Đầu tháng 8/2005, Amazon bắt đầu bán sản phẩm dưới nhãn hiệu riêng: “Pinzon” Những ứng dụng thương hiệu mở đầu gợi ra cho công ty ý tưởng tập trung vào dệt may, dụng cụ nhà bếp
Trang 20và những khóa gia đình khác Vào tháng 3- 2007, công ty áp dụng mở rộng thương hiệu,để bao quát và đa dạng danh mục hàng hóa Để đăng ký thiết kế mới có từ PINZON viết cách điệu và chữ
O ở vị trí kim đồng hồ chỉ một giờ Danh mục các sản phẩm đăng ký dưới thương hiệu đã phát triển ra bao gồm cả những loại như: sơn, thảm, giấy dán tường, làm tóc, vải,footware, dụng cụ làm đẹp, trang sức
Vào 16/5/2007, Amazon công bố dự định triển khai cửa hàng âm nhạc trực tuyến Cửa hàng bắt đầu tại Mỹ vào 25/9/2007, kinh doanh việc tải nhạc MP3 không quản lý quyền kỹ thuật
số (DRM) Điều này rất đáng lưu ý bởi vì nó là dịch vụ bán online dầu tiên, nhạc DRM miễn phí từ
cả bốn công ty thu âm
Vào tháng 8/2007, Amazon công bố Amazon Fresh- dịch vụ thực phẩm bán các loại thực phẩm tươi sống và ăn sẵn Đơn hàng của khách có thể được phân phát hoặc gửi hàng đến tận nhà vào sáng sớm
Vào 19 tháng 10 2007, Amazon phát hành Kindle thế hệ đầu tiên nhưng amazon không thể bán thế hệ sản phẩm này ngoài nước Mỹ
Năm 2008 Amazon mở rộng thêm lĩnh vực sản xuất phim và gần đây đang đầu tư cho phim
“The stolen Child” hợp tác với hãng 20th Century Fox Và cung cấp TextBuyIt, dịch vụ bán hàng qua SMS
Ngày 6 tháng 5 năm 2009, Kindle DX ra đời
Vào tháng 2 ngày 10 2009, Amazon công bố Kindle 2
Vào 28 tháng 7 2010, Amazon công bố Kindle thế hệ mới
Ngày 28 tháng 12 năm 2011, Kindle thế hệ thứ 4 ra đời, với mức giá hấp dẫn Kindle Fire
đã thu hút người tiêu dùng, mỗi máy kindle fire được bán ra Amazon chịu lỗ 10$ nhưng bù lại, hãng này sẽ thu lại được 50 USD hoặc cao hơn qua việc bán sách, ứng dụng, phim, nhạc, tài liệu
và các mặt hàng khác mà Amazon vốn đã rất có kinh nghiệm và đặc biệt thành công
Trang 21II.2.2 Phân tích trang web Amazon.
Giao diện trang website của Amazon được thiết kế từ những đóng góp ý kiến sơ bộ của khách hàng từ khắp mọi nơi trên thế
giới Với sự kết hợp hài hòa sắc xanh, và
cam, trang web tạo được khoảng nghỉ
cho người dùng truy cập vào website,
người dùng dễ dàng nhận biết và lựa
chọn
Website tập trung vào các mảng
shopping, searching, saving and buying
Với giao diện này trang web muốn
người dùng thuận tiện hơn trong việc mua sắm bất kỳ món hàng hóa nào
Giao diện sản phẩm: Amazon
luôn quan tâm khách hàng cần gì, nghĩ
gì, và luôn đứng vào góc độ người vào
website mua hàng Ở mục sản phẩm,
Amazon cung cấp thông tin đầy đủ về
hàng hóa, những lời nhận xét của khách
Wishlist: từ nghiên cứu hành vi mua
hàng qua mạng, Amazon cung cấp mục
Wishlist, giúp cho khách hàng có thể nhìn
lại những sản phẩm mà họ đã xem qua,
bên cạnh đó họ có thể tham khảo danh
mục mua hàng của bè họ qua kênh Find
friend Wish list “ một hình thái của việc
Trang 22gợi ý mua hàng “ Đơn giản và thuận tiện, kéo khách hàng lại gần hơn, và từ khách hàng này, họ sẽđưa đến những khách hàng khác Khách hàng có thể lưu lại sản phẩm đang quan tâm, sau này có nhu cầu mua, họ có thể xem xét lại.
Today’s Deal: ra đời theo su hướng tiết kiệm của khách hàng, và khuynh hướng săn hàng
giảm giá một ngày tăng Thiết kế
nhằm đem lại thuận tiện của khách
hàng, không quá nhiều thông tin về
sản phẩm như các trang deal Việt
Nam, khách hàng nhanh chóng mua
được hàng họ cần, tính được ngay
chi phí cần bỏ ra bao nhiêu
Cart: danh mục các sản
phẩm đã đặt mua được sắp xếp thuận
tiện Cùng với những gợi ý sản phẩm kèm theo Khách hàng sẽ có thêm được nhưng chọn lựa mua sắm chủ động cho riêng mình
Nhìn chung bố cục trang web nghiêng về phía khách hàng, dễ tiếp cận mua hàng dù đó là bất kỳ khách hàng nào, chỉ cần họ biết họ mua gì, cần những thông tin gì để mua hàng thì Amazon
sẽ cung cấp đầy đủ
Quy trình làm việc của Amazon
Partners (External): Đối tác (ngoại)
End Users (Internal): Khách hàng – người dùng cuối (nội)
Fulfillment Centers: Trung tâm hậu cần đầu ra
Supply Chain: Chuỗi cung ứng
Planning Aplications: Lập kế hoạch ứng dụng
Financial analysis: Phân tích tài chính
Web servers: Trang web chủ