1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương ôn tập luật dân sự module 1

63 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 455 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định: Tòa án nhân dân Đối tượng bị áp dụng: Người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình phải có kết

Trang 1

Đề cương ôn tập Luật Dân sự module 1 - Chương 1 - Khái quát chung Luật Dân sự Việt NamChương 1:

KHÁI QUÁT CHUNG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

1 ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN SỰ

1.1 Khái niệm đối tượng điều chỉnh của luật dân sự

Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh giữa các chủ thể của Luật dân sự nhằm đáp ứng lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần cho chính chủ thể tham gia quan hệ đó cũng như các chủ thể khác

1.2 Phân loại đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự

1.2.1 Các quan hệ tài sản

Quan hệ tài sản hay còn gọi là quan hệ xã hội về tài sản là quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể khác có liên quan đến tài sản Tài sản này có thể là tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình, tài sản hiện có hoặc tài sản được hình thành trong tương lai

Quan hệ tài sản được hình thành một cách khách quan với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người

Quan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh có các đặc điểm sau:

- Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh luôn liên quan đến tài sản, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp

- Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh được xác lập bởi các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự với các điều kiện do pháp luật qui định

- Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ, ý chí

đó phải phù hợp với ý chí của nhà nước:

+ Chủ thể tham gia quan hệ tài sản có toàn quyền định đoạt trong các quan hệ mà mình tham gia Tuy nhiên, ý chí của chủ thể đó khi tham gia quan hệ phải phù hợp với ý chí của nhà nước

+ Nhà nước đưa ra các qui định xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể, đó là những qui định mang tính nguyên tắc chung, những qui định mang tính chất cấm đoán và bắt buộc nhất định

- Trong quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh, có sự đền bù ngang giá về lợi ích vật chất đối với các chủ thể tham gia – đây là yếu tố đặc trưng của các quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh Tính đền bù ngang giá có thể bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố như tình cảm, phong tục tập quán

1.1.2 Các quan hệ nhân thân

Quan hệ nhân thân được hiểu là quan hệ phát sinh giữa các chủ thể dân sự liên quan đến một lợi ích tinh thần

Nếu như ở quan hệ tài sản, có thể có sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác thì trong quan hệ nhân thân, việc dịch chuyển các giá trị tinh thần là không thể thực hiện được

* Nhóm quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản: là các quan hệ nhân thân xuất phát từ giá trị tinh thần và các giá trị tinh thần này không có nội dung kinh tế, không thể chuyển giao trong giao lưu dân sự (không thể là đối tượng của giao dịch dân sự)

- Các quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình

- Quyền nhân thân liên quan đến việc cá biệt hóa cá nhân: Quyền đối với họ tên …

- Quyền nhân thân liên quan đến giá trị của con người trong xã hội

- Quyền nhân thân liên quan đến thân thể con người

- Các quyền nhân thân liên quan đến sự tự do của cá nhân

- Các quyền nhân thân liên quan đến hoạt động lao động, sáng tạo của cá nhân

* Nhóm các quan hệ nhân thân liên quan đến tài sản: Xuất phát từ các giá trị tinh thần ban đầu, các chủ thể sẽ được hưởng các lợi ích vật chất từ việc chuyển quyền đối với kết quả của hoạt động sáng tạo

- Quyền tác giả

- Quyền liên quan đến quyền tác giả

Trang 2

- Quyền sở hữu công nghiệp

- Quyền đối với cây trồng

* Có ý kiến cho rằng mọi quan hệ nhân thân đều liên quan đến tài sản bởi lẽ:

- Đối với việc chuyển giao các kết quả của hoạt động sáng tạo tinh thần thì chủ thể được hưởng lợi ích vật chất (liên quan đến tài sản)

- Đối với các quyền nhân thân thì khi quyền nhân thân bị xâm, phạm ngoài việc chủ thể xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phậm, pháp luật còn qui định chủ thể có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại cho người bị xâm phạm (có liên quan đến tài sản)

* Quan hệ nhân thân do luật dân sự điều chỉnh có các đặc điểm sau:

- Các quan hệ nhân thân do Luật dân sự điều chỉnh luôn liên quan đến một lợi ích tinh thần

- Quan hệ nhân thân không xác định được bằng một số tiền cụ thể Các quan hệ nhân thân không bao giờ là quan hệ tài sản (chỉ có quan hệ nhân thân liên quan đến tài sản và quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản), nên giá trị tinh thần của quan hệ nhân thân không bao giờ trị giá được thành tiền

- Các lợi ích tinh thần luôn gắn với chủ thể, trừ một số trường hợp pháp luật qui định (ví dụ: quyền công bố phổ biến tác phẩm của tác giả có thể chuyển giao cho người thừa kế của tác giả khi tác giả chết)

- Các lợi ích tinh thần không thể bị hạn chế hoặc tước bỏ, trừ trường hợp do pháp luật qui định

2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN SỰ

2.1 Khái niệm phương pháp điều chỉnh của luật dân sự

Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự là những biện pháp, cách thức mà nhà nước dùng các quiphạm pháp luật dân sự tác động tới quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự để các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với ý chí của chủ thể tham gia quan hệ nhưng tôn trọng lợi ích của nhà nước, của tập thể và của các chủ thể khác.2.2 Đặc điểm của phương pháp điều chỉnh của luật dân sự

* Các chủ thể tham gia quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự có sự độc lập

về tổ chức và tài sản, bình đẳng về địa vị pháp lý & không chịu sự chi phối bởi ý chí của bất cứ chủ thể nào khác

* Các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự có quyền tự định đoạt và thỏa thuận trong các quan hệ

mà mình tham gia – đây là đặc trưng của phương pháp điều chỉnh của luật dân sự Sự tự định đoạtcủa các chủ thể chịu sự giới hạn ở một số nội dung:

- Giới hạn ở chủ thể tham gia quan hệ xã hội nhất định: nếu pháp luật giành quyền ưu tiên cho một chủ thể nào đó thì phải giành quyền ưu tiên cho chủ thể đó

- Giới hạn các nghĩa vụ trong quan hệ xã hội mà chủ thể tham gia

* Trách nhiệm dân sự của bên vi phạm trước bên bị vi phạm trong các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điểu chỉnh của luật dân sự luôn liên quan đến tài sản

* Việc hòa giải hợp pháp, dùng pháp luật của các bên trong các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự luôn được pháp luật khuyến khích Việc hòa giải có thể được thực hiệnbởi chính các bên tham gia quan hệ phát sinh tranh chấp hoặc được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền

3 CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT DÂN SỰ

3.1 Khái niệm

Nguyên tắc của luật dân sự được ghi nhận trong các văn bản pháp luật dân sự là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng buộc các chủ thể phải tuân theo trong quá trình ban hành và áp dụng các qui định của pháp luật dân sự

3.2 Nội dung các nguyên tắc của luật dân sự

- Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận

- Nguyên tắc bình đẳng

- Nguyên tắc thiện chí trung thực

Trang 3

- Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự

- Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp

- Nguyên tắc tôn trọng bảo vệ quyền dân sự

- Nguyên tắc tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật

- Nguyên tắc hòa giải

4 NGUỒN CỦA LUẬT DÂN SỰ

4.1 Khái niệm

Nguồn của luật dân sự là những văn bản qui phạm pháp luật dân sự do cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành theo một trình tự và thủ tục nhất định, có chứa đựng các qui tắc xử sự chung để điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sựMuốn được coi là nguồn của luật dân sự phải đáp ứng các yêu cầu:

- Phải là văn bản qui phạm pháp luật dân sự, tức là phải chứa các qui tắc xử sự chung để điều chỉnh quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự

- Văn bản qui phạm pháp luật dân sự đó phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

- Việc ban hành văn bản qui phạm pháp luật dân sự phải theo một trình tự, thủ tục nhất định4.2 Phân loại

Các căn cứ để phân loại nguồn của luật dân sự:

- Căn cứ vào cơ quan ban hành: văn bản do Quốc hội ban hành, văn bản do UBTVQH ban hành, văn bản do Chính phủ ban hành …

- Căn cứ vào nội dung quan hệ xã hội được điều chỉnh trong văn bản qui phạm pháp luật được coi

là nguồn của luật dân sự: các văn bản pháp luật về sở hữu, các văn bản pháp luật về hợp đồng, các văn bản pháp luật về thừa kế

- Căn cứ vào hình thức hệ thống văn bản qui phạm pháp luật được coi là nguồn của luật dân sự gồm: hiến pháp, bộ luật dân sự, các luật và văn bản dưới luật

4.2.1 Hiến pháp

Những nội dung của HP liên quan trực tiếp đến Luật dân sự là Chương II (chế độ kinh tế) và Chương V (quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân)

Dù chỉ là những qui định mang tính nguyên tắc, tính định hướng nhưng hiến pháp 1992 được coi

là nguồn cơ bản và quan trọng nhất của Luật dân sự

4.2.2 Bộ luật dân

BLDS 2005 được kết cấu 7 phần, 36 chương, 777 điều

- Phần thứ nhất: Những qui định chung; xác định phạm vi điều chỉnh cảu BLDS, nguyên tắc của LDS, địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình với tư cách là chủ thể khi tham gia các quan hệ dân sự

- Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu; bao gồm các qui định về nguyên tắc cơ bản của quyền

sở hữu, các loại tài sản, các hình thức sở hữu, căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu, và những qui định khác về quyền sở hữu

- Phần thứ ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; bao gồm các qui định chung, các hợp đồng dân sựu thông dụng, nghĩa vụ ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

- Phần thứ tư: thừa kế; qui định việc dịch chuyển di sản của người chết cho những người còn sống

- Phần thứ năm: Những qui định về quyền sử dụng đất; gồm những qui định chung, những hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất

- Phần thứ sáu: Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ

- Phần thứ bảy: Quan hệ dân sựu có yếu tố nước ngoài; gồm những qui định về thẩm quyền áp dụng và pháp luật được áp dụng khi giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài

4.2.3 Các luật và nghị quyết của quốc hội

Các luật được coi là nguôn của luật dân sự:

Trang 4

- Luật hôn nhân và gia định năm 2000

- Luật đất đai 2003

- Luật thương mại 2005

- Luật sở hữu trí tuệ 2005

- Luật doanh nghiệp 2005

- Luật các công cụ chuyển nhượng

- Luật khoáng sản

- Luật bảo vệ và phát triển rừng

- Luật tài nguyên nước …

Ngoài BLDS và các luật, NQ của Quốc hội do QH ban hành, có hiệu lực như văn bản pháp luật4.2.4 Các văn bản dưới luật

- Pháp lện của UBTVQH được ban hành để giải thích, hướng dẫn những qui định của BLDS hoặcqui định những nội dung mà luật chưa đủ điều kiện để qui định

- Nghị định của Chính phủ có vai trò là nguồn bổ trợ trực tiếp của LDS

- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành để hướng dẫn các tòa án

áp dụng thống nhất pháp luật

5 QUI PHẠM PHÁP LUẬT DÂN SỰ

5.1 Khái niệm

Qui phạm pháp luật dân sự là những qui tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra để điều chỉnh quan

hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của LDS để các quan hệ đó phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với ý chí của nhà nước

5.2 Cấu tạo qui phạm pháp luật dân sự

- Phần giả định: nếu ra những tình huống, hoàn cảnh mà qui phạm pháp luật sẽ điều chỉnh

- Phần qui định: nêu cách xử sự của chủ thể khi gặp phải hoàn cảnh được dự liệu trong phần giả định Phần qui định trong qui phạm pháp luật dân sự rất mềm dẻo, trong nhiều qui phạm, pháp luật dự liệu một số xử sự nhất định và chủ thể lựa chọn một trong số các cách xử sự đó

- Phần chế tài: nêu ra hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể phải gánh chịu nếu chủ thể không thực hiện những xử sự nhất định được nêu trong phần qui định khi gặp phải điều kiện, hoàn cảnh trongphần giả định

5.3 Phân loại

5.3.1 Qui phạm định nghĩa

Là qui phạm có nội dung giải thích, xác định một vấn đề cụ thể hoặc đưa ra những khái niệm pháp lý khác nhau, được viện dẫn để xác định một vấn đề cụ thể khi cần giải thích

5.3.2 Qui phạm tùy nghi

Là qui phạm trong đó cho phép chủ thể có thể lựa chọn cách xử sự nhất định Việc lựa chọn có thể hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ thể hoặc lựa chọn trong một giới hạn nhất định mà pháp luật qui định

- Qui phạm tùy nghi thỏa thuận: pháp luật cho phép các bên có toàn quyền trong việc thỏa thuận

về một nội dung cụ thể, giới hạn của sự thỏa thuận này là điều cấm của pháp luật, tính trái đạo đức xã hội và các nguyên tắc chung của pháp luật dân sự

- Qui phạm tùy nghi lựa chọn: pháp luật dự liệu nhiều cách xử sự và các chủ thể có thể lựa chọn một trong các cách xử sự đó

Trang 5

6.1.2 Điều kiện áp dụng LDS

Hoạt động áp dụng LDS không thể tách rời với hoạt động ban hành văn bản qui phạm pháp luật dân sự, đây là quá trình đưa những nội dung cụ thể của văn bản pháp luật vào cuộc sống Hoạt động áp dụng LDS có hiệu quả hay không, ngoài việc phụ thuộc vào nội dung của văn bản còn phụ thuộc vào ý thức chấp hành và khả năng chủ thể tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật

Áp dụng luật dân sự phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của LDS phải đang có tranh chấp hoặc có sự kiện pháp lí mà tòa án phải xác định:

+ Tranh chấp giữa các chủ thể tham gia quan hệ tạo thành vụ án dân sự

+ Chủ thể yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp hoặc không có tranh chấp nhưng liên quan đến quyền lợi của một chủ thể nhất định, chủ thể yêu cầu tòa án xác định – là việc dân sự

- Hiện có qui phạm pháp luật dân sự đang trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh tranh chấpđo

6.1.3 Hậu quả của hoạt động áp dụng luật dân sự

- Thừa nhận quyền cho một chủ thể nhất định và ghi nhận cụ thể nội dung của quyền này: quyền thừa kế, quyền sở hữu …

- Xác nhận nghĩa vụ cho một chủ thể nhất định theo yêu cầu của chủ thể khác: buộc chủ thể phải trả lại nhà thuê, buộc trả nợ vay

- Xác nhận sự tộn tại hay không tồn tại của một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể: cho phép li hôn hoặc không …

- Xác nhận một sự kiện pháp lí nhất định theo yêu cầu của chủ thể có liên quan: tuyên bố mất tíchhoặc đã chết đối với cá nhân …

6.2 Áp dụng qui định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự

6.2.1 Nguyên nhân của việc áp dụng qui định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự

* Nguyên nhân của việc áp dụng qui định tương tự của pháp luật được thể hiện:

- Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh cúa LDS vốn đa dạng và phức tạp, luôn có sự phát sinh, thay đổi những quan hệ xã hội mới mà thực tế những quan hệ xã hội này chưa có qui phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh Đây là điều không thể tránh được trong hoạt động lập pháp bởi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật nói chung, của LDS nói riêng luôn

có sự vận động và thay đổi, trong khi đó qui phạm pháp luật lại có sự ổn định trong giai đoạn nhất định

- Hoạt động lập pháp còn có những hạn chế nhất định bởi trình độ chuyên môn của nhà lập pháp còn nhiều bất cập nên vẫn có những “khe hở” trong một văn bản qui phạm pháp luật dân sự

* Nguyên nhân của việc áp dụng phong tục tập quán:

- Tập quán là các xử sự thông dụng và phổ biến trong cộng đồng đia phương, dân tộc được sử dụng như chuẩn mực ứng xử đối với các thành viên trong cộng đồng dân tộc, địa phương đó Ví dụ: đơn vị đo lường “giạ lúa”, “chục” ở miền Nam

- Áp dụng tập quán là sử dụng các xử sự thông dụng và phổ biến trong cộng đồng đia phương, dân tộc được sử dụng như chuẩn mực ứng xử đối với các thành viên trong cộng đồng dân tộc, địa phương đó

Trang 6

- Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ đa dạng, phức tạp về nhiều phương diện: Chủ thể, khách thể, nội dung; hơn nữa những quan hệ này không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của xã hội nói chung và khoa học kỹ thuật nói riêng Vì vậy mà khi ban hành các văn bản pháp luật, nhà lập pháp không “ dự liệu” được hết các quan hệ xã hội cần thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật, Điều đó đã tạo ra “lỗ hổng” trong pháp luật dân sự

- Hơn nữa, các qua hệ xã hội lại luôn vận động và biến đổi không ngừng trong khi các qui định của pháp luật thường tồn tại ở trạng thái tĩnh, chỉ biến đổi khi bị sửa đổi Dẫn đền tình trạng, có những trường hợp không có quy phạm pháp luật điều chỉnh một quan hệ xã hội đang tồn tại

- Để bù lấp những “lỗ hổng” pháp luật chưa hoàn thiện và tạo ra cơ sở pháp lý cho Tòa án xét xử các tranh chấp trong những quan hệ xã hội chưa được điều chỉnh bằng pháp luật, BLDS 2005 đã đưa ra nguyên tắc áp dụng tập quán: “trong trường hợp pháp luật ko qui định & các bên ko có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán” (Điều 3 BLDS 2005)

6.2.2 Điều kiện của việc áp dụng qui định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự

- Quan hệ xã hội phát sinh tranh chấp cần giải quyết phải thuộc đối tượng điều chỉnh của LDS

- Hiện chưa có qui phạm pháp luật dân sự trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh tranh chấpđó

- Việc áp dụng qui đinh tương tự của pháp luật và phong tục tập quán chỉ được đặt ra khi pháp luật chưa qui định và các bên tham gia giao dịch không thỏa thuận, nhưng phải theo trình tự: áp dụng tập quán trước, nếu không có tập quán thì áp dụng qui định tương tự của pháp luật

- Có qui định tương tự của pháp luật hoặc có tập quán để có thể vận dụng để giải quyết tranh chấpphát sinh

- Tập quán và qui định tương tự của pháp luật không được trái với các nguyên tắc chung của phápluật được qui định trong BLDS

6.2.3 Hậu quả của việc áp dụng qui định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự

- Thông qua hoạt động áp dụng qui định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán,

bổ sung sự thiếu sót trong các qui đinh pháp luật và hoàn thiệt hệ thống pháp luật

- Qua đó, quyền và lợi ích của các bên tham gia giao dịch dân sự cũng được đảm bảo thực hiện.Chương 2: Quan hệ pháp luật dân sự

1 KHÁI NIỆM QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự

1.1.1 Khái niệm quan hệ pháp luật dân sự

Quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của LDS được các qui phạm pháp luật DS tác động tới trên cơ sở chủ thể độc lập về tổ chức và tàisản, bình đẳng về địa vị pháp lí và các quyền, nghĩa vụ của chủ thể được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước

1.1.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự

Quan hệ pháp luật DS mang đầy đủ các đặc điểm của một quan hệ pháp luật thông thường Ngoài

ra còn có đặc điểm riêng sau:

- Quan hệ pháp luật dân sự đa dạng về chủ thể tham gia Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là những “người” được phép tham gia quan hệ pháp luật và có các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó

- Trong quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể tham gia quan hệ luôn quan tâm đến những lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhất định

- Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật qui định Khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự tì địa vị pháp lí của chủ thể là

có sự bình đẳng

- Trách nhiệm pháp lí mà các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự phải gánh chịu liên quan

Trang 7

đến tài sản

1.2 Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự

1.2.1 Khái niệm căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự

Sự kiện pháp lí trước hết được hiểu là những sự kiện xảy ra trong thực tế và được pháp luật qui định hậu quả pháp lí

Sự kiện thực tế để làm phát sinh hậu quả pháp lý phải mang tính khách quan Chỉ những sự kiện thực tế mà sự xuất hiện của nó có ảnh hưởng nhất định đối với đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa– xã hội mới được pháp luật qui định hậu quả pháp lý

Hậu quả pháp lý mà pháp luật qui định cho một sự kiện thực tế, có thể là làm phát sinh, có thể làm thay đổi nhưng cũng có thể là làm chấm dứt một quan hệ pháp luật dân sự Một sự kiện thực

tế có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt nhiều quan hệ pháp luật dân sự khác nhau và ngược lại, một hậu quả pháp lý có thể là kết quả của nhiều sự kiện pháp lý

Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự là những sự kiện pháp lý do pháp luật qui định mà khi xuất hiện các sự kiện pháp lý đó thì quan hệ pháp luật dân sự có thể được phát sinh, được thay đổi hoặc chấm dứt

1.2.2 Phân loại Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự

1.2.2.1 Căn cứ vào hậu quả pháp lý

- Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự: là những sự kiện thực tế do pháp luật qui định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì làm phát sinh một quan hệ pháp luật dân sự

- Sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ pháp luật dân sự: là những sự kiện thực tế do pháp luật quiđịnh mà khi xuất hiện những sự kiện đó làm thay đổi một quan hê dân sự nhất định

- Sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự: là những sự kiện thực tế do pháp luật qui định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì làm chấm dứt một quan hệ pháp luật dân sự

1.2.2.2 Căn cứ vào tính ý chí trong quan hệ pháp luật dân sự

- Sự kiện pháp lý phát sinh theo ý chí của chủ thể: chính là các hành vi pháp lý Hành vi pháp lý

là hành vi có ý thức của con người và được pháp luật qui định hậu quả pháp lý Hành vi pháp lý được chia làm 2 loại:

+ Hành vi pháp lí hợp pháp: là hành vi có ý thức của con người, diễn ra phù hợp với qui định của pháp luật và theo qui định của pháp luật thì hậu quả pháp lý phát sinh Hậu quả pháp lý phát sinh

từ hành vi hợp pháp là hậu quả pháp lý mà các chủ thể luôn mong muốn, đó là các hậu quả pháp

lý tích cực, có lợi cho các chủ thể

+ Hành vi pháp lí bất hợp pháp: là hanh vi có ý thức của con người, diễn ra trái với qui định của pháp luật và theo qui định của pháp luật thì hậu quả pháp lý phát sinh Hậu quả pháp lý được pháp luật qui định khi có hành vi bất hợp pháp là hậu quả pháp lý tiêu cực, bất lợi đối với chủ thể

bị áp dụng

* Lưu ý: đối với trường hượp hành vi của con người có thể đem lại những hậu quả nhất định, nhưng hành vi đó là hành vi không có ý thức của con người, con người thực hiện hành vi trong vôthức

- Sự kiện pháp lý phát sinh theo ý chí của nhà nước: là những sự kiện xảy ra trong thực tế, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể nhưng theo qui định của pháp luật thì hậu quả pháp lý phát sinh, gồm các trường hợp:

+ Xử sự pháp lí: được thực hiện bởi hành vi của con người nhưng hành vi đó hướng tới một mục đích nhất định, tuy nhiên theo qui đinh của pháp luật thì hậu quả pháp lý phát sinh, hậu quả pháp

ly này nằm ngoài ý thức của chủ thể

+ Sự biến pháp lý: sự xuất hiện và diễn biến của sự vật, hiện tượng hoàn toàn không phụ thuộc vào ý thức của con người, con người không kiểm soát được (ví dụ: mưa, bão …) hoặc sự xuất hiện, diễn biến của sự vật hiện tượng lúc đầu là do hành vi của con người nhưng ngay sau đó con người không kiểm soát được (sự biến pháp lý tương đối)

+ Thời hạn: có điểm bắt đầu và điểm kết thúc, và khi kết thúc một thời hạn nhất định thì phát sinh

Trang 8

hậu quả pháp lý theo qui định của pháp luật

1.3 Các yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự

1.3.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

Phạm vi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng, bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và nhà nước CHXHCN Việt Nam Các chủ thể này phải có tư cách chủ thể, được xác định bởi 2 yếu tố:

- Năng lực pháp luật dân sự

- Năng lực hành vi dân sự

Chủ thể của quan hệ pháp luật có thể có năng lực pháp luật mang tính tổng hợp (cá nhân) có thể

có năng lực pháp luật mang tính chuyên biệt

1.3.2 Khách thể của quan hệ pháp luật dân sự

Khách thể của quan hệ pháp luật dân sự là những lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần nhất định

mà chủ thể hướng tới

1.3.2.1 Các lợi ích vật chất

Được thể hiện ở những dạng vật chất cụ thể như: tiền, vật, các giấy tờ có giá, quyền tài sản; lợi ích vật chất còn có thể được biểu hiện dưới dạng quyền của chủ thể trong một quan hệ pháp luật dân sự

1.3.2.2 Các lợi ích tinh thần

- Lợi ích tinh thần gắn với vật chất: đó chính là các lợi ích tinh thần mà chủ thể hướng tới trong quan hệ pháp luật về quyền tác giả, quan hệ pháp luật về quyền liên quan, quan hệ pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp, quan hệ pháp luật về quyền đối với giống cây trồng

- Lợi ích tinh thần không gắn với lợi ích vật chất: thể hiện ở các quyền nhân thân được pháp luật qui định cho chủ thể được hưởng các quyền nhân thân này

1.3.3 Nội dung của các quan hệ pháp luật dân sự

Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự tạo thành nội dung của quan hệ pháp luật dân sự

1.3.3.1 Quyền dân sự

Là cách xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể nhất định được hưởng, thể hiện ở:

- Chủ thể được thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn quyền do pháp luật qui định, chủ thể thực hiện quyền này trực tiếp hoặc gián tiếp

- Chủ thể được quyền không thực hiện những hành vi nhất định

- Chủ thể được quyền yêu cầu chủ thể khác phải thực hiện hành vi, không thực hiện hành vi vì lợiích của mình hoặc vì lợi ích của người khác

- Chủ thể được quyền yêu cầu tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị tranh chấp, bị xâm phạm

1.3.3.2 Nghĩa vụ dân sự

Là cách xử sự mà pháp luật buộc một chủ thể nhất định phải thực hiện, thể hiện ở:

- Chủ thể phải thực hiện những hành vi nhất định

- Chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định

* Lưu ý: Khi chủ thể có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ dân sự thì phải chịu hậu quả pháp lí bất lợi dohành vi vi phạm nghĩa vụ của mình gây ra Hậu quả pháp lí bất lợi mà người có nghĩa vụ phải gánh chịu do hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình chính là nội dung của trách nhiệm dấn sự

1.4 Các loại quan hệ pháp luật dân sự (có 4 căn cứ phân loại)

1.4.1 Căn cứ vào nhóm quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của LDS

- Quan hệ pháp luật dân sự về tài sản: Là quan hệ pháp luật dân sự luôn gắn liền với tài sản, đó cóthể là quan hệ có sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể sang chủ thể khác, đó cũng có thể là quan hệ tài sản mà có sự xác định quyền của một chủ thể đối với tài sản

- Quan hệ pháp luật dân sự về nhân thân: Là quan hệ pháp luật dân sự luôn gắn liền với lợi ích tinh thần Lợi ích tinh thaanhf có thể liên quan đến tài sả hoặc không

Trang 9

=> Việc phân loại theo căn cứ trên nhằm xác định hậu quả pháp lí cho chủ thế khi có hành vi xâmphạm các quyền của chủ thể trong quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân

1.4.2 Căn cứ vào tính xác định của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

- Quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối: là quan hệ pháp luật dân sự mà chủ thể có quyền luôn luôn được xác định, còn chủ thế có nghĩa vụ không được xác định cụ thế mà được hiểu là ngoài chủ thể mang quyền thì các chủ thể khác phai co nghĩa vụ tôn trọng quyền của chủ thể mang quyền Thuộc về quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối là quan hệ pháp luật về sở hữu, quan hệ pháp luật về

sở hữu trí tuệ

- Quan hệ pháp luật dân sự tương đối là quan hệ pháp luật dân sự mà chủ thể có quyền và chủ thể

có nghĩa vụ luôn luôn được xác đinh cụ thể Tương ứng với chủ thể mang quyền là chủ thể mang nghĩa vụ và ngược lại Thuộc về quan hệ pháp luật dân sự tương đối là quan hệ pháp luật về nghĩa

vụ và hợp đồng, quan hệ pháp luật về chuyển quyền sự dụng đất

=> Việc phân loại theo căn cứ trên có ý nghĩa trong việc xác định quyền của chủ thể cũng như xác định các hành vi xâm phạm quyền

1.4.3 Căn cứ vào cách thức thực hiện quyền để thỏa mãn quyền chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

- Quan hệ pháp luật dân sự vật quyền: là quan hệ pháp luật dân sự mà chủ thể mang quyền để thỏa mãn quyền của mình sẽ thực hiện hành vi để tác động vào đối tượng

- Quan hệ pháp luật dân sự trái quyền: là quan hệ pháp luật dân sự mà chủ thể mang quyền thỏa mãn quyền của mình thông qua hành vi của người khác

=> Việc phân loại theo căn cứ trên có ý nghĩa trong việc xác định hậu quả pháp lý của hành vi xân phạm quyền của chủ thể

1.4.4 Căn cứ vào sự có đi có lại vệ lợi ích vật chất giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

- Quan hệ pháp luật dân sự có sự đền bù: là quan hệ pháp luật dân sự mà tất cả các bên trong quan

hệ pháp luật đều được hưởng những lợi ích nhất định

- Quan hệ pháp luật dân sự không có đền bù là quan hệ pháp luật dân sự mà chỉ một bên trong quan hệ pháp luật dân sự được nhận một lợi ích vật chất từ phía chủ thể khác mà mình không phải hoàn lại một lợi ích vật chất tương ứng

2 CÁC LOẠI CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

2.1 Cá nhân

Cá nhân là chủ thể thường xuyên, quan trọng, chủ yếu và phổ biến của quan hệ pháp luật dân sự

Có thể nói cá nhân tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật dân sự, ngay cả các quan hệ pháp luật dân sự mà pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình tham gia thì cũng phải thông qua hành vi của cánhân

2.1.1 Năng lực chủ thể cuả cá nhân

2.1.1.1 Năng lực pháp luật dân sự

* Khái niệm và đặc điểm:

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự Khả năng đó chỉ có thể trở thành hiện thực thông qua năng lực hành vi dân sự của cá nhân

- Năng lực pháp luật của cá nhân là bình đẳng

- Năng lực pháp luật của cá nhân không thể bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật qui định

* Hạn chế năng lực pháp luật dân sự đối với cá nhân: chỉ mang tính tạm thời, được áo dụng đối

Trang 10

với một số chủ thể nhất định, trong một số giai đoạn nhất định và ở một số địa bàn nhất định

* Bắt đầu và chấm dứt năng lực pháp luật dân sự của cá nhân: năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết

* Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân: là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ dân sự mà pháp luật qui định cho một cá nhân

- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản

- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản

- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó

2.1.1.2 Năng lực hành vi dân sự

* Khái niệm và đặc điểm:

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự

Đặc điểm:

- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân do nhà nước qui định dựa trên sự phát triển về độ tuổi cũng như khả năng nhân thức và làm chủ hành vi của cá nhân

- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là không bình đẳng, cá nhân khác nhau có năng lực hành

vi khác nhau do pháp luật qui định dựa trên độ tuổi, sự phát triển tâm lý, nhận thức

- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có khi cá nhân đến một độ tuổi nhất định và có thể bị mất hoặc bị hạn chế khi còn sống

* Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân:

- Năng lực hành vi dân sự đầy đủ: cá nhân từ 18 tuổi trở lên, không bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, không bị tòa án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự và có nghĩa vụ thực hiện các giao dịch dân sự mà mình xác lập Ngoài ra nếu người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì phải bồi thường

- Năng lực hành vi dân sự một phần: là những người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi Lưu ý:

+ Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm mục đích phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngàyphù hợp với lứa tuổi Nếu cá nhân từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi tham gia các giao dịch dân sự mà

có giá trị lớn, không được sự đồng ý của đại diện theo pháp luật thì người đại diện theo pháp luật

có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu

+ Trường hợp người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi cso tài sản riêng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thì

có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác

- Không có năng lực hành vi dân sự: là người chưa đủ 6 tuổi

* Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự

a Mất năng lực hành vi dân sự

Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định: Tòa án nhân dân

Đối tượng bị áp dụng: Người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (phải có kết luận của tổ chức giám định về việc cá nhân đó khôngnhận thức làm chủ được hành vi)

Người có quyền yêu cầu: Người có quyền, lợi ích liên quan

Người đại diện: Người đại diện (xác định theo quan hệ giám hộ) toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người mất năng lực hành vi dân sự

Tình trạng pháp lý: Đưa người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự về tình trạng pháp lí giống người chưa đủ 6 tuổi

b Hạn chế năng lực hành vi dân sự

Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định: Tòa án nhân dân

Đối tượng bị áp dụng: Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn dến phá tán tài

Trang 11

sản của gia đình

Người có quyền yêu cầu: Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan,

Người đại diện: Người đại diện, phạm vi đại diện do tòa án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày

Tình trạng pháp lý: Đưa người bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự về tình trạng pháp lí giống người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi

2.1.2 Tuyên bố mất tích, tuyên bố chết

2.1.2.1 Thông báo tìm kiếm người vắng mặt và quản lý tài sản của người vắng mặt

Trước khi yêu cầu tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất tích, hoặc đã chết, những người

có quyền và lợi ích liên quan có thể yêu cầu tòa án ra thông báo tìm người vắng mặt tại nơi cư trútheo qui định của pháp luật dân sự; Đồng thời yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt

Người quản lý tài sản của người vắng mặt được xác định như sau:

- Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quảnlý

- Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý

- Đối với tà sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ haowcj chồng tiếp tục quản lý, nếu vợ hoặcchồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con đã thànhniên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý

Quyền, nghĩa vụ của người quản lý tài sản:

- Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình

- Bán ngay tài sản và hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng

- Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của tòa án

- Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và thông báo cho tòa án biết, nếu có lỗitrong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại phải bồi thường

Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các quyền sau:

- Quản lý tài sản của người vắng mặt

- Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt

- Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản

2.1.2.2 Tuyên bố mất tích

* Điều kiện của việc tuyên bố cá nhân mất tích:

- Người có quyền, lợi ích liên quan có đơn yêu cầu tòa án tuyên bố cá nhân đó mất tích

- Đã áp dụng đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm người vắng mặt theo qui định của pháp luật tốtụng dân sự đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích

- Thời gian biệt tích hai năm liền trở lên, khoảng thời gian này phải liên tục, không gián đoạn Nếu gián đoạn phải được xác định lại từ đầu

* Hậu quả của việc tuyên bố cá nhân mất tích:

- Về tư cách chủ thể: Khi tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích, tạm thời tư cách chủ thể của người đó bị dừng lại

- Quan hệ nhân thân: Các quan hệ nhân thân tạm dừng Trường hợp vợ hoặc chồng của người tuyên bố mất tích xin ly hôn thì tòa án giải quyết cho li hôn

- Quan hệ tài sản: Tài sản của người bị tuyên bố mất tích sẽ do người đang quản lý tiếp tục quản lý

* Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố cá nhân mất tích và hậu quả của sự hủy bỏ:

- Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan tòa ra quyết định hủy bỏ quyết định

Trang 12

tuyên bố một người mất tích

- Tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích được khôi phục lại tình trạng ban đầu

- Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao saukhi đã thanh toán chi phí quản lý

2.1.2.3 Tuyên bố chết

* Điều kiện của việc tuyên bố một cá nhân là đã chết:

- Sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống

- Biệt tích trong chiến tranh sau 5 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống

- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai

đó chấm dứt, vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

- Biệt tích 5 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống Cách tính thời gian biệt tích giống như tính thời gian biệt tích trong trường hợp tuyên bố mất tích

- Quyết định tuyên bố chết sẽ chấm dứt tư cách chủ thể của người bị ra quyết định tuyên bố chết, tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết căn cứ vào từng trường hợp cụ thể trên

* Hậu quả của quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết:

- Tư cách chủ thể của người bị ra quyết định tuyên bố là đã chết: chấm dứt hoàn toàn

- Quan hệ nhân thân: quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ về nhân thân khác của người

đó được giải quyết như đối với người đã chết

- Quan hệ tài sản: được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế

* Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết và hậu quả của sự hủy bỏ đó:

- Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó, tòa hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết

- Tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là đã chết được trở lại tình trạng ban đầu như khi họ còn sống

- Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi tòa án ra quyết định hủy

bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết Cần lưu ý:

+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được tòa án cho lý hôn thì quyết định cho lyhôn vẫn có hiệu lực pháp luật Nếu người bị tuyên bố là đã chết trở về, mà muốn xác lập lại quan

hệ vợ chồng đối với vợ hoặc chồng được tòa án cho ly hôn sẽ phải làm thủ tục đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật

+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật

- Quan hệ tài sản: Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn

2.1.3 Nơi cư trú của cá nhân

Cá nhân có quyền tự do cư trú theo qui định cuả pháp luật, nơi cư trú của cá nhân được xác định như sau:

- Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống “Nơi” ở đây được định là chỗ ởhợp pháp của cá nhân Nơi cư trú của cá nhân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú

- Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân căn cứ vào nơi thường xuyên sinh sống, thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống

Xác định nơi cư trú của cá nhân có ý nghĩa pháp lý sau đây:

- Nơi cư trú là nơi cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước với tư cách là công dân

Trang 13

- Nơi cư trú là căn cứ để tòa án ra quyết định tuyên bố một cá nhân là mất tích hoặc đã chết

- Nơi cư trú được xác định là địa điểm mở thừa kế khi cá nhân chết

- Nơi cư trú còn có ý nghĩa trong việc xác định thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấpdân sự trong một số trường hợp nhất định

2.1.4 Giám hộ

2.1.4.1 Khái niệm, ý nghĩa giám hộ

Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật qui định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thànhniên, người mất năng lực hành vi dân sự ( sau đây gọi chung là người được giám hộ)

2.1.4.2 Người được giám hộ

- Người chưa thành niên không còn cha mẹ, không xác định được cha mẹ hoặc cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha

mẹ có yêu cầu Người chưa thành niên dưới 15 tuổi bắt buộc phải có người giám hộ, người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không nhất thiết phải có người giám hộ

- Người mất năng lực hành vi dân sự

- Một người có thể giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám

hộ, trừ trường hợp giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà

2.1.4.3 Người giám hộ

* Người giám hộ là cá nhân, tổ chức:

- Xác định quan hệ giám hộ đương nhiên đối với cá nhân: là những người thân thiết, gần gũi nhất đối với cá nhân được xác định theo quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết thống tùy trường hợp

cụ thể

- Xác định quan hệ giám hộ cử: Nếu không có người giám hộ đương nhiên thì cá nhân có đủ điều kiện theo qui định của pháp luật có thể được cử để giám hộ cho người được giám hộ

* Cá nhân có đủ các điều kiện sau có thể làm người giám hộ:

- Có đủ năng lực hành vi dân sựu

- Có tư cách đạo đức tốt, không phải là người đang truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác

- Có điều kiện cần thiết để đảm bảo thực hiện việc giám hộ: về thời gian, vật chất, sức khỏe2.1.4.4 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ

* Nghĩa vụ:

- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự

- Quản lý tài sản của người được giám hộ

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

- Người được giám hộ dưới 15 tuổi thì người giám hộ có nghĩa vụ chăm sóc giáo dục người được giám hộ

- Người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ có nghĩa vụ chăm sóc bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ

* Quyền:

- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chỉ dùng cho những nhu cầu cần thiết cảu

Trang 14

người được giám hộ

- Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ

- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

2.1.4.5 Thay đổi và chấm dứt việc giám hộ

* Thay đổi giám hộ:

- Khi người giám hộ không còn thỏa mãn các điều kiện do pháp luật qui định

- Khi người khác có điều kiện tốt hơn đảm nhận việc giám hộ

- Việc thay đổi phải được lập thành văn bản

* Chấm dứt giám hộ:

- Giám hộ chấm dứt trong các trường hợp:

+ Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

+ Người được giám hộ chết

+ Cha, mẹ của người được giám hộ đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình+ Người được giám hộ được nhận làm con nuôi

- Hậu quả của việc chấm dứt giám hộ:

+ Trong thời hạn ba tháng, kể từ thời điểm chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người được giám hộ hoặc với cha mẹ của người được giám hộ

+ Trong trường hợp người được giám hộ chết thì thanh toán tài sản với người thừa kế của người được giám hộ

- Việc thanh toán tài sản được thực hiện với sự giám sát của người giám sát việc giám hộ

- Các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám hộ mà do người giám hộ thực hiện sẽ chuyển cho người được giám hộ khi người này đã có năng lực hành vidân sự đầy đủ, hoặc chuyển cho cha mẹ của người được giám hộ, hoặc chuyển cho người thừa kế của người được giám hộ

2.2 Pháp nhân

2.2 Khái niệm và điều kiện của pháp nhân

2.2.1.1 Khái niệm pháp nhân

Khái niệm: Pháp nhân là một tổ chức thỏa mãn đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui định, khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự sẽ có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quan hệ dân sự

mà mình tham gia

2.2.1.2 Điều kiện của pháp nhân

* Điều kiện thứ nhất: Pháp nhân phải là một tổ chức và tổ chức đó phải được thành lập hợp pháp

- Pháp nhân có thể được thành lập hợp pháp theo qui định của pháp luật Việt Nam, theo trình tự mệnh lệnh, trình tự đăng kí, công nhận và trình tự cho phép

- Các tổ chức quốc tế được nhà nước Việt Nam công nhận

* Điều kiện thứ hai: Tổ chức được công nhận là có tư cách pháp nhân phải có cơ cấu tổ chức chặtchẽ

- Đối với pháp nhân được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cơ cấu tổ chức của pháp nhân do cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định hoặc người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định

- Đối với pháp nhân được thành lập theo trình tự khác thì cơ cấu tổ chức của pháp nhân sẽ do các pháp nhân đó quyết định trên cơ sở qui mô, lĩnh vực hoạt động

 Ý nghĩa:

+ Xác định nội dung hoạt động

+ Sự phối kết hợp giữa các bộ phận của pháp nhân còn là cơ sở để xác định quan hệ của pháp nhân với các chủ thể khác trong giao dịch dân sự

+ Cơ cấu tổ chức của pháp nhân khác nhau tùy từng loại hình pháp nhân

* Điều kiện thứ ba: Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài

Trang 15

sản đó

- Tính độc lập về tài sản được thể hiện: tài sản cảu pháp nhân là một khối thống nhất mà pháp nhân có quyền quyết định các nội dung liên quan đến tài sản đó nhưng đồng thời tài sản đó lại là

sự tách biệt rõ ràng, độc lập với tài sản của cá nhân, tổ chức

- Tính độc lập về tài sản của cá nhân được hiểu là:

+ Đối với các cá nhân được thành lập theo sáng kiến của các thành viên, các thành viên góp vốn

… thì tài sản của pháp nhân phải độc lập với tài sản của các thành viên của pháp nhân

+ Đối với pháp nhân hoạt động trong một số lĩnh vực về quản lý nhà nước, hoạt động lực lượng

vũ trang thì tài sản của pháp nhân được ngân sách nhà nước cấp, do đó tài sản của pháp nhân này phải độc lập với tài sản của cơ quan cấp trên của pháp nhân, độc lập với các tổ chức, cá nhân khác

- Pháp nhân dũng tài sản của mình để chịu trách nhiệm dân sự cho các quan hệ mà pháp nhân tham gia  trách nhiệm dân sựu của pháp nhân là trách nhiệm dân sự hữu hạn ( một tổ chức mà phải chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì tổ chức đó không

có tư cách pháp nhân)

* Điều kiện thứ tư: Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

- Khi tham gia các quan hệ pháp luật, pháp nhân độc lập trong việc hưởng quyền và độc lập trongviệc gánh chịu các nghĩa vụ, tự chịu trách nhiệm trong các quan hệ mình tham gia

- Nhưng không phải pháp nhân nhân danh mình tham gia các quan hệ một cách độc lập có nghĩa

là pháp nhân được quyền tham gia vào bất cứ quan hệ nào

 Tóm lại: Các điều kiện của pháp nhân là một thể thống nhất, một tổ chức muốn được coi là có

tư cách pháp nhân phải thỏa mãn tất cả các điều kiện này, trên cơ sở đó pháp nhân mới có thể là chủ thể tham gia một quan hệ pháp luật cụ thể

2.2.2 Năng lực chủ thể của pháp nhân

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân

sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình

Năng lực pháp luật mới chỉ là khả năng để pháp nhân có thể có các quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự Chỉ khi nào bằng hành vi của pháp nhân tham gia các quan hệ pháp luật dân sự cụ thể phùhợp với mục đích, hoạt động của pháp nhân thì những khả năng pháp luật cho phép pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự mới thành hiện thực

Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của pháp nhân xuất hiện đồng thời khi pháp nhân được thành lập

Năng lực pháp luật của pháp nhân có tính chuyên biệt, các pháp nhân khác nhau có nội dung nănglực pháp luật dân sự khác nhau, điều đó phụ thuộc vào mục đích hoạt động của pháp nhân

Năng lực pháp luật của pháp nhân phát sinh và chấm dứt tương ứng với thời điểm thành lập và chấm dứt pháp nhân

2.2.3 Hoạt động và trách nhiệm dân sự của pháp nhân

2.2.3.1 Một số yếu tố đảm bảo cho việc thành lập, tồn tại và hoạt động của pháp nhân

* Tên gọi của pháp nhân:

- Phải bằng tiếng Việt, thể hiện rõ loại hình tổ chức của pháp nhân và phân biệt với pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động

- Pháp nhân có quyền và nghĩa vụ sử dụng tên gọi của mình trong giao dịch

- Nếu pháp nhân thay đổi tên họ trong thời gian hoạt động phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

* Điều lệ của pháp luật:

- Điều lệ của pháp nhân là văn bản pháp lý ghi nhận những nội dung cơ bản liên quan đến hoạt động, điều hành của pháp nhân

- Những nội dung trong điều lệ của pháp nhân không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

Trang 16

- Điều lệ của pháp nhân có những nội dung chủ yếu sau:

+ Tên gọi của pháp nhân

+ Mục đích và phạm vi hoạt động

+ Trụ sở

+ Vốn điều lệ

+ Cơ cấu tổ chức

+ Quyền và nghĩa vụ của các thành viên

+ Thể thức sửa đổi, bổ sung điều lệ

+ Điều kiện hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể pháp nhân

* Cơ quan điều hành của pháp nhân

- Sau khi pháp nhân được thành lập, hoạt động của pháp nhân phải được duy trì thông qua một cơquan đầu não của pháp nhân, đó chính là cơ quan điều hành

- Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được qui định trong điều

lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân

* Trụ sở của pháp nhân:

- Trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân Pháp nhân bắt buộc phải có trụ sở, trụ sở chủ yếu của pháp nhân là yếu tố không thể thiếu, tạo thành tính hợp lệ của hồ sơ lập thành pháp nhân

- Nơi pháp nhân đặt trụ sở thông thường sẽ là nơi tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nếu pháp nhân là bị đơn Địa chỉ liên lậc của pháp nhân là địa chỉ trụ sở của pháp nhân Ngoài trụ sở của pháp nhân, pháp nhân có thể chọn nơi khác làm địa chỉ liên lạc

* Văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân

- Văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện việc bảo vệ các lợi ích đó

- Chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền

- Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện và phải chịu trách nhiệm dân sự về các hành vi của văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân

2.2.3.2 Hoạt động và trách nhiệm dân sự của pháp nhân

* Đối với người đại diện của pháp nhân:

- Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật, được qui đinh trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân

- Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân

* Đối với thành viên pháp nhân

- Thành viên pháp nhân có thể là người được tuyển dụng để làm một công việc nhất định theo chế

độ tuyển dụng cán bộ công chức hoặc theo chế độ hợp đồng lao động

- Thành viên pháp nhân thực hiện hành vi được pháp nhân giao cho, do đó pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình

Trang 17

2.2.4.2 Chấm dứt pháp nhân

Pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Pháp nhân có thẩm chấm dứt trong các trường hợp sau:

- Hợp nhất pháp nhân: chỉ được tiến hành đối với pháp nhân cùng loại Sau khi hợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt, các quyền và nghĩa vụ dân sự của các pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới (A+B=C)

- Sáp nhập pháp nhân: không tạo thành pháp nhân mới mà chỉ là chấm dứt sự tồn tại của một pháp nhân, pháp nhân chấm dứt tồn tại mang danh của một pháp nhân đã tồn tại Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt, các quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập, chuyển giao cho pháp nhân sáp nhân

- Chia pháp nhân: sẽ tạo ra hai hay nhiều pháp nhân trên cơ sở pháp nhân ban đầu (C = A + B) Sauk hi chia, pháp nhân bị chấm dứt, quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân bị chia được chuyển giao cho pháp nhân mới

- Giải thể pháp nhân: là sự chấm dứt sự tồn tại của một pháp nhân mà không tạo ra hay duy trì sự tồn tại của một pháp nhân nào Trước khi giải thể, pháp nhân phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài sản Pháp nhân có thể bị giải thể trong các trường hợp sau:

+ Theo qui định của điều lệ

+ Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

+ Hết thời hạn hoạt động được ghi trong điều lệ hoặc trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Pháp nhân bị tuyên bố phá sản theo qui định của pháp luật về phá sản Qui định của pháp luật vềphá sản không được áp dụng đối với các pháp nhân là doanh nghiệp, hợp tác xã khi không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu và doanh nghiệp, hợp tác xã đó bị coi là lâm vào tình trạng phá sản

2.2.5 Các loại pháp nhân

* Pháp nhân là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân được thành lập theo trình tự mệnh lệnh Nhà nước giao tài sản để thực hiện chức năng quản lý nhà nước và thực hiện các chức năng khác mà không nhằm mục đích kinh doanh, là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự

* Pháp nhân là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội: tài sản của tổ chức này có thể có sự hỗtrợ từ ngân sách nhà nước, có thể do các thành viên đóng góp hoặc nguồn khác phù hợp với qui định của pháp luật sẽ không thể phân chia cho các thành viên và sẽ được dùng để chịu trách nhiệm dân sự

* Pháp nhân là tổ chức kinh tế: Các tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác có đủ điều kiện theo qui định của pháp luật Pháp nhân là tổ chức kinh tế phải

có điều lẹ và chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh.2.3 Hộ gia đình

2.3.1 Khái niệm và điều kiện xác định hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

Khái niệm: hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt độngkinh tế chung trong quan sản xuất nông, lâm ,ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật qui đinh là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực nàyĐiều kiện xác định hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự:

- Thành viên của hộ gia đình tối thiểu từ hai người trở lên

- Các thành viên phải có mối quan hệ ràng buộc nhất định và phải có chung hộ khẩu

- Các thành viên có tài sản chung và tài sản chung này được dùng để hoạt động kinh tế chung trong các quan hệ pháp luật dân sự, mà pháp luật cho phép hộ gia đình được tham gia Tài sản này có thể là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất hoặc sở hữu chung theo phần

2.3.2 Năng lực chủ thể và trách nhiệm dân sự của hộ gia đình

Trang 18

2.3.2.1 Năng lực chủ thể của hộ gia định

Năng lực pháp luật dân sự của hộ gia đình tồn tại và chấm dứt song song với sự tồn tại và chấm dứt năng lực hành vi dân sự của hộ gia đình

- Năng lực pháp luật của hộ gia đình có tính chất chuyên biết

- Năng lực hành vi dân sự của hộ gia đình: việc tham gia các quan hệ dân sự để đem lại quyền và nghĩa vụ cho hộ gia đình được thực hiện thông qua hành vi của chủ hộ hoặc các thành viên khác của hộ gia đình

Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Chủ hộ có thể ủy quyền cho các thành viên khác đã thành niên làm đại diện trong quan hệ dân sự, nhưng lưuý:

- Việc ủy quyền phải tuân theo qui định của pháp luật

- Các thành viên của hộ gia đình có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ giađình

2.3.2.2 Trách nhiệm dân sự của hộ gia đinh

Nếu hộ gia đình vi phạm các nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi vi phạmnghĩa vụ dân sự của mình

Việc chịu trách nhiệm của hộ gia đình được thực hiện theo trình tự:

- Tài sản chung của hộ dùng để chịu trách nhiệm dân sự

- Nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình

 Trách nhiệm dân sự của hộ gia đình là loại trách nhiệm dân sự vô hạn

2.4 Tổ hợp tác

2.4.1 Khái niệm và điều kiện của tổ hợp tác

Khái niệm: Tổ hợp tác là sự thỏa thuận liên kết giữa các cá nhân theo qui định của pháp luật dân

sự để tham gia các quan hệ dân sự theo sự thỏa thuận liên kết đó

Tổ hợp tác là chủ thể không thường xuyên của quan hệ pháp luật dân sự, được giới hạn bởi hợp đồng hợp tác mà các thành viên của tổ hợp tác thỏa thuận nội dung công việc hợp tác

Để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, tổ hợp tác phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Số lượng thành viên của tổ hợp tác tối thiểu phải từ ba cá nhân trở lên, các cá nhân phải có nănglực hành vi dân sự đầy đủ

- Các cá nhân phải cùng nhau thỏa thuận về những nội dung cụ thể của việc hợp tác

- Sự thỏa thuận của các cá nhân phải được thể hiện ở hợp đồng hợp tác và hợp đồng này phải có chứng thực của UBND cấp xã, phường, thị trấn

 Nhìn chung qui mô của tổ hợp tác còn nhỏ hẹp, cơ cấu tổ chức còn đơn gián

2.4.2 Thành lập và chấm dứt tổ hợp tác

2.4.2.1 Thành lập tổ hợp tác

Tổ hợp tác được thành lập theo sáng kiến của các tổ viên Cá nhân buộc phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Mỗi tổ hợp tác chỉ có thể được hình thành nếu có ít nhất 3 tổ viên trở lên và mỗi

cá nhân có thể là thành viên của nhiều tổ hợp tác

Các thành viên của tổ hợp tác cùng nhau thỏa thuận về hợp đồng hợp tác nhưng bắt buộc phải có các nội dung sau:

- Mục đích, thời hạn hợp đồng hợp tác

- Họ tên, nơi cư trú, chữ ký của tổ trưởng và các tổ viên

- Tài sản đống góp (nếu có), phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức giữa các tổ viên

- Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các tổ viên, của tổ trưởng, ban điều hành (nếu có)

- Điều kiện kết nạp tổ viên mới và tổ viên ra khỏi tổ hợp tác

- Điều kiện chấm dứt tổ hợp tác

Sau khi hợp đồng hợp tác được haofn thành, các tổ viên của tổ hợp tác phải gửi ít nhất hai bản hợp đồng tới UBND cấp xã, phường, thị trấn UBND chứng thực vào hợp đồng hợp tác có nội

Trang 19

- Các tổ viên thỏa thuận chấm dứt tổ hợp tác

- Tổ hợp tác chấm dứt theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong những trường hợp do pháp luật qui định

Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hoạt động, tổ hợp tác phải thông báo bằng văn bản về chấm dứt hoạt động của mình cho UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã chứng thực hợp đồng hợp tác

Tổ hợp tác chấm dứt tư cách chủ thể khi chấm dứt hoạt động Nếu tài sản chung của tổ hợp tác không đủ thanh toán các khoản nợ thì lấy tài sản riêng của tổ viên để thanh toán theo nguyên tắc trách nhiệm liên đới tương ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình

2.4.3 Năng lực chủ thể, hoạt động và trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác

2.4.3.1 Năng lực chủ thể của tổ hợp tác

Tổ hợp tác là chủ thể chuyên biệt, tính chuyên biệt được xác định bởi hợp đồng hợp tác được kí giữa các tổ viên Năng lực chủ thể của tổ hợp tác là năng lực hạn chế, tức là tổ hợp tác không tham gia toàn bộ các quan hệ pháp luật dân sự

Cơ sở hình thành tổ hợp tác là dựa trên sự thỏa thuận của các tổ viên của tổ hợp tác, sự thỏa thuậnnày không được vi phạm pháp luật và trái đạo đức xã hội

Tổ hợp tác lựa chọn ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật khôn cấm, hoạt động không giới hạn theo phạm vi hành chính địa phương nơi tổ hợp tác chứng thực hợp đồng hợp tác

Năng lực chủ thể của tổ hợp tác gắn liền với tổ hợp tác trong suốt quá trình tồn tại của tổ hợp tác Nếu tổ hợp tác chấm dứt sự tồn tại thì năng lực chủ thể của tổ hợp tác cung chấm dứt

2.4.3.3 Trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác

Nếu tổ hợp tác vi phạm thì phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình trước các chủ thể

vị vi phạm Tổ hợp tác phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh tổ hợp tác Trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác là trách nhiệm ,dân sự liên đới, vô hạn

2.5 Nhà nước CHXHCN Việt Nam – Chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự

Nhà nước CHXHCN Việt Nam là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự và tham gia các quan hệ dân sự sau:

- Đối với quan hệ pháp luật về sở hữu: Nhà nước là đại diện cho sở hữu toàn dân, có quyền sở hữu đối với đất đai và những tài sản quan trọng khác

- Đối với quan hệ hợp đồng, nhà nước có thể tham gia các quan hệ hợp đồng cụ thể thông qua các

cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các hợp đồng có ý nghĩa lớn đối với

Trang 20

đời sống kinh tế xã hội của đất nước

- Nhà nước tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc, sở hữu di sản không có người thừa kế.Chương 3: GIAO DỊCH DÂN SỰ

1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ

1.1 Khái niệm giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự được hình thành từ hai tiền đề:

- Tiền đề khách quan: do sự phát triển của xã hội, giao dịch dân sự trở thành phương tiện hữu hiệu để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể

- Tiền đề chủ quan: Chủ thể tham gia giao dịch dân sự nhằm thỏa mãn lợi ích vật chất hoặc lợi íchtinh thần của chủ thể, và do ý chí tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch đó

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự là các quyền và nghĩa vụ của chủ thể được pháp luật đảm bảo thực hiện

1.2 Phân loại giao dịch dân sự

1.2.1 Căn cứ vào sự thể hiện ý chí của chủ thể trong việc xác lập giao dịch dân sự

- Hành vi pháp lý đơn phương: là sự tuyên bố ý chí công khai của một phía chủ thể nên việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự trước hết phụ thuộc vào ý chí của chủ thể

đó Ví dụ: lập di chúc

- Hợp đồng dân sự: là thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự

1.2.2 Căn cứ vào sự tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch dân sự

- Giao dịch dân sự được phát sinh theo ý chí của chủ thể: là các giao dịch nhằm thỏa mãn lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần của chủ thể, do đó chủ thể có toàn quyền quyết định có tham gia vào giao dịch dân sự đó hay không

- Giao dịch dân sự được phát sinh theo ý chí của nhà nước: là các giao dich vì lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước hoặc vì những lý do khác Trong trường hợp này buộc các chủ thể phải thamgia giao dịch

1.2.3 Căn cứ vào hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự được xác lập

- Giao dịch dân sự có hậu quả pháp lý là làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự

- Giao dịch dân sự có hậu quả pháp lý là làm thay đổi quyền và nghĩa vụ dân sự

- Giao dịch dân sự có hậu quả pháp lý là làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự

1.2.4 Căn cứ vào hình thức thể hiện của giao dịch dân sự

- Giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức lời nói: được áp dụng đối với các giao dịch dân sự mà chủ thể có sự quen biết, tin cậy lẫn nhau, đối tượng của giao dịch có giá trị nhỏ hoặc với các giao dịch dân sự phát sinh hậu quả pháp lý sau khi thỏa thuận và các bên thực hiện nghĩa vụ ngay sau

đó giao dịch chấm dứt

- Giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức văn bản: hình thức văn bản có thể do pháp luật qui định hoặc do các bên thỏa thuận Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản

- Giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức hành vi cụ thể: bán hàng qua máy tự động, rút tiền ở các máy rút tiền

1.2.5 Giao dịch dân sự có điều kiện

Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra giao dịch dân sự tự phát sinh hoặc hủy bỏ Điều kiện trong giao dịch dân

sự có thể do một bên đưa ra hoặc do các bên thỏa thuận

Điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện có thể là điều kiện làm phát sinh hoặc điều kiện làm hủy bỏ giao dịch

Điều kiện trong giao dịch dân sự phải là những điều kiện có thể xảy ra trong tương lai, có thể

Trang 21

thực hiện được và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được dohành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của nguời thứ ba thì coi như điều kiện đó đã xảy ra Nếu có

sự tác động của một bên hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra

2 ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ

2.1 Khái niệm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là điều kiện do pháp luật qui định mà một giao dịch dân sự muốn phát sinh hiệu lực pháp lý thì phải thỏa mãn những điều kiện đó

2.2 Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

2.2.1 Điều kiện về chủ thể tham gia

Người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự

2.2.1.1 Đối với cá nhân

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự

- Đối với người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: có toàn quyền trong việ xác lập, thực hiện cácgiao dịch vì lợi ích của mình hoặc lợi ích của người khác

- Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi:

+ Pháp luật dân sựu đã chấp nhận một số giao dịch dân sự nhất định phát sinh hậu quả pháp lý nếu giao dịch dân sự đó do người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi xác lập thực hiện

+ Nếu pháp luật có qui định khác thì giao dịch dân sự của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật

+ Nếu pháp luật qui định với các giao dịch dân sự liên quan đến người chưa thành niên từ đủ 15 đến dưới 18 tuồi buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản của người này thì giao dịch dân sự cũng phải đáp ứng qui định này

- Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần (từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi, người bị tòa

án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự): khi xác lập thực hiện giao dịch, phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi

- Đối với người dưới 6 tuổi, người bị tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: thì không được xác lập thực hiện giao dịch dân sự, mọi giao dịch dân sự của họ đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập thực hiện

2.2.1.2 Đối với pháp nhân

- Pháp nhân là một thực thể pháp lý, khi tham gia giao dịch dân sự phải thông qua hành vi của người đại diện của pháp nhân

- Trong việc tham gia giao dịch dân sự, pháp nhân được phép tham gia các giao dịch phù hợp với mục đích hoạt động, phạm vi hoạt động, lĩnh vực kinh doanh của pháp nhân

2.2.1.3 Đối với hộ gia đính

- Các giao dịch dân sự mà hộ gia đình tham gia phải là những giao dịch được phép theo qui định của pháp luật, vì hộ gia đình là chủ thể hạn chế của quan hệ pháp luật dân sự

- Các giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập thực hiện vì lợi ích chung của hộgia đình làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ

- Đối với việc định đoạt tư liệu sản xuất và tài sản chung có giá trị lớn thì buộc phải có sự đồng ý của các thành viên trong hộ từ đủ 15 tuổi trở lên; Đối với tài sản chung khác phải được sự đồng ý của đa số các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên

Trang 22

của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả tổ hợp tác

- Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn thể tổ viên đồng ý, đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ viên đồng ý

2.2.2 Điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch

Mục đích của giao dịch dân sự là những lợi ích (vật chất hoặc tinh thần) hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó

Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức

2.2.3 Điều kiện về ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự

Điều kiện về ý chí của chủ thể là khi tham gia giao dịch chủ thể phải có sự tự nguyện

Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của chủ thể và phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định Ý chí này phải được kiểm soát bởi lý trí của chủ thể Khi nguyện vọng bên trong thể hiện ra bên ngoài đúng như vậy thì khi đó cho thấy chủ thể có sự tự nguyện

Những trường hợp sau đây chủ thể không có sự tự nguyện khi tham gia giao dịch:

2.2.3.1 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự giả tạo

Là giao dịch dân sự được xác lập để che dấu một giao dịch khác hoặc để trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba

* Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một giao dịch khác: Giao dịch giả tạo để che giấu giao dịch khác luôn vô hiệu, còn giao dịch bên trong (bị che giấu) vẫn có hiệu lực pháp lý Nếu giao dịch bên trong cũng vi phạm vào các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sựthì giao dịch đó cũng vô hiệu

* Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, thể hiện ở hai trường hợp

- Bản thân chủ thể tham gia giao dịch đã tồn tại một nghĩa vụ với chủ thể khác, do đó để trốn tránh nghĩa vụ này, chủ thể đẫ xác lập giao dịch giả tạo

- Khi tham gia giao dịch chủ thể có thể phải thực hiện một nghĩa vụ đối với nhà nước, nhưng chủ thể đã xác lập giao dịch với sự giả tạo

* Trên thực tế có trường hợp một giao dịch dân sự được thể hiện ra bên ngoài nhưng hoàn toàn không có thực và cũng không nhằm che giấu một giao dịch nào cả  giao dịch dân sự được xác lập bởi sự tưởng tượng

2.2.3.2 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự nhầm lẫn

Bản thân chủ thể xác lập giao dịch có sự nhầm lẫn nhưng chỉ xác định là giao dịch dân sự được xác lập bởi sự nhầm lẫn nếu chủ thể phía bên kia có lỗi vô ý

Bên cạnh sự nhầm lẫn về nội dung của giao dịch còn có sự nhầm lẫn về chủ thể xác lập giao dịch.2.2.3.3 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó

2.2.3.4 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự đe dọa

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm,tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình

Để có thể xác định là giao dịch dân sự được xác lập bởi sự đe dọa phải đáp ứng các điều kiện:

- Bên đe dọa thực hiện hành vi đe dọa với lỗi cố ý, mục đích là làm phía bên kí phải xác lập giao

Trang 23

dịch dân sự với mình hoặc chủ thế mà bản thân bên đe dọa mong muốn

- Hành vi đe dọa nhằm làm cho bên bị đe dọa hoàn toàn tê liệt ý chí mà không còn sự lựa chọn nào khác

- Chủ thể bị đe dọa có thể là một bên trong giao dịch nhưng cũng có thể là người khác

- Hành vi đe dọa chưa gây thiệt hại về đối tượng đe dọa mà hành vi đó hướng tới, tức là bên bị đe dọa mới chỉ sợ hãi về hậu quả của sự đe dọa có thể xảy ra

2.2.3.5 Giao dịch dân sự được xác lập mà vào thời điểm xác lập, người xác lập không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình

Việc không nhận thức và làm chủ được hành vi của chủ thể khi xác lập giao dịch có thể do ý chí chủ quan của người này nhưng cũng có thể do chủ thể khác hoặc do nguyên nhân khách quan.2.2.4 Điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự

Về nguyên tắc, nếu pháp luật không qui định hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì giao dịch dân sự có hiệu lực pháp lý khi thỏa mãn các điều kiện được qui đinh trong BLDS

Nếu pháp luật qui định giao dịch dân sự buộc phải tuân theo hình thức đó thì khi xác lập giao dịch chủ thể phải tuân theo.(Điều 122)

2.3 Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

2.3.1 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật qui định

2.3.2 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu

2.3.2.1 Dựa vào thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

* Giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:

- Là những giao dịch mà mức độ vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là nghiêm trọng nên theo qui định của pháp luật, một số giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

- Bất cứ lúc nào chủ thể cũng có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu, thậmchí nếu không có yêu cầu thì giao dịch đó cũng bị xác định là vô hiệu

* Giao dịch dân sự bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:

- Mức độ vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch không nghiêm trọng

- Tùy thuộc vào lợi ích của mình mà các chủ thể có thể hoặc không yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

2.3.2.2 Dựa vào mức độ vi phạm đối với từng giao dịch dân sự cụ thể

* Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ:

- Tất cả nội dung của giao dịch đều vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch

- Có một số nội dung của giao dịch vô hiệu nhưng trực tiếp ảnh hưởng tới các phần còn lại của giao dịch

* Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần:

- Có một số nội dung của giao dịch vi phạm vào các điều kiện có hiệu lực của giao dịch, còn các nội dung khác không vi phạm

- Một phần của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến các phần khác của giao dịch.2.3.2.3 Dựa vào mức độ vi phạm nghiêm trọng hay không nghiêm trọng của giao dịch dân sự

* Giao dịch dân sự đương nhiên vô hiệu: chính là các giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu

* Giao dịch dân sự vô hiệu khi có yêu cầu là giao dịch dân sự bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa

án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

2.3.2.4 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu theo qui định của BLDS 2005

- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Trang 24

- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa, bị lừa dối

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi cuả mình

- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ qui định về hình thức

2.3.3 Thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

* Các giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vôhiệu: là những giao dịch mà mức độ vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch là nghiêm trọng Gồm: giao dịch dân sựu vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội, giao dịch dân sự xác lập do giả tạo

* Giao dịch dân sự có thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 2 năm kể từ ngày xác lập giao dịch gồm:

- Giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa, bị lừa dối

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi cuả mình

- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ qui định về hình thức

* Trong việc xác định thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự cần lưu ý:

- Đối với giao dịch dân sự được giao kết trước ngày 1/7/1996 thuộc trường hợp qui định tại Khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 bao gồm: nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội, một hoặc các bên không có quyền giao kết hợp đồng thì thời gian yếu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế

- Đối với giao dịch dân sự được giao kết trước ngày 1/7/1996 thuộc trường hợp qui định tại Khoản 2 và 3, Điều 15 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 bao gồm: hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện, hợp đồng dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, hợp đồng dân sự vô hiệu do bị đe dọa, bị lừa dối, thì thời hạn yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo Qui định tại Điều 56 của Pháp lệnh hợp đồng dân sựu là 3 năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập

- Đối với giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996 đến trước ngày 1/1/2005 mà BLDS và các văn bản pháp luật khác không qui định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu, thì kể từ ngày 1/1/2005, việc xác định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được xác định theo điều 159

2.3.4 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

Việc xác định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu căn cứ vào mức độ vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và căn cứ vào yếu tố lỗi của chủ thể

Hậu quả pháp lý trực tiếp mà các chủ thể phải gánh chịu bao gồm:

- Khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền Trong trường hợp các bên chưa thực hiện giao dịch thì không thực hiện giao dịch, nếu giao dịch thực hiện đến đâu thì dừn đến đó

- Đối với những trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo qui định của pháp luật: là do các giao dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật

Trang 25

- Khi giao dịch dân sự vô hiệu cần xác định lỗi của các bên để yêu cầu bồi thường cũng như để các bên phải chịu hậu quả khác tương ứng với mức độ lỗi của mình

2.3.5 Vấn đề về bảo vệ quyền của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Người thứ ba ở đây chỉ là người liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu chứ không phải một bên trong giao dịch dân sự vô hiệu Khi bảo vệ quyền lợi của người thứ ba khi giao dịch dân sự vô hiệu cần chú ý:

- Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng

ký quyền sở hữu đã được chuyển giáo bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp qui định tại Điều 257

- Trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ban gay tình thì giao dịch với người thứ

ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba nhận được tài sản này thông qua qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị sửa

Chương 4 : ĐẠI DIỆN

1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠI DIỆN

1.1 Khái niệm đại diện

Đại diện là:“việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện” (Khoản 1 Điều 139 BLDS 2005)

Như vậy, đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm hai bên chủ thể là bên đại diện và bênđược đại diện Quan hệ đại diện này làm phát sinh một quan hệ nữa là quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba, theo ý chí và vì lợi ích của người được đại diện “Người” trong định nghĩa trên không phải chỉ một cá nhân cụ thể, mà chỉ tất cả các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.Tất cả các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự (cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, nhà nước ) đều

có quyền được có người đại diện cho mình trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho quyền và lợi ích của mình Tuy nhiên, cá nhân không được người khác đại diện cho mình nếu pháp luật qui định học phải tự mình xác lập thực hiện giao dịch đó Ví dụ: pháp luật không công nhận việc một cá nhân ủy quyền cho người khác thay mình làm thủ tục ly hôn, kết hôn, hay lập di chúc, làm chứng minh thư nhân dân … (các công việc có liên quan tới yếu tố nhân thân)

1.2 Đặc điểm của quan hệ đại diện

Ngoài các đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự nói chung, quan hệ đại diện còn có các đặc điểm riêng sau đây:

* Đại diện làm phát sinh hai mối quan hệ cùng tồn tại song song là quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài

Quan hệ bên trong là quan hệ được hình thành giữa người đại diện và người được đại diện Quan

hệ này có thể được hình thành từ hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật Ví dụ: theo quy định tại Điều 21 BLDS thì mọi giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Điều này có nghĩa là quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện (6 tuổi) trong trường hợp này được xác lập theo pháp luật chứ không phải theo hợp đồng

Quan hệ bên ngoài là quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba

Quan hệ bên trong là tiền đề là cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại của quan hệ bên ngoài Quan hệ bên ngoài thực hiện bởi quan hệ bên trong

Tuy nhiên trên thực tế vẫn tồn tại mối quan hệ gián tiếp giữa người được đại diện và người thứ ba

về trách nhiệm và lợi ích

* Trong quan hệ đại diện, người đại diện nhân danh người được đại diện để xác lập và thực hiện

Trang 26

giao dịch dân sự với người thứ ba

Người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba là nhân danh người được đại diện chứ không phải nhân danh bản thân họ, vì vậy các quyền và nghĩa vụ do người đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện với người thứ ba đều thuộc về người được đại diện Người đại diện

có thể được hưởng những lợi ích nhất định từ người được đại diện do thực hiện hành vi đại diện với người thứ ba, chứ không được hưởng bất ký lợi ích gì từ người thứ ba

Trong giao dịch do người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập thực hiện phát sinh với người thứ ba chứ không phải người được đại diện là người trực tiếp xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba, trong trường hợp người đại diện hoạt động với danh nghĩa riêng thì không có quan hệ đại diện

* Người đại diện tuy nhân danh cho người được đại diện nhưng vẫn có sự chủ động trong việc xác lập thực hiện giao dịch dân sự

Người đại diện tuy nhân danh cho người được đại diện và thẩm quyền của họ bị giới hạn trong phạm vi đại diện theo thỏa thuận hay theo qui định của pháp luật nhưng họ vẫn có sự chủ động trong khi tiến hành các công việc cần thiết để đạt được mục đích là vì lợi ích của người được đại diện

Ví dụ: A đại diện theo ủy quyền mua nhà cho B thì A vẫn được thể hiện ý chí của mình qua việc thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng với người thứ ba nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho A

* Trong quan hệ đaị diện, người được đại diện trực tiếp thu nhận các kết quả pháp lý do hoạt động của người đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện mang lại

Các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện với người thứ ba đều thuộc về người được đại diện, điều này có nghĩa là quan hệ pháp luật dân sự phát sinh giữa người được đại diện và người thứ ba, chứ không phải giữa người trực tiến hành xác lập giao dịch dân sự - người đại diện với người thứ ba

2.CÁC HÌNH THỨC ĐẠI DIỆN

2.1 Đại diện theo pháp luật

* Điều 140 BLDS 2005 đưa ra khái niệm đại diện theo pháp luật như sau: “đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật qui định hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định” Căn

cứ vào qui định này ta thấy đại diện theo pháp luật cũng được chia làm hai loại, đó là:

- Đại diện theo pháp luật qui đinh là đại diện đương nhiên, ổn định về người đại diện, về thẩm quyền đại diện Đó là các trường hợp: cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên, người giám hộ đương nhiên đại diện cho người giám hộ, người đứng đầu pháp nhân đại diện cho pháp nhân, chủ

hộ đại diện cho hộ gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác đại diện cho tổ hợp tác

- Đại diện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là đại diện chỉ định, không có tính ổn định về người đại diện cũng như thẩm quyền đại diện Đó là các trường hợp: người giám

hộ cử với người được giám hộ, người được tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, trong môt số trường hợp người đứng đầu pháp nhân có thể được xác định theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Căn cứ để hình thành quan hệ này là ý chí của nhà nước, pháp luật qui định mối quan hệ theo pháp luật được xác lập dựa trên các mối quan hệ đã tồn tại sẵn chứ không theo ý chí hay sự tỏa thuận, định đoạt của các chủ thể

* Các chủ thể trong quan hệ đại diện theo pháp luật:

- Người được đại diện:

+ Nếu người được đại diện là cá nhân, thì phải là người không có khả năng trực tiếp tham gia vàobất cứ giao dịch dân sự nào nên pháp luật qui định phải có những chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi cho họ trong việc xác lập thực hiện các giao dịch dân sự Đó là người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mắc các bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, người bị tòa án ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự

Trang 27

+ Nếu người được đại diện là pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình khi tham gia vào các giao dịch dân sự bắt buộc phải thông qua người đại diện

- Người đại diện: phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Người đại diện theo pháp luật

là người có mối quan hệ đặc biệt với người được đại diện: quan hệ huyết thống (ví dụ: cha, mẹ với con cái … ), quan hệ pháp lý ( ví dụ: quan hệ giám hộ … )

* Các căn cứ để nhận biết các quan hệ đại diện theo pháp luật đang tồn tại là:

- Căn cứ vào giấy khai sinh của con chưa thành niên để biết ai là người đại diện theo pháp luật

- Căn cứ vào xác nhận của UBND xã, phường nơi người giám hộ cư trú để biết ai là người đại diện theo pháp luật của người được giám hộ

- Căn cứ vào quyết định của tòa án khi tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự để biết ai là người đại diện cho người này

- Căn cứ vào sổ hộ khẩu của gia đình để biết ai là người đại diện theo pháp luật cho hộ gia đình

- Căn cứ vào hợp đồng hợp tác có xác nhận của UBND xã, phường để biết ai là người đại diện cho tổ hợp tác

- Căn cứ vào Đăng kí kinh doanh, Điều lệ hoặc Quyết định thành lập pháp nhân để biết ai là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân

Tóm lại, quan hệ đại diện theo pháp luật là quan hệ dân sự mang tính chất ổn định và bền vững dựa trên mối quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện là mối quan hệ huyết thống hay mối quan hệ pháp lý Vì vậy người đại diện thực hiện quan hệ đại diện vì trách nhiệm với người được đại diện và không được hưởng tiền công trong mối quan hệ này

2.2 Đại diện theo ủy quyền

* Khái niệm và đặc điểm

Theo Khoản 1 Điều 142: “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện” ,

Từ khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm của hình thức này là:

- Đại diện theo ủy quyền là hình thức đại diện tự nguyện, theo sự thỏa thuận giữa người đại diện

và người được đại diện, thể hiện bằng hợp đồng ủy quyền ( giấy ủy quyền ) Trên thực tế, việc đạidiện theo ủy quyền diễn ra rất phổ biến, các bên có thể thỏa thuận cho nhau tiến hành giao dịch dưới nhiều hình thức, kể cả bằng miệng; tuy nhiên đối với các trường hợp pháp luật qui định việc

ủy quyền phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo hình thức đó mới có giá trị pháp lý

- Ủy quyền là căn cứ làm phát sinh quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện; đồng thời nó cũng là cơ sở để người ủy quyền tiếp nhận các kết quả pháp lý do hoạt động ủy quyền mang lại Vì vậy khi ủy quyền phải xác định rõ phạm vi đại diện, thời hạn thời hiệu của việc phát sinh, chấm dứt ủy quyền, mức độ ủy quyền … trong hợp đồng ủy quyền

- Khác với đại diện theo pháp luật, hai bên chủ thể trong quan hệ đại diện đều phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp qui định tại Khoản 2 Điều 143 BLDS 2005 “ người từ đủ

15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật qui định giao dịch dân sự phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện”

* Các chủ thể trong quan hệ đại diện theo ủy quyền:

- Người đại diện theo ủy quyền có các loại:

+ Đại diện theo ủy quyền của cá nhân: đại diện theo ủy quyền của cá nhân có thể là cá nhân, ví dụ: A ủy quyền cho B đứng ra kí kết hợp đồng thuê nhà; đại diện theo ủy quyền của cá nhân cũng

có thể là pháp nhân, ví dụ: A ủy quyền cho công ty luật X đứng ra kí kết hợp đồng thuê nhà.+ Đại diện theo ủy quyền của pháp nhân: là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho người khác xác lập thực hiện giao dịch dân sự Ví dụ: A là tổng giám đốc của công ty

Y, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty này A ủy quyền cho B là nhân viên công ty thay mình kí kết hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng với công ty Z Trong trường hợp này B là người đại diện theo ủy quyền của công ty Y

+ Đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình và tổ hợp tác: người được ủy quyền chỉ có thể là thành

Trang 28

viên trong hộ gia đình hay trong tổ hợp tác mà thôi

- Người được ủy quyền phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (trừ trường hợp người từ

đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi có thể có quyền là người đại diện trong một số trường hợp nhất định theo qui định tại Khoản 2 Điều 143 BLDS 2005 )

* Căn cứ pháp lý để nhận biết quan hệ ủy quyền là hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền Hợp đồng ủy quyền và giấy ủy quyền có thể do pháp luật qui định, nếu pháp luật không qui định các bên có thể tự thỏa thuận để lựa chọn hình thức công chứng, chứng thực cho hợp đồng ủy quyền của mình

Tóm lại, ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có thể tham gia vào giao dịch dân sự một các thuận lợi nhất, đảm bảo thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích mà chủ thể quan tâm Người đại diện trong quan hệ ủy quyền có thể được hưởng lương, lợi ích từ quan hệ ủy quyền nếucác bên có thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền

3 PHẠM VI THẨM QUYỀN ĐẠI DIỆN

3.1 Khái niệm phạm vi thẩm quyền đại diện

Người đại diện thực hiện hành vi nhân danh người được đại diện, bởi vậy cần phải có một giới hạn nhất định cho hành vi đó Giới hạn này chính là phạm vi thẩm quyền đại diện Phạm vi thẩm quyền đại diện là giới hạn quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong việc nhân danh người đượcđại diện xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba

* Tùy thuộc vào quan hệ đại diện là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền, phạm vi thẩm quyền đại diện được xác định khác nhau:

- Đối với người đại diện theo pháp luật: Khoản 1 Điều 144 BLDS 2005 qui định như sau “người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người đượcđại diện, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác.”

+ Thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật là thẩm quyền rộng, pháp luật cho họ quyền chủ động tối đa trong việc lựa chọn, xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện

+ Căn cứ để xem xét tính hợp pháp của các giao dịch dân sự do người đại diện xác lập chính là: giao dịch ấy có xuất phát từ lợi ích của người được đại diện hay không? và có ảnh hưởng tới quyền lợi của người được đại diện hay không?

+ Đối với trường hợp đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đại diện cho pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác thì thẩm quyền của người đại diện bị giới hạn trong phạm vi hẹp hơn phụ thuộc vào năng lực chủ thể của các tổ chức đó hoặc do pháp luật qui định

- Đối với người đại diện theo ủy quyền: “phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền” ( Khoản 2 Điều 144 BLDS 2005)

+ Thẩm quyền của người đại diện bị giới hạn bởi nội dung ghi trong hợp đồng ủy quyền hay giấy

ủy quyền

+ Thẩm quyền đại diện theo ủy quyền phụ thuộc vào từng loại ủy quyền: Ủy quyền một lần, ủy quyền riêng biệt hay ủy quyền chung Ủy quyền một lần chỉ cho phép đại diện thực hiện một công việc cụ thể và chấm dứt luôn (ví dụ: nhận giúp bưu kiện, tiền lương, bán nhà, mua nhà … )

Ủy quyền riêng biệt qui định thẩm quyền đại diện trong một thời gian nhất định, đối với một loại hành vi nhất định (ví dụ: đại diện cho chủ sở hữu thu tiền thuê nhà trong một thời gian nhất định

…) Ủy quyền chung, thẩm quyền đại diện có hiệu lực đối với nhiều loại hành vi trong một thời gian nhất định

Nếu được sự đồng ý của người được đại diện thì người đại diện có thể ủy quyền lại cho người khác Nếu trong hợp đồng chỉ ghi cho phép người được ủy quyền có thể ủy quyền lại cho người khác nếu thấy cần thiết thì người được ủy quyền vẫn bị ràng buộc trách nhiệm ở vị trí trung gian Nếu người ủy quyền đồng ý cho người được ủy quyền được ủy quyền lại cho một người cụ thể đãđược người ủy quyền kiểm tra các yếu tố về nhân thân, khả năng tài chính, toàn bộ nội dung của

Trang 29

quan hệ ủy quyền thì coi như một quan hệ chuyển giao quyền và nghĩa vụ được xác lập Theo đó, người được ủy quyền sẽ lại chịu trách nhiệm trực tiếp trước người ủy quyền và quan hệ của ngườiđược ủy quyền chấm dứt

* Việc xác định phạm vi thẩm quyền đại diện có một số ý nghĩa pháp lý quan trọng:

- Về nguyên tắc, theo Khoản 3 Điều 144 BLDS 2005: “người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện” Tức là trong phạm vi đại diện, người đại diện xác lập thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba, sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện với người thứ ba Thậm chí nếu người đại diện có lỗi trong khi xác lập thực hiện giao dịch

đó nhưng vẫn nằm trong phạm vi thẩm quyền của người đại diện mà gây thiệt hại cho người thứ

ba thì trách nhiệm và nghĩa vụ vẫn thuộc về người được đại diện, người đại diện có lỗi sẽ phải chịu trách nhiệm độc lập với người được đại diện

- Công khai là một nguyên tắc của đại diện, để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người thứ ba (người xác lập giao dịch dân sự với người đại diện) pháp luật qui định người đại diện có trách nhiệm và nghĩa vụ phải thông báo cho người thứ ba biết về phạm vi thẩm quyền đại diện của mình (theo qui định tại Khoản 4 Điều 144 BLDS 2005)

- Phạm vi đại diện là căn cứ để xem xét tính hiệu lực của một số giao dịch do người đại diện xác lập thực hiện: “người đại diện không được xác lập thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác” (Khoản 5 Điều 144 BLDS 2005) Qui định này nhằm ngăn ngừa và loại trừ những giao dịch dân sự được xác lập thực hiện có thể đem lại hậu quả bất lợi cho người được đại diện Người đại diện xác lập thực hiện các giao dịch dân sự để mang lại lợi ích cho người được đại diện Cụ thể:

+ Người đại diện không được xác lập thực hiện giao dịch dân sự với chính mình vì trong trường hợp này không có quan hệ đại diện Ví dụ: A ủy quyền cho B bán xe máy của mình, nhưng B lại mua chính chiếc xe máy mà A ủy quyền cho mình bán Ở đây không có đại diện vì không có người thứ ba tham gia vào giao dịch dân sự mua bán xe với A Nếu để B mua xe này mà không

có sự thỏa thuận, một mình B sẽ định đoạt, xâm phạm quyền lợi của A để thu lợi cho mình

+ Người đại diện không được thực hiện các giao dịch dân sự với người thứ ba mà mình cũng là đại diện cho họ, vì như vậy chỉ có một mình người đại diện thể hiện ý chí, không có sự thương lượng, thỏa thuận nào cả, điều đó cũng dễ dẫn đến lạm dụng phạm vi thẩm quyền đại diện Ví dụ:

A ủy quyền cho B cho thuê nhà mình, C ủy quyền cho B mượn nhà để ở, Trong trường hợp này Bkhông thể đại diện cho cả A và C để giao kết hợp đồng mượn nhà ở được

3.2 Trường hợp không có thẩm quyền đại diện và vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện

Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện chỉ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện trong phạm vi đại diện, vì giao dịch đó được thực hiện phù hợp với ý chí và lợi ích của người được đại diện Tuy nhiên, trong thực tế có trường hợp giao dịch dân sự được xác lập thực hiện không phải do người đại diện hoặc do người đại diện xác lập nhưng vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện, để xử lý tình huống này, pháp luật đã qui định về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập và hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện ( Điều 145 và Điều 146 BLDS

2005 ) như sau:

* Nếu giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập thực hiện:

- Giao dịch này không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện Tuy nhiên, nếu sau đó người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý chấp nhận giao dịch đó thì vẫn mang lại quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện

- Người đã giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định Nếu hết thời hạn ấn định

mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện Ví dụ: Cháu A mồ côi cả cha lẫn mẹ, có B làm giám hộ, nhưng C là người quen của B đứng

Trang 30

ra bán chiếc xe đạp của cháu A (do bố mẹ cháu để lại) cho D lúc B đi vắng và gửi lại B tiền bán

xe đạp Sau một thời gian, D phát hiện ra C không có quyền bán chiếc xe đạp đó nên đã liên hệ với B để hỏi ý kiến B Nếu B chấp nhận quan hệ bán xe đạp của C thì giao dịch đó vẫn có giá trị, còn nếu B không chấp nhận thì giao dịch đó không có giá trị đối với A

- Trong trường hợp người được đại diện hoặc người đại diện của người này không chấp nhận giaodịch do người không có thẩm quyền đại diện xác lập thực hiện thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện Tuy nhiên giao dịch đó vẫn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ với người không có thẩm quyền đại diện đối với người đã giao dịch, trừ trườnghợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có thẩm quyền đại diện

+ Nếu người đã giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện biết hoặc phải biết về việc không có thẩm quyền mà vẫn xác lập thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không có hiệu lực bởi

có sự cố ý của cả hai bên khi xác lập giao dịch dẫn tới sự vi phạm nguyên tắc trung thực trong khigiao kết hợp đồng dân sự

+ Nếu người đã giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện không biết hoặc không thể biết về việc không có thẩm quyền đại diện thì họ có thể: chấp nhận giao dịch đã xác lập với ngườikhông có thẩm quyền đại diện và có quyền yêu cầu người đó thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng với mình hoặc có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch đã xác lập và yêu cầu người không có thẩm quyền đại diện phải bồi thường thiệt hại cho mình

* Nếu giao dịch dân sự do người đại diện xác lập vượt quá phạm vi đại diện:

- Giao dịch này không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần vượt quá phạm vi đại diện; trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối thì coi như giao dịch đó không vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện và vẫn có hiệu lực đối với người được đại diện; nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện phần nghĩa

vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, tức là ngườiđại diện phải tự chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá thẩm quyền đó

- Tuy giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diệnkhông làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện nhưng giao dịch đó vẫn có giá trịpháp lý đối với người đã xác lập thực hiện giao dịch nếu người đó không biết hoặc không thể biết

về việc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện Lúc này người đã giao dịch với người vượt quá phạm vi đại diện có thể: đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại; hoặc yêu cầu người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện

- Trường hợp người đã xác lập giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá thẩm quyền đại diện

mà vẫn xác lập giao dịch thì giao dịch đó vô hiệu Nếu giao dịch đã xác lập gây thiệt hại cho người được đại diện thì người đại diện vượt quá phạm vi đại diện và người đã xác lập giao dịch phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

4 CHẤM DỨT ĐẠI DIỆN

Cũng như các quan hệ pháp luật dân sự khác, quan hệ đại diện không thể tồn tại mãi mãi, nó sẽ chấm dứt khi xảy ra những sự kiện pháp lý nhất định Khi chấm dứt đại diện mọi hậu quả pháp lý phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện đều không có giá trị pháp lý đốivới người được đại diện

4.1 Chấm dứt đại diện theo pháp luật

Hình thức đại diện theo pháp luật sẽ chấm dứt khi chủ thể được đại diện không còn là đối tượng được pháp luật bảo vệ nữa, như: khi cá nhân đã có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi hoặc khi cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình không còn tồn tại

* Chấm dứt đại diện theo pháp luật của cá nhân: Khoản 1 Điều 147 BLDS qui định đại diện theo pháp luật của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau:

- Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục:

+ Con đã thành niên (đủ 18 tuôi) thì cha mẹ không còn là người đại diện nữa

Trang 31

+ Tòa án tuyên bố hủy bỏ quyết định mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự của một cá nhân thì người giám hộ được Tòa án chỉ định không còn là người đại diện theo pháp luật cho người này nữa

- Người được đại diện chết

- Các trường hợp khác do pháp luật qui định: ví dụ: người đại diện mất năng lực hành vì dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, phải chấp hành án phạt tù …

* Chấm dứt đại diện theo pháp luật của pháp nhân: Được qui định tại Khoản 1 Điều 148 BLDS

2005 “ Đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt”, cụ thể là khi: Hợp nhất pháp nhân, sáp nhập pháp nhân, chia pháp nhân, giải thể pháp nhân, pháp nhân bị tuyên

bố phá sản theo quy đinh của pháp luật về phá sản

Lưu ý: trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân không còn đủ điều kiện đại diện thì sẽ có chủ thể khác thay thế vị trí, chứ pháp nhân đó không bị chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật Ví dụ: ông A là tổng giám đốc của công ty B đồng thời là người đại diện theo pháp luậtcủa công ty bị tai nạn giao thông chết Khi đó quan hệ đại diện theo pháp luật của công ty B không chấm dứt mà sẽ có cá nhân khác thay thế vị trí của ông A và tiếp tục là đại diện theo pháp luật của công ty B

* Chấm dứt đại diện của tổ hợp tác và hộ gia đình: thông thường đại diện theo pháp luật của tổ hợp tác và hộ gia đình sẽ chấm dứt khi tổ hợp tác hoặc hộ gia đình đó chấm dứt sự tồn tại Ngoài

ra, khi tổ trưởng tổ hợp tác ra khỏi tổ hợp tác thì tổ viên khác được thay thế theo thỏa thuận của các tổ viên tổ hợp tác Đối với hộ gia đình, chủ hộ sẽ chấm dứt vai trò đại diện khi không còn đủ điều kiện làm người đại diện theo pháp luật, lúc đó sẽ có thành viên khác đã thành niên có đủ năng lực hành vi dân sự thay thế

4.2 Chấm dứt đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo ủy quyền được xác lập theo thỏa thuận của các bên, nên các yếu tố chi phối đến ý chí hay sự định đoạt của các chủ thể sẽ dẫn đến quan hệ ủy quyền bị chấm dứt Các trường hợp chấm dứt đại diện theo ủy quyền của cá nhân và pháp nhân có nhiều điểm giống nhau như:

* Thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc ủy quyền đã hoàn thành:

- Nếu các bên không có thỏa thuận cụ thể về thời hạn hoặc pháp luật cũng không có qui định thì quan hệ ủy quyền chỉ kéo dài trong vòng một năm kể từ ngày xác lập ủy quyền ( theo Điều 582 BLDS 2005)

- Trong thời hạn của quan hệ ủy quyền mà công việc được ủy quyền đã hoàn thành thì quan hệ đại diện cũng chấm dứt bởi mục đích các bên thỏa thuận đã đạt được Nhưng nếu thời hạn ủy quyền đã hết mà công việc vẫn chưa hoàn thành thì cũng chấm dứt quan hệ ủy quyền Do đó mà các chủ thể phải có sự cân nhắc khi quyết định thời hạn ủy quyền để tránh trường hợp hết thời hạn ủy quyền mà công việc vẫn chưa được hoàn thành các bên phải gia hạn thêm hoặc việc ủy quyền sẽ chấm dứt

* Chấm dứt đại diện theo ủy quyền khi cá nhân ủy quyền hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối việc ủy quyền:

- Theo ý chí của một trong hai bên chủ thể quan hệ ủy quyền, quan hệ ủy quyền sẽ chấm dứt tồn tại sau thời điểm giao kết thông qua việc tuyên bố hủy bỏ của bên ủy quyền hay tuyên bố từ chối của bên được ủy quyền

- Nếu việc chấm dứt này gây thiệt hại cho phía bên kia thì chủ thể chấm dứt ủy quyền phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

* Đại diện theo ủy quyền còn chấm dứt khi cá nhân ủy quyền chết, pháp nhân chấm dứt hoặc người ủy quyền chết, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,mất tích hoặc đã chết

- Khi một trong hai bên quan hệ ủy quyền không đáp ứng được các điều kiện của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự thì quan hệ đó chấm dứt

- Quan hệ ủy quyền là quan hệ gắn với nhân thân nên các quyền và nghĩa vụ của họ không thể

Ngày đăng: 07/11/2018, 09:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w