Biểu hiện rõ nhấtcủa lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị trường thế giớităng, làm giá xuất khẩu tăng giá xuất khẩu gạo bình quân của nước ta năm 2007tăng trên 15% s
Trang 1Trong nền kinh tế thị trườg hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thị trường Các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh
tế mới Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm
khác trong kinh tế là lạm phát.
Vậy lạm phát là gì? Do đâu mà có lạm phát? Tại sao mọi người quan tâm đến lạm phát? Với những tầm quan trọng như vậy thì Việt Nam vấn đề lạm phát được quan tâm như thế nào? Thực trạng lạm phát ở nước ta trong những năm vừa qua rasao? Chính phủ đã thực hiện các chính sách tích cực gì để kiểm soát lạm phát?Nhìn lại lịch sử lạm phát, từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, ở nước ta lạm phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài mà nguồn gốc của nó là do hậu quả nặng nề của chiến tranh, cơ vấu kinh tế bất hợp lý kéo dài Lạm phát đã phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền kinh tế, phương hại đến tất cả các mối quan hệ trong nền kinh tế- xãhội
Như vậy , lạm phát là một trong những vấn đề kinh tế vĩ mô, đã trở thành mối quan tâm lớn của mọi người từ các quan chức cấp cao đến những người dân bình thường Việc kiểm sóat lạm phát như thế nào là vấn đề hàng đầu trong các cuộc tranh luận về chính sách kinh tế -xã hội Đứng trước nguy cơ tiềm ẩn lạm phát, việcnghiên cứu các vấn đề chống lạm phát ở nước ta là vô cùng cần thiết
Trang 2CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1.1 Khái niệm lạm phát:
Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung của nền kinh tế trong một thời hạn nhất định Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm, và giá các mặt hàng khác không thay đổi Nhưng nếu mức giá chung tăng lên, ta có lạm phát
Ngược lại, nếu mức giá chung giảm xuống, ta có giảm phát
Lạm phát có thể được đo lường bằng nhiều cách khác nhau
Để tính mức độ lạm phát các nhà kinh tế sử dụng chỉ số giá Chỉ số giá thườngđược sử dụng là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Ngoài ra, người ta còn sử dụng những chỉ số giá khác như: chỉ số giá cả sản xuất, chỉ số giảm lạm phát GNP
Ở nước ta, cách phổ biến cho đến nay là chỉ số giá tiêu dùng (CPI),
b Lạm phát phi mã :
Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả bắt đầu tăng với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số như
Trang 3những diễn biến nghiêm trọng cho nền kinh tế Đồng tiền mất giá nhanh chóng, lãisuất thực tế giảm xuống dưới 0 ( có nơi lãi suất thực tế giảm xuống tới -50% hoặc-100% ) Nhân dân nên tránh giữ nhiều tiền mặt mà tích trữ hàng tiêu dùng.
c Siêu lạm phát :
Tình trạng lạm phát mà giá cả tăng vọt rất nhanh với tỷ lệ 10 lần thậm chí 100lần chỉ trong 1 tháng, là loại lạm phát với giá cả tăng lên với 5 con số Nếu tronglạm phát phi mã, nền kinh tế có vẻ còn sống sót được thì trong siêu lạm phát, nềnkinh tế xem như đang đi dần vào cõi chết Siêu lạm phát gây hậu quả hết sứcnghiêm trọng về các mặt kinh tế, xã hội và chính trị Loại lạm phát này rất ít khixảy ra Trên thế giới lần đầu tiên xảy ra tình trạng này ở Đức đầu những năm
1920 , từ tháng 1/1922 đến tháng 11/1923 chỉ số giá cả tăng lên 10 triệu lần & ởTrung Quốc vào thời điểm chiến tranh thế giới thứ hai
1.3 Nguyên nhân lạm phát bùng nổ tại Việt Nam:
Lạm phát ở Việt Nam là do sự tác động tổ hợp của cả ba dạng thức lạm phát:lạm phát tiền tệ (đây là dạng thức chủ yếu) lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phíđẩy
Lạm phát tiền tệ: Đây là dạng thức lạm phát lộ diện khá rõ Năm 2007, vớiviệc tung một khối lượng lớn tiền đông để mua ngoại tệ từ các nguồn đổ vào nước
ta đã làm tăng lượng tiền trong lưu thông với mức tăng trên 30%, hạn mức tíndụng cũng tăng cao, mức tăng 38%
Ấy là chưa kể sự tăng tín dụng trong
các năm trước đã tạo nên hiện tượng
tích phát tác động đến năm 2007 và có
thể cả những năm sau
Lạm phát cầu kéo: Do đầu tư bao
gồm đầu tư công và đầu tư của các
Trang 4doanh nghiệp tăng, làm nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu và thiết bị công nghệtăng; thu nhập dân cư, kể cả thu nhập do xuất khẩu lao động và người thân từ nướcngoài gửi về không được tính vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng tăng, làmxuất hiện trong một bộ phận dân cư những nhu cầu mới cao hơn Biểu hiện rõ nhấtcủa lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị trường thế giớităng, làm giá xuất khẩu tăng (giá xuất khẩu gạo bình quân của nước ta năm 2007tăng trên 15% so với năm 2006) kéo theo cầu về lương thực trong nước cho xuấtkhẩu tăng Trong khi đó, nguồn cung trong nước do tác động của thiên tai, dịchbệnh không thể tăng kịp Tất cả các yếu tố nói trên gây ra lạm phát cầu kéo, đẩygiá một số hàng hoá và dịch vụ, nhất là lương thực thực phẩm tăng theo
Lạm phát chi phí đẩy: Giá nguyên liệu, nhiên liệu ( đặc biệt là xăng dầu, các sản phẩm hoá dầu, thép và phôi thép…) trên thế giới trong những năm gần đây tăng mạnh Trong điều kiện kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu ( nhậpkhẩu chiếm đến 90% GDP ) giá nguyên liệu nhập tăng làm tăng giá thị trường trong nước
1.4 Tác động của lạm phát :
Do có ba mức lạm phát khác nhau, nên tác động của mỗi loại đối với nền kinh
tế cũng khác nhau Loại lạm phát vừa phải không có tác động lớn đến nền kinh tế.Lạm phát phi mã và siêu lạm phát tác động lớn đến nền kinh tế ở hai mặt sau:
a Tác động đến sự phân phối lại thu nhập và của cải :
Tác động này phát sinh từ những sự khác nhau trong các loại tài sản và nợ nầncủa nhân dân Lạm phát làm cho đời sống nhân dân bị giảm sút, trước hết là ngườisống bằng tiền lương do tiền lương thực tế giảm nghiêm trọng Dẫn đến số ngườinghèo khổ tăng lên, và tệ nạn xã hội sẽ nảy sinh Còn những người có nhiều tài sản
cố định có giá trị cao và những người mắc nợ ngân hàng với lãi suất cố định thì tựnhiên được hưởng lợi
Trang 5Những người cho vay hoặc có tài sản bằng những đồ cầm cố hoặc trái phiếudài hạn đều ở trong tình thế bất lợi Những người đi vay hoặc đi cầm cố, trước đâynhận tiền có giá, bây giờ mang tiền mất giá đến trả nợ và lấy lại tài sản đã cầm cố.Nói tóm lại, trong thời kỳ này, người gửi tiền tiết kiệm là bị thiệt hại nhiều nhất.
b Tác động đến giá cả, sản lượng, việc làm :
Lạm phát kéo dài làm cho lượng tiền cung ứng tăng liên tục , tổng cung tiền tệtăng nhanh hơn tổng cầu tiền tệ, lượng tiền danh nghĩa tăng, lãi suất danh nghĩatăng, sức mua đồng tiền giảm sút, các dòng vận động tiền tệ sẽ rối loạn Uy tínđồng tiền giảm và người ta không muốn giữ tiền, đua nhau mua bất động sản,muangoại tệ, mua vàng… làm cho các thị trường này càng biến động Bên cạnh đó thìgiá cả mọi thứ hàng hoá lại lên cao, tăng nhanh nhất là giá cả các mặt hàng thiếtyếu cho tiêu dùng và cho sản xuất rồi mới đến các mặt hàng khác
Lạm phát làm cho xuất khẩu sẽ giảm sút, nhập khẩu sẽ tăng lên Giá hàngnhập ngày một cao Cán cân ngoại thương sẽ rơi vào nhập siêu
Lạm phát cao kéo dài làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản hoặc sảnxuất cầm chừng Kinh doanh không tính toán được lỗ lãi, không ai dám bỏ vốnvào đầu tư vì chưa biết tương lai như thế nào, sợ mất vốn Làm cho một bộ phậncông nhân viên chức mất việc làm, số lượng thất nghiệp tăng lên.Những người bịlạm phát làm thiệt hại nhiều nhất là những người hưởng lương hưu, hưởng bảohiểm xã hội, hưởng trợ cấp xã hội
Lạm phát khiến cho nền kinh tế khó tăng trưởng, không ổn định Dẫn tớinhững vấn đề kinh tế-xã hội sẽ ngày càng nghiêm trọng, khó giải quyết hơn
Trang 6Về chính sách tiền tệ : mục tiêu đầu tiên của chính sách tiền tệ là ổn định giá
trị đồng nội trên cơ sở kiểm soát lạm phát Cúng ta đều biết vấn đề quan trọng là kiểm soát lạm phát chứ không phải triệt tiêu nó ví tỉ lệ lạm phát vừa phải sẽ có những tác động tích cực lên nền kinh tế Trách nhiệm này thuộc về NHNN, thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ của mình NHNN sẽ phải cố gắng điều tiết mức cung tiền cho hợp lý Vì vậy vấn đề nâng cao trình độ của các nhà hoạch địnhchính sách cũng rất quan trọng
Về chính sách tài khoá : đối với nước ta hiện nay thì vấn đề đặt ra là phải
kiện toàn bộ máy nhà nước, cắt giảm biên chế quản lý hành chính Thực hiện tốt biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc cắt giảm chi tiêu thường xuyên của Chính phủ , trên cơ sở đó làm giảm bội chi ngân sách nhà nước
Trang 7CHƯƠNG 2: DIỄN BIẾN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
2.1 Nguyên nhân gây ra lạm phát:
2.1.1 Giai đoạn 1986- 1993 :
Kinh tế Việt Nam từ những năm 1986 đến nay đã trải qua sự biến đổi sâu sắc :
từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, từ tăng trưởng thấp những năm 80 sang tăng trưởng cao những năm 90, khủng hoảng rối loạn sang ổn định và phát triển
Năm 1985, Gorbacher đã nên nắm chính quyền tại Liên xô, cùng với sự sụp
đổ của các nước Đông Âu cũ, Việt Nam bị cắt giảm nguồn viện trợ từ nước ngoài
và đến năm 1991 thì bị cắt hẳn Do đó, nguyên vật liệu đầu vào như sắt thép, dầu hoả, máy móc thiết bị Việt Nam hoàn toàn phải mua với giá cao làm cho chi phí sản xuất tăng nhanh Lạm phát chi phí đẩy xảy ra
Khi lạm phát chi phí đẩy xảy ra, càng đẩy các doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn và để hỗ trợ nền sản xuất trong nước, đặc biệt là các xí nghiệp quốc doanh, Chính phủ Việt Nam lại in thêm tiền làm tăng mức cung ứng tiền trong nền kinh tếlại dẫn đến lạm phát tiền tệ , điều đó càng đẩy tỉ lệ lạm phát lên cao
Đồng thời năm 1985, Việt Nam thực hiện cuộc cải cách giá, tiền lương, tiền
mà đỉnh cao là sự kiện đổi tiền vào tháng 9 và lạm phát cũng bùng nổ ngay sau đó.Năm 1986 chúng ta đã rơi vào tình trạng siêu lạm phát với ba chữ số 775% vào năm 1986 trong khi đó tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 2,33%
Đến năm 1987 do thiên tai, sản lượng lương thực cuối năm giảm 3,5% và đầu năm 1988 một số địa phương miền Bắc bị đói, giá cả lên cao, lạm phát chi phí đẩy lại tiếp diễn Đứng trước tình hình đó, dân chúng tích trữ hàng hoá , lương thực, vàng và đô la càng nhiều vì lo sợ rằng đồng Việt Nam sẽ còn mất giá tạo nên cầu
Trang 8giả tạo, giá cả tăng cao dẫn đến lạm phát cầu kéo, với tỉ lệ lạm phát là 223,1%, mức tăng trưởng GDP chỉ là 3,78%.
Từ năm 1989 đến năm 1991, lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn còn khá cao vớimức tăng 67% liên tiếp trong hai năm 1990 và 1991, phải từ năm 1992 trở đi tình hình mới lắng dịu và tạm ổn định cho đến năm 1995
Như vậy, trong giai đoạn này lạm phát xảy ra ban đầu là do chi phí đẩy, sau đó
là do tăng mức cung ứng tiền , năm 1987 lại là lạm phát chi phí đẩy, tiếp tục sau
đó lạm phát cầu kéo xảy ra
Vào năm 1993 , mặc dù lạm phát đã giảm xuống một chữ số nhưng những tiến
bộ vượt bậc đó đã không thể duy trì được và củng cố bằng những chính sách tài chính và chính sách tiền tệ thận trọng nên đến năm 1994 tỉ lệ lạm phát lại tăng lên mức 14,4%
Trước hết , lạm phát xảy ra là do hiện tượng cầu kéo : Đến năm 1993, cùng với việc đầu tư nước ngoài tăng cao (tăng 85,6% so với năm 1992) là việc các hãng nước ngoài chuyển lợi nhuận về nước , do đó cầu ngoại tệ tăng cao làm cho giá USD tăng, đồng tiền Việt Nam bị giảm giá từ 10.600 đồng/1USD vào năm
1993 đến 11.050đồng/1USD năm 1995 Điều này tác động làm cán cân thương mại được cải thiện , do đó, tổng cầu trong nền kinh tế tăng
Trang 9Chi tiêu của Chính phủ trong thời gian này cũng tăng mạnh, trong đó có chi thường xuyên và chi cơ bản Cụ thể là: cải cách chế độ tiền lương, trợ cấp đối với các đối tượng chính sách xã hội Đồng thời trợ cấp cho các đối tượng bộ đội chuyển ngành và nghỉ, trợ cấp thôi việc cho một số cán bộ công nhân viên chức domột số cơ quan nhà nước đóng cửa vì không thể thích ứng được với cơ chế thị trưòng Đồng thời chi thường xuyên của ngân sách tăng nhanh.
Từ năm 1993-1995 đầu tư xã hội tăng mạnh, trong đó có đầu tư vào xây dựng
cơ sở hạ tầng để phục vụ cho nền kinh tế mới phát triển Tất cả những điều này đẩy đường tổng cầu lên cao, làm giá cả tăng cao Lạm phát thời kỳ này xảy ra còn
do chi phí đẩy : vào thời kỳ này, giá cả số mặt hàng được điều chỉnh như giá xi măng, giá điện, giá xăng, làm cho chi phí đầu vào tăng mạnh, cung giảm, đẩy giá
cả lên cao, gây lên lạm phát chi phí đẩy
2.1.3 Giai đoạn 1999-2001:
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Ábắt đầu từ tháng 7 năm 1997 làm cho nước ta chịu sức ép ngày càng tăng Kinh tế trải qua hiện tượng giảm giá liên tục, sức mua giảm sút, đầu tư nước ngoài và xuất khẩu có dấu hiệu suy giảm, sản xuất trong nước rơi vào tình trạng trì trệ, hàng hoá ứ đọng nhiều, tỉ lệ thất nghiệp gia tăng Một trong những biểu hiện của sự suy giảm nền kinh tế là hiện tượng giảm phát
- Giá cả thị trường có xu hướng giảm
+ Năm 1999 giá cả thị trưòng có nhiều diễn biến bất thường : giá cả liên tục giảm trong 8 tháng liền, từ tháng 3 đến tháng 12 Đặc biệt tháng 10 năm 1999 CPI giảm 0,8% so với tháng 12 năm 1998 Chỉ số giá lương thực tháng 10 năm 1999 sút giảm 10,5% so với tháng 12 năm 1998, sự sụt giảm giá lương thực làm cho CPI chung hầu như không tăng
+ Năm 2000, CPI cả năm giảm 0,6% so với năm 1999
Trang 10+ Sáu tháng đầu năm 2001 giảm 0,3% so với tháng 6/2000 và giảm 0,7% so với tháng 12/2000 CPI giảm liên tục trong 3 tháng liên tiếp, tháng 3 giảm 0,7%, tháng 4 giảm 0,5%, tháng 5 giảm 0,2% Kết quả là đến cuối năm 2001 nhờ nhiều
nỗ lực ,chúng ta đã đẩy được tỉ lệ lạm phát lên 0,8%
- Tình trạng ứ đọng sản phẩm, sản xuất cầm chừng xảy ra ở một số sản phẩm
và một số khu vực, đặc biệt là khu vực nhà nước :
+ Số hàng tồn kho của Tổng công ty 90-91 trong 6 tháng đầu năm 1999 đã lêntới 60.000 tỷ đồng
+ Tỉ lệ thất nghiệp năm 1999 ở Hà Nội là 10,3% và ở thành phố Hồ Chí Minh
là 7,04%
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm : từ tốc độ tăng trưởng GDP năm 1996 là 9,34% xuống còn 8,15% năm 1997, 5,8% năm 1998, 4,8% năm 1999 và 6,75% năm 2000
+ Giá hàng nông sản giảm mạnh, đặc biệt là giá lương thực, cà phê, hạt tiêu, hạt điều làm giảm thu nhập của nông dân, ảnh hưởng tới sức mua hàng công nghiệp Từ năm 1998 đến 6 tháng đầu năm 2001 chỉ số giá lương thực liên tục giảm : năm 1999 giảm 7,8%, năm 2000 giảm 7,9%, 6 tháng đầu năm 2001 giảm 5,7% Giá những hàng hoá trên giảm không chỉ làm cho CPI chung giảm mà nó còn gián tiếp làm cho sức mua và giá cả đầu vào các hàng hoá và dịch vụ khác giảm theo
+ Nhìn chung hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam chất lượng thấp, giá thành cao nên không có điều kiện cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, đặc biệt là hàng nhập khẩu trốn lậu thuế, do đó giá cả hàng hoá công nghiệp và dịch vụ đang có xu hướng giảm giá để có thể cạnh tranh được với hàng hoá nhập khẩu
Trang 11+ Cơ cấu tăng trưởng kinh tế giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp là không hợp lý, theo đó là sức mua của nông dân, là bộ phận dân cư lớn nhất nước không tăng lên được
+ Tình trạng vốn ứ đọng ở các ngân hàng phản ánh người có tiền không muốn
bỏ vốn vào đầu tư Nợ khó đòi và nợ quá hạn ở các ngân hàng lớn
+ Đầu tư nước ngoài suy giảm mạnh Tốc độ giảm trung bình khoảng 24% năm trong giai đoạn 1997-2000
+ Tỉ lệ tăng trưởng giá trị xuất khẩu giảm sút do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á
+ Trong khi nước ta đang duy trì ổn định tỉ giá thì các đối tác thương mại trong khu vực phá giá đồng tiền làm cho nhiều mặt hàng trong nước đắt hơn hàng ngoại, chúng ta lâm vào thế cạnh tranh không thuận lợi so với bên ngoài
+ Hậu quả của hiệu ứng lây lan do suy thoái và giảm phát khu vực
+ Sự chậm trễ trong việc cải tiến những chính sách vĩ mô của Chính phủ , làmcho nước ta đạt được ít kết quả trong cạnh tranh Vai trò điều tiết của nhà nước cònrất nhiều hạn chế
2.1.4 Giai đoạn 2002 đến nay:
Mặc dù năm 2002 tình hình kinh tế thế giới có nhiều khó khăn, nhưng nước tavẫn đạt tỉ lệ tăng trưởng kinh tế là 7,04%, tỉ lệ tăng trưởng cao thứ hai trong khu vực Châu Á chỉ sau có Trung Quốc(8%), các chỉ tiêu kinh tế khác chúng ta hầu hếtđều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra
Tình hình giá cả đầu năm 2002 của chúng ta đã tăng lên tương đối nhanh, 6 tháng đầu năm giá cả đã tăng 2,9%, đến cuối năm tỉ lệ lạm phát của chúng ta chỉ là4%
Trang 12Năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng 8,4%, thì năm 2006 tăng 6,6% Năm
2007 tăng 12,63%, năm 2008 tăng 19,89%, thì năm 2009 tăng 6,52%
Năm 2010 tăng 11,75%, năm 2011 sau 8 tháng đã tăng 15,68% (nếu tính theonăm thì tháng 8/2011 so với cùng kỳ năm trước đã tăng tới 23,02%) Dự báo cảnăm phải phấn đấu tích cực mới ở mức 18% (nếu theo “quy luật” trong mấy nămqua thì khả năng năm 2012 sẽ tăng thấp hơn và từ đó có thể nhận thấy việc Chínhphủ đưa ra chỉ tiêu dưới 10% của năm 2012 là có tính khả thi)
+ Lạm phát 4 tháng đầu năm nay ở nước ta cũng cao hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực
Ví dụ, lạm phát tháng 3 năm nay ở Trung Quốc là 5,4% so với cùng kỳ nămngoái; còn lạm phát quý I năm nay ở Indonesia có thể tăng lên 7,1%, ở Phillipine
là 4,9%, Thái Lan là 4% và Malaysia là khoảng 2,8% so với cùng kỳ năm
ngoái.Lạm phát cao, kéo dài trong nhiều năm liên tục đã gây nhiều tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của người dân
+ Chỉ số lạc quan kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên ở Việt Nam trong quý I/2011 đã giảm đáng kể
+ Lạm phát cao (nhưng tiền lương và thu nhập bằng tiền khác của người lao động không tăng lên tương ứng) đã làm cho thu nhập thực tế của họ giảm xuống
Ví dụ, trong hai năm qua, lạm phát đã làm cho thu nhập thực tế của người lao động mất hơn 20%; từ đó, đời sống của đa số dân cư đã trở nên khó khăn hơn nhiều so với trước đây Lạm phát cao làm giảm giá trị thực của đồng tiền nội tệ, làm xói mòn giá trị số tiền tiết kiệm của dân chúng; làm giảm lòng tin và mức độ
ưa chuộng của người dân trong việc nắm giữ và sử dụng đồng nội tệ Điều đó vừa gây áp lực thêm đối với lạm phát, bất ổn kinh tế vĩ mô trước mắt, vừa làm xói mònnền tảng phát triển lâu dài trong trung và dài hạn
Trang 13+ Giá cả trên thị trường thế giới tăng cao và các điều kiện quốc tế bất lợi khác
rõ ràng có tác động đến giá cả và lạm phát ở nước ta Tuy vậy, lạm phát cao kéo dài và sự chênh lệch rất lớn giữa lạm phát ở nước ta và các nước trong khu vực, kể
cả các nước có nền kinh tế mở hơn, chứng tỏ các nguyên nhân chủ quan, bên trongvẫn là chủ yếu
+ Nguyên nhân sâu xa, bao trùm và cơ bản nhất của thực trạng lạm phát hiện nay bắt nguồn từ mô hình tăng trưởng và cách thức mà chúng ta sử dụng để đạt được mục đích tăng trưởng Tăng trưởng của chúng ta cho đến nay chủ yếu vẫn dựa vào mở rộng đầu tư, nhưng đầu tư nhìn chung lại kém hiệu quả, nhất là đầu tư nhà nước
+ Tuy mô hình và cách thức tăng trưởng đã tới hạn nhưng chúng ta vẫn dựa vào đó để đạt được mục tiêu tăng trưởng, do đó về ngắn hạn thì cách chủ yếu để đạt tăng trưởng đó là mở rộng đầu tư Do đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán, thâm hụt tài khóa gia tăng, thâm hụt cán cân thanh toán gia tăng… tất cả những điều đó là nguyên nhân mang tính nội tại làm cho lạm phátcủa chúng ta trong mấy năm qua luôn ở mức cao và cao hơn nhiều so với các nước
2.2 Các biện pháp kiểm soát lạm phát :
2.2.1 Giai đoạn 1986- 1993:
Theo Bảng tỉ lệ tăng trưởng và tỉ lệ lạm phát các năm trong giai đoạn
1986-1992 trên chúng ta thấy tình hình kinh tế của nước ta từ năm 1988 đã có những
bước khả quan hơn, lạm phát đã giảm từ mức siêu lạm phát xuống còn hai chữ số, đặc biệt từ năm 1992 giảm xuống 17,6% và đến năm 1993 tỉ lệ lạm phát giảm xuống một chữ số là 5,2% Điều này cho thấy nước ta đã có những biện pháp tương đối có hiệu quả để kiềm chế và kiểm soát lạm phát cũng như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế