Lễ hội Việt Nam gắn liền với đời sống mỗi người dân, với các di tích lịch sử, với những trò chơi dân gian đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân, khiến cho mỗi đứa con xa quê hương luôn c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: 1
2 Đối tượng nghiên cứu: 2
3 Mục đích nghiên cứu: 2
CHƯƠNG I: LỄ HỘI 2
1 Phân biệt Lễ Tết và Lễ Hội: 2
2 Tính chất lễ hội: 5
3 Ý nghĩa lễ hội: 5
CHƯƠNG II: LỄ HỘI CẦU NGƯ – NHA TRANG KHÁNH HÒA 6
1 Nguồn gốc của lễ hội cầu ngư: 6
2 Tiến trình: 8
3 Giá trị Di sản văn hóa Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa: 14
CHƯƠNG 3: TẠI SAO KHÔNG THỂ SỬ DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ ĐỊNH VỊ VĂN HÓA VIỆT NAM? 16
1 Lí giải: 16
2 Định vị văn hóa Việt Nam 17
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Có rất nhiều thành tố để ta nhận biết về Văn hóa Việt Nam như: Ngôn ngữ, Tôn giáo, Tín ngưỡng, Phong tục tập quán và Lễ hội cũng không nằm ngoài điều đó Trong đó lễ hội được coi là món ăn tinh thần độc đáo của một quốc gia Mỗi quốc gia, mỗi vùng miền khác nhau lại có những lễ hội khác nhau Lễ hội không chỉ mang nét truyền thống của mỗi dân tộc, để phân biệt các
Trang 3dân tộc với nhau mà nó còn là bằng chứng lịch sử chứng minh sự tồn tại của mộtquốc gia, một nền văn hoá đã được công nhận
Lễ hội ở Việt Nam rất độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc, nó thể hiện những nét Văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam Lễ hội Việt Nam gắn liền với đời sống mỗi người dân, với các di tích lịch sử, với những trò chơi dân gian đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân, khiến cho mỗi đứa con xa quê hương luôn cảm thấy bâng khuâng khi nhớ vê quê cha đất tổ Không chỉ vậy, thông qua các hoạt động của lễ hội còn giúp Việt Nam giới thiệu những tinh hoa văn hoá của đất nước mình tới bạn bè thế giới, để mỗi người dân luôn tự hào rằng: mình là con cháu Rồng tiên, con cháu Lạc Hồng
Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài số 2 để có thể tìm hiểu nghiên cứu thêm về chủ
đề này
2 Đối tượng nghiên cứu:
- Lễ hội đặc sắc Việt Nam
- Tôn giáo và định vị văn hóa Việt Nam
Lễ Tết là hệ thống được phân bổ theo thời gian trong năm (vì Tết là được
biến âm từ “tiết” – có nghĩa là thời tiết) Trong năm, Tết quan trọng nhất là đầu
năm (Tết Cả hay là Tết Nguyên Đán); ngoài ra còn có hệ thống Tết Rằm (Rằm tháng Giêng – Tết Thượng nguyên, Rằm tháng Bảy – Tết trung nguyên, Rằm tháng Mười – Tết hạ nguyên, Rằm tháng Tám) Bên cạnh đó, người Việt Nam có
hệ thống Tết trùng ngày tháng (Tết mùng Ba tháng ba – hàn thực, tết mùng Năm
tháng năm – Đoan ngọ).
Trang 4Lễ Tết bao gồm hai phần: Lễ là các nghi thức thờ cúng ông bà tổ tiên, Tết
là ăn uống, vui chơi Lễ Tết thể hiện nếp sống cộng đồng, sum họp mọi thànhviên trong gia đình, gia tộc Duy trì tôn ty trật tự trong gia đình, gia tộc
1.2 Lễ Hội:
Khác với Lễ Tết, Lễ Hội là hệ thống phân bố theo không gian Lễ Hộithường diễn ra vào mùa xuân và mùa thu là thời điểm nông nhàn ở khắp cácvùng Mỗi nơi có Lễ Hội riêng của mình Về cơ bản, có thể phân chia Lễ Hộicủa người Việt Nam thành những hình thức sau:
Theo phạm vi, Lễ Hội được phân thành các cấp độ: Lễ Hội được tổ chức
trong làng xã, Lễ Hội tổ chức trong huyện, tỉnh và cả nước
Theo tính chất của Lễ Hội, có thể phân chia Lễ Hội thành:
Các Lễ Hội nghề nghiệp, liên quan đến hoạt động sản xuất của con người
như Lễ Hội Cầu Mưa (tổ chức vào ngày mùng 8/4 ở Thuận Thành tỉnh Bắc
Ninh), Lễ Hội xuống đồng của người Khơ mú ở Sơn La, Lễ Hội Tịch điền (tổ chức vào ngày 7/1 ở Duy Tiên tỉnh Hà Nam), Lễ Hội Ooc-om-bok (tổ chức vào tối ngày 14/10 ở Sóc Trăng)
Các Lễ Hội kỷ niệm những người có công trong sự nghiệp dựng nước và
giữ nước Ví dụ như Lễ Hội Đền Hùng (tổ chức vào ngày 10/3 tại Phong Châu
tỉnh Phú Thọ) tưởng nhớ các Vua Hùng có công lao dựng nước; Lễ Hội Gò
Đống Đa (tổ chức vào ngày 5/1 tại Hà Nội) kỷ niệm chiến thắng Đống Đa năm1789; Lễ Hội Đền Trần (tổ chức vào ngày 15/8 tại Nam Định) tưởng nhớ cônglao của các đời vua nhà Trần và Trần Hưng Đạo trong công cuộc xây dựng vàbảo vệ đất nước, chống quân xâm lược Nguyên Mông
Các Lễ Hội tôn giáo và tín ngưỡng Đầu xuân ở Việt Nam, nhiều địaphương có chùa tọa lạc thường tổ chức các Lễ Hội tôn giáo, ví dụ Lễ Hội ChùaHương (tổ chức vào ngày 6/1 tại Mỹ Đức thành phố Hà Nội), Lễ Hội Yên Tử (tổ chức vào ngày 10/1 tại thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh) Ngoài ra, các địa
phương còn tổ chức các Lễ Hội tín ngưỡng như: Lễ Hội Phủ Giầy (mở từ mùng
3 đến mùng 10 tháng 3 tại Vụ Bản tỉnh Nam Định) thờ Bà Liễu Hạnh; Lễ Hội
Trang 5đền Bắc Lệ (mở đầu tháng Giêng ở Hữu Lũng tỉnh lạng Sơn) thờ Thánh MẫuThượng ngàn
Lễ hội bao gồm 2 phần cơ bản là phần Lễ và phần Hội
a)Phần Lễ:
Phần Lễ là nghi thức thờ cúng mang ý nghĩa tâm linh, các lễ vật và nghi lễgắn liền với đối tượng thờ cúng Chữ Lễ bao gồm: tế lễ và lễ giáo Nội dung củaphần Lễ là:
- Tưởng nhớ, tôn vinh đối tượng thờ cúng
- Cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của cộng đồng
Ví dụ: Lễ Hội Gò Đống Đa được tổ chức nhằm tưởng nhớ, tôn vinh người
anh hùng áo vải – Hoàng đế Quang Trung đã có công lao trong một thời gian rấtngắn thần tốc đánh thắng quân Thanh, giành độc lập cho dân tộc Sau màn múarồng lửa thể hiện khí phách hào hùng của nghĩa quân Tây Sơn là nghi lễ dânghương, lễ đọc văn, cuộc tế diễn ra ở đình Khương Thượng và lễ cầu siêu cho cácvong hồn đã hy sinh trong trận đánh lịch sử năm Kỷ Dậu tại Chùa Đồng Quang.Hoặc Lễ hội Xuống đồng của đồng bào dân tộc Tày, Dao ở xã Bản Hồ -
Sa Pa tỉnh Lào Cai nhằm cầu xin Thần linh bảo trợ cho cuộc sống của cộngđồng, đồng thời mong Thần linh phù hộ cho dân bản được một mùa bội thu Mởđầu là tục rước đất, rước nước được tiến hành khi chưa rõ mặt người Kiệu rướcđược trang trí theo biểu tượng Âm dương Ngũ hành Đi đầu là Thày cúng cónhiệm vụ giao tiếp với Thần linh nên Thày cầm cây nêu biểu tượng của sự sinhsôi, nảy nở; đi sau là kiệu rước nước, tiếp đến là kiệu rước đất Khi đi đến địađiểm, Thày cúng thực hiện các nghi lễ thờ cúng, làm phép xua đuổi ma quỉ vàcác điều không may, sau đó tung các hạt giống của Thần linh cho dân bản
B)Phần hội:
Phần Hội bao gồm các trò vui chơi, giải trí hết sức phong phú Xét vềnguồn gốc, phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ ước vọng thiêng liêng củacon người nông nghiệp Ví dụ, từ ước vọng cầu mưa có những trò chơi: đánhpháo đất, ném pháo, đốt pháo (sấm tạo ra tiếng nổ); cầu cạn có trò chơi thảdiều (mong nắng, gió lên để lũ lụt mau rút xuống); phồn thực có trò chơi bắt
Trang 6chạch trong chum, nhún đu, ném còn (mong mọi vật đều sinh sôi, nảy nở); rènluyện sự nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo có trò chơi: thi thổi cơm, thi bắt vịt, đua
cà kheo ; rèn luyện sức khoẻ và khả năng chiến đấu có trò chơi: thi chọi trâu,chọi gà, chọi dế, đấu vật, kéo co
Đối với các Lễ Hội, phần Hội bao giờ cũng gắn bó, liên quan mật thiết vớiphần Lễ Ví dụ, một Lễ Hội tôn vinh những anh hùng dân tộc như Lễ Hội Gò
Đống Đa, phần Hội bao giờ cũng có những trò chơi thể hiện trí tuệ (cờ người),
sức mạnh, khéo léo (đấu vật, đấu Lân) Hay Lễ hội Xuống đồng của đồng bàodân tộc Tày, Dao ở xã Bản Hồ - Sa Pa tỉnh Lào Cai tổ chức vào ngày mùng 8tháng Giêng hàng năm nhằm cầu mong thần linh phù hộ cho mùa màng tươi tốt
Vì vậy, phần Hội bao giờ cũng có những trò chơi thể hiện sự phồn thực (sinh
sôi, nảy nở) như ném còn, leo cột mỡ
Giải thưởng của Hội chỉ mang tính ước lệ, chủ yếu là đề cao danh dự, đềcao lòng nhiệt tình của những người tham dự và cổ vũ cuộc vui Phần Hội thểhiện tính cộng đồng và hiếu khách của người Việt Nam
Tính biểu dương và hiệu triệu: lễ hội là dịp thể hiện sự thống nhất ý chí, làm tiền
đề cho sự thống nhất hành động tạo nên sức mạnh của cả cộng đồng Đồng thời cũng là nơi để mỗi cá nhân tự nguyện hòa nhập giữa "cái tôi vô danh" với "cái tachung" mà không cần một lời hô hào, thúc ép nào
3 Ý nghĩa lễ hội:
Trang 7- Giáo dục cho thế hệ sau về những giá trị truyền thống mang tính nhânvăn, về lịch sử dựng nước và giữ nước, về cội nguồn của dòng tộc và dân tộc;giáo dục những giá trị về đạo đức Khác với các hình thức giáo dục khác, sựgiáo dục của Lễ Hội mang tính trực quan mà đối tượng là những người tham gia
Lễ Hội
- Làm gia tăng ý thức cộng đồng, vì Lễ Hội chính là sự chứng thực về cộinguồn của các cộng đồng kế cận, về mối quan hệ giữa các cá nhân trong cộngđồng
CHƯƠNG II: LỄ HỘI CẦU NGƯ – NHA TRANG KHÁNH HÒA
1 Nguồn gốc của lễ hội cầu ngư:
Lễ hội Cầu Ngư bắt nguồn từ tục thờ Ông Nam Hải – là tập tục lâu đời của cư dân vùng biển từ Quảng Bình trở vào, trong đó đậm đặc nhất là vùng Nam Trung bộ Ông Nam Hải, thực ra là loài cá Voi – loài cá có thân hình to lớn,nhưng bản tính lại hiền hoà, thường cứu giúp những ngư dân mỗi khi gặp nạn trên biển được ngư dân các tỉnh phía Nam gọi cá ‘Đức Ông’,‘Cá Ông’ hay ‘Ông Nam Hải’ Khi Cá Ông chết, trôi dạt vào bờ thuộc địa phận của làng biển nào, thì làng biển ấy phải tổ chức lễ tang long trọng và lập Lăng thờ phụng và cúng tếrất nghiêm cẩn Lễ tế Ông Nam Hải ngày nay thường được gọi là Lễ hội Cầu Ngư
Những truyền thuyết về tục thờ cá voi:
Tục thờ Cá Ông ra đời từ bao giờ và đâu là nơi phát tích đến nay vẫn chưathể khẳng định chính xác Để giải thích cho tục thờ Cá Voi có nhiều truyền thuyết, trong đó một số truyện thuyết, chuyện kể vẫn còn được lưu truyền cho đến hôm nay:
Trong thần thoại Chăm kể lại: Sau thời gian rèn luyện phép thuật vì nôn nóng trở về xứ sở, Cha-Aih-Va đã cãi lời thầy tự ý biến thành cá voi, ra sông lớn
mà đi nên sau đó đã bị trừng phạt Cha-Aih-Va đổi tên và tự xưng là Po Riyah
Trang 8(thần Sóng Biển), cũng có lúc hoá thân thành thiên nga, trở thành ân nhân của những người bị đắm thuyền.
Truyền thuyết Phật giáo kể rằng: Ngày xưa, Đức Phật Bà Nam Hải Quan
Âm, khi đi tuần du Nam Hải, Ngài rất đau xót khi mỗi mùa biển động, bão tố, nhiều thuyền nhân và ngư dân bị đắm thuyền và chết trôi trên biển cả Để cứu giúp những sanh linh, Ngài liền lấy chiếc áo cà sa đang mặc và xé ra làm ngàn mảnh nhỏ ném xuống biển khơi, rồi hoá phép thành loài cá Voi có thân hình to lớn, lại ban cho cả “Phép thâu đường” để bơi thật nhanh nhằm kịp đến cứu giúpngưòi bị nạn Từ đó, loài cá Voi luôn là trợ thủ đắc lực trong việc cứu giúp người
bị nạn trên biển Do vậy, người dân miền biển các tỉnh phía Nam nước ta xem loài cá Voi là vị thần linh của biển khơi
Truyền thuyết cũng kể, trên đường bôn tẩu đến nước Xiêm để tránh cuộc truy đuổi của Nhà Tây Sơn, khi đến Vịnh Xiêm La thì gặp giông tố, lúc thuyền của Chúa Nguyễn Phúc Ánh sắp bị lật đã được Cá Ông nâng đỡ và đưa vào đảo Thổ Châu Năm 1802, sau khi lên ngôi Nguyễn Ánh (Vua Gia Long) đã ban chiếu sắc phong Cá Voi là Nam Hải Đại Tướng Quân để tỏ lòng tri ân Các vua chúa triều Nguyễn đã liên tiếp ban những sắc phong cao quý cho Cá Voi này và
sắc phong cao nhất cho Ngài là: Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng
Thần.
Riêng ở thôn Quảng Hội (xã vạn Thắng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà) lại có truyền thuyết liên quan đến Quan Công và ông Nam Hải Truyền thuyết kể rằng, một con phượng hoàng đẻ ra hai trứng, một trứng rớt xuống biểnĐông hoá thành ông Nam Hải (cá voi) và trứng kia rơi trên đất liền, được một vịhoà thượng ấp trong đại hồng chung, sau 100 ngày nở ra Quan Thánh…Chính quyền phong kiến trước kia quy định rằng: Làng nào bắt gặp cá ông chết thì lý trưởng phải báo cho phủ, huyện để quan khám định, cấp tiền tuất,hương đèn, vải đỏ quấn đủ bảy vòng và cho khâm liệm, cấp đất xây lăng và ruộng hương hỏa để thờ cúng Sau 3 năm thì cải táng, lấy xương xếp vào quách, khạp, đưa vào lăng, đình, vạn, đền, miếu xây sẵn để thờ tùy địa phương Mỗi làng đều có người trông coi hương khói và một hội đồng quản lý làng
Trang 9Từ tập tục trên, ở Khánh Hòa người thấy xác cá Ông đầu tiên phải có nhiệm vụ kéo cá vào bờ biển để tổ chức lễ tống táng Bấy giờ họ trở thành ngườicon trai trưởng của cá Ông và phải chịu tang 3 năm chứ không chỉ chịu tang 100ngày như các tỉnh trong vùng Sau khi mãn tang, hàng năm cứ vào ngày Ông “lụy” (tức là ngày cá Voi chết), bà con ngư dân long trọng tổ chức Lễ Tế Ông Nam Hải – còn gọi là Lễ hội Cầu Ngư với đầy đủ các nghi thức Người dânmiền biển tin rằng, tổ chức tế lễ càng chu đáo bao nhiêu, nghi thức càng đầy đủ bao nhiêu, thì ân đức của Ngài sẽ ban lại cho ngư dân được mùa tôm, cá, đời sống no ấm, sung túc bấy nhiêu.
Đến nay, cư dân vùng biển Khánh Hòa vẫn xem ngày này là một ngày lễ trọng và họ tổ chức thật long trọng, thành kính để cầu cho quốc thái dân an, làm
ăn tấn tới và thật sự là ngày hội theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.Ngoài cấu trúc thờ tự những Lăng độc lập Ở Khánh Hòa có một số điểm thờ Cá Ông nằm chung trong Đình làng như: Trường Tây, Trí Nguyên, Trường Đông (Tp Nha Trang), Bá Hà 1, Đông Hà (huyện Ninh Hoà) Lăng Ông Cù Lao (phường Vĩnh Thọ, Tp Nha Trang) nằm trong cụm cơ sở tín ngưỡng dân gian gồm: Chùa, Đình, Nhà Tiền hiền và Lăng Ông Nam Hải Tuy nhiên, cấu trúc thờ
tự bên trong thì vẫn giống như các Lăng độc lập Ngày nay, việc ‘đình lăng kết
hợp’ và ‘phối tự phối tế’ đang được nhiều ngư dân ủng hộ và có xu thế ngày càng phát triển
2 Tiến trình:
hác với các lễ hội mang tính tín ngưỡng, trang trọng, lễ Cầu Ngư của người dân Nha Trang lại hướng đến sự tưng bừng, nhộn nhịp Lễ hội không chỉ được tổchức trong Lăng Ông mà còn mở rộng ra không gian rộng lớn trên bờ biển, diễn
ra trong ba ngày ba đêm Các nghi thức được tổ chức trong lễ hội cầu Ngư gồm:
lễ Rước Sắc, lễ Nghinh Ông ( lễ Nghinh thủy triều ), trò diễn Hò Bá Trạo – đặc trưng cho Lễ hội Cầu Ngư của vùng Nam Trung Bộ và Khánh Hòa, lễ Tỉnh Sanh, lễ Tế Chánh, Thứ lễ và Tôn vương, Có nhiều phiên bản lễ hội Cầu Ngư
ở các vùng với sự khác biệt đôi chút, vì trải qua suốt chiều dài lịch sử, lễ hội đã
Trang 10dần dần trở thành một phần trong đời sống văn hóa của các làng chài lưới nên ít nhiều mang tính chất chủ quan
2.1 Lễ Rước Sắc - mở đầu lễ hội Cầu Ngư
Lễ Rước Sắc được bắt đầu vào buổi sáng đầu tiên của lễ hội, được thực hiện bởi các bô lão lớn tuổi trong làng Lễ sẽ bao gồm Thỉnh sắc, Rước sắc và Khai sắc.Thỉnh Sắc được thực hiện tại Nhà Tiền hiền, dâng hương lên để bái tế và thỉnh Ông Nam Hải về với Lăng Rước Sắc là một đám rước long trọng, với sự tham gia của đông đảo dân làng, đưa ông Nam Hải từ Nhà Tiền hiền về với Lăng Ông
Cuối cùng là lễ Khai sắc được thực hiện tại Lăng, chính thức bắt đầu cho lễ hội Cầu Ngư
Ngày nay, do xu hướng giản lược các nghi thức cổ truyền trong lễ hội, một số làng biển đã sáp nhập Đình làng và Lăng Ông làm một trong thờ tự và cả bái tế Cũng từ đó, nhiều nơi đã không còn giữ được Lễ Rước sắc theo nghi thức cổ truyền mà chỉ giữ lại phần Lễ Khai sắc – một nghi thức bắt buộc trước khi vào lễhội
2.2 Lễ Nghinh Ông:
Trang 11Lễ Nghinh Ông của người dân Nha Trang thường được tổ chức vào lúc thủy triều lên, thường là vào lúc sáng sớm Nghi thức này nhằm mục đích rước hồn Ông Nam Hải từ biển khơi về Lăng thờ trước khi làm lễ Tế Chánh
Lễ Nghinh Ông thường kéo dài trong hai giờ, với đoàn thuyền ghe ra khơigồm 3 chiếc để rước Ông Nam Hải Không khí lễ rước rất nhộn nhịp với tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng Khi đoàn thuyền về đến bến sẽ đưa hồn Ông nhập điện, đội Siêu sẽ mua trước điện thờ để mừng Ông đã về với dân làng
Đoàn thuyền tham dự Lễ Nghinh Ông ở Khánh Hòa phải là những chiếc thuyền đánh cá đích thực và được bố trí như sau:
– Ghe lễ: Để tạo thêm diện tích cho không gian hành lễ, nhiều nơi đã cho ghép
hai chiếc thuyền nhỏ hơn vào ghe chính tạo thành ghe lễ Ghe chính được trang hoàng lộng lẫy với cờ, lọng, ở giữa ghe có một cột cờ chính treo lá cờ đại Long đình được đặt ở mũi thuyền, phía trước có bàn hương án để đặt lễ vật bái tế Ban
Tế lễ và đội nhạc đều ngồi ở ghe chính Hai ghe ghép cũng được trang trí cờ hoa
và dành cho trống chiêng và các người phục vụ lễ
– Ghe Bá trạo: Gồm 2 chếc đi hai bên Ghe lễ, cũng được trang trí cờ hoa nhưng
giản đơn hơn Ghe lễ Một ghe chở một nhóm Bá trạo và Tổng Lái, ghe kia chở một nhóm Bá trạo cùng Tổng Mũi, Tổng Khoang (Tổng Thương) Đội Bá trạo phải đứng chèo hầu trong suốt quá trình hành lễ trên biển
– Ghe dắt: Là chiếc ghe nhỏ chở đội Lân, ghe này phải nối với Ghe lễ một sợi dây và có nhiệm vụ dẫn đầu đám rước Nhiều nơi không tổ chức ghe dắt thì đội Lân sẽ ở trên Ghe lễ
Ngoài số ghe quy định trên, còn có nhiều ghe của ngư dân hoặc kháchtham quan cũng đi theo dự lễ, tạo nên không khí tưng bừng và sắc màu cho LễNghinh Ông
Khi ra khơi, chiếc Ghe dắt chở đội Lân dẫn đầu đoàn thuyền hành lễ; Ghe
Lễ đi chính giữa, hai Ghe Bá trạo đi hai bên và lui về phía sau nửa thân Ghe Lễ.Đội Bá trạo và Lân múa nhẹ nhàng theo nhịp thuyền đi nhưng không hát vàkhông sử dụng nhạc Ra đến cửa biển thì dừng lại và cử hành tế lễ Sau đó, đoànthuyền quay về trong rạng rỡ nắng mai Ghe Lễ vẫn đi giữa, hai Ghe Bá trạo