1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn phân tích tài chính công ty cổ phần hevent

88 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, chuyên đề cần giải quyết 3 vấn đề chính đó là: 1 Trình bày lý thuyết về phân tích tài chính doanh nghiệp 2 Phân tích tài chính công

Trang 1

MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA DOANH

NGHIỆP 1

1.1 Một số vấn đề về doanh nghiệp và phân tích tài chính của doanh nghiệp 1

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp 1

1.1.2 Phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam 1

1.1.3 Tài chính doanh nghiệp 2

1.1.4 Quản lý Tài chính doanh nghiệp 3

1.2 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 8

1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp 8

1.2.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp 9

1.2.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 12

1.2.4 Các chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp 16

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN HEVENT 27

2.1 Tổng quan về công ty cổ phần Hevent 27

2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển công ty 27

2.1.2 Mô hình tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban 28

2.1.3 Kết quả kinh doanh của công ty những năm gần đây 30

2.2 Thực trạng tình hình phân tích tài chính tại công ty cổ phần Hevent 35

2.2.1 Phân tích tình hình nguồn vốn 35

Trang 2

2.2.2 Phân tích tình hình tài sản 40

2.2.3 Phân tích mối quan hệ cân bằng trên bảng cân đối kế toán 46

2.2.4 Phân tích tình hình thu nhập, chi phí, lợi nhuận của công ty 49

2.2.5 Phân tích các nhóm chỉ số 53

2.3 Đánh giá về tình hình phân tích tài chính công ty cổ phần Hevent 61

2.3.1 Những kết quả đạt được 61

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 63

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HEVENT 67

3.1 Định hướng, mục tiêu hoạt động của công ty cổ phần Hevent 67

3.1.1 Chiến lược kinh doanh 67

3.1.2 Chiến lược cạnh tranh 68

3.2 Một số giải pháp 69

3.2.1 Nâng cao chất lượng nguồn thông tin sử dụng trong phân tích 69

3.2.2 Thực hiện đầy đủ các bước của quá trình phân tích 70

3.2.3 Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính 71

3.3 Một số kiến nghị 73 KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn công ty Hevent 36

Bảng 2.2: Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn 39

Bảng 2.3: Bảng phân tích cơ cấu tài sản 41

Bảng 2.4: Bảng phân tích biến động tài sản 43

Bảng 2.5: Bảng phân tích tình hình huy động vốn và sử dụng vốn 46

Bâng 2.6: Các chỉ tiêu phân tích cân bẳng tài chính 48

Bảng 2.7: Phân tích cơ cấu doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp 50

Bảng 2.8: Bảng phân tích ngang Báo cáo kết quả kinh doanh 52

Bảng 2.9: Các chỉ số phân tích hiệu quả hoạt động 53

Bảng 2.10: Các chỉ số phân tích khả năng thanh toán 57

Bảng 2.11: Các chỉ số phân tích khả năng sinh lời 60

Bảng 3.2: Bảng phân tích ROE bằng phương pháp Dupont 71

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần Hevent 28

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng quy mô tổng tài sản của công ty cổ phần Hevent 30

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nguồn vốn công ty Hevent 31

Biểu đồ 2.3 : Cơ cấu tài sản công ty cổ phần Hevent 32

Biểu đồ 2.4: Quy mô doanh thu và lợi nhuận qua các năm 2000-2012 33

Biểu đồ 2.5: Sự đóng góp của các hoạt động của công ty vào LNST 34

Biểu đồ 2.6: Cơ cấu nguồn vốn công ty cổ phần Hevent 38

Biều đồ 2.7: Phân tích biến động một số khoản mục tài sản quan trọng 44

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Phân tích tài chính là một hoạt động quan trọng của doanh nghiệp Nó cung cấp cho các chủ sở hữu, các nhà quản lý, các chủ nợ của doanh nghiệp cũng như các đối tượng liên quan khác những thông tin cụ thể, toàn diện nhất về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để các đối tượng này đưa ra dự báo về tình hình phát triển của doanh nghiệp trong tương lai

Trong những năm gần đây, thị trường chứng khoán ở Việt Nam ngày càng

mở rộng, các doanh nghiệp niêm yết trên sàn ngày càng nhiều Bên cạnh đó, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến hầu hết các chủ thể thì chất lượng của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp được quan tâm hơn bao giờ hết

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải luôn luôn tự chủ được hoạt động kinh doanh cũng như các kế hoạch tài chính của mình Do vậy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý đó là vấn

đề quản trị tài chính doanh nghiệp Để làm được điều này, doanh nghiệp phải thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá, giám sát các hoạt động và thực hiện phân tích tài chính Chỉ trên cơ sở kết quả phân tích tài chính, doanh nghiệp mới đánh giá được hiệu quả của các hoạt động kinh doanh, của các kế hoạch đề ra trong từng thời kì

Như vậy, công tác phân tích tài chính có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, tuy nhiên hiện nay hoạt động này lại chưa nhận được sự quan tâm đúng mức Qua thực tiễn nghiên cứu tại công ty cổ phần Hevent, em thấy công tác phân tích tài chính tại đây tuy có những điểm tốt đáng ghi nhận nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định Là một sinh viên khoa Ngân hàng – Tài chính, nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tài chính đối với sự thành bại của một doanh nghiệp và những kiến thức được trang bị trong suốt quá trình học, em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích tài chính công ty cổ phần Hevent” nhằm phân tích và đưa ra một số biện pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng công tác phân tích tài chính trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính công ty cổ phần Hevent

Trang 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là công tác phân tích tài chính tài công ty cổ phần Hevent Chuyên đề thực tập tốt nghiệp đi sâu nghiên cứu về các phương pháp và nội dung phân tích tài chính tại công ty

- Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: nghiên cứu hoạt động phân tích tài chính tại công ty cổ phần Hevent

Về thời gian: giai đoạn 2010 – 30/6/2013

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, chuyên đề cần giải quyết 3 vấn đề chính đó là: (1) Trình bày lý thuyết về phân tích tài chính doanh nghiệp (2) Phân tích tài chính công ty cổ phần Hevent; (3) Nhận xét, đánh giá về công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần Hevent, từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị

Đề giải quyết vấn đề (1) “Trình bày lý thuyết về phân tích tài chính doanh nghiệp”, chuyên đề sử dụng phương pháp so sánh, tổng hợp các lý thuyết về toàn

bộ các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp và công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp

Để giải quyết vấn đề (2) “Phân tích tài chính công ty cổ phần Hevent”, chuyên đề sử dụng phương pháp tìm kiếm, tổng hợp toàn bộ số liệu sử dụng trong phân tích, đồng thời sử dụng phương pháp toán học, so sánh để xử lý số liệu phục

vụ trong quá trình phân tích

Để giải quyết vấn đề (3) “Nhận xét, đánh giá về công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần Hevent, từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị”, chuyên đề

sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, tư duy biện chứng để dựa trên các

Trang 7

kết quả phân tích đã có sẽ đưa ra những nhận xét đánh giá toàn diện và khách quan nhất, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị phù hợp

5 Kết cấu chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Ngoài các phần lời nói đầu và kết luận, chuyên đề thực tập tốt nghiệp được chia thành 3 chương:

Chương 1: Lý thuyết về phân tích tài chính của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng tình hình phân tích tài chính của công ty cổ phần

Hevent

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tài chính tại công

ty cổ phần Hevent

Trang 8

1 CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Một số vấn đề về doanh nghiệp và phân tích tài chính của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp

Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Luật số 60/2005/QH11) quy định “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”

1.1.2 Phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam

Theo Luật Doanh nghiệp 2005, căn cứ vào hình thức tổ chức kinh doanh thì

có thể loại doanh nghiệp thành 3 nhóm:

 Kinh doanh cá thể

Kinh doanh cá thể gồm doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu

trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân

 Kinh doanh góp vốn

Doanh nghiệp kinh doanh góp vốn gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty hợp danh

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Công ty trách nhiệm

hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; thành viên chịu trách nhiệm về các khoản

nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp

Trang 9

vào doanh nghiệp; phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của Luật Doanh nghiệp 2005

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ

chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, có tư cách pháp nhân Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm

vi số vốn điều lệ của công ty

Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu

Công ty hợp danh: Công ty hợp danh là doanh nghiệp, có tư cách pháp

nhân, trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (được gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn

Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

 Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, trong đó:

Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần;

Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu phải là ba và không hạn chế số lượng tối đa;

Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

1.1.3 Tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:

Trang 10

Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh

khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp

Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thể

hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng

Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế,

doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động v.v

Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận trong

doanh nghiệp, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa cổ đông và người quản lý, giữa quyền

sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí…

1.1.4 Quản lý Tài chính doanh nghiệp

1.1.4.1 Nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp

Các quan hệ tài chính doanh nghiệp được thể hiện trong cả quá trình kinh doanh, tức là trong tất cả các hoạt động của doanh nghiệp Để tiến hành kinh doanh, doanh nghiệp phải xử lý các quan hệ tài chính thông qua phương thức giải quyết ba vấn đề quan trọng sau đây:

Thứ nhất: nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại

hình kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp và là cơ sở để dự toán vốn đầu tư

Trang 11

Một doanh nghiệp nên đầu tư dài hạn vào những tài sản nào? Câu hỏi này liên quan đến bên trái bảng Cân đối kế toán Giải đáp cho vấn đề này là dự toán vốn đầu tư - quá trình lập kế hoạch và quản lý đầu tư dài hạn của doanh nghiệp Trong quá trình này, nhà quản lý tài chính phải tìm kiếm cơ hội đầu tư sao cho thu nhập do đầu tư đem lại lớn hơn các chi phí đầu tư phải bỏ ra Điều đó nghĩa là, giá trị hiện tại của các dòng tiền do các tài sản tạo ra phải lớn hơn giá trị hiện tại của các khoản chi phí hình thành các tài sản đó Tất nhiên, việc lựa chọn loại tài sản và

cơ cấu tài sản hoàn toàn tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại hình kinh doanh

Thứ hai: doanh nghiệp có thể khai thác được các nguồn vốn đầu tư nào?

Nhà quản lý tài chính không phải chỉ quan tâm tới việc sẽ nhận được bao nhiêu tiền mà còn phải quan tâm tới thời điểm nhận được và nhận được như thế nào Đánh giá quy mô, thời hạn và rủi ro của các dòng tiền trong tương lai là vấn

đề cốt lõi của quá trình dự toán vốn đầu tư

Doanh nghiệp có thể có được vốn bằng cách nào để đầu tư dài hạn? Vấn đề này liên quan đến cột bên phải bảng Cân đối kế toán, tức là liên quan đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp Nhà quản lý tài chính phải cân nhắc, tính toán để quyết định doanh nghiệp nên vay bao nhiêu? Cơ cấu nguồn vốn nợ và vốn chủ sở hữu như thế nào? Nguồn vốn nào là thích hợp đối với doanh nghiệp?

Thứ ba: Cách thức quản lý hoạt động tài chính hàng ngày? Đây là các quyết

định tài chính ngắn hạn liên quan chặt chẽ tới việc quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp

Vấn đề này liên quan tới quản lý tài sản lưu động, tức là quản lý các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Một số vấn đề về quản lý tài sản lưu động cần phải được làm rõ như : Doanh nghiệp nên dự trữ bao nhiêu tiền và hàng tồn kho? Doanh nghiệp có nên bán chịu không? Nếu bán chịu thì nên bán với thời hạn nào,

số lượng bao nhiêu? Doanh nghiệp sẽ tài trợ ngắn hạn bằng nguồn nào? Nếu vay ngắn hạn thì doanh nghiệp nên vay ở đâu và vay như thế nào? Ba vấn đề về quản

lý tài chính doanh nghiệp: dự toán vốn đầu tư dài hạn, cơ cấu vốn và quản lý tài

Trang 12

sản lưu động là những vấn đề bao trùm nhất Mỗi vấn đề trên lại bao gồm nhiều nội dung, nhiều khía cạnh

Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi vấn đề về tài chính doanh nghiệp, nhưng đó là ba vấn đề lớn nhất và quan trọng nhất Nghiên cứu tài chính doanh nghiệp thực chất là nghiên cứu cách thức giải quyết ba vấn đề đó

1.1.4.2 Mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp

Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong trong điều kiện tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp… Tuy nhiên, tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất đó là tối

đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Bởi lẽ, một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định; chính họ phải được lợi và nhận thấy tài sản của họ ngày càng tăng lên thì họ mới có động lực tiếp tục đầu tư Mặt khác, khi doanh nghiệp đặt ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, tức là doanh nghiệp cũng phải thực hiện được các mục tiêu cụ thể kể trên Các quyết định tài chính trong doanh nghiệp: Quyết định đầu tư, huy động vốn, quyết định về phân phối, ngân quỹ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trong quản lý tài chính, nhà quản lý phải xem xét các điều kiện bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để đưa ra các quyết định làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu, thỏa mãn lợi ích của chủ sở hữu

1.1.4.3 Vai trò quản lý tài chính doanh nghiệp

Quản lý tài chính giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh

Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản lý tài chính tới các hoạt động tài chính của doanh nghiệp Nó được thực hiện thông qua cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp Nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm: cơ chế đầu tư và quản lý tài sản; cơ chế huy động vốn; cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận; cơ chế kiểm soát tài chính của doanh nghiệp

Trang 13

Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cần quan tâm không chỉ là lợi ích của các cổ đông và nhà quản lý mà còn cả lợi ích của người làm công, làm thuê, của khách hàng, nhà cung cấp và Chính phủ Đây là nhóm người có nhu cầu tiềm năng về các dòng tiền của doanh nghiệp Giải quyết vấn đề này liên quan tới các quyết định đối với bộ phận trong doanh nghiệp và các quyết định giữa doanh nghiệp với các đối tác ngoài doanh nghiệp

Quản lý tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt động khác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục được những khiếm khuyết trong trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất khó lường cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế

1.1.4.4 Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp

 Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận

Quản lý tài chính phải được dựa trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận Nhà đầu tư có thể lựa chọn những đầu tư khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro mà họ chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong muốn Khi họ bỏ tiền vào những dự

án có mức độ rủi ro cao, họ hy vọng dự án đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao

 Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền

Để đo lường giá trị tài sản của chủ sở hữu, cần sử dụng khái niệm giá trị thời gian của tiền, tức là phải đưa tất cả các lợi ích và chi phí của dự án về một thời điểm, thường là thời điểm hiện tại (được gọi là chiết khấu) Theo quan điểm của nhà đầu tư, dự án được chấp nhận khi lợi ích thu được lớn hơn chi phí phải bỏ

ra để đạt được lợi ích đó Trong trường hợp này, chi phí cơ hội của vốn được đề cập như là lãi suất chiết khấu

 Nguyên tắc chi trả

Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần bảo đảm mức ngân quỹ tối thiểu để thực hiện chi trả Do vậy, điều đáng quan tâm ở các doanh nghiệp là các dòng tiền chứ không phải lợi nhuận kế toán Dòng tiền ra và dòng tiền vào được

Trang 14

tái đầu tư phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí Không những thế, khi đưa ra các quyết định kinh doanh, nhà doanh nghiệp cần tính đến dòng tiền tăng thêm, đặc biệt cần tính đến các dòng tiền sau thuế

 Nguyên tắc sinh lợi

Nguyên tắc quan trọng đối với nhà quản lý tài chính không chỉ là đánh giá các dòng tiền mà dự án đem lại mà còn là tạo ra các dòng tiền, tức là tìm kiếm các

dự án sinh lợi Trong thị trường cạnh tranh, muốn có được lợi nhuận lớn trong thời gian dài, doanh nghiệp cần phải biết tìm kiếm được các dự án sinh lợi Tiếp đến, khi đầu tư, nhà đầu tư phải biết tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp mình thông qua việc tạo ra những sản phẩm khác biệt với sản phẩm cạnh tranh và mức chi phí thấp hơn mức chi phí cạnh tranh

 Nguyên tắc thị trường hiệu quả

Trong kinh doanh, những quyết định nhằmtối đa hoá giá trị tài sản của các chủ sở hữu làm thị giá cổ phiếu tăng Như vậy, khi đưa ra các quyết định tài chính hoặc định giá chứng khoán, cần hiểu rõ khái niệm thị trường có hiệu quả Thị trường có hiệu quả là thị trường mà ở đó giá trị của các tài sản tại bất kỳ một thời điểm nào đều phản ánh đầy đủ các thông tin một cách công khai Trong thị trường

có hiệu quả, giá cả được xác định chính xác Thị giá cổ phiếu phản ánh tất cả những thông tin sẵn có và công khai về giá trị của một doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của các cổ đông có thể đạt được trong những điều kiện nhất định bằng cách nghiên cứu tác động của các quyết định tới thị giá cổ phiếu

 Gắn kết lợi ích của người quản lý với lợi ích của cổ đông

Các quyết định và hoạt động của nhà quản lý tài chính đều nhằm vào các mục tiêu của doanh nghiệp, đó là sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnh tranh và chiếm được thị phần tối đa trên thương trường ; tối thiểu hóa chi phí, và tăng thu nhập của chủ

Trang 15

sở hữu một cách bền vững Nhà quản lý tài chính đưa ra các quyết định trên cơ sở cân nhắc đến lợi ích của các cổ đông của doanh nghiệp

Trên thực tế, hành động của nhà quản lý được đánh giá là có vì lợi ích của các cổ đông hay không phụ thuộc vào hai yếu tố Thứ nhất, mục tiêu quản lý có sát với mục tiêu của cổ đông hay không? Điều này liên quan tới cách khen thưởng, trợ cấp cho các nhà quản lý Thứ hai, nếu nhà quản lý không theo đuổi mục tiêu của các cổ đông thì họ có bị thay thế, sa thải hay không? Vấn đề này liên quan tới hoạt động kiểm soát của doanh nghiệp Như vậy, dù thế nào, nhà quản lý cũng không thể hành động khác được, họ có đầy đủ lý do để đem lại lợi ích cho các cổ đông

 Tác động của thuế

Thuế là một trong những yếu tố tác động nhiều đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thậm chí có thể trong chừng mực nào đó điều tiết hoạt động của doanh nghiệp Trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định tài chính nào, nhà quản lý tài chính luôn phải tính tới tác động của thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp

Hơn nữa, khi thiết lập cơ cấu vốn của doanh nghiệp cần phải phân tích chi tiết tác động của thuế bởi vì khoản nợ có một lợi thế nhất định về chi phí so với vốn chủ sở hữu, đó là phân tiết kiệm thuế

1.2 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính doanh nghiệp là một quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu về tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro tiềm năng tương lai của một doanh nghiệp, trên cơ sở

đó giúp các nhà phân tích ra quyết định tài chính có liên quan tới lợi ích của họ trong doanh nghiệp đó

Trong nền kinh tế thị trường, phân tích tài chính là mối quan tâm của nhiều đối tượng như:

Trang 16

- Các nhà quản trị doanh nghiệp

- Các cổ đông hiện tại hoặc người đang muốn trở thành cổ đông của doanh nghiệp

- Các nhà phân tích tài chính chuyên nghiệp

- Nhà nước và cơ quan thuế

- Các doanh nghiệp tham gia đầu tư để đa dạng hóa rủi ro

- Các nhà cho vay: ngân hàng, các định chế tài chính, người mua trái phiếu doanh nghiệp, công ty mẹ…

1.2.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp

Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp có thể chia thành 5 bước:

Sơ đồ 1.1: Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp

Bước 1: Lập kế hoạch phân tích

Bước 2: Thu thập và xử lí thông tin

Bước 3: Xác định những biểu hiện đặc trưng

Bước 4: Phân tích

Bước 5: Tổng hợp và dự đoán

Trang 17

đề cương cụ thể khi tiến hành phân tích

Phạm vi phân tích có thể là toàn đơn vị, hoặc có thể là một số đơn vị được chọn làm điểm phân tích Phạm vi phân tích được xác định dựa trên sự phù hợp với nhu cầu và thực tiện quản lý

Thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích tài chính bao gồm thời gian chuẩn bị và thời gian tiến hành công việc phân tích tài chính

Trong kế hoạch phân tích cần phân công rõ ràng trách nhiệm cho các bộ phận trực tiếp thực hiện và các bộ phận phục vụ công tác phân tích cũng như quy định về hình thức của hội nghị phân tích

 Thu thập và xử lý thông tin

Để phục vụ yêu cầu phân tích tài chính một cách toàn diện và đánh giá đúng được thực trạng của đối tượng phân tích, phân tích tài chính cần thu thập và sử dụng mọi nguồn thông tin có thể có được: từ thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài, từ thông tin về số lượng đến những thông tin giá trị, và

từ thông tin có thể lượng hóa được đến các thông tin không thể lượng hóa được

Có thể phân chia một các tổng quát các thông tin mà phân tích tài chính cần thu thập và xử lý gồm:

Thông tin tài chính: Đây là thông tin có thể thu thập được từ các kế hoạch

tài chính chi tiết và tổng hợp của doanh nghiệp, các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị và các tài liệu chi tiết có liên quan khác

Trang 18

Thông tin phi tài chính: Hoạt động của một doanh nghiệp không chỉ phụ

thuộc vào các nhân tố bên trong – tức các yếu tố của bản thân doanh nghiệp, mà còn chịu tác động của nhiều yếu tố bên ngoài Việc phân tích tài chính là để đưa ra

dự báo về tương lai của doanh nghiệp, do đó ngoài các số liệu lịch sử, số liệu hiện tại của doanh nghiệp thì các thông tin phi tài chính như môi trường kinh tế, ngành, môi trường chính trị, pháp luật cũng là mối quan tâm của phân tích tài chính

 Xác định những biểu hiện đặc trưng

Để định hướng quá trình phân tích tài chính, ta cần xác định được các biểu hiện đặc trưng trong tình hình tài chính của doanh nghiệp Bằng cách tính toán các chỉ số tài chính, lập các bảng biểu phân tích theo các chỉ tiêu đã đặt ra cũng như so sánh các số liệu có được với kì trước, với các đối thủ cạnh tranh hay đối với trung bình toàn ngành, ta có thể vạch ra những đặc điểm chính, nhưng biểu hiện đặc trưng của doanh nghiệp Qua đó, ta xác định được những điểm mạnh, điểm yếu và tiềm năng của doanh nghiệp, từ đó vạch ra các vấn đề trọng tâm cần được đi sâu phân tích

 Phân tích

Bằng cách sử dụng các phương pháp và kĩ thuật phân tích tài chính, ta sẽ phân tích các nhân tố và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến các chỉ tiêu phân tích Qua đó, các nhà phân tích có thể đưa ra đánh giá về các nguyên nhân thành công, thất bại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

 Tổng hợp và dự đoán

Dựa trên các kết quả thu được từ quá trình phân tích trên, nhà phân tích sẽ tổng hợp các kết quả thu được thông qua báo cáo phân tích, đồng thời rút ra nhận xét và dự báo xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Trên cơ sở

đó, ta có thể đề xuất các kiến nghị, giải pháp tài chính cũng như các giải pháp khác nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra

Trang 19

1.2.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

Để tiến hành phân tích tài chính, doanh nghiệp phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để xử lý, trình bày và đánh giá số liệu Có nhiều phương pháp cho các doanh nghiệp lựa chọn, tùy theo những đặc điểm riêng có của doanh nghiệp như lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, loại hình doanh nghiệp, quy mô… để lựa chọn phương pháp phân tích cho phù hợp Trong đó, một số phương pháp thường được sử dụng phổ biến đó là: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích

số tỉ lệ và phương pháp phân tích Dupont

 Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến và thường được sử dụng để đánh giá tỉ trọng, vị trí, xu hướng và tốc độ phát triển của các chỉ tiêu tài chính cũng như đánh giá mức độ hoạt thành kế hoạch của doanh nghiệp Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh, ta có thể đánh giá được bản chất và nguyên nhân của mỗi sự thay đổi trong các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp, qua đó có hướng thay đổi, cải tiến phù hợp để đạt được mục tiêu quản lý đề ra

Tuy nhiên, để có thể sử dụng phương pháp so sánh thì số liệu cần phải đảm bảo các điều kiện:

Thứ nhất, khi so sánh thì phải có ít nhất 2 số liệu để so sánh Các số liệu

này phải đảm bảo so sánh được với nhau, đó là các số liệu phải có cùng nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính, cùng một đơn vị đo lường và phải được thu thập trong cùng một độ dài thời gian

Thứ hai, cần phải xác định được gốc so sánh Gốc so sánh có thể là tại một

thời điểm nào đó hoặc cũng có thể là số liệu tổng hợp của một thời kì Khi lấy gốc

so sánh là một thời điểm hoặc thời kì trong quá khứ thì ta sẽ có được tốc độ và xu hướng phát triển của chỉ tiêu kinh tế đó Khi so sánh cần lựa chọn và tách được ra ảnh hưởng của các nguyên nhân bất thường gây tác động lên xu hướng thay đổi của chỉ tiêu Còn khi muốn phân tích về tình hình hoàn thành kế hoạch đề ra thì phải lựa chọn gốc so sánh là chỉ tiêu kinh tế đó ở kì kế hoạch Khi muốn biết vị thế

Trang 20

của doanh nghiệp thì ta phải so sánh các chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp với mức trung bình ngành hoặc một số đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp

Về kĩ thuật so sánh, nhà phân tích có thể so sánh bằng số tuyệt đối hoặc số tương đối hoặc số bình quân Dựa trên yêu cầu, mục tiêu phân tích ta có thể lựa chọn các kĩ thuật phù hợp Nếu như so sánh bằng số tuyệt đối cho biết khối lượng, quy mô biến động của các chỉ tiêu kinh tế thì so sánh bằng số tương đối cho ta thấy xu hướng phát triển hoặc tình hình hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu kinh tế

So sánh bằng số bình quân là dạng đặc biệt của kĩ thuật so sánh bằng số tuyệt đối

Số bình quân biểu hiện tính chất đặc trưng chung về số lượng nhằm phải ánh đặc điểm chung của một doanh nghiệp hoặc bộ phận của doanh nghiệp

Khi phân tích các báo cáo tài chính, các nhà phân tích thường thực hiện kĩ thuật so sánh dọc và so sánh ngang

So sánh theo chiều dọc là việc so sánh theo cột, giữa chỉ tiêu này với chỉ tiêu khác có liên quan Khi phân tích các báo cáo tài chính, nhà phân tích thường lựa chọn một chỉ tiêu làm gốc để so sánh và tính các chỉ tiêu còn lại theo tỉ lệ phần trăm so với chỉ tiêu gốc Chỉ tiêu được chọn làm gốc thường là Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ (Báo cáo kết quả kinh doanh), Tổng tài sản, Tổng nguồn vốn (Bảng cân đối kế toán) hoặc Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (Báo cáo lưu chuyển tiền tệ)

So sánh theo chiều ngang là việc so sánh trên cùng một hàng hay cùng một chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính giữa kì này với kì trước đó hoặc kì được chọn làm gốc bằng cả số tuyệt đối và số tương đối Phương pháp này giúp cung cấp cho các nhà phân tích tài chính thông tin quan trọng về xu thế và mối quan hệ của 2 hay nhiều năm Do đó phương pháp này cũng có ý nghĩa quan trọng và được sử dụng nhiều trong nghiên cứu

 Phương pháp phân tích số tỉ lệ

Phương pháp phân tích số tỉ lệ là phương pháp sử dụng hệ thống các số tỉ lệ (các tỉ số tài chính) để phân tích số liệu Đây là phương pháp truyền thống trong

Trang 21

phân tích tài chính doanh nghiệp Các số tỉ lệ dùng trong phân tích được thiết lập bởi việc xác lập tỉ lệ giữa chỉ tiêu này với chỉ tiêu khác

Những nội dung cần tiến hành khi sử dụng phương pháp phân tích số tỉ lệ:

- Xác định công thức và các chỉ tiêu cần phân tích;

- Xác định đúng số liệu cần thiết cho việc phân tích và tiến hành tính toán;

- Giải thích ý nghĩa của tỉ số tài chính; Đánh giá ý nghĩa của tỉ số vừa tính;

- Rút ra kết luận, nhận xét về tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu vừa phân tích;

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng;

- Đề xuất các kiến nghị và lập báo cáo phân tích

Sử dụng phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả các

số liệu và phân tích có một cách có hệ thống hàng loạt tỉ số theo một chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn cụ thể Bằng cách kết hợp các nhóm chỉ số với nhau và với các phương pháp phân tích khác, nhà phân tích có thể đánh giá được khá chính xác và toàn diện về tình hình tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt

có thể chỉ ra nguyên nhân và bản chất của sự biến động của các chỉ tiêu đó Theo yêu cầu của phương pháp phân tích số tỉ lệ, ta cần phải có số liệu để tham chiếu để đánh giá mới nhận xét được về mức độ của các chỉ tiêu Như vậy, khi sử dụng phương pháp này, các nhà phân tích thường kết hợp với phương pháp so sánh theo thời gian như so sánh với các tỉ số của năm trước, theo không gian như so sánh với

số liệu của trung bình ngành mà doanh nghiệp kinh doanh, số liệu định mức kĩ thuật, số liệu trung bình của các doanh nghiệp có đặc điểm tương tự… để biết được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường

 Phương pháp phân tích Dupont

Bản chất của phương pháp phân tích Dupont là tách một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (một tỉ số tổng hợp) thành tích của một chuỗi các chỉ số có ý nghĩa khác

Trang 22

có mỗi liên hệ nhân quả với nhau Bằng cách này, ta có thể phân tích được những ảnh hưởng của chuỗi các tỉ số thành phẩn lên tỉ số tổng hợp, qua đó cho thấy nguyên nhân chính gây ra biến động của tỉ số tổng hợp là do đâu Như vậy, bằng phương pháp này, nhà phân tích có thể đánh giá được những nhân tố, nguyên nhân chính dẫn đến những biến động trong một chỉ tiêu tài chính nào đó, từ đó có thể dự báo và đề xuất các kiến nghị nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Phương pháp Dupont thường được sử dụng để phân tích một số chỉ tiêu tổng hợp như:

Trong đó: PM: tỉ suất doanh lợi doanh thu

AU: hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Trang 23

Đây là phương pháp mang nét đặc trưng riêng so với các phương pháp khác

do nó cho biết nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi của các chỉ tiêu ROA, ROE

1.2.4 Các chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2.4.1 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh

Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh là việc phân tích các khoản mục chính trên báo cáo kết quả kinh doanh về sự thay đổi về quy mô qua các năm cũng như cơ cấu của chúng so với doanh thu thuần Tương ứng ta có phương pháp phân tích so sánh ngang và so sánh dọc báo cáo kết quả kinh doanh

Phương pháp so sánh ngang báo cáo kết quả kinh doanh là việc so sánh

quy mô các khoản mục doanh thu, chi phí, lợi nhuận…của năm nay so với năm trước (hoặc từng năm so với năm gốc), kết quả được thể hiện dưới dạng phần trăm (%) Phương pháp này cho ta nhìn nhận một cách tổng quát về sự thay đổi về quy

mô từng khoản mục trong báo cáo kết quả kinh doanh Trên thực tế, ta không cần thiết phải tính tỉ lệ phần trăm khuynh hướng hoặc tốc độ tăng trưởng cho tất cả các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh mà chỉ cần tập trung vào một số chỉ tiêu quan trọng có mối quan hệ logic với nhau Việc phân tích biến động của các chỉ tiêu này sẽ cung cấp cho ta nhiều thông tin hữu ích về tình hình tài chính của doanh nghiệp

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào sự tăng giảm tương đối của các chỉ tiêu trên báo cáo thì đôi khi ta không thể đánh giá chính xác xu hướng phát triển của doanh nghiệp, cũng như khó có thể đánh giá được sự thay đổi đó là tích cực hay tiêu cực,

là hợp lý hay không hợp lý Do đó, bên cạnh việc phân tích về tốc độ tăng trưởng thì nhà phân tích còn phải quan tâm đến sự tăng giảm tuyệt đối của các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh để có một cái nhìn toàn diện hơn về doanh nghiệp

Phương pháp so sánh ngang như trình bày ở phần trên nhìn chung có một nhược điểm đó là không giúp nhà phân tích nhìn thấy được hoặc lý giải được những thay đổi về giá trị của các chỉ tiêu từ năm này qua năm khác trong mối quan

hệ với doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp Nhược

Trang 24

điểm này càng rõ nét hơn khi ta so sánh nhiều công ty với nhau hay so sánh công

ty với trung bình ngành Do quy mô khác nhau nên ta không có cơ sở nào để có thể so sánh được Do đó, khi phân tích báo cáo kết quả kinh doanh nói riêng hay báo cáo tài chính nói chung, nhà phân tích thường kết hợp phương pháp so sánh ngang với phương pháp so sánh dọc

Phương pháp so sánh dọc: là cách thể hiện số liệu trên báo cáo tài chính

dưới dạng tỉ lệ phần trăm so với doanh thu thuần Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh dạng so sánh dọc (hay báo cáo kết quả kinh doanh đồng quy mô) cho ta thấy tỉ lệ phần trăm doanh thu thuần đã phải chi cho các loại chi phí như thế nào

và phần lợi nhuận còn lại là bao nhiêu Trong khi phương pháp phân tích ngang chỉ phân tích được xu hướng thay đổi về quy mô của các chỉ tiêu thì phương pháp phân tích dọc còn cho thấy được nguồn gốc của lợi nhuận là từ hoạt động kinh doanh chính hay là từ các hoạt động bất thường của doanh nghiệp bằng việc xem xét tỉ trọng của các khoản doanh thu, chi phí, thu nhập từ hoạt động tài chính và hoạt động khác

1.2.4.2 Phân tích mối quan hệ cân bằng trên bảng cân đối kế toán

Ngoài việc phân tích dọc và phân tích ngang bảng cân đối kế toán giống như phân tích báo cáo kết quả kinh doanh, người ta còn rất quan tâm đến việc phân tích mối quan hệ cân bằng trên bảng cân đối kế toán Có hai nội dung chính trong việc phân tích mối quan hệ cân bằng trên bảng cân đối kế toán đó là phân tích tình hình sử dụng vốn, tạo nguồn và phân tích cân bằng tài chính

 Phân tích tình hình sử dụng vốn, tạo nguồn:

Vốn của một doanh nghiệp có thể được phân chia thành vốn cố định và vốn lưu động Việc tỉ trọng các nguồn vốn này như thế nào, xu hướng tăng hay giảm, phân phối cho từng khâu, từng giai đoạn trong quá trình kinh doanh có phù hợp hay không sẽ ảnh hưởng rất lớn tới kết quả kinh doanh cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp

Trong phân tích tình hình sử dụng vốn và tạo nguồn của doanh nghiệp, nhà phân tích sẽ xem xét sự thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của

Trang 25

doanh nghiệp trong một thời kì theo số liệu đầu và cuối kì Nguyên tắc phân biệt

sử dụng vốn và tạo nguồn vốn:

Sử dụng vốn: Tài sản tăng hoặc nguồn vốn giảm

Nguồn vốn: Tài sản giảm hoặc nguồn vốn tăng

Việc lập bảng sử dụng vốn và tạo nguồn là cơ sở để tiến hành phân tích tình hình tăng, giảm nguồn vốn và huy động, sử dụng vốn, qua đó chỉ ra trọng điểm đầu tư vốn của doanh nghiệp và những nguồn chủ yếu tài trợ cho hoạt động của donah nghiệp Dựa trên các thông tin này, nhà phân tích có thể đánh giá tình hình huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp có lành mạnh, bền vững và mức độ rủi

ro ra sao… Qua đó có biện pháp khai thác tốt các nguồn vốn hơn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

 Phân tích cân bằng tài chính

Trong hoạt động kinh doanh của mình, việc doanh nghiệp phát sinh nhu cầu vốn lưu động là điều tất yếu Để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động, một cơ cấu vốn

an toàn cho doanh nghiệp đó là doanh nghiệp phải sử dụng một phần vốn dài hạn

để bù đắp, phần còn lại sẽ được tài trợ bởi nợ ngắn hạn Tuy nhiên, cơ cấu tham gia của vốn dài hạn và vốn ngắn hạn vào tài trợ nhu cầu vốn lưu động đối với mỗi doanh nghiệp là khác nhau, nó quyết định mức độ rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp

Để phân tích cân bằng tài chính, doanh nghiệp sử dụng kết hợp một số chỉ tiêu như vốn lưu động thường xuyên, nhu cầu vốn lưu động và vốn bằng tiền được xác định như sau:

Vốn lưu động thường xuyên = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

Nhu cầu vốn lưu động = Tài sản kinh doanh – Nợ kinh doanh

Vốn bằng tiền = Vốn lưu động thường xuyên – Nhu cầu vốn lưu động Các trường hợp xảy ra như sau:

Trường hợp 1: Nhu cầu vốn lưu động được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn

vốn dài hạn, doanh nghiệp dư thừa ngân quỹ trên cơ sở nguồn vốn dài hạn

Vốn bằng tiền > 0 Vốn LĐTX > 0

Trang 26

Nhu cầu VLĐ > 0

Trường hợp 2: Nhu cầu vốn lưu động được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn

vốn dài hạn Rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp thấp nhưng phải đối mặt với chi phí vốn cao

Trường hợp 4: Doanh nghiệp chiếm dụng được vốn từ bên thứ 3 lớn hơn

toàn bộ nhu cầu cầu vốn ngắn hạn phát sinh trong hoạt động kinh doanh; mặt khác doanh nghiệp dư thừa trên cơ sở nguồn vốn dài hạn

Vốn bằng tiền > 0 Nhu cầu VLĐ < 0

Vốn LĐTX > 0

Trường hợp 5: Dư thừa ngân quỹ trên cơ sở nguồn vốn chiếm dụng được từ

bên thứ 3, doanh nghiệp sử dụng vốn ngăn hạn đề đầu tư cho tài sản dài hạn

Vốn bằng tiền > 0

Nhu cầu VLĐ > 0 Vốn LĐTX < 0

Trường hợp 6: Doanh nghiệp sử dụng vốn ngắn hạn chiếm dụng được từ bên thứ 3 để đầu tư vào tài sản dài hạn

Vốn LĐTX < 0 Nhu cầu VLĐ < 0

Trường hợp 7: Doanh nghiệp dùng nợ ngắn hạn (cả chiếm dụng được từ

bên thứ 3 và vay ngắn hạn ngân hàng) để đầu tư cho tài sản dài hạn

Vốn LĐTX < 0 Vốn bằng tiền < 0

Nhu cầu VLĐ < 0

Trường hợp 8: Doanh nghiệp sử dụng nợ ngắn hạn đầu tư cho dài hạn, mức

độ vay nợ cao

Trang 27

Nhu cầu VLĐ > 0

Vốn bằng tiền < 0 Vốn LĐTX > 0

1.2.4.3 Phân tích các chỉ tiêu tài chính

 Nhóm chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động

- Vòng quay khoản phải thu và kì thu tiền bình quân

Vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần từ bán hàng và CCDV

Khoản phải thu bình quânChỉ tiêu vòng quay khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào vào các khoản phải thu để duy trì doanh số bán hàng cần thiết cho doanh nghiệp, qua đó nói lên hiệu quả một chính sách tín dụng của doanh nghiệp Thông thường vòng quay các khoản phải thu cao thể hiện doanh nghiệp đang kiểm soát tốt các khoản phải thu, vốn đầu tư cho các khoản phải thu ít hơn Một chỉ tiêu ngược với vòng quay khoản phải thu được đưa vào phân tích đó là kì thu tiền bình quân:

Kì thu tiền bình quân = 365

Vòng quay khoản phải thu (ngày) Chỉ tiêu này cho biết khoảng thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp xuất hàng đến khi tiền hàng được thu về đầy đủ Trong kì, nếu như vòng quay các khoản phải thu dài hơn hay kì thu tiền bình quân ngắn hơn so với kì trước thì thể hiện các khoản phải thu được thu hồi nhanh hơn, vốn của doanh nghiệp ít bị ứ đọng hơn ở khoản phải thu, ít bị khách hàng chiếm dụng hơn

Tuy nhiên, 2 tỉ số này cao hay thấp còn tùy thuộc vào chính sách tín dụng trong từng thời kì của doanh nghiệp Chẳng hạn như một doanh nghiệp khi mới thành lập sẽ sẵn sàng đầu tư nhiều vào các khoản phải thu nhằm thu hút khách hàng mới và tạo dựng mối quan hệ tốt với các khách hàng Như vậy, khi phân tích chỉ tiêu này cần quan tâm đến chính sách bán hàng của doanh nghiệp

- Vòng quay hàng tồn kho và kì luân chuyển hàng tồn kho

Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho bình quân

Trang 28

Vòng quay hàng tồn kho thể hiện số lần trung bình hàng tồn kho luân chuyển của doanh nghiệp trong một kì

Kì luân chuyển hàng tồn kho = 365

Vòng quay hàng tồn kho (ngày)

Kì luân chuyển hàng tồn kho là khoảng thời gian từ khi doanh nghiệp mua vật liệu và sản xuất (đối với doanh nghiệp sản xuất) hoặc nhập hàng hóa về kho (đối với doanh nghiệp thương mại) đến khi hàng hóa được tiêu thụ

Vòng quay hàng tồn kho và kì luân chuyển hàng tồn kho là cặp tỉ số dùng

để đánh giá hiệu quả quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp

Nếu vòng quay hàng tồn kho cao, tức là kì luân chuyển hàng tồn kho ngắn thể hiện có thể doanh nghiệp thường xuyên ở trong tình trạng thiếu hụt hàng tồn kho, nhưng cũng có thể do chính sách cắt giảm chi phí bằng cách giảm chi phí lưu kho sản phẩm, đặc biệt đối với những doanh nghiệp kinh doanh các loại hàng hóa

mà khó bảo quản và chi phí bảo quản, lưu kho cao

- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần

Tổng tài sản bình quânHiệu suất sử dụng tổng tài sản đo lường tổng quát về năng lực hoạt động của tài sản trong doanh nghiệp Tỉ số này cho biết trung bình mỗi đồng vốn đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Thông thường tỉ số này càng cao thể hiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn, bởi vì doanh nghiệp phải đầu tư ít hơn vào tài sản để đạt được mức độ doanh thu cụ thể

Trang 29

- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần

TSCĐ bình quân

Tỉ số hiệu suất sử dụng tài sản cố định thể hiện cứ mỗi đồng đầu tư vào tài sản cố định trung bình sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Sử dụng tỉ số này

có thể đánh giá được năng lực quản lý các loại tài sản cố định của doanh nghiệp

Tỉ số này càng thấp nhìn chung thể hiện công tác quản trị và khai thác tài sản cố định chưa tốt, chưa sử dụng hết công suất của tài sản cố định

 Nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán

- Khả năng thanh toán hiện hành

Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

Tỉ số khả năng thanh toán hiện hành cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp vay của các chủ nợ được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của khoản nợ đó Tuy nhiên, trong tổng nợ cũng có những khoản chưa đến hạn trả, đã đến hạn trả hoặc quá hạn Do đó chỉ tiêu này dùng để xem xét một cách chung nhất khả năng thanh toán làm cơ sở đánh giá doanh nghiệp mà thôi

Thông thường, nếu tỉ số này quá thấp thì có thể doanh nghiệp sẽ không có khả năng chi trả các khoản nợ sắp đến hạn, tăng rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp; còn nếu tỉ số này quá cao thì có thể là dấu hiệu không tốt vì doanh nghiệp đang đầu tư vào tài sản ngắn hạn bằng 1 phần nguồn vốn dài hạn – nguồn vốn có chi phí cao Tuy nhiên, để đánh giá tỉ số này cần lưu ý đến lĩnh vực và điều kiện kinh doanh của từng doanh nghiệp cụ thể Thông thường, đối với một doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong lĩnh vực thương mại như công ty Hevent thì tỉ số này nên ở mức bằng 2

Trang 30

- Khả năng thanh toán nhanh

Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn − Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn

Tỉ số khả năng thanh toán nhanh được sử dụng để đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng cách chuyển đổi các tài sản ngắn hạn (trừ hàng tồn kho) thành tiền Theo các nhà kinh tế, thì tỉ số này nên ở mức bằng 1 là hợp lý

 Nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lợi

- Tỉ suất sinh lời tổng tài sản (ROA)

ROA = Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản bình quân× 100%

Như theo công thức tính ROA thể hiện thì tỉ suất sinh lợi tổng tài sản thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế với tổng tài sản bình quân Tỉ số này cho biết cứ 100 đồng tài sản hiện có trong doanh nghiệp trung bình mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Tùy vào mục tiêu phân tích mà ta có thể lựa chọn đại lượng trên tử số của công thức là lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) hoặc lợi nhuận trước thuế cộng lãi vay sau thuế Tỉ số này của doanh nghiệp được cả các nhà đầu tư và các chủ nợ quan tâm

- Tỉ suất sinh lời vốn chủ sỡ hữu (ROE)

ROE = Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu bình quân× 100%

Tỉ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế với vốn chủ sở hữu bình quân Tỉ số này cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đem đầu từ vào doanh nghiệp thì trung bình mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Cũng như đối với ROA, đại lượng trên tử số của công thức tính có thể là EBIT hoặc lợi nhuận sau thuế cộng lãi vay sau thuế Tuy nhiên, sử dụng lợi nhuận sau thuế đối với tỉ số này là có ý nghĩa nhất bởi đó mới là phần lợi nhuận cuối cùng mà các chủ sở hữu quan tâm Tỉ số này của doanh nghiệp được các nhà đầu

tư rất quan tâm, đặc biệt là đối với công ty cổ phần

Trang 31

- Tỉ suất doanh lợi doanh thu

Tỉ suất doanh lợi doanh thu = Lợi nhuận

Doanh thu thuần× 100%

Tỉ suất doanh lợi doanh thu là chỉ tiêu dùng để phân tích lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu, nó thể hiện mỗi 100 đồng doanh thu thu được đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Tùy vào mục tiêu phân tích, có thể lựa chọn đại lượng trên tử số là lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận trước hoặc sau thuế Theo đó, đại lượng dưới mẫu số tương ứng là doanh thu thuần hoặc doanh thu và thu nhập khác Thông thường, những doanh nghiệp có tỉ suất doanh lợi doanh thu cao là những doanh nghiệp quản lý tốt chi phí trong hoạt động kinh doanh hoặc thực hiện tốt các chiếu lược cạnh tranh về chi phí

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp

Chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp tốt hay chưa tốt là do ảnh hưởng của các nhân tố tác động sau:

1.2.5.1 Quy trình tổ chức phân tích

Đây là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng phân tích tài chính của doanh nghiệp bỏi vì nếu không xây dựng được một kế hoạch, quy trình phân tích khoa học và phù hợp với điều kiện doanh nghiệp và các nguyên tắc phân tích thì

sẽ dẫn tới vướng mắc, khó khăn trong khi tiến hành phân tích Để thực hiện công việc phân tích tài chính cần thực hiện tốt các công việc từ khâu chuẩn bị kế hoạch, thực hiện, kiểm tra giám sát và đánh giá kết quả Các công việc này muốn thực hiện tốt cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban có trách nhiệm trong doanh nghiệp Mỗi phòng ban với chức năng nhiệm vụ của mình dưới sự phân công của trưởng phòng mỗi người đều có phần việc của mình để hướng tới mục tiêu chung là tổ chức tốt công tác phân tích tài chính Nguồn thông tin được thu thập từ các phòng ban là kết quả nội bộ quan trọng trên cơ sở được xử lý, chọn lọc bởi các nhà quản lý cấp cao được cung cấp cho quá trình phân tích tài chính và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phân tích tài chính Đặc biệt, ngày nay việc

sử dụng công nghệ kĩ thuật hiện đại giúp vừa rút ngắn thời gian cần sử dụng để xử

Trang 32

lý và phân tích số liệu, lại vừa tăng tính chính xác của việc phân tích và còn tiết kiệm được chi phí

1.2.5.2 Phương pháp phân tích tài chính được lựa chọn

Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp để các nhà phân tích, càng nhà quản trị tài chính có thể lựa chọn Vì vậy, họ phải tính toán, xem xét

kĩ lưỡng để chọn được phương pháp phân tích phù hợp nhất với đặc điểm của

doanh nghiệp

Trong điều kiện hiện nay, phải kết hợp các phương pháp phân tích tài chính tùy theo từng mục tiêu cụ thể của nhà quản lý quan tâm thì việc phân tích mới mang lại hiệu quả như ý muốn của doanh nghiệp Bởi lẽ nếu chỉ sử dụng một phương pháp phân tích thì kết quả phân tích thu được sẽ không toàn diện và khách quan Do vậy, cần kết hợp nhiều phương pháp phân tích để khắc phục những khuyết điểm của từng phương pháp và có thể đưa ra đánh giá một cách chính xác

và toàn diện nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp

1.2.5.3 Trình độ chuyên môn của người thực hiện phân tích tài chính

Từ các nguồn thông tin khác nhau, các nhà phân tích tài chính thu thập tài liệu và tổng hợp thành các bảng, rồi sau đó sử dụng khả năng chuyên môn của mình để phân tích, biến những con số đó trở thành những con số “biết nói” Không chỉ dừng lại ở đó, sau khi đưa ra được những nhận xét về tình hình tài chính của doanh nghiệp, người phân tích còn phải vạch ra được những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để qua đó định hướng những kiến nghị, giải pháp cho phù hợp

Trình độ chuyên môn của nhà phân tích có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả phân tích tài chính của doanh nghiệp Với khả năng chuyên môn cao, nhà phân tích sẽ lựa chọn và thu thập được những thông tin có giá trị và có ý nghĩa phân tích Việc lựa chọn công cụ phân tích cũng phụ thuộc vào người phân tích Kết quả phân tích tài chính luôn mang dấu ấn cá nhân do vậy nhà phân tích có những đánh giá nhận xét riêng của mình về tình hình tài chính doanh nghiệp là điều không thể tránh khỏi

Trang 33

1.2.5.4 Chất lượng thông tin sử dụng trong phân tích tài chính

Thông tin là một vấn đề hết sức cần thiết trong tất cả các lĩnh vực nói chung

và trong phân tích tài chính nói riêng Có thể khẳng định rằng nếu không có thông tin hoặc thiếu thông tin thì việc phân tích tài chính không thể thực hiện được hoặc nếu phân tích trong điều kiện thông tin không đầy đủ chính xác thì chất lượng phân tích sẽ thấp hoặc thậm chí là không có ý nghĩa Những nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp phải đảm báo được tính chính xác của nó, còn những thông tin bên ngoài doanh nghiệp từ ngành nghề, môi trường kinh doanh… thì có thể dựa trên những giá trị gần đúng vì đó là những thông tin khó thu thập và tổng hợp cũng như không dễ dàng xác minh được

1.2.5.5 Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành

Việc phân tích tài chính của doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa hơn khi có sự tồn tại của các chỉ tiêu trung bình ngành bởi vì đây là cơ sở tham chiếu quan trọng trong khi tiến hành phân tích Ta có thể nói các tỷ số tài chính của doanh nghiệp là cao hay thấp, tốt hay xấu khi đem so sánh với tỷ lệ trung bình ngành Qua đó, các nhà phân tích và các nhà quản lý có thể đánh giá được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường cũng như trong ngành kinh doanh, từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao vị thể và khả năng cạnh tranh, khắc phục những tồn tại, bất cập

Trang 34

2 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN HEVENT

2.1 Tổng quan về công ty cổ phần Hevent

2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển công ty

 Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần Hevent

Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN HEVENT

Tên giao dịch: HEVENT JOINT STOCK COMPANY

Tên viết tắt: HEVENT., JSC

Địa chỉ trụ sở chính: 212/135/34 Vĩnh Tuy, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Điện thoại: 0913380004, Fax: 043.6335816, Webiste: http://hevent.com.vn Giấy phép đăng ký kinh doanh số: 0103867732 do Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 25 tháng 05 năm 2009

Giám đốc: Ông Đinh Văn Trung

 Quá trình hình thành và phát triển:

Tháng 5/2009, nhận thấy nhu cầu về các thiết bị y tế hiện đại của các bệnh viện, trung tâm y tế, phòng khám tại khu vực Hà Nội chưa được đáp ứng bởi các doanh nghiệp hiện có trên địa bàn, các cổ đông sáng lập đã quyết định thành lập công ty cổ phần Hevent – chuyên cung cấp các trang thiết bị vật tư y tế tại Hà Nội Nửa cuối năm 2009 và 2010 là giai đoạn đặt ra nhiều khó khăn thách thức cho một doanh nghiệp non trẻ như Hevent Trong khoảng thời gian này, chủ yếu công ty là nhà thầu phụ, chịu trách nhiệm lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng các loại máy móc, trang thiết bị cho các nhà thầu chính

Năm 2011 và 2012, công ty hướng sang mở rộng quy mô bằng việc huy động vốn để đầu tư vào các tài sản cố định, tài sản ngắn hạn như khoản phải thu và hàng tồn kho - nhằm tạo dựng, duy trì mối quan hệ kinh doanh với khách hàng Kể từ năm 2011 công ty đã bắt đầu có lợi nhuận để tái đầu tư Tháng 7 năm 2012, công

ty đã tham gia dự thầu cung cấp máy xét nghiệm cho phòng xét nghiệm bệnh viện

đa khoa Thống Nhất Đồng Nai, với tổng giá trị gói thầu lên đến 9,240 triệu đồng

Trang 35

Trong 6 tháng đầu năm 2013, tuy vẫn gặp nhiều khó khăn bởi tình hình kinh

tế chung cũng như sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các đối thủ lớn, không những công

ty Hevent vẫn cố gắng đứng vững được trên thị trường mà hoạt động kinh doanh còn diễn ra khá tốt đẹp với kết quả tạo ra được hơn 77 triệu đồng lợi nhuận sau thuế

 Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của công ty cổ phần Hevent

- Bán lẻ dụng cụ y tế, mỹ phẩm, vật phẩm vệ sinh cho cửa hàng chuyên doanh

- Bán buôn dụng cụ y tế, máy móc, thiết bị y tế

- Kinh doanh máy móc, thiết bị tin học, công nghệ thông tin, thiết bị viễn thông, thiết bị văn phòng, máy văn phòng, máy tính, máy photocopy

- Các lĩnh vực kinh doanh khác;

2.1.2 Mô hình tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức:

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần Hevent

Nguồn: Phòng Tài chính Kế toán CTCP Hevent

Đại hội đồng cổ đông Ban kiểm soát

Phòng Tài chính –

Kế toán

Phòng nhân sự

Trung tâm bảo

hành, bảo trì

thiết bị

Bộ phận chăm sóc khách hàng

Phòng khám

y khoa Đông Á

Bộ phận Marketing

Trang 36

2.1.2.2 Nhiệm vụ chính của các phòng ban

Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông có quyền thảo luận và thông

qua các BCTC kiểm toán hàng năm, bảo cáo của Ban kiểm soát, Hội đồng quản trị

và thông qua các kế hoạch phát triển của công ty

Ban kiểm soát: Đây là bộ phận có chức năng giám sát, kiểm tra các hoạt động

kinh doanh và kiểm toán nội bộ các báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị có quyền quyết định chiến lược và kế

hoạch phát triển trung hạn cũng như kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty

Giám đốc điều hành: là người đại diện pháp luật của Công ty, thay mặt Công

ty ký kết các hợp đồng kinh tế, trực tiếp điều hành toàn bộ công việc kinh doanh hàng ngày của công ty

Giám đốc tài chính: Nhiệm vụ của Giám đốc tài chính là quản lý tài chính

doanh nghiệp như nghiên cứu, phân tích và xử lý các mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp, xây dựng các kế hoạch tài chính và dự báo

Phòng kinh doanh: có chức năng tìm kiếm khách hàng, đối tác để phát triển

mạng lưới, mở rộng thị phần; nghiên cứu và tham mưu cho Ban Giám đốc

Phòng hỗ trợ kĩ thuật và trung tâm bảo hành, bảo trì thiết bị: Các bộ phận

này có chức năng thực hiện lắp đặt, chạy thử máy móc sản phầm; bảo hành, bảo trì

và xử lý các sự cố và tư vấn kĩ thuật cho khách hàng khi cần thiết

Phòng tài chính kế toán: có chức năng lập các báo cáo tài chính, theo dõi và

ghi chép tình hình kinh doanh, tham mưu cho Ban Giám đốc về các vấn đề như các công tác tài chính, kế toán, kiểm toán nội bộ, quản lý tài sản

Phòng nhân sự: Quản lý các vấn đề về lao động, tiền lương theo các quy định

của Nhà nước và của công ty

Bộ phận chăm sóc khách hàng và bộ phận marketing: là các bộ phân chuyên

trách của phòng kinh doanh, có chức năng tìm kiếm, chăm sóc, hỗ trợ và giao tiếp với khách hàng và đưa ra các phương án quảng bá hình ảnh và sản phẩm công ty

Phòng khám y khoa Đông Á: Công ty mở phòng khám y khoa Đông Á để

cung cấp dịch vụ chữa bệnh cho mọi người

Trang 37

2.1.3 Kết quả kinh doanh của công ty những năm gần đây

2.1.3.1 Khái quát về tình hình tài sản và nguồn vốn

 Về tăng trưởng quy mô tài sản và nguồn vốn:

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng quy mô tổng tài sản của công ty cổ phần Hevent

Như vậy, công ty đang tăng vốn rất nhanh bằng nguồn vốn nợ trong khi vốn chủ sở hữu tăng không nhiều, điều này một mặt thể hiện uy tín của công ty trên thị trường đã tăng lên, khiến cho cơ hội tiếp cận vốn vay của công ty ngày càng rộng mở hơn, mặt khác lại đặt ra thực tế là rủi ro tài chính của công ty đang tăng lên rất nhanh Do đó, công ty cần nghiên cứu kĩ lưỡng để đặt ra một mức cơ cấu vốn mục tiêu phù hợp với mục đích hoạt động và đặc điểm riêng của công ty

và duy trì cơ cấu vốn đó để ổn định tình hình tài chính Việc tăng nhanh tổng tài sản nếu không đi đôi với việc tăng hiệu quả sử dụng tài sản, quản lý tốt để phát huy được tối đa công suất của tài sản thì tốc độ tăng tài sản sẽ không tương xứng với tốc độ tăng của doanh thu và lợi nhuận Theo đó, các chỉ số về khả năng hoạt

Trang 38

động và khả năng sinh lợi của công ty giảm đi, uy tín và độ hấp dẫn của công ty đối với chủ nợ cũng như các chủ đầu tư sẽ giảm dần, từ đó mức độ tiếp cận với các nguồn vốn huy động trên thị trường cũng trở nên khó khăn hơn

 Về cơ cấu nguồn vốn và tài sản

Trước hết, ta xem xét về sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn công ty cổ phần Hevent thông qua sơ đồ dưới đây:

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nguồn vốn công ty Hevent

Nguồn: Bảng cân đối kế toán CTCP Hevent

(trích dẫn tại phụ lục 1)

Có thể thấy rằng cơ cấu nguồn vốn của công ty cổ phần Hevent đã thay đổi rất nhiều kể từ khi mới thành lập, theo hướng ngày càng tăng tỉ trọng nợ phải trả, giảm tỉ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn

Trong khi vào cuối năm 2010, là một doanh nghiệp mới thành lập, công ty gặp khó khăn trong việc huy động vốn bằng hình thức vay nợ cũng như chưa tiếp cận được các hình thức tín dụng thương mại nên tỉ trọng nợ trên tổng nguồn vốn rất thấp (chỉ chiếm 2,16%) thì đến năm 2012, công ty đã thay đổi cơ cấu nguồn vốn của mình thành sử dụng 54,16% vốn chủ sở hữu, tức là huy động đến 45,84%

nợ phải trả Tỉ số nợ của công ty tăng mạnh trong những năm gần đây cho thấy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng có nhiều rủi ro hơn do quy mô nguồn vốn chủ sỡ hữu – tấm đệm chống đỡ cuối cùng đối với những tổn thất xảy

ra ngày càng nhỏ dần so với quy mô nợ Tuy nhiên, đối với một doanh nghiệp thương mại như Hevent, cơ cấu vốn 54,16% vốn chủ sở hữu vào cuối năm 2012

Trang 39

không hẳn là quá rủi ro, bởi vì lĩnh vực cung cấp máy móc thiết bị vật tư y tế không phải là lĩnh vực kinh doanh quá phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như mùa

vụ, thị hiếu của khách hàng…, bên cạnh đó, vốn đầu tư lại không phải là quá lớn Như vậy, từ năm 2010 đến nay, công ty đã tăng sử dụng đòn bẩy tài chính lên rất mạnh, nhằm tăng vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh của công ty và tạo điều kiện khuếch đại lợi nhuận cho các chủ sở hữu Tuy nhiên, việc thay đổi cơ cấu vốn có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc doanh nghiệp lựa chọn chiến lược đầu tư vào các tài sản nào và sử dụng chúng ra sao để tạo ra lợi nhuận Sau đây chúng ta sẽ phân tích về cơ cấu tài sản được doanh nghiệp đầu tư

Biểu đồ 2.3 : Cơ cấu tài sản công ty cổ phần Hevent

Nguồn: Bảng cân đối kế toán CTCP Hevent

(trích dẫn tại phụ lục 1)

Ta có thể thấy rằng trong suốt giai đoạn từ năm 2010 đến nay, doanh nghiệp đều nắm giữ tài sản phần lớn dưới dạng tài sản ngắn hạn Tuy nhiên, tỉ trọng các tài sản lại có xu hướng giảm rõ rệt

Trong năm 2010, khi mới thành lập, doanh nghiệp nắm giữ tài sản ngắn hạn chủ yếu ở dạng tiền mặt, do chưa xây dựng xong nên chưa đưa vào sử dụng được các kho bãi, văn phòng… nên công ty cũng không dự trữ hàng tồn kho mà chỉ tiến hành nhập hàng khi có yêu cầu Do đó trong giai đoạn này, tỉ trọng tài sản ngắn hạn (mà chủ yếu là tiền mặt và tiền gửi ngân hàng) rất lớn, chiếm đến 97,81% tổng

Trang 40

tài sản Đây là một cơ cấu tài sản rất bất hợp lý, đặc biệt khi so sánh với cơ cấu nguồn vốn chủ yếu là vốn chủ sở hữu trong năm 2010 Việc sử dụng vốn chủ sở hữu để đầu tư gần như toàn bộ vào tài sản ngắn hạn tiền là phương án đầu tư có hiệu quả thấp do chi phí vốn chủ sở hữu cao mà khả năng sinh lợi của tài sản ngắn hạn lại rất thấp

Tuy nhiên, kể từ năm 2011 trở đi, công ty đã thay đổi cơ cấu tài sản của mình theo hướng hợp lý hơn Năm 2011, tỉ trọng tài sản ngắn hạn giảm xuống còn 85,18% và cuối năm 2012, con số này chỉ còn là 54,87% Trong 6 tháng đầu năm

2013, tỉ trọng tài sản ngắn hạn lại tăng nhẹ lên mức 61% Tức là công ty đang dần lựa chọn cho mình một cơ cấu tài sản phù hợp và cố gắng giữ nó ổn định trong thời gian tới Các tài sản trong những năm sau này đã đa dạng hơn so với năm

2010, với các loại tài sản ngắn hạn chủ yếu được nắm giữ là tiền và tương đương tiền và các khoản phải thu khách hàng; còn tài sản dài hạn chủ yếu là tài sản cố định như kho bãi, phương tiện vận chuyển và trụ sở, văn phòng

2.1.3.2 Khái quát kết quả kinh doanh công ty những năm gần đây

 Về quy mô doanh thu và lợi nhuận

Biểu đồ 2.4: Quy mô doanh thu và lợi nhuận qua các năm 2000-2012

-0 500 1,000 1,500 2,000 2,500 3,000 3,500 4,000

Ngày đăng: 31/10/2018, 16:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Lưu Thị Hương (2005), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tài chính doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS Lưu Thị Hương
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
4. TS. Nguyễn Minh Kiều (2009), Tài chính doanh nghiệp căn bản, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp căn bản
Tác giả: TS. Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2009
5. GS. TS Ngô Thế Chi, PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ (2008), Phân tích tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính doanh nghiệp
Tác giả: GS. TS Ngô Thế Chi, PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2008
7. Trang web điện tử: http://www. hevent.com.vn 8. Trang web điện tử: http://www.tapchiketoan.com 9. Trang web điện tử: http://www.gso.gov.vn Link
10. Trang web điện tử: http://www.kinhtechungkhoan.com 11. Trang web điện tử: http://www.thuvien.sggp.org.vn Link
2. PGS.TS Lưu Thị Hương, PGS.TS Vũ Duy Hào (2006), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội Khác
3. Josette Peyrard (2008), Phân tích tài chính doanh nghiệp, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w