Lịch sử nghiên cứu vấn đề Công trình nghiên cứu “ Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ởmiền Bắc Việt Nam” của Hoàng Lương được Nxb Văn hóa Dân tộc công bốnăm 2002, đã dành riên
Trang 1LỄ HỘI ĐỀN GIN, XÃ NAM DƯƠNG, HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
A Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
1.1 Đánh giá chung về Nam Trực
1.2 Nhận xét, đánh giá về lễ hội huyện Nam Trực từ góc nhìn văn
2.2.3 Các lễ vật trong lễ hội đền Gin
2.2.4 Các trò diễn trong lễ hội đền Gin
2.3 Lễ hội đền Gin từ năm 1945 đến năm 1986
2.4 Lễ hội đền Gin từ 1986 đến nay
2.5 Những giải pháp để tổ chức lễ hội đền Gin trong thời kỳ đổi mới
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Xuân, hạ, thu, đông, mùa nào trong năm cũng là mùa trẩy hội củangười Việt Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, nước ta có gần 8000 lễ hộilớn nhỏ trải dài khắp đất nước.Lễ hội phát triển mạnh mẽ như vậy vì lễ hội làbảo tàng sống về văn hoá và sinh hoạt cộng đồng, là nơi phản ánh tinh thần,phong tục tập quán của dân gian.Lễ hội là nơi người dân tìm đến thể hiệnniềm tâm linh, mong ước về tương lai tốt đẹp hơn, cầu mong đất nước ấm no,thịnh vượng Lễ hội tồn tại từ đời này qua đời khác, góp phần tái hiện lại lịch
sử, giúp con cháu hậu thế hiểu được phần nào truyền thống dân tộc
Song song với sự phát triển của lễ hội là sự nảy sinh nhiều bất cập nhưhiện tượng thương mại hoá lễ hội, lợi dụng niềm tin tâm linh của người dân đểmưu lợi, các hiện tượng mê tín dị đoan.Vì vậy, cùng với việc phát triển nhữngnét độc đáo, riêng biệt trong từng lễ hội truyền thống cũng cần phải chú ý vàtìm ra các giải pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực trong các lễ hội đó
Đền Gin, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định là ngôi đền đã được tỉnhxếp hạng di tích Đền Gin đã thu hút đông đảo khách thập phương về chungvui Nói đến đền Gin không thể không kể đến sứ quân Kiều Công Hãn( KiềuTam Chế) được nhân dân nơi đây tôn thờ
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Nam Trực – nơi có lễ hội đền Gin và
vị sứ quân Kiều Công Hãn nổi tiếng, đồng thời là sinh viên chuyên ngành lịch
sử văn hoá, đề tài này giúp tôi hiểu sâu hơn về lễ hội quê hương Thực hiện đềtài này tôi hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc giữ gìn những giá trị văn hoátruyền thống
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công trình nghiên cứu “ Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ởmiền Bắc Việt Nam” của Hoàng Lương được Nxb Văn hóa Dân tộc công bốnăm 2002, đã dành riêng một phần về khái niệm chung về lễ hội truyềnthống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Qua tác phẩm tác giả kết luận đốivới các dân tộc của nước ta nói chung và ở miền bắc nói riêng, lễ được thựchiện chủ yếu liên quan đế việc cầu mùa, người an vật thịnh Nghi lễ là nhữngsinh hoạt tinh thần của các cá nhân hay tập thể, là sinh hoạt của cả cộngđồng người trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng Trong hội có thể tìm thấynhững biểu tượng điển hình của sự thể hiện tâm lý cộng đồng, những đặctrưng của văn hóa dân tộc, quan niệm, cách ứng xử với môi trường tự nhiên
và môi trường xã hội của các cá nhân và cả cộng đồng người Những hoạt
Trang 3động diễn ra trong hội luôn phản ánh và thể hiện một phần lịch sử địaphương nhất định.
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và lễ hội khác màngười viết đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt với thuận lợi
là một người con của quê hương Nam Định đã giúp cho người viết có điềukiện đi thực địa để có thêm nguồn tư liệu phong phú và có giá trị khoa họcphục vụ cho đề tài của mình
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung làm rõ khái niệm, quá trình hình thành và phân loại lễhội ở Việt Nam Đặc biệt đề tài sẽ chỉ rõ đặc điểm, ảnh hưởng của lễ hội đềnGin tại tỉnh Nam Định Qua đó người viết sẽ đề xuất những giải pháp bảo tồn
và phát huy những giái trị của lễ hội trong giai đoạn hiện nay
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu di tích đền Gin tại xãNam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định trong đó trọng tâm nghiên cứu
về kiến trúc, hệ thống tượng thờ cùng các di vật tiêu biểu trong di tích và lễ hộiđền Gin
Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: đề tài tiếp cận nghiên cứu những giá trị của di tích lịch sửđền Gin tại xã Nam Dương, huyện Nam Trực, Nam Định từ trước năm 1945đến nay, trên cơ sở đó tìm ra các giá trị truyền thống trong quá khứ để khẳngđịnh những giá trị vốn có của lễ hội đền Gin hiện nay
Về không gian: Lấy di tích lịch sử văn hóa đền Din tại xã Nam Dương,huyện Nam Trực, Nam Định để khảo sát, nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài của mình, tác giả đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khácnhau như: tư liệu thành văn, tư liệu điền dã, tư liệu phỏng vấn…
Trang 4Về phương pháp nghiên cứu, người viết sử dụng hệ thống phương pháp liênngành, các phương pháp nghiên cứu văn hóa, lịch sử, điền dã, xã hội học….
7 Đóng góp của khóa luận
Với những phương pháp nghiên cứu hiện đại, cách đánh giá khách quan,nguồn tư liệu phong phú, đề tài sẽ là nguồn tư liệu tham khảo trung thực và cógiá trị cho những nhà nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu lễ hội đặc biệt là lễ hộiđền Gin Đặc biệt đây còn là tài liệu phục vụ cho giảng dạy, học tập về lịch sửvăn hóa địa phương
Trang 5ChƯƠNG 1: Một số nhận xét, đánh giá về di tích và lễ hội trên địa bàn
huyện Nam Trực
1.1 Đánh giá chung về Nam Trực:
Nam Trực - Vùng đất địa linh nhân kiệt có từ khi dân tộc ta dựng nớc
Đất Tứ Mỹ đợc lập thành đặt thành đơn vị hành chính cấp huyện từ thờiTrần Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc Nam Trực luôn giữ một vị trí quantrọng Thời Bắc thuộc Nam Trực đợc coi là yết hầu của Phủ Thiên Trờng ThờiTrần Nam Trực là vọng gác phía nam của Nam Trực Ngày nay Nam Trực là cửangõ phía nam của Nam Định Nhìn từ góc độ địa lý thì Nam Trực là vùng đất “
Địa linh” Với hai dòng chảy hợp lực của hai con sông: sông Hồng và sông Đàocuộn đỏ phù sa, ngng đọng tại đây hình thành ra đồng điền: đồng cạn, đồngsâu Đồng hành với hai triền sông và hai quốc lộ 21B và 55 chạy suốt theo chiềudài từ bắc chí nam rồi những con đờng huyện có tên nh một huyền thoại: “đờngTrắng”, “đờng Vàng”, “đờng Đen” đã phân chia địa bàn huyện theo từng vùngcanh tác rõ rệt và còn là những địa danh của huyện Nam Trực một thời làm nênlịch sử
Nam Trực có bề dày văn hoá truyền thống và hiện đại Những giá trịvăn hoá tinh thần vật chất đợc hun đúc qua bao thế hệ đợc thể hiện ở tiềm năngvăn hoá gồm nhiều lĩnh vực: trên 200 di tích đền thờ miếu, nhà thờ… trong đó
có 30 di tích đợc xếp hạng tiêu biểu nh: chùa Đại Bi - thị trấn Nam Giang, đềnXám - xã Hồng Quang, đền Din - xã Nam Dơng Nhiều làng văn hoá dân gian cổ
truyền nh: hát Chầu văn, hát Chèo, Ca trù, múa Rối nớc đặc biệt nghệ thuật “ Hát
Rối ối lỗi Chùa Bi” - Một nghệ thuật hát múa chầu thánh có một không hai của cả
nớc Toàn huyện có trên 100 lễ hội truyền thống trong đó có 5 lễ hội lớn ảnh hởngcả một vùng rộng lớn nh: lễ hội chùa Bi, lễ hội đền Din, lễ hội đền Xám, lễ hội
đình Đá, lễ hội thi cây cảnh Vị Khê - xã Điền Xá Nam Trực còn đợc mệnh danh
là đất trăm nghề, nhiều làng nghề thủ công truyền thống nh: Dệt, Cơ khí, Đúc
Đồng, Sơn mài, Kim khí, Trồng Hoa Truyền thống văn hoá Nam Trực không chỉbiểu hiện ở văn hoá hữu hình và vô hình mà thể hiện ở chính chủ nhân vănhoá đó là con ngời của đất Nam Trực Chỉ tính từ thế kỷ XIX trở về trớc NamTrực có 24 ngời có học vị Tiến sỹ trong đó có 3 vị đỗ Đệ nhất danh đứng đầuTam khôi Đó là Trạng nguyên Trần Văn Bảo ( Cổ Chử - Nam Chấn ), Trạngnguyên Vũ Tuấn Chiêu ( Cổ Ra -Nam Hùng ), Trạng nguyên Nguyễn Hiền ( Dơng
A - Nam Thắng ) Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên năm 13 tuổi trẻ nhất nớc ta, làngời đỗ đạt sớm nhất của Việt Nam thời ấy Ông nổi tiếng vì đã giải đợc bài thơngụ ngôn đố chữ của triều đình phơng Bắc, sau đó Nguyễn Hiền đố lại triều
đình phơng Bắc 4 câu thơ Đọc xong 4 câu thơ xứ Bắc chết lặng, giang tay báiphục và công nhận là thần đồng Việt Nam
Trang 6Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nhiều nhà thơ, nhà văn nghệ sỹ quêhơng Nam Trực có những tác phẩm văn hoá, tác phẩm âm nhạc, công trình kiếntrúc, tác phẩm tạo hình có giá trị đợc ngời đọc, ngời nghe, ngời xem cả nớc biết
đến nh các tác phẩm của nhà thơ: Đoàn Văn Cừ -Nam Quan, nhà thơ Võ HuyTâm - Nam Cờng, nhà thơ Hải Nh - Nam Dơng, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - ĐiềnXá
Nam Trực có truyền thống yêu nớc, yêu quê hơng Trong các cuộc khángchiến thần thánh của dân tộc nhân dân Nam Trực đã thực hiện khẩu hiệu: “
Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ngời” Hàng vạn thanh niên
Nam Trực lên đờng nhập ngũ Nhiều ngời đã hy sinh nơi chiến trờng góp phầncho sự bình yên hôm nay Mảnh đất này có hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh
hùng, có 4 đồng chí đợc Nhà nớc phong tặng danh hiệu “ Anh hùng lực lợng vũ
trang” Chiến địa “ Rào làng kháng chiến” chống Pháp Bắc Sơn - Đồng Lạc là
dấu son lịch sử mãi mãi ngời sáng cho muôn đời con cháu mai sau
1.2 Nhận xét, đánh giá về lễ hội huyện Nam Trực từ góc nhìn văn hoá:
ở Nam Trực hầu nh làng nào cũng mở lễ hội Thành hoàng làng, nhữngcon ngời trở thành thần nhờ công lao chiêu dân, khai đất, lập làng hay là tổ s củamột nghề nghiệp làm nên nguồn sống và tiếng tăm của cả làng từ bao đời nay.Vùng đất trăm nghề, trăm ông tổ, tất cả đợc phục hồi bằng ký ức lịch sử với sựgiúp đỡ của các nhà Sử học, Dân tộc học dựa vào những cứ liệu khoa học và đôilúc cả những suy đoán lãng mạn nhng chân thành Những lễ hội ngày càng diễn
ra tng bừng rực rỡ, lạ mắt và rầm rộ có khả năng thu hút rất đông ngời tham gia
về dự lễ hội Phiên Chợ Viềng đầu năm “ Đi lấy may, bán lấy may, mua lấy may”
cũng trở thành một lễ hội ảnh hởng lớn tới cả một vùng rộng lớn Trải theo thời giannhững lễ hội truyền thống gắn liền với những địa chỉ tín ngỡng nh chùa Bi,
đền Din, đền Xám, đền Đá hay với những nhân vật sự kiện lịch sử nh Trần
H-ng Đạo, Triệu Việt VơH-ng, Kiều CôH-ng Hãn, Nguyễn Hiền, Nguyễn Tấn, TrầnThị Ngọc Chân, Trịnh Thị Cực Nơng, Vũ Hữu Lợi, Ngô Thế Vinh Không cònnghi ngờ gì nữa lễ hội diễn ra đều khắp trên địa bàn huyện Nam Trực là mộthiện tợng văn hoá mang ý nghĩa văn hoá
Lễ hội là một hoạt động tâm linh biểu hiện tín ngỡng hay nói là đứctin thôi cũng đợc( chúng ta cha bàn tới khía cạnh mê tín dị đoan) trong khi hành
lễ chúng ta thấy thực sự đang liên giao với một thế giới thiêng liêng, nhng gần gũi,
ở đó có những vị thần xuất chúng đợc tôn thờ trong tâm trí chúng ta từ thủa cònthơ Các lễ hội truyền thống ở Nam Trực mang ý nghĩa độc đáo mà không phảihoạt động văn hoá nào cũng làm đợc: Đó là sự kết hợp giữa cái linh thiêng và cáiphàm tục, giữa cái thần thánh cao xa và cái đời thờng trần trụi Điều này thể
Trang 7hiện một cách tự nhiên trong cả phần lễ và phần hội Khi dâng lên bàn thờ ĐứcThánh Long Kiều con cá Trắm to còn sống mở mắt ngáp dài thì truyền thuyếthình ảnh Kiều Công Hãn ăn gỏi cá trắm của bà hàng nớc dâng trớc khi xuất trần
về với cõi thần tiên trở lên gần gũi biết bao với ngời dân bình thờng ở lễ hội làng
Vị Khê ( Điền Xá) nhân dân chèo thuyền ra giữa sông Hồng múc nớc về dângThánh thần nh ngầm báo những khó nhọc của ngời dân ven sông nớc hay ngày kỵthánh Tô Trung Tự - ông tổ của nghề trồng hoa cây cảnh làng Vị Khê, đến ngày
kỵ mỗi xóm chọn một cây cảnh đẹp nhất, giá trị nhất rớc từ xóm về dâng lênthánh để tỏ lòng công ơn tri đức của thánh đã giúp đỡ dân làng tạo ra những tácphẩm tuyệt mỹ
Nói về đặc điểm văn hoá kết hợp cái thiêng và cái thờng trên đây, đểhiểu vì sao trong thời hiện đại khi con ngời đã khám phá đợc khá nhiều bí ẩncủa vũ trụ, phát minh nhiều máy móc kỳ diệu thì ở huyện Nam Trực cũng nhnhiều địa phơng trong cả nớc ngời ta vẫn cần đến những hoạt động mang màusắc tín ngỡng, đặc biệt là các lễ hội
Một ý nghĩa văn hoá lớn khác của lễ hội là tác dụng giáo dục con ngời dùkhông có một lời rao giảng hay một bài học đợc viết thành văn Điều thấm thíanhất là các lễ hội nhắc nhở với mỗi ngời rằng chúng ta có một cội nguồn, để từ
đấy lớp lớp con ngời sinh ra trên mảnh đất này đã lao động cật lực, chiến đấukiên cờng đẩy lịch sử đi lên Những bó lúa, bông ngô, hoa thơm cỏ ngọt dâng lênthần linh nh kết tinh tình yêu quê hơng, đất nớc trong đó Những cuộc đuathuyền nh nhắc đến năm tháng vật lộn với sóng nớc, những trò nh thổi cơm thitrong tiếng dục là nhịp độ lao động hối hả, những trận cớp cờ đa ta về thủaTrần Quốc Toản ra quân
Những lễ hội dẫn ta về quá khứ xa xa của quê hơng, của dân tộc khơidậy những tình cảm vừa trong lành, vừa sâu nặng để cùng se kết với quê cha
đất tổ bằng những sợi dây vô hình bền chặt
Có một ý nghĩa văn hoá khác của lễ hội Nam Trực, vừa mang tính lâudài, vừa mang tính thời sự: Lễ hội là một dịp biểu hiện tình đoàn kết cộng
đồng Lễ hội mở ra, mọi ngời đều muốn đến không hề tính tới xuất xứ, nhânthân, hành trang Lễ hội của một làng, một vùng có thể đón ngời của nhiều làng,nhiều vùng bất kể xa gần Những khuôn mặt ta cha gặp một lần bỗng dng có cáigì đó thân quen, cởi mở
Dẫu cha phải đã nói hết nhng lễ hội với tất cả những hình thức nghi lễ,nghệ thuật hay giải trí cho ta thấy bản sắc văn hoá của dân tộc và hẹp hơn củatừng địa phơng Qua đó phản ánh sinh động phong tục tập quán, lối sống và cảnhững quan niệm về nhân sinh và đạo đức, những niềm yêu ghét, vui buồntrong tâm hồn con ngời Không phải ngẫu nhiên mà những nhà dân tộc học lớn
Trang 8trên thế giới khi nghiên cứu cội nguồn, bản sắc văn hoá của bất cứ dân tộc nào,
đều dành cho lễ hội những công trình chuyên khảo rất công phu
Nếu lễ hội là nơi thể hiện bản sắc văn hoá và truyền thống văn hoádân tộc ở thời đại thì trong tất cả các hình thức tế lễ hay phô diễn truyền lại từthời xa xa cần có sự tìm hiểu để cân nhắc những gì nên giữ lại, để nguyênhoặc cải biên, những gì nên lợc bớt đi, đặc biệt những biểu hiện thoái hoá,mang tính mê tín đị đoan cần phải xoá bỏ Việc du nhập các yếu tố hiện đạivào lễ hội truyền thống là điều không thể tránh khỏi Những việc này nhiềulúc đã đợc thực hiện một cách thiếu thận trọng tạo nên tình trạng hỗn độn trong lễhội Cũng thế, ngời ta có thể coi là bình thờng, việc giăng bóng đèn trên điện thờhay dùng loa phóng thanh để điều hành trật tự, nhắn tin trong ngày lễ hội nhngkhi cả những lới khấn trọng thể, những bài kinh trang nghiêm và cả tiếng mõ,tiếng chuông đều đợc phát ra từ chiếc cassetle vô hồn thì làm sao không gâycho ta một cảm giác bất ổn nếu không nói là khó chịu
Tuy nhiên, từ thực tế việc tổ chức các lễ hội hiện nay ở huyện NamTrực cũng nảy sinh ra một vấn đề đáng lu tâm nh phần Hội thờng lấn át phần
Lễ làm nhiều ngời không hiểu đúng thực chất của từng lễ hội Dù bất cứ nơinào lễ hội cũng là nơi thể hiện thuần phong mỹ tục, nếp sống lành mạnh củacon ngời Vậy mà hiện nay một số lễ hội trên địa bàn mục đích thu lợi đợc đặtnên hàng đầu Lợi dụng lòng thành kính của những ngời hành hơng đến dự lễ
để kiếm chác một cách “vô văn hoá” Những miếu cầu, bàn lễ, hòm công đức
mọc lên nhan nhản mà không bị bất cứ cơ quan chức năng nào nhắc nhở, xử lý.Bên cạnh đó tệ nạn cờ bạc xuất hiện trá hình với nhiều hình thức nh trò chơi cóthởng, tôm, cua, cá Tình trạng lãng phí trong các lễ hội trớc tiên là việc tiêu tiềncông quỹ hay dân quỹ không biết tiếc xót với đủ thứ vẽ vời và dĩ nhiên sự lãngphí này không tách rời tệ tham nhũng, tham lam với vẻ ngoài sang trọng và phứctạp của mọi ý đồ đã tính sẵn
Một đôi điều bất cập về lễ hội trên địa bàn huyện Nam Trực màchúng tôi nêu trên đây tuy cha đầy đủ cũng mong mọi ngời suy nghĩ vì vậyviệc tổ chức các lễ hội phải có sự chỉ đạo chặt chẽ của các cấp chính quyền,của ngành chức năng, đúng hớng, đúng quy chế, bảo đảm tự do tín ngỡng củanhân dân Vì là những con ngời của quê hơng mang nặng hồn ông cha chúng ta
sẽ còn đến với lễ hội cũng nh lễ hội còn gọi chúng ta về, với t cách là di sản vănhoá cuả quá khứ đồng thời đang trở thành hợp phần văn hoá của đời sống hiện đại
Trang 9CHƯƠNG 2: lễ hội đền Din
2.1.Địa điểm, nhân vật, sự kiện liên quan dến di tích đền Din
- Địa điểm phân bổ: đền Din hiện nay nằm ở đầu thôn Chiền, xãNam Dơng huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
- Đờng đi đến di tích đền Din: Từ thành phố Nam Định qua cầu ĐòQuan rẽ phải theo đờng 55 khoảng km11 sau đó rẽ trái đờng xã khoảng 200m là tới
di tích
- Đền Din thờ sứ quân Kiều Công Hãn (Kiều Tam Chế) Căn cứ vàonguồn t liệu Hán – Nôm tại địa phơng nh thần tích, sắc phong, bài vị, câu đốithì vị thần thờ tại đền Din là sứ quân Kiều Công Hãn ( còn gọi là Kiều TamChế ) Kiều Công Hãn xuất thân từ dòng họ có thế lực ở Phong Châu ( PhúThọ ) Năm 937 Kiều Công Tiễn là ông nội Kiều Công Hãn đã giết chủ củamình là Tiết độ sứ Dơng Đình Nghệ để đoạt quyền Ngay sau đó, do sợ NgôQuyền là con rể của Dơng Đình Nghệ đang trấn thủ ở ái Châu( Phú Thọ) đemquân ra báo thù, Kiều Công Tiễn đã sai sứ sang Nam Hán để cầu viện KiềuCông Hãn và cha ông Kiều Công Chuẩn quyết không đi theo con đờng mà ôngnội đã chọn Can ngăn Kiều Công Tiễn không đợc, Kiều Công Chuẩn thảo mộtbức th nói rõ tình hình quân Nam Hán sang xâm lợc nớc ta và giục Ngô Quyềngấp rút tính kế giết giặc để cứu muôn dân Ông sai Kiều Công Hãn mang thvào ái Châu trao tận tay Ngô Quyền Sau khi đánh đuổi quân xâm lựơc nhàHán ra khỏi bờ cõi đất nớc, Ngô Quyền lên làm vua, xét công lao đóng góp củaKiều Công Hãn, Ngô Quyền đã phong chức Đề Sát sau đó ông đợc cử giữ chứcGiám Quốc Năm 956 triều Ngô thực tế không còn tồn tại Sách Đại Việt sử ký toàn
th chép : “Các hùng trởng đua nhau nổi dậy chiếm sứ quân ấp để tự giữ bấygiờ trong nớc không có chủ, 12 sứ quân, Kiều Công Hãn xây dựng căn cứ tại vùngPhong Châu ( Phú Thọ) ông tự xng là Kiều Tam Chế”
Năm Đinh Mão ( 967) Đinh Bộ Lĩnh đợc Trần Lãm giao binh quyền giaochiến với các sứ quân và đợc Phạm Bạch Hổ chiếm giữ vùng Đồng Châu ( HngYên) quy phục Với tiềm lực quân sự ngày một lớn mạnh Đinh Bộ Lĩnh liên tiếp
đánh bại các sứ quân Sứ quân Kiều Công Hãn bị lực lợng của Đinh Bộ Lĩnh vâyhãm Trong tình thế nguy cấp Kiều Công Hãn đem 200 quân mở đờng máu thoát
về phía Nam
Trang 10Sáng ngày mùng 10 tháng Chạp, năm Đinh Mão 967 (Kiều Công Hãn) đếnvùng Thợng Hiền, tại đây Lê Khai và Nguyễn Tấn dới quyền chỉ huy củaNguyễn Bậc đã bố trí sẵn lực lợng đón đánh Kiều Công Hãn Kiều Công Hãn
bị thơng và ông đã mất, nhân dân 4 xã: Bái Dơng, Trang Trữ, Hiệp Luật, CổLũng đã lập đền thờ ông ngay trên phần mộ cũ
2.2.Lễ hội Đền Din
Hàng năm lễ hội đền Din đợc mở vào tháng 12 âm lịch, từ ngày mùng 1tháng 12 đến hết ngày mùng 10 tháng 12 Lễ hội đợc tổ chức trên địa bàn 2 xãBình Minh và Nam Dơng thuộc 4 xã trớc kia là xã Bái Dơng, Trang Trữ, HiệpLuật, Cổ Lũng Nhng là một lễ hội vùng nên lễ hội đền Din còn có sự lan toảrộng khắp các xã trong và ngoài huyện Đến dự lễ hội đền Din hàng năm ngoàinhân dân hai xã Nam Dơng và Bình Minh còn có sự tham dự của hầu hết 20 xã,thị trấn còn lại của huyện Nam Trực, 8 xã phía Bắc huyện Nghĩa Hng, 6 xãphía Đông Nam Huyện Vụ Bản, ý Yên Đặc biệt lễ hội đã thu hút hàng vạn lợtkhách đến từ các tỉnh lân cận nh: Thái Bình, Ninh Bình, Thành Phố Nam Định,Hng Yên Nơi mà hàng năm đựơc nhân dân đặt mua cá Trắm
Lễ hội đền Din có các lễ nh: rớc nớc, xin nớc nhà thánh, lễ rớc bát nhangnhà quan, lễ tế cáo Và đặc biệt là nghi lễ rớc cá Trắm cùng với các hải sản,nông sản, lâm sản quý Lễ hội còn diễn ra nhiều trò chơi dân gian nh: Hát Ca trù,hát Chèo, đấu Cờ ngời, Chọi gà, Vật Sự hấp dẫn của di tích và lễ hội đã thu húthàng vạn lựơt ngời hàng năm đến tởng niệm và tham quan đền thờ đức thánhLong Kiều
2.2.1 Lễ hội đền Din Trớc 1945
Từ năm 1858 đến 1945, thời kỳ mà thực dân Pháp đặt ách nô lệ trêntoàn cõi Việt Nam Sau khi đã bình định xong quân sự, trong việc xây dựng
bộ máy cai trị, thực dân Pháp dựa vào chính quyền phong kiến bản xứ hầu nhgiữ nguyên vẹn hình thức thôn xã cũ với mục đích nhờ tổ chức đó ngời Phápkhông cần nắm hàng triệu cá nhân mà chỉ cần chú ý đến vài ngàn tập thể
đợc tổ chức chặt chẽ và có kỷ luật Trong thời kỳ này các lễ hội vẫn mở vào haimùa xuân và thu.Về giá trị yếu tố dân chủ, bình đẳng tồn tại bên cạnh những ttởng mê tín dị đoan, những hủ tục lạc hậu nặng nề Đáng chú ý trong thời kỳ này
lễ hội tởng niệm các anh hùng dân tộc, lễ hội nhắc nhở mọi ngời hớng về cộinguồn dân tộc vẫn đợc mở thu hút sự tham gia đông đảo của ngời dân đất Việt
Lễ hội Đền Din trong thời kỳ này cũng chịu ảnh hởng của những vấn đề trên
Về thời gian : Lễ hội đợc mở trong vòng 10 ngày từ ngày mùng 1 tháng
12 đến hết ngày mùng 10 tháng 12 Ngoài ra cần phải kể đến công tác chuẩn
bị cho lễ hội thờng diễn ra trớc đó khoảng 20 ngày Những ngày này nhân dân
4 xã tổ chức dựng rạp, thu dọn vệ sinh, chuẩn bị các dụng cụ, đồ dùng Trong
Trang 11những ngày này Hàng Xã tổ chức cắt cử lính lệ canh gác suốt ngày đêm để giữgìn việc nhà Thánh đảm bảo đợc an toàn và thanh tịnh.
Quy mô của lễ hội: có tầm ảnh hởng lớn đến cả một vùng; lễ hội do
chính quyền phong kiến đứng ra tổ chức vì vậy tất cả các quá trình sắp xếp,
tổ chức, điều hành các nghi lễ các trò chơi đều phải tuân thủ theo một quy
định ngặt nghèo, nhất nhất nh một
2.2.2Các nghi thức tế lễ
Lễ rớc nớc
Nghi lễ xin nớc( rớc nớc đợc tiến hành vào ngày 25 tháng 11 âm lịchbắt đầu từ sáng sớm cho đến tận 5 giờ chiều mới kết thúc) đây là nghi lễkhông thể thiếu của lễ hội đền Din là một nghi thức bắt buộc để xin nớc và rớcnớc từ giếng nớc phía trớc đền để dùng vào việc làm các lễ vật dâng Thánh nhngâm gạo nếp, giết mổ lợn gà, luộc bánh chng, làm cỗ Đây là đặc trng riêngcủa lễ hội đền Din diễn ra vào ngày 25 tháng 11 âm lịch, từ sáng sớm 4 xã BáiDơng, Trang Trữ, Hiệp Luật, Cổ Lũng chuẩn bị lễ vật dâng thánh để xin nớc;
lễ vật gồm có : trầu, cau, rợu, hoa quả đợc đặt trên một cỗ kiệu, kiệu đợc 4 trailàng trẻ khoẻ khiêng Đi đầu đoàn rớc là cờ, sau đó là đội bát âm, đến kiệu lễ,sau kiệu lễ là các chức sắc trong xã, trong làng và cuối đoàn rớc là một đoàntrai đinh khoẻ mạnh cứ hai ngời khiêng một chum, vại đựng nớc Đoàn rớc lễ, xin n-
ớc đợc đi theo thứ tự Bái Dơng, Trang Trữ, Hiệp Luật và cuối cùng là Cổ Lũng.Khi vào đến sân thứ tự vẫn đợc duy trì , lễ vật đợc đặt nên nhang án trớc đền,sau đó ông thủ nhang của đền làm lễ xin đức thánh để nhân dân 4 xã đợcphép lấy nớc tại giếng đền Sau nghi lễ dâng lễ vật là đến việc lấy nớc tạigiếng, thứ tự lấy nớc vẫn tuân thủ theo quy định đó là Bái Dơng, Trang Trữ,Hiệp Luật, Cổ Lũng và việc lấy nớc cũng rất công phu vào chính Ngọ Mỗi xã
cử ra 2 vị chức sắc trong xã long trọng khiêng một chiếc lọ lục bình đợc thắt mộtdải lụa đỏ ở cổ vỏ chuẩn bị xin nớc thánh Sau khi 4 xã đã chuẩn bị xong một vịchức sắc đại diện cho Hàng Tổng cầm một gáo dừa, cán gáo dừa đợc quấn vải
đỏ Nớc đợc vị đại diện Hàng Tổng múc từng gáo ở giữa giếng đổ vào từng lọlục bình cho tới đầy theo thứ tự 4 xã Bái Dơng, Trang Trữ, Hiệp Luật, Cổ Lũng,xã nào xin đựơc nớc xong thì đặt lục bình nớc lên kiệu của mình cứ thế đếnhết 4 xã ( Nớc này đợc gọi là nớc thiêng ( nớc mẫu ) ) Sau khi nớc thiêng đã lấyxong mỗi xã lấy khoảng 3 đến 5 chum nớc tiếp theo ( nhng lúc này việc lấy nớc
là do các chức sắc trong 4 xã thực hiện), số gáo dừa lúc này không phải là một mà
có thể là 10 – 15 gáo Cứ thế 4 xã tiến hành lấy nớc cho tới khi đầy số chum đợc
đem theo Việc lấy nớc vẫn tuân theo thứ tự Bái Dơng lấy đầy một chum, cứthế xoay vòng cho đến hết
Khi việc xin nớc, lấy nớc đã tiến hành xong đoàn rớc nớc bắt đầu tiếnhành về các xã theo đúng thứ tự lúc rớc lễ vật xin rớc Nớc ở trong lọ lục bình đa
Trang 12về đợc đặt ở vị trí trang trọng sau này đợc dùng để rớc cá trắm dâng thánh.Còn nớc ở các chum dùng vào việc làm cỗ, ngâm gạo Tuy nhiên số nớc rớc vềkhông đủ làm công việc vì vậy việc lấy nớc ở giếng đền còn tiếp tục diễn ra,song không nhất thiết phải theo nghi lễ xin và rớc ban đầu.
Lễ rớc Bát nhang Nhà quan
Nghi lễ này đợc diễn ra vào ngày mùng 1 tháng Chạp bắt đầu vàokhoảng 8 giờ sáng Bốn xã mỗi xã một kiệu, lễ vật có nhang, hoa quả, trầu, rợu.Tham gia đoàn rớc có Quan phủ, Chánh tổng, Lý trởng, Phó Lý và các Quan viên
Đoàn rớc đợc tổ chức hết sức long trọng có phờng bát âm, cờ quạt, ô lọng, chấpkích Ngời khiêng kiệu, cầm cờ, chấp kích, ô lọng phải là những nam thanh niênkhoẻ mạnh và gia đình, bản thân họ trong năm không phạm “hèm huý, kiêng kỵ”1
Đoàn rớc xuất phát từ 4 xã, xuất phát cùng một giờ ở 4 địa điểm xagần khác nhau song khi ra đến đờng Hàng Tổng phải tuân theo quy định đó là
đi đầu là Bái Dơng đến Trang Trữ, Hiệp Luật và Cổ Lũng Đoàn rớc đi vàosân đền chính sau đó mỗi xã cử một ngời ( có chức sắc trong xã ) cùng vào đềnlàm lễ kêu với thánh xin đợc rớc bát nhang ( mỗi xã một bát đợc đặt ở đền từ ngàychính hội năm trớc ( ngày mùng 10 tháng Chạp ) ) Sau đó bát nhang đợc rớc lênkiệu, 4 xã tạ lễ và rớc bát nhang về đi theo thứ tự lúc ban đầu
Bát nhang nhà quan đợc rớc về rạp ( nơi làm cỗ ) sau đó các xã đều tổchức một ván tế yên vị nhà quan, ván tế kéo dài khoảng một tiếng Tế lễ xong
tổ chức ăn cỗ tại rạp, những ngời đợc hởng cỗ gồm các Quan phủ, Phó lý, Chánhtổng, Già làng, Quan viên và các thành viên chấp chính, hộ lễ Nghi lễ này vớimục đích là rớc các quan về yên vị tại xã và để các quan giám sát việc làm cỗ,chuẩn bị lễ vật của 4 xã là Bái Dơng, Trang Trữ, Hiệp Luật và Cổ Lũng
Lễ chính kỵ
Nghi lễ diễn ra vào ngày mùng 10 tháng Chạp âm lịch bắt đầu vàokhoảng 5 giờ sáng cho đến tối Đây là nghi lễ lớn nhất và quan trọng nhất của lễhội đền Din với 2 phần chính đó là phần rớc lễ và cúng tế
Phần rớc lễ:
Đây là nghi lễ rất quan trọng, lễ rớc có số kiệu nhiều nhất, số ngờitham gia đông nhất với đầy đủ các sản phẩm lễ vật và có sự tham gia của cácQuan phủ, Chánh tổng, Phó chánh, Lý trởng và các chức sắc trong làng, trong xã
Đi đầu mỗi đoàn rớc kiệu cuả các xã là đội múa Rồng sau đó đếnmúa Lân tiếp theo là đội Cờ, đội Bát âm, sau đội Bát âm là cỗ kiệu lớn đợc 4trai làng tráng kiện khoẻ mạnh khiêng, trên kiệu đợc đặt một cái mâm đồng lớn,trên mâm đồng đặt 3 con cá Trắm đen còn đang sống, con nhỏ nhất khoảng 5
kg, con lớn khoảng hơn 10 kg, đi 2 bên kiệu cá là các Quan lại, Chánh tổng, Lý ởng và các chức sắc trong làng tiếp theo kiệu cá trắm là kiệu rớc các loại hải sản,lâm sản quý nh “ Cua bể”, “ Nhệch”, “ Cua bể” và “ Nhệch” đều còn sống đợc
Trang 13tr-đặt trong quả bằng gỗ sơn thếp thành quả cao khoảng 30 cm, kiệu này có 4 traikhoẻ mạnh trong xã khiêng, đi sau kiệu “ Cua, Nhệch” là kiệu “ Chim Két” saukiệu “ Chim Két” là kiệu “bánh Chng, bánh Dầy” Tiếp theo kiệu “bánh Chng,bánh Dầy” là kiệu “Cỗ Ngọc”2, sau kiệu “Cỗ Ngọc” là kiệu “Cỗ Các”3 theo đó làkiệu cỗ “Đồ đờng”4 tiếp theo là kiệu “Giò”, sau kiệu giò là kiệu cỗ “Tứ Linh”5,sau kiệu cỗ “Tứ Linh” là kiệu cỗ “Ngũ sắc”6, sau kiệu “Ngũ sắc” là đoàn tếNam Quan gồm 31 ngời Sau đoàn tế Nam Quan là kiệu hoa quả và cuối cùng làkiệu rớc bát nhang nhà quan và sau cùng là toàn thể các hơng lão và nhân dântrong xã.
Nh vậy mỗi một đoàn rớc của mỗi xã có 12 kiệu và mỗi một đoàn
r-ớc dài khoảng 150m và có rất đông ngời tham gia với đủ thành phần Các traikiệu, ngời múa Rồng, múa Lân, cầm Cờ, Lọng đều ăn mặc theo lối xa thờngmặc, chân đi giầy vải, đầu chít khăn nhung có một điều rất đặc biệt làtrong đoàn rớc từ múa Rồng đến kiệu Bát nhang Nhà quan đến các hơng lãotoàn là đàn ông con trai tham gia mà không có một đại diện phái nữ nào cả, hơnthế nữa tất cả các thành viên tham gia đoàn rớc phải là ngời khoẻ mạnh và trongnăm không có “ hèm huý, kiêng kỵ” gì mới đợc tham gia
Đoàn rớc của 4 xã từ nhiều phía khác nhau, có xã xa nhất khoảng 4
km nh Hiệp Luật ( Hành Quần ) gần nhất nh ( Quán Chiền ) Dù xuất phát sớmhay muộn cũng đều tuân thủ theo một quy định, khi Bái Dơng đi qua “PhạmThị Chi Giang”7 ( bây giờ là đền thờ bà hàng nớc) thì đoàn rớc của Trang Trữmới đợc đi tiếp theo ( mặc dù Trang Trữ có đến trớc cũng phải đợi Bái Dơng đirồi mới đợc đi ) tiếp theo đó là đoàn rớc của Hiệp Luật, Cổ Lũng Nh vậy đoànrớc cả thẩy có 48 kiệu và các đội rớc chiều dài khoảng gần 1.000m với một khíthế trống rong cờ mở, giữa một biển ngời mênh mông cờ xí, ô lọng, kiệu cứ nhbồng bềnh nối đuôi nhau cùng đi về đền chính trong khí thế hân hoan củahàng vạn dân chúng đến xem hội
Khi đoàn rớc đi đến cổng đền thì kiệu của Bái Dơng, Cổ Lũng
đi vào cửa phía tây, Trang Trữ, Hiệp Luật đi vào cửa phía đông Khi vào
đến sân đền chính kiệu của Bái Dơng, Trang Trữ đặt ở giữa, Cổ Lũng phíatây, Bái Dơng, Hiệp Luật phía đông Trang Trữ Kiệu của các xã đã đợc yên vịlúc đó “ Cỗ Các” của 4 xã đợc đặt lên 4 kiệu để kính thiên ( kiệu cỗ có 5 tầngnhng chỉ có tầng trên cùng là đặt cỗ Các còn 4 tầng còn lại mỗi tầng đặt một cáimâm ( không có gì ) mỗi mâm kê 5 cái bát, mâm nọ đặt lên mâm kia trên 5 cáibát mỗi bát có một cái “Bánh cóc”8 ở chân mỗi cây cỗ có một đĩa xôi và 3 con cá
mè nớng ( những thứ này để cho những ngời có công dựng cây cỗ hởng lộc ) cây
cỗ cao khoảng 11- 12m Nh vậy, phần rớc lễ mà nhân dân địa phơng từ xa tớinay vẫn gọi là lễ rớc cá Trắm đã hoàn tất
Phần Tế lễ:
Trang 14Đây là nghi lễ cuối cùng của ngày Chính kỵ nghi lễ này gồm 4 ván
tế của 4 xã Bái Dơng, Hiệp Luật, Trang Trữ, Cổ Lũng đợc diễn ra lần lợt theothứ tự đợc quy định một cách nghiêm ngặt Mỗi đội tế có 31 vị, mỗi ván tế kéodài khoảng 3 tiếng vì vậy thờng đến xã Cổ Lũng tế lúc đó đã lên đèn
- Bốn ông ở tuần sơ hiến lễ ( tuần thứ nhất )
- Bốn ông tuần á hiến lễ ( tuần thứ 2 )
- Bốn ông tuần trung hiến lễ ( tuần thứ 3 )
Đoàn tế đợc chia làm 2 và đợc rớc từ sân đền chính đi đầu là
đội bát âm sau đó đến đội xanh tiền và tiếp theo là các thành viên của đoàn
tế, đoàn tế đi từ sân đền chính qua 2 cổng ở 2 bên đông và tây Tiền Các đi
ra sân phía trớc Tiền Các, đoàn tế đi trong tiếng nhạc và bớc theo tiếng trốngcác vì vậy phải mất hơn 30 phút đoàn tế mới đi đến vị trí chính giữa sân
đền lúc đó một hồi trồng nổi lên đánh xanh tiền về vị trí và ván tế đợc bắt
đầu
Đoàn tế áo mũ chỉnh tề đại bái áo đỏ, mũ cánh chuồn đỏ, đông ớng tây xớng áo vàng, mũ xanh, đọc chúc áo vàng mũ xanh, dâng hơng rớc tửu áoxanh… tất cả đi một vòng rửa tay vào chậu đồng đặt ở 2 quán tẩy hai bên đông
x-và tây sau đó lần lợt đi về vị trí cũ
Tịnh nghị quán tẩy sở ( rửa tay )
Quán tẩy thuế cân ( lau tay vào khăn )
Trang 15Tế quan tựu vị ( ông Điển tế bớc vào chiếu thứ 3 ).
Bồi tế viên tựu vị ( đứng lên vào hàng )
Điển tế ( nhạc nổi lên )
Ông Đại Bái đi vào giữa chiếu vái, lùi về sau đó đi sang ngang bênphải và đi lên theo tiếng nhạc bớc theo tiếng tùng 3 nhịp của trống cái đi lên đến
vị trí gần đẳng tế đi sang ngang phía bên phải đi lên đầu đẳng phía bên
đông rồi đi lên đầu phía trên đẳng, lại đi ngang sang phía tay trái ( trớc đẳng )hớng giữa sân đi đến đầu đẳng bên kia quay ra đi thẳng về phía đền( nhang án ) khoảng 20 bớc dừng lại quay về giữa ( phía tây trái ) đến vị tríchính giữa đi theo xuất là chữ “ ất” nhập là chữ “ á”
Đông xớng hô lạy ( chủ tế quỳ xuống )
Đông xớng hô thợng hơng
Hai ông áo xanh đi lên hai phía đông tây trên nền nhạc và bớc theonhịp trống ( tùng ) của trống cái ( trong khi đó đội sanh tiền tiếp tục múa ) tronglúc đó đại bái vẫn quỳ ở 3 chiếu chính giữa sân đền trên cùng Hai ông dâng h-
ơng tiếp tục đi cho tới khi vào tới nhang án đền chính thì một hồi trống vang lêntrong tiếng nhạc rộn ràng tiết tấu nhanh lúc đó 2 ông dâng hơng lùi về vị trícũ
Đông xớng hô “ Phủ phục”
Tây xớng hô “ Hng”
Ông chủ tế vái một vái sau đó đi lùi ra theo chủ “ ất” về vị trí cũ.Tây xớng hô “phợc vị”, đại bái đi ngay ra phía tay phải sau đó vềchiếu giữa thứ nhì quỳ xuống đọc Hiệu vị
Đại bái và 4 áo đỏ đều quỳ 4 vái
Đông xớng sơ hiếu lễ tôn giả cửu mịch tiến tửu tuần đầu đại báixuất theo chữ “ ất” cùng theo sau hai ông áo xanh phía tây một bng khay có mộtnậm rợu, một bng khay có một đài trong đài có chén vào đến chiếu giữa trêncùng trong tiếng nhạc rộn rã và đi theo nhịp trống cái ( 3 nhịp 1 bớc )
Đông xớng hô “lạy” ( cả 3 ngời đều quỳ )
Đông xớng hô “rót tửu” ( rót rợu )
Đông xớng hô “tiến tửu” vào trong cung; lúc đó 2 ông áo xanh đi từ 2
đầu chiếu giữa thứ 2 đi thẳng vào trong cung trong tiếng nhạc Trong khi đó
ông chủ tế vẫn quỳ ở chiếu giữa trên cùng; đội sanh tiền bắt đầu múa phía sau
ông chủ tế, sau khi rợu đã dâng ở cung thánh
Đông xớng hô “phủ phục”
“Bình thân”
Tây xớng hô “phợc vị” ( đại bái đi về vị trí chính giữa thứ haitheo hình chữ “ ất”)