1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận Lễ hội Gầu tào

42 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 645,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số khái niệm Khái niệm về lễ và hội: Theo Giáo sư GS Nguyễn Duy Quý nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam từng phát biểu trong Hội thảo Khoa học và ễ hội truyền thống tron

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 4

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về lễ hội 4

1.1.1 Một số khái niệm 4

1.1.2 Đặc điểm của lễ hội truyền thống 5

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của lễ hội 6

1.1.4 Vai trò , ý nghĩa của lễ hội Gầu Tào 11

1.2 Nguồn gốc 12

1.2.1 Nguồn gốc của lễ hội 12

1.2.2 Nguồn gốc lễ hội Gầu Tào 13

1.3 Khái quát về huyện mù căng chải, Tỉnh Yên Bái .14

1.3.1 Khái quát về vị trí, đặc điểm tự nhiên và xã hội 14

* Tiểu kết : .18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LỄ HỘI GẦU TÀO 19

2.1.Công tác chuẩn bị 19

2.2 Các hoạt động trong Phần lễ 19

2.2.1 Dựng cây nêu 19

2.2.2 Mâm lễ 20

2.2.3 bài cúng 20

2.3 Các hoạt động trong Phần hội 21

2.3.1 Trò chơi dân gian 21

2.3.2 Trò chơi mang tính nghệ thuật 26

* Tiểu kết : 30

CHƯƠNG 3 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI GẦU TÀO 32

3.1 Gía trị tiêu biểu 32

3.2 Xu hướng biến đổi trong lễ hội Gầu Tào ở mù cang chải, tỉnh Yên Bái 32

3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 35

3.3.1 Kiến nghị 35

3.3.2 Đề xuất 36

* Tiểu kết : 37

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

PHỤ LỤC 41

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kếtcộng đồng tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao tồn, kế thừa, phát huynhững giá trị văn hóa Văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể Việt Nam làquốc gia đa dân tộc, trong đó, dân người, đứng hàng thứ 6 (Kinh: 73.594.427, Mường:1.268.963, Khơ me: 1.260.640) trong Nền văn hóa Hmông, trong đó, văn học dân giannhiều thách thức, thậm chí có bộ phận bị mai một trong xu thế cơ chế thị trường, hộinhập quốc tế hiện nay Nghiên cứu đề tài này là huy, giữ gìn bản sắc văn hóa cổ truyềndân tộc

Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, là 1 trong 13 tỉnh vùng núiphía Bắc, nằm giữa 2 vùng Đông Bắc và Tây Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phíaNam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và phía Tâygiáp tỉnh Sơn La Yên Bái có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện)với tổng số 180 xã, phường, thị trấn (159 xã và 21 phường, thị trấn); trong đó có 70 xãvùng cao và 62 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh

tế - xã hội của Nhà nước, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bàoMông chiếm trên 80%) nằm trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước Yên Bái là đầu mối và trung độ của các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đườngthuỷ từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai, là một lợi thế trong việc giao lưu vớicác tỉnh bạn, với các thị trường lớn trong và ngoài nước

Đặc biệt, dân ca Hmông rất phong phú, với xin, tiếng hát tang ma, tiếng háttình yêu, tiếng “Tiếng hát tình yêu” (dân ca Gầu plềnh; viết tắt: giá trị văn học nghệthuật độc đáo và vai trò quan nhất là tại Lễ hội Gầu tào , nhất là sự biến nên rất cầnđược nghiên cứu cụ thể, sâu sắc hơn

Và đề tài hấp dẫn, phong phú Nó nói lên khát vọng được vui, được chơi saunhững tháng ngày làm việc mệt nhọc của mọi người thể hiện được các đặc sắc trongcác bộ trang phục, giống như một bông hoa khoe sắc của mình vậy và nó phù hợp vớingành học quản lý văn hóa nócũng rất thuận lợi và ở địa phương tôi và tôi đã đượckhảo sát thực tế trong suốt quá trình tôi lớn lên tại đây

Với tất cả những lý do trên tôi đã chọn đề tài tìm hiểu về lễ hội Gầu Tào huyện

mù căng chải, tỉnh Yên Bái làm bài tiểu luận kết thúc học phần quản lý lễ hội và sự

Trang 3

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Để tìm hiểu vấn đề này tôi tìm đọc Văn hóa dân tộc Mông của ông Giàng Seo

Gà Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Nghệ nhân Sùng Seo Trư

Qua 1000 câu hỏi về văn hóa Mông

Dân tộc H,MÔNG ở việt nam : Nguồn gốc tộc người về dân số ở trang Dòngsông không trở lại

Truyện cổ H'mông và Sắc diện văn hóa dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc củaNhà xuất bản giáo dục Việt Nam

Trần hữa sơn về Văn hóa H'mông

Những tài liệu trên đã cung cấp thông tin cho tôi làm đề tài Tuy nhiên dựa vàokhảo sát thực tế nên tôi đã chọn đề tài này

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu

Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng, đặc điểm vai trò của lễ hội Gầu tàonhằm đưa ra những giải pháp, kiến nghị phát huy những giá trị tích cực và khắc phụcnhững hạn chế trong lễ hội Gầu Tào ở mù căng chải hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích, bài nghiên cứu cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:Làm rõ khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm và vai trò của lễ hội Gầu Tào ở mùcăng chải

Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá và đề ra một số nhận xét trong lễ hội Gầu Tào ở

mù căng chải

Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm pháp huy những mặt tích cực cũng nhưhạn chế của lễ hội Gầu Tào nói chung về lễ hội Gầu Tào ở mù căng chải nói riêng

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Lễ hội Gầu Tào ở mù căng chải năm 2016 và 2017

Trang 4

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bằng nghiên cứu sử dụng các phương pháp : điều tra khảo sát, thống kê và tổnghợp, lịch sử, để đạt được mục đích và thực hiện nhiệm vụ một bài nghiên cứu đã đặtra

7 BỐ CỤC ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận,Tài liệu tham khảo, phụ lục và nội dung chínhcủa bài nghiên cứu bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung

Chương 2: Thực trạng lễ hội Gầu Tào

Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Gầu Tào ở huyện mù căng chảitỉnh Yên Bái

Trang 5

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về lễ hội

1.1.1 Một số khái niệm

Khái niệm về lễ và hội:

Theo Giáo sư (GS) Nguyễn Duy Quý nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã

hội Việt Nam từng phát biểu trong Hội thảo Khoa học và ễ hội truyền thống trong đời

sống xã hội hiện đại, tổ chức vào thángg 3 năm 1993): “ lễ hội truyền thống là một xã hội sinh hoạt tổng hợp bao gồm có mặt tinh thần và vật chất, thời gian, tĩn ngưỡng

và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng vào đời thường”

Bên cạnh đó, khi đề cập đến lý thuyết lễ hội, GS Trần Ngọc Thêm và các

cộng sự lại cho rằng:"Lễ hội là sự tổng hợp các linh thiêng và các trần thế, nhằm thể hiện lòng biết ơn và bài tỏ nguyện vọng cùng sự cầu mong của mình đối với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên trong vũ trụ; phân bố theo không gian; các khuynh hướng thiiên về tinh thần; mang đặc tính mở (luôi cuốn mọi người từng đến); mục đích nhằm duy trùy quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong làng xã “.

Mặt khác, học giả Nguyễn Duy Hinh lại cho rằng:Lễ hội không phải là mê ttín dị đoan mà là một cách ứng xử thông minh, khôn ngoan của con người đối với những sức mạnh vô hình hay hữu hình mọi con người không thể lý giải được・

Nhà nghiên cứu Huỳnh Quốc Thắng đã từng đưa ra nhận định:"Lễ hội cổ truyền, một loại hình sinh hoạt cộng đồng đang chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa và xã hội Việt Nam không chỉ bởi nơi đây đã có số lượng đông đảo người tham gia một cách làm việc nơi đâ đang bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc có thể xây dựng thành những trọng điểm du lịch (main destination) của các địa phương, lẫn quốc gia!・

Tuy có cách tiếp cận khác nhau, song thực tiễn cho thấy các nhà nghiên cứu đềuthống nhất việc lễ hội là sản phẩm cấu thành từ hai hoạt động (hay thành tố): LỄ vàHỘI Lễ ban đầu, lễ hội thường là lễ hội nguyên hợp, tức chưa có sự phân lập thànhphần lễ và phần hội cũng như các hoạt động văn hóa khác, chúng được diễn ra đồngthời, hòa quyện với nhau Điều nói lê dễ hiểu, bởi lẽ con người là động vật bậc cao,biết tư duy nhờ vào nhận thức Ngay từ thuở hồng hoang, con người đã nhận thứcđược sự nhỏ bé của mình trước vũ trụ bao la và thiên nhiên kỳ vỹ Vì vậy, con người

Trang 6

xem những hiện tượng tự nhiên ấy là sự linh thiêng và phi phàn Nguyuyên do đóngoài việc làm cơ sở để lễ hội được hình thành, nó cũng là điều kiện để tín ngưỡng vàthời gian sơ khai ra đời và thông qua lễ hội, đặc biệt là phần lễ, con người xem đó làphương tiện, là cơ hội để con người có thể giao tiếp với thần linh và các đấng siêukhhác Về sau này, khi xã hội cũng phát triển, trình độ tư duy của con người cũng cao

hơn thành các nghi lễ cũng tế cũng phải tiến triển theo, và dần dần trở thành hệ thống nghi lễ rất phức tạp, đa dạng và phong phú.

1.1.2 Đặc điểm của lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống là những mốc đánh dấu chu trình đời sống sản xuất và đờisống xã hội của mỗi cộng đồng người, mà một khi cái mốc mang tính lễ nghi đó chưađược thực hiện thì các quá trình sản xuất và quá trình xã hội đó sẽ bị đình trệ, sự sinhtồn và các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ

Lễ hội truyền thống gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, nó mangtính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trầngian, trần tục Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, nhưcác trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính

“tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng,như tôn sùng

Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp,một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diệnkhác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục,giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sânkhấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán…

Chủ thể của lễ hội truyền thống là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng đồngnghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộngđồng quốc gia dân tộc

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của lễ hội

1.1.3.1.Vai trò

Có thể nói rằng, lễ hội là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần củangười dân Việt Nam Mỗi lễ hội mang bản sắc văn hóa đặc trưng, gắn liền với nhữngđặc điểm cụ thể về địa lý, tập quán, nghi lễ, ẩm thực, tín ngưỡng, Vì vậy, nếu coi mỗi

lễ hội là một màu sắc thì đất nước ta là một bản hòa ca của những sắc màu

Trang 7

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vậtchất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hoá nghệ thuật, tâm linh và đời thường… là một sinhhoạt có sức hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội Như vậy lễhội là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả,hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước,hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần lànhững hoạt động có tính chất giải trí Lễ hội là một phong tục lớn, một nét văn hoákhông thể thiếu trong đời sống của người Việt Đó là lý do thường diễn ra ở các vùngquê nơi có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, có những công trình kiến trúc mang dấu ấncủa từng thời đại như: Đình, Chùa, Đền, Miếu Lễ hội truyền thống ở Việt Namthường được tổ chức vào mùa xuân, mùa thu, khi mùa màng đã kết thúc, nông dân cóthời gian nghỉ ngơi

Trong lễ không thể thiếu phần hội vì hội là để vui chơi, không bị ràng buộc bởinhững lễ nghi, tôn giáo, tuổi tác Sau những tháng ngày làm ăn lam lũ, dân làng chờđón ngày hội như chờ đón một tin vui Họ đến với hội hoàn toàn tự nguyện, ngoài vuichơi giải trí, gặp gỡ bạn bè, mọi người đi dự hội đều cảm thấy như mình được thêmmột cái gì đó có thể là điều may Thứ quyền lợi vô hình ấy làm cho những người đi dựhội thêm phần phấn chấn Chính vì vậy, lễ hội bao giờ cũng có đông người đến dự.Tuy nhiên quy mô của từng hội là khác nhau Có hội chỉ diễn ra ở một vài làng nhưngcũng có hội mang tính quốc gia như: hội Đền Hùng, hội Chùa Hương, hội Hoa Lư trong quá trình diễn ra lễ hội đã làm tái hiện lại phong tục tập quán, tín ngưỡng vănhoá và những sự kiện lịch sử quan trọng Lễ hội chính là một pho sử khổng lồ

Bên cạnh những lễ hội thuần tuý mang ý nghĩa về kinh tế như lễ hội Chùa Dâucầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi còn có những lễ hội mang ý nghĩa lịch

sử như: Hội Đền Hùng, hội Gióng

Ngoài những lễ hội trên còn có những lễ hội mang ý nghĩa văn hoá giải trí nhưhội lim, hát quan họ, hội hát xoan, hát đúm, hát văn, hát chèo

1.1.3.2 Ý nghĩa

Lễ hội cổ truyền có các ý nghĩa sau:

Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng:

Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể làcộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo(hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng - quôc tế) đến cộng

Trang 8

đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh củacộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng.

Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, nhưgắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợiích kinh tế (công hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêunhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sángtạo và hưởng thụ văn hoá (cộng cảm)… Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạonên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng

Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng khẳngđịnh “cái cá nhân”, “cá tính” của mình thì không vì thế cái “cộng đồng” bị phá vỡ, mà

nó chỉ biến đổi các sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng,

có nhu cầu cố kết cộng đồng Trong điều kiện như vậy, lễ hội vẫn giữ nguyên giá trịbiểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cố kêt cộng đồng ấy

Giá trị hướng về cội nguồn:

Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn Đó là nguồn cội tự nhiên màcon người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồngnhư dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá Hơn thế nữa, hướng vềnguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ nguồn”, “ănquả nhớ người trồng cây” Chính vì thế, lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương - dulịch

Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hoá, toàn cầuhóa, con người bừng tỉnh về tình trạng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên, môitrường; với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hoá độc đáo đang bị mai một Chínhtrong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết con người càng có nhucầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hoà mình vào với môi trườngthiên nhiên; trở về, tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hoácủa mình trong cái chung của văn hoá nhân loại Chính nền văn hoá truyền thống,trong đó có lễ hội cổ truyền là một biểu tượng, có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy Đócũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội có thể đáp ứng nhu cầu củacon người ở mọi thời đại

Giá trị cân bằng đời sống tâm linh:

Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sốngtâm linh Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng - chân thiện

Trang 9

mỹ - cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó có niềm tin tôn giáotín ngưỡng Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh, tuy nhiên khôngphải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng Chính tôn giáo tín ngưỡng, cácnghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó

là “cuộc đời thứ hai”, đó là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu

Xã hội hiện đại với nhịp sống công nghiệp, các hoạt động của con người dườngnhư được “chương trình hoá” theo nhịp hoạt động của máy móc, căng thẳng và đơnđiệu, ồn ào, chật chội nhưng vẫn cảm thấy cô đơn Một đời sống như vậy tuy có đầy

đủ về vật chất nhưng vẫn khô cứng về đời sống tinh thần và tâm linh, một đời sống chỉ

có dồn nén, “trật tự” mà thiếu sự cởi mở, xô bồ, “tháo khoán” Tất cả những cái đóhạn chế khả năng hoà đồng của con người, làm thui chột những khả năng sáng tạo vănhoá mang tính đại chúng Một đời sống như vậy không có “thời điểm mạnh”, “cuộcsống thứ hai”, không có sự “bùng cháy” và “thăng hoa”

Trở về với văn hoá dân tộc, lễ hội cổ truyền con người hiện đại dường nhưđược tắm mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hoá dân tộc, tận hưởng nhữnggiây phút thiêng liêng, ngưỡng vọng những biểu tượng siêu việt cao cả - chân thiện

mỹ, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng, con người cóthể phô bày tất cả những gì là tinh tuý đẹp đẽ nhất của bản thân qua các cuộc thi tài,qua các hình thức trình diễn nghệ thuật, cách thức ăn mặc lộng lẫy, đẹp đẽ khác hẳnngày thường Tất cả đó là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống hiện thực, vượt lên trênđời sống hiện thực Nói cách khác, lễ hội đã thuộc về phạm trù cái thiêng liêng của đờisống tâm linh, đối lập và cân bằng với cái trần tục của đời sống hiện thực

Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa:

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng của nhân dân

ở nông thôn cũng như ở đô thị Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng ra tổ chức, chiphí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng và hưởng thụ các giá trị vănhoá và tâm linh, do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bảnsâu sắc Đặc biệt trong “thời điểm mạnh” của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hoàtrong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngàythường dường như được xoá nhoà, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trịvăn hoá của mình

Điều này có phần nào đối lập với đời sống thường nhật của những xã hội phát

Trang 10

triển, khi mà phân công lao động xã hội đã được chuyên môn hoá, nhu cầu sáng tạo vàhưởng thụ văn hoá của con người đã phần nào tách biệt.

Đấy là chưa kể trong xã hội nhất định, một lớp người có đặc quyền có thamvọng “cướp đoạt” các sáng tạo văn hoá cộng đồng để phục vụ cho lợi ích riêng củamình Đến như nhu cầu giao tiếp với thần linh của con người cũng tập trung vào mộtlớp người có “khả năng đặc biệt” Như vậy, con người, đứng từ góc độ quảng đại quầnchúng, không còn thực sự là chủ thể của quá trình sáng tạo và hưởng thụ các giá trịvăn hoá một cách bình đẳng nữa Xu hướng đó phần nào xói mòn tinh thần nhân bảncủa văn hoá, làm tha hoá chính bản thân con người Do vậy, con người trong xã hộihiện đại, cùng với xu hướng dân chủ hoá về kinh tế, xã hội thì cũng diễn ra quá trìnhdân chủ hoá về văn hoá Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội cổ truyền

là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trịvăn hoá ấy

Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa:

Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá dân tộc, mà còn là môitrường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hoá dân tộc ấy

Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội, màtrong chu kỳ một năm, với bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, để rồi “xuân thunhị kỳ”, “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, cuộc sống nơi thôn quê vốn tĩnh lặng

ấy vang dậy tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đình chùa mở hội Nơi đó, conngười hoá thân thành văn hoá, văn hoá làm biến đổi con người, một “bảo tàng sống”

về văn hoá dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác Tôi đã nhiều lần tự hỏi, nếu như không có nghi lễ và hội hè thì các làn điệu dân

ca như quan họ, hát xoan ; các điệu múa xanh tiền, con đĩ đánh bồng, múa rồng, múalân ; các hình thức sân khấu chèo, hát bội, rối nước, cải lương ; các trò chơi, tròdiễn: Đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải, đánh phết, trò trám sẽ rađời và duy trì như thế nào trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua Và như vậy thìdân tộc và văn hoá dân tộc sẽ đi đâu, về đâu, sẽ còn mất ra sao?

Đã ai đó từng nói làng xã Việt Nam là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh vănhoá truyền thống của dân tộc nhất là trong hoàn cảnh bị xâm lược và đồng hoá Trongcái làng xã nghèo nàn ấy, ngôi đình mái chùa, cái đền và cùng với nó là lễ hội với

“xuân thu nhị kỳ” chính là tâm điểm của cái nôi văn hoá đó Không có làng xã Việt

Trang 11

Nam thì cũng không có văn hoá Việt Nam.

Điều này càng cực kỳ quan trọng trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá, hiệnđại hoá và toàn cầu hoá hiện nay, khi mà sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy vănhoá truyền thống dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, thì làng xã và lễ hội ViệtNam lại gánh một phần trách nhiệm là nơi bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc vănhoá dân tộc

1.1.4 Vai trò , ý nghĩa của lễ hội Gầu Tào

Trong quá trình phát triển, như đã nói trên lễ hội Gầu Tào đã trở thành sảnphẩm tinh thần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của dân tộc Mông Nó chiếmmột vị trí rất quan trọng trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung vàdân tộc Mông nói riêng Đó là sản phẩm không thể thiếu trong mỗi dịp tết đến ở hầuhết các vùng Yên Bái, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Nó góp phần làmcho dân tộc Mông gìn giữ bản sắc riêng của mình, đồng thời giúp giao lưu văn hóa giữa cácdân tộc anh em với nhau trong cùng một tỉnh, huyện

Ví dụ như trong những cuộc thi tổ chức văn nghệ dân gian, các dân tộc vớinhững tiết mục hát giao duyên và cách biểu hiện tình yêu của họ để các dân tộc họchỏi của nhau, góp phần thúc đẩy hoàn thiện về những sản phẩm tinh thần đó và quantrọng hơn là thúc đẩy tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em

Nhưng chúng ta thấy rằng trong gia đoạn hiện nay, với sự phát triển của đấtnước với những bài nhạc trẻ về tình yêu phong phú, hơn nữa các bài nhạc trẻ của dântộc Mông được truyền thụ từ các nước như Mỹ, Trung Quốc, Lào… vào Việt Nam,các thế hệ trẻ hầu như không còn quan tâm đến sự phát triển về hát giao duyên của dântộc mình mà lại chạy theo những bài “nhạc trẻ” nói trên Hơn nữa, hiện nay ở nhữngvùng sâu, vùng xa các dân tộc với sự tăng dân số cũng như diện tích đất ngày càng thuhẹp mà đời sống của họ chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp, dẫn đến sự đói nghèo làkhông thể tránh khỏi Theo triết học Mác – Lê nin, quan trong nhất ở con người là “ăn,mặc, ở” Khi con người chưa có đủ ăn, chưa đủ mặc thì con người đâu còn thời gian đểnghĩ đến những sản phẩm tinh thần đó Và sự hiểu biết về các lễ hội hiện nay khôngnhiều, hiếm khi người ta mới tìm thấy một ai đó biết biết rõ nguồn gốc và cuộn nguồncủa nó mà chủ yếu là những người già trong bản

Lễ hội Gầu Tào không chỉ là nơi để thỏa mãn nhu cầu tâm linh mà còn là nơi đểngười Mông thỏa mãn nhu cầu tinh thần, thông qua các hoạt động vui chơi, giải trí

Trang 12

lành mạnh.

1.2 Nguồn gốc

1.2.1 Nguồn gốc của lễ hội

Lễ hội là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta có hàng ngàn năm lịch sử, từ thờikhai sinh, lập địa Lễ hội thể hiện lòng tri ân của nhân dân với truyền thống chung củadân tộc, ôn lại lịch sử và ghi nhận công đức của các bậc tiền nhân đã có công dựngnước và giữ nước, bảo vệ nền độc lập của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử

Lễ hội còn mang truyền thống đặc trưng của mỗi dân tộc, vùng miền, phản ánhnhững nét đẹp văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc, tôn giáo, tính nhân văn mà mỗidân tộc, tôn giáo, vùng miền vốn có Lễ hội còn mang tính giáo dục tư tưởng, đạo đứclối sống, giáo dục lòng yêu nước, yêu quê hương, tự hào dân tộc, xây dựng tinh thầnđoàn kết trong cộng đồng Đến với lễ hội mọi người còn được tham dự các trò chơigiải trí, các chương trình liên hoan văn nghệ, giải toả tư tưởng và tâm linh, nhắc nhởmọi người phải sống sao có tâm, có đức, cầu mong cho đất nước được bình an, bảnthân và gia đình được may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống, nhắc nhở mọi ngườisống phải có ý thức văn hoá, có trách nhiệm với địa phương và đất nước, đóng gópcông sức xây dựng, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, nơi thờ tự, công đức xây dựngcác công trình văn hoá, xã hội, đẩy mạnh phát triển kinh tế của địa phương, giúp đỡngười nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và bất hạnh Vì vậy lễ hội có ý nghĩa hếtsức quan trọng trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đạo đức lối sống củamỗi người

Lễ hội ở nước ta rất đa dạng và phong phú, tuỳ theo các dân tộc, các vùng miền,đặc trưng riêng của mỗi địa phương, mỗi nơi có nội dung và cách tổ chức lễ hội khácnhau, nhưng tựu chung bao giờ trong lễ hội cũng có hai phần: phần lễ và phần hội,phần lễ là lý do tổ chức lễ hội, ôn lại truyền thống lịch sử, công lao của các bậc tiềnnhân (bao gồm: lễ thánh, lễ thần, lễ phật, lễ các danh nhân mà địa phương thờ phụngv.v… ) Nhiều nơi gắn tế với lễ bằng những hình thức khác nhau như dâng hương,dâng lễ vật, đồ thờ phụng, vàng, mã Tổ chức phần lễ thường do chính quyền địaphương, ban quản lý lễ hội, hoặc dòng họ, hoặc đại diện những người có chức sắc, có

uy tín, già làng, trưởng bản tham gia ban tổ chức Phần hội dưới sự điều hành củangười chủ lễ, tổ chức những trò chơi dân gian, đặc trưng của dân tộc, vùng miền, địaphương, gắn với các trò chơi dân gian trong phần hội còn có thể những hoạt động văn

Trang 13

hoá, văn nghệ, thể thao, lao động sản xuất, sinh hoạt và đời sống truyền thống của địaphương.

1.2.2 Nguồn gốc lễ hội Gầu Tào

Lễ hội mở ra nhằm một trong hai mục đích cầu phúc hoặc cầu mệnh Một giachủ nào đó không có con, thưa con hoặc sinh con một bề, sẽ làm lễ nhờ thày cúng bóixin cho mở hội Gầu tào nhằm cầu mong có con – đó là hội cầu phúc Một gia chủ khác

bị ốm đau bệnh tật, con cái yếu ớt, thậm chí có con bị chết, mùa màng, vật nuôi lụidần, cũng nhờ thầy cúng bói xin mở hội Gầu tào – đó là hội cầu mệnh

Ngay từ cuối tháng chạp, khi được thầy cúng bói xin mở hội, gia đình mở hộicầu phúc phải nhờ anh trai, chị dâu (những người có con cả trai, cả gái) chặt cây maicao to, không cụt ngọn, ngọn dài có lá về dựng nêu chủ cầu mệnh, mong mọi ngườitrong gia đình đều được khỏe mạnh xin đuổi hết bệnh tật ốm đau, làm ăn tấn tới thìphải cử hai thanh niên khỏe mạnh trong dòng họ chặt cây mai về dựng nêu

Lễ dựng nêu được tổ chức từ ngày 26 đến ngày 29 tết Địa điểm trồng cây nêu(cũng là địa điểm mở hội) một quả đồi gần đường đi, tương đối bằng phẳng, đánh bớtgốc cây, dọn sạch các bụi cây lúp xúp Cây nêu được chôn ngay trên đỉnh đồi Nếu lễhội được chia làm ba năm (tổ chức suốt ba năm liền) thì mỗi năm chỉ dựng một câynêu bằng cây mai Nhưng nếu lễ hội chỉ tổ chức gộp một lần thì phải chôn dựng ba câynêu theo hình tam giác cân ở giữa đỉnh đồi Trên gần ngọn nêu treo 3 miếng vải lanhmàu đen, trắng, đỏ khác nhau Phía dưới sợi vải, treo lủng lẳng bầu rượu ngon và mộtdây tiền giấy bằng giấy bản Khi dựng xong cây nêu, gia chủ còn làm lễ cúng ở ngaychân cột nêu mời tổ tiên các thần phù hộ cho có con, mọi thành viên đều khỏe mạnh,bằng an kế tục việc làm ăn, làm mặc theo dòng họ Khi cây nêu được dựng lên, cáclàng gần, làng xa biết rằng tết năm nay sẽ mở hội Gầu tào Mọi người nô nức chuẩn bị

dự hội

Thời gian mở hội thường trong khoảng từ ngày mồng một đến ngày 15 thánggiêng Nếu hội tổ chức 3 năm liền thì mỗi năm tổ chức 3 ngày liền, hội làm gộp mộtnăm sẽ tổ chức 9 ngày Sau phần cúng khai hội của thầy cúng, mọi người cùng thamgia các cuộc thi trò chơi.Thời gian mở hội thường trong khoảng từ ngày mồng một đếnngày 15 tháng giêng Nếu hội tổ chức 3 năm liền thì mỗi năm tổ chức 3 ngày liền, hộilàm gộp một năm sẽ tổ chức 9 ngày Sau phần cúng khai hội của thầy cúng, mọi ngườicùng tham gia các cuộc thi trò chơi

Trang 14

1.3.Khái quát về huyện mù căng chải, Tỉnh Yên Bái

1.3.1 Khái quát về vị trí, đặc điểm tự nhiên và xã hội

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Mù Cang Chải là huyện vùng cao nằm ở phía tây của tỉnh Yên Bái, PhíaBắc giáp huyên Văn Bàn,tỉnh Lào Cai; phía Nam giáp huyện Mường La,tỉnh Sơn La;phía Đông giáp huyện Văn Chấn; phía Tây giáp huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu

1.3.1.2 Điều kiện tự nhiên

* Địa hình:

Địa hình gồm nhiều dãy núi liên tiếp nhau chạy theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam, giữa các dãy núi là các khe suối và thung lũng nhỏ như Nậm Có, Nậm Khắt MùCang Chải có những đỉnh núi cao như: Púng Luông (2.985m), Phu Ba (2.512m), Mồ

Dề (2.100m)… đèo Khau Phạ (2.100m)

Trên địa bàn Mù Cang Chải có rất nhiều khe suối với tổng chiều dài khoảng360km, tất cả đều bắt nguồn từ dãy Hoàng Liên Sơn, suối Nậm Kim chảy theo hướngĐông Nam - Tây Bắc đổ xuống sông Đà có tổng chiều dài là 75km Suối Nang Khú(xã Chế Tạo) dài 35km, suối Ta Sa (xã Nậm Có) dài 28km, suối Tư Sang (xã Nậm Có)

dài 25km, suối Lao Chải dài 27km, suối Nậm Khắt dài 20km, suối Đình Hồ dài 12km.

* Khí hậu:

Mù Cang Chải có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa, mùa khô hanh

và mùa mưa, nhiệt độ bình quân trong năm là 18,5oC

* Tiềm năng kinh tế:

Trên địa bàn Mù Cang Chải có 2 trạm thuỷ điện nhỏ là Nậm Mơ (xã Hồ Dề) vàthuỷ điện Nậm Kim (xã Kim Nọi)

Mù Cang Chải hiện có khoảng 80.000 ha rừng, trong đó có 20.293 ha rừng già

và rừng nguyên sinh, 12.863 ha rừng thông, hơn 2.000 ha rừng sơn trà…

Ngoài thế mạnh là rừng, đất đai ở Mù Cang Chải còn thích hợp trồng các loạicây như mận, các loại dược liệu (đẳng sâm, hà thủ ô, sa nhân…) và chăn nuôi trâu, bò,

dê, lợn Mù Cang Chải có Quốc lộ 32 chạy qua, ngoài ra còn có 7 tuyến đường liênhuyện và 251 km đường dân sinh

* Tiềm năng du lịch:

Ở Mù Cang Chải có khu bảo tồn các loài sinh vật cảnh (khu vực xã Chế Tạo vàvùng ngoại vi phía Bắc, phía Đông các xã Dế Su Phình, Púng Luông, Nậm Khắt) với

Trang 15

22 loăi bò sât, lưỡng cư, 127 loăi chim, riíng họ khiếu có tới 41 loăi (khướu vằn,khướu đuôi đỏ, khướu đất Pigmi, khướu lùn đuôi đỏ, khướu măo cổ hung, khướu mỏdẹt văng,… đặc biệt lă loăi niệc cổ hung Aceros Nipalensis).

Ngoăi ra, trong khu bảo tồn còn có 53 loăi thú như: cầy vằn, nhím đuôi ngắn, cu

li nhỏ, chó sói, khỉ mốc, lợn lòi, nai, khỉ mặt đỏ, sơn dương, gấu, ngựa, bâo gấm, bâolửa, bâo hoa mai, voọc xâm…

Mù Cang Chải còn hấp dẫn khâch thập phương nhờ 500 ha ruộng bậc thang(trong đó hơn 47% tập trung ở 3 xê: La Pân Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Su Phình), năm

2007, ruộng bậc thang ở 3 xê năy đê được Bộ Văn hóa, Thể thao vă Du lịch xếp hạng

lă di tích danh thắng cấp quốc gia

1.3.1.3 Đặc điểm xê hội

Huyện Mù Cang Chải có tổng số dđn lă 48.656 người, trong đó 90% lă dđn tộcMông còn lại lă dđn tộc Thâi, Kinh vă câc dđn tộc khâc Sự đa dạng về dđn tộc tạo níncho Mù Cang Chải có một nền văn hóa phong phú, mang đậm bản sắc dđn tộc,đó lă sựgiao thoa văn hóa giữa câc dđn tộc trong toăn huyện

Về văn hóa của người Mông có những nĩt rất đặc sắc như nhă ở của ngườiMông nền đất Cột vă khung nhă bằng gỗ, tường lịa vân mâi lợp gỗ pơmu chẻ mỏng.Khi câc gia đình người Mông dựng nhă đều lăm lễ “ Dựng thần cửa” với ý nghĩa bảo

vệ con người vă tăi sản gia đình

Tín ngưỡng truyền thống của người Mông lă thờ đa thần Họ thờ cúng tổ tiín lẵng bă, cha mẹ Thờ cúng tổ tiín được coi lă nghi lễ tín ngưỡng có tính cộng đồngmạnh mẽ, có tâc dụng bảo tồn vă gìn giữ cội nguồn văn hóa truyền thống

Người Mông ăn tết văo đầu thâng 12 đm lịch (trước tết Nguyín đân cổ truyền 1thâng) Hăng năm văo ngăy 30 tết, họ đóng 1 tập giấy bản văo vâch, khi mổ gă cúng,lấy lông gă chấm văo tiết dính lín trín tập giấy đó Người Mông quan niệm thần nhă lăbiểu tượng cho sự đầy đủ, giău sang Ngăy tất niín, họ trang trọng lăm lễ cúng thầnnhă, để tỏ rõ sự biết ơn vă cầu xin thần nhă phù hộ cho một năm mới tốt đẹp

Trong những ngăy tết, cộng đồng người Mông thường tổ chức đua ngựa, đânhquay, đẩy gậy, bắn nỏ, hội Gầu tăo, nĩm pao Thanh niín nam nữ ăn mặc đẹp, rủ nhau

đi chơi, thổi kỉn lâ, kỉn môi, nĩm pao, hât đúm Ngăy tết còn có ý nghĩa lă ngăy hộigiao duyín của câc đôi trai gâi

Người Thâi ở nhă săn, trong đó Thâi đen nhă chỉ có một cầu thang, hai đầu hồi

Trang 16

nhà có hai khau cút, họ thích mặc vải nhuộm chàm, vải đen, vải láng Nhà sàn ngườiThái trắng mái hình chữ nhật với những lan can chạy trước nhà, nơi thờ cúng thườngđược đặt ở góc nhà, trang phục của người phụ nữ Thái thường mặc áo sửa cỏm, nẹp áocài hai hàng khuy bạc hình bướm, ve sầu, nhện gọi là mắc pém rất đẹp, khoảng giữacạp váy và gấu áo được cuốn thắt lưng vải màu, đeo xà tích từ 4 đến 8 tua Kho tàngvăn hóa dân gian của người Thái khá phong phú Dân ca được thể hiện bằng các lànđiệukhắp, then, khắp chiêu, khắp páo xao

Trong các dịp hội xuân, hát gọi người yêu, hát đám cưới khắpxên cốn taitrong đám ma nhạc cụ sử dụng gồm các loại như pí piềng, pí tam láy, pí một lao.Múa xòe được truyền thụ qua nhiều thế hệ thường được tổ chức trong các ngày lễ hội.Các trò chơi như ném còn, đánh yến cùng các làn điệu hát giao duyên, hát đồng dao,được bảo tồn và phát huy

Trang 17

*Tiểu kết:

Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở ViệtNam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội Những năm gần đây,trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của nước ta, văn hóatruyền thống nói chung, trong đó có lễ hội truyền thống đã được phục hồi và phát huy,làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những mặttích cực, tốt đẹp trong phục hồi và phát huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hộiđương đại, thì cũng không ít các vấn đề nảy sinh khiến xã hội cần phải nhìn nhận lại

và tìm cách khắc phục để những mặt tinh hoa của lễ hội cổ truyền được đẩy mạnh vàphát huy, khắc phục dần các hạn chế, tiêu cực Và bao giờ cũng thế, mọi hành độngcủa con người đều bắt đầu từ nhận thức, chỉ khi chúng ta có nhận thức đúng về lễ hội

cổ truyền thì việc phục hồi và phát huy nó trong đời sống xã hội đương đại mới manglại hiệu quả mong muốn

Mù Cang Chải có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời Gần 90% dân

số ở đây là người Mông, còn lại là người Thái, người Kinh.Người Mông ở Mù Cang Chải có 4 nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng); Mông Đu (MôngĐen); Mông Lình (Mông Hoa); Mông Si (Mông Đỏ) với truyền thống văn hóa đặc sắc.Đồng bào Mông thường cư trú ở những sườn núi cao từ 800 đến 1.700m, với kinhnghiệm làm ruộng bậc thang và một số nghề thủ công truyền thống như: nghề rèn đúc,

Người Mông có truyền thống văn hóa dân gian phong phú thể hiện trong làn điệu dân

ca như: tiếng hát tình yêu, cưới xin, ru con, lao động sản xuất…, các phong tục, lễ hộimang những nét đặc sắc riêng của đồng bào Ngoài ra, nơi đây còn lưu giữ được mộtkho tàng truyện cổ về các tục lệ, lịch sử tộc người, văn hóa tộc người thể hiện tinh thầnthượng võ của cha ông được truyền từ đời này qua đời khác

Người Mông ăn tết vào đầu tháng 12 âm lịch (trước tết Nguyên đán cổ truyền 1tháng) Trong những ngày tết, cộng đồng người Mông thường tổ chức đua ngựa, đánhquay, đẩy gậy, bắn nỏ, hội Gầu tào, ném pao Thanh niên nam nữ trang phục đẹp, rủnhau đi chơi, thổi kèn lá, kèn môi, ném pao, hát đúm Ngày tết còn có ý nghĩa là ngàyhội giao duyên của các đôi trai gái

Trang 18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LỄ HỘI GẦU TÀO

2.1.Công tác chuẩn bị

Lễ hội "Gầu Tào":

Là lễ hội tiêu biểu nhất của người Mông, với mục đích là cúng tạ trời đất đã bancho thôn bản, dòng họ, gia đình, sức khoẻ Lễ hội được tổ chức vào mùa xuân haynhững dịp nông nhàn do một gia đình hay một làng chủ trì và được tổ chức trên mộtbãi đất rộng quanh làng, hay một nương ngô đã thu hoạch xong Trước ngày hộiTrưởng bản thông báo cho các hộ gia đình trong bản biết và thông báo cho các hộ giađình các dân tộc khác cùng sống trong khu vực đến tham gia ngày hội với dân bản

Từ sáng sớm người dân trong bản đều mặc bộ trang phục truyền thống mới nhấtcủa mình, người con gái mang ô, người con trai mang khèn đến tập trung ở khu vựcdiễn ra lễ hội cùng biểu diễn thi tài

việc tổ chức lễ hội do một gia đình đứng ra nhưng có sự giúp đỡ của anh em,

họ hàng, những người gà làng, trưởng bản Gia đình sẽ phải nhờ một người có uy tín,kinh nghiệm là chủ lễ Người chủ lễ sẽ cùng gia đình chọn một người làm chủ cúng;một đội làm nhiệm vụ bảo vệ lễ hội; một đội phục vụ nấu ăn phục vụ anh em về tham

dự lễ hội Lễ hội Gầu Tào thường được tổ chức ở những khu vực đất đai bằng phẳng,rộng rãi, có thể chứa được nhiều người tham gia, thường là tổ chức trên một quả đồi.Trước ngày diễn ra lễ hội, gia đình cử người dựng cây nêu để báo hiệu cho dân làngbiết là năm nay ở địa điểm này tổ chức Lễ hội Gầu Tào để mọi người rủ nhau đến dựhội, đồng thời gia đình cử người đi mời anh em ở xa về dự lễ với gia đình Mọi ngườitrong làng biết tin cũng tự thông báo cho nhau để về xem lễ hội

Dịch: Hôm nay là ngày lành tháng tốt, được sự tín nhiệm của bà con dân bản tôi

Trang 19

xin chọn địa điểm này để cắm cây nêu mở hội tại trên quả đồi này để xin phép các vịthần tổ chức mở hội Gầu Tào tại đây, cũng là thông báo cho dân bản làng xa, làng gầncùng biết đến tham sự và cũng là dịp để người người, nhà nhà đến cầu may, cầu phúccho gia đình làng bản mình lộc nhiều phúc lớn Khi cây nêu đã dựng xong: bản làng cómột mâm lễ đặc dưới cây nêu để cúng thần linh và tổ tiên, trời đất.

2.2.2 Mâm lễ [Phụ lục 02]

Bao gồm (một thủ lợn, một đĩa xôi, một chai rượu, bốn cái bát con, bốn cáichén, bốn cái thìa): đây là lễ vật dâng cầu vận may, sức mạnh thể hiện ở chỗ con vậtbốn chân ứng với bốn vị thần trời, đất, sông, núi Vào lễ, gia chủ đặt dưới chân cây nêumâm lễ và khấn tạ trời đất đã cho gia đình được toại nguyện

2.2.3 bài cúng [Phụ lục 03]

Bài 1 Hôm nay là ngày lành tháng tốt, tôi đại diện dân làng ở khu vực thị xã HàGiang xin khẩn cầu với trời đất, thần sông, thần núi nhờ sự che trở của các thần linh đãgiúp gia đình làng bản chúng tôi nhà nhà, làng làng sức khoẻ rồi rào, làm ăn, làm mặckhấm khá, con cái khoẻ mạnh, học hành giỏi giang Nên nay có mâm lễ này để dânglên các vị thần linh, mời các vị thần linh về ngự tại đây để nhận các lễ vật do dân làngdâng hiến

Bài 2 (Mời các vong hồn) hôm nay gia đình, làng bản có mở hội gầu tào tại đâynên mời các vong hồn bốn phương về nhận lễ vật của lễ và che trở cho lễ hội diễn rasuôn xẻ gặp điều may mắn

Bài 3 Hôm nay tại lễ hội này, dân làng xin dâng hiến các vị thần một con vậtbốn chân, cơm xôi, rượu ngô và tiền vàng, tiền bạc mời các vị đến nhận rồi phù hộ chodân làng nhà nào cũng con cái khoẻ mạnh, học giỏi, làm ăn khấm khá và gặt hái nhiềukết quả mới Phần hội Sau khi phần lễ kết thúc ông già làng tuyên bố: Hôm nay làng ta

tổ chức lễ hội Gầu Tào, các vị thần, ông bà tổ tiên đã về đây chứng giám cho chúng tarồi, chúng ta hãy vui lên, các chàng trai, cô gái Mông hãy cùng nhau trổ tài, thi sức đểxem ai là người bắn nỏ, cưỡi ngựa giỏi nhất, ai là người múa khèn hay nhất của bản ta

bà con ơi

2.3 Các hoạt động trong Phần hội

2.3.1 Trò chơi dân gian

2.3.1.1 Đánh cù [ Phụ lục 04 ]

Chiếc cù của trẻ em trai người Mông được làm từ loại gỗ cứng, đẽo tròn, đầu

Trang 20

dưới thu nhỏ dần thành nhọn, đầu trên môm xôi như quả chanh cắt lát hay dạng báncầu Chiếc cù của trẻ em trai người Dao cũng làm từ gỗ cứng, đẽo tròn, đầu dưới cũngthu dần thành nhọn, đầu trên thắt thành vai và để nhỏ một đoạn ngắn 2cm như chiếcnắp tích pha trà để làm nơi quấn dây

Khi chơi đánh cù, khu đất được chọn phải bằng phẳng Trẻ em thường dùng dâymềm như vải, dây sợi bông, dây sợi gai, dây sợi đay… khá chắc (riêng dây quấn cùcủa trẻ em người Mông có buộc thêm một đoạn cây cứng có đường kính khoảng 1,5

cm, dài 35 đến 40 cm), tùy từng loại cù, trẻ em quấn vào phần trên hay phần dưới củachiếc cù sau đó văng mạnh xuống vị trí đất đã định Khi văng cù, dây được đồng thờikéo mạnh ngược trở lại, tạo lực cho cù quay tít dưới mặt đất

Thông thường, chơi cù là một trò chơi tập thể, trẻ em trai phân ra làm hai nhóm,mỗi nhóm từ 1 đến 2 người hoặc nhiều hơn nhưng không quá 04 người mỗi bên

Trước khi vào cuộc chơi, hai bên cùng đồng thời văng mạnh cù của mình xuốngđất để chọn bên thắng bên thua; bên thua cù quay dừng trước cù của đối phương Khichọn được bên thua thì bên thua phải văng cù của mình xuống cho bên thắng bắt đầuđánh cù, rồi lần lượt bên thua cho cù mình quay trước để từng người bên nhóm thắngdùng cù của mình văng đập chiếc cù đang quay của đối phương dưới đất, nếu cù củangười nào dừng quay trước thì cù của người đó thua, và cứ như vậy lần lượt hết sốngười trong nhóm nếu thắng được đối phương thì đảo lại cho nhóm thứ nhất xuống cùtrước, mà nếu nhóm thứ hai vẫn tiếp tục thua thì vẫn phải xuống trước cho đối phươngtiếp tục đánh

Có thể nói, trò chơi dân gian đánh cù yêu cầu trước tiên người chơi phải có sứckhỏe, tinh mắt và phải tính toán nhanh chuẩn xác mới đánh trúng cù đang quay dichuyển vị trí liên tục của đối phương dưới mặt đất

2.3.1.2 Bắn nỏ [Phụ lục 05]

Hầu như cộng đồng nào cũng dùng cây nỏ trong săn bắn, trong đánh giặc giữlàng, giữ nước Thời bình thì thi đấu thể thao Đối với người đàn ông Mông, cây nỏcòn có một vị thế đặc biệt, cũng gần như chiếc răng hổ Đó là một biểu tượng của sứcmạnh và lòng dũng cảm

Thi bắn nỏ là trò chơi quen thuộc của trẻ em Mông ở Mù căng chải Các emnhỏ mới lên 7, lên 8 đã được bố dạy cho cách làm quen với chiếc nỏ Đến bất kỳ bản

Trang 21

Mông nào, cũng gặp cảnh tượng những trẻ em trai kè kè bên mình chiếc nỏ nhỏ Trẻ

em sức yếu chỉ căng dây được những chiếc cỡ nhỏ thôi Cứ tập tành dần dà qua thángngày, các em lớn lên cây nỏ được dùng cũng lớn dần Cho đến ngày trưởng thành, các

em cũng sẽ căng dây được những chiếc nỏ lớn nhất bản Những dịp rỗi rãi thường làsau giờ học, hay những buổi không lên rãy lũ trẻ lại túm tụm bên một mô đất cao, hoặccạnh cửa nhà tập bắn nỏ, tập vót tên

Những cuộc thi nho nhỏ thường diễn ra giữa những đứa trẻ bắn tài nhất Biabắn là chiếc lá rừng đắt cách vạch đứng thi dăm bảy sải tay Đôi khi bia ngắm bắn làmột cái cây nhỏ, tùy thuộc vào sự lựa chọn của bầy trẻ Mũi tên được đặt lên thân nỏrồi lao đi mang theo cả niềm hy vọng Tiếng reo hò vang dậy cả xóm núi khi một mũitên trúng đích Chưa được thì phải gắng để lần sau bắn cho chuẩn xác Qua thi thố,người thắng có thêm niềm động viên, kẻ bại cũng không vì thế mà chán cái nỏ Các

em lại âm thầm tập luyện để chờ đợt sau thi lại, thi cho kỳ thắng mới thôi Đó là cách

mà trẻ em púng luông rèn luyện kỹ năng để về sau có những tay bắn nỏ rất cừ

2.3.1.3 Nén pao [Phụ lục 06]

Đây là trò chơi có từ lâu đời và được truyền lại đến ngày nay Đối với đồng bàoH’Mông, quả pao như không có tuổi, gắn bó với họ suốt cuộc đời và nó còn như mộtlinh vật để minh chứng cho tình yêu của đôi lứa

Trò chơi ném pao thường được tổ chức trong các ngày Tết, các lễ hội truyềnthống của người H’Mông như lễ hội Gầu Tào, lễ hội Nào Sồng, ngày mừng nhà mớihay lễ cúng bản…

Trong những ngày lễ hội, người đàn ông H’Mông đều mang theo khèn và biểudiễn những điệu múa khèn mạnh mẽ thể hiện sự trai tráng của mình thì người phụ nữphải mang theo quả pao để đối xứng Quả pao thể hiện sự cần cù, chăm chỉ và khéo léocủa phụ nữ H’Mông

Quả pao được các cô gái H’Mông tự tay khâu rất cẩn thận và tỉ mỉ Họ khâu nốicác miếng vải lanh thành trái tròn, to bằng quả cam, bên trong nhồi hạt lanh bởi theoquan niệm của người H’Mông, hạt lanh tượng trưng cho sự sinh sôi và phát triển

Khi khâu vải phải cuộn thật chặt, sau đó lại lấy miếng vải to khác khâu bọc lại,khâu bọc bên ngoài 2 đến 3 lần, khi nào thấy căng tròn mới được

Ngày nay, các thiếu nữ H’Mông còn dùng thổ cẩm của người Thái, hay lụa tơtằm để tạo sắc màu cho quả pao

Ngày đăng: 04/11/2018, 20:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nghệ nhân giàng Seo Trư_ https://baomoi.com/nguoi-khoi-phuc-le-hoi-gau-tao-cua-nguoi-mong/c/4299274.epi Link
6. Qua 1000 câu hỏi về văn hóamông_http://nguoikhoixuong.com/bai-thi/27 Link
7. Nguồn gốc tộc người về dân số _ https://thuvienphamngocthach.wordpress.com/2013/01/26/dan-toc-hmong-o-viet-nam-nguon-goc-toc-nguoi-va-dan-so/ Link
1. Giàng seo gà Văn hóa dân tộc mông Khác
2. Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam _ Truyện cổ H'mông Khác
3. Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam _ Sắc diện văn hóa dân tộc vùng núi phía bắc Khác
w