1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) phân tích tài chính công ty cổ phần kinh đô

113 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính tại các doanh nghiệp

Trang 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT Số hiệu

1 Bảng 2.1 Khái quát cơ cấu tài sản năm 2009-2011Kinh Đô 41

2 Bảng 2.2 Tình hình biến động tài sản năm 2009 - 2011 của Kinh Đô 43

3 Bảng 2.3 Cơ cấu tài sản của Kinh Đô, BiBiCa và Hải Hà và nhóm

4 Bảng 2.4 Khái quát cơ cấu tài sản năm 2009-2011 của Kinh Đô 51

5 Bảng 2.5 Tình hình biến động nguồn vốn năm 2009 – 2011 của

6 Bảng 2.6 Cơ cấu nguồn vốn của Kinh Đô, BiBiCa, Hải Hà và nhóm

7 Bảng 2.7 Kết quả kinh doanh năm 2009- 2011 của Kinh Đô 59

8 Bảng 2.8 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh của Kinh Đô,

9 Bảng 2.9 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán năm 2009-2011 của Kinh

10 Bảng 2.10 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Kinh Đô, Bibica, Hải

11 Bảng 2.11 Chỉ tiêu về cơ cấu tài chính năm 2009-2011 của Kinh Đô 73

12 Bảng 2.12 Chỉ tiêu về cơ cấu tài chính năm 2011 của Kinh Đô,

13 Bảng 2.13 Chỉ tiêu về khả năng hoạt động năm 2009-2011 của Kinh

14 Bảng 2.14 Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi năm 2009-2011 của Kinh Đô 81

15 Bảng 2.15 Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi năm 2011 của Kinh Đô,

16 Bảng 2.16 Các hệ số thị trường năm 2009-2011 của Kinh Đô 85

Trang 3

DANH MỤC CÁC HÌNH

STT Số hiệu

1 Hình 1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty cổ phần Kinh Đô 37

2 Hình 2 Cơ cấu tài sản năm 2009-2011 của Kinh Đô 41

3 Hình 3 Cơ cấu tài sản của Kinh Đô, BiBiCa và Hải Hà đến thời

điểm 31/12/2011

49

4 Hình 4 Biểu đồ tăng trưởng nguồn vốn năm 2009 -2011

của Kinh Đô

51

5 Hình 5 Cơ cấu nguồn vốn của Kinh Đô, BiBiCa, Hải Hà và

nhóm ngành đến thời điểm 31/12/2011

57

6 Hình 6 Các sản phẩm chủ yếu đóng góp vào doanh thu của

Công ty CP Kinh Đô năm 2011

62

7 Hình 7 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Kinh Đô, Bibica,

Hải Hà và nhóm ngành năm 2011

72

8 Hình 8 Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi giai đoạn năm 2009-2011

của Kinh Đô

83

9 Hình 9 Biểu đồ thể hiện các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi năm

2011 –Kinh Đô, Bibica, Hải Hà và nhóm ngành

85

10 Hình 10 Chỉ số P/E và chỉ số M/B giai đoạn năm 2009-2011 của

Kinh Đô

86

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp cần chủ động về hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng Điều này đã đặt ra cho các doanh nghiệp những yêu cầu và đòi hỏi đáp ứng kịp thời với những thay đổi của nền kinh tế và tận dụng những cơ hội để phát triển doanh nghiệp Bởi vậy chủ doanh nghiệp phải có những đối sách thích hợp, nhằm tạo ra nguồn tài chính đáp ứng cho yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu việc cung ứng sản xuất

và tiêu thụ được tiến hành bình thường, đúng tiến độ sẽ là tiền đề đảm bảo cho hoạt động tài chính có hiệu quả và ngược lại Việc tổ chức huy động nguồn vốn kịp thời, việc quản lý phân phối và sử dụng các nguồn vốn hợp lý sẽ tạo điều kiện tối đa cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và có lợi nhuận cao Do đó,

để đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiến lược của mình các doanh nghiệp cần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính Từ đó, phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp, tìm ra những nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng đến các mặt này và đề xuất được các biện pháp cần thiết để cải tiến hoạt động tài chính tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh

Như vậy phân tích tình hình tài chính không những cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp trong việc đánh giá những tiềm lực vốn có của doanh nghiệp, xem xét khả năng và thế mạnh trong sản xuất kinh doanh mà còn thông qua đó xác định được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, tìm ra những bước đi vững chắc, hiệu quả trong một tương lai gần Việc phân tích tài chính là một công cụ quan trọng cho công tác quản lý của chủ Công ty nói riêng và hoạt

động sản xuất kinh doanh nói chung Vì vậy, em lựa chọn đề tài: “Phân tích tài

chính Công ty cổ phần Kinh Đô” để làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Phân tích tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp là đề tài đã được sử quan tâm của nhiều tác giả không chỉ ở nước ta mà còn

Trang 5

ở tất cả các nước trên thế giới Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến phân tích tình hình tài chính trong các doanh nghiệp như:

- Hệ thống chế độ quản lý tài chính doanh nghiệp(1999), Bộ Tài chính Nxb Thống kê

- Giáo trình Tài chính doanh nghiệp(2009), Nguyễn Minh Kiều, Nxb Thống kê

- Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp (2009), Nguyễn Minh Kiều, Nxb Thống kê

-

Phân tích báo cáo tài chính của Công ty cổ phân Kinh Đô sẽ đưa ra được những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động tài chính của công ty và là những thông tin cần thiết cho các đối tượng bên trong và ngoài công ty

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích tài chính tại các doanh nghiệp và xây dựng khung phân tích áp dụng vào phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp

- Nhằm làm rõ thực trạng tài chính của doanh nghiệp từ đó chỉ ra nhữngđiểm mạnh cũng như những hạn chế của công ty

- Giúp cho những doanh nghiệp nắm rõ những biến động tình hình tài chính trong tương lai của mình mà có biện pháp đối phó thích hợp

- Đề xuất một số giải pháp thực tế và các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý tài chính tại công ty

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Thực trạng tài chính của Công ty cổ phần Kinh Đô

4.2.Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tình hình tài chính Công ty Cổ phần Kinh Đô trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2011

5 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp

Trang 6

- Các số liệu trong luận văn dựa trên các Báo cáo tài chính hàng năm của Công ty Cổ phần Kinh Đô; Các bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo; sách; luận án; các báo cáo hàng năm của Bộ Tài chính; các trang Web

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính tại các doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính Công ty Cổ phần Kinh Đô

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của Công ty Cổ phần Kinh Đô

Trang 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÁC

DOANH NGHIỆP 1.1 PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp

“Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp, công cụ theo một hệ thống nhất định, cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán cũng như các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đưa ra những đánh giá chính xác, đúng đắn về tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp nhà quản lý kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, cũng như dự đoán trước những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai

để đưa ra các quyết định xử lý phù hợp tùy theo mục tiêu theo đuổi.” [7, tr15]

Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích là đánh giá rủi ro phá sản tác động tới doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Nói các khác, phân tích tài chính là cơ sở dự đoán tài chính – một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thể ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp( chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp

1.1.2 Mục tiêu, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp

Việc phân tích hoạt động tài chính nhằm xác định sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, biết được mức độ độc lập về mặt tài chính cũng như những khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp đang phải đương đầu, nhất là lĩnh vực thanh toán Qua đó, các nhà quản lý có thể đề ra các quyết định cần thiết về đầu tư, hợp tác, liên doanh, liên kết, cho vay

Phân tích hoạt động tài chính được thực hiện dựa trên những dự liệu tài chính trong quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp để tính toán và xác định các chỉ

Trang 8

tiên phản ánh và an ninh tài chính của doanh nghiệp Từ đó giúp cho những nhà quản lý nhìn nhận đúng đắn về vị trí hiện tại và an ninh tài chính của doanh nghiệp nhằm đưa ra các quyết định tài chính hữu hiệu Vì vậy, yêu cầu khi đặt ra khi phân tích hoạt động tài chính là phải chính xác và toàn diện Có đánh giá chính xác tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp trên tất cả các mặt mới giúp người sử dụng thông tin đưa ra quyết định hiệu quả, phù hợp với tình hình hiện tại của doanh nghiệp và định hướng phát triển trong tương lai Việc phân tích chính xác và toàn diện còn giúp các nhà quản lý có các kế sách thích hợp để nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.” [1, tr35]

Phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhằm mục đính đưa ra những nhận định sơ bộ, ban đầu về tài chính và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp Qua đó người sử dụng thông tin nắm được mức độ độc lập về mặt giá trị tài chính, về an ninh tài chính cũng như khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu .” [7, tr18]

1.1.3 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp

“Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy, sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: Chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng kể các cơ quan nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau Vì vây, phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp.” [1, tr15]

 Đối với người quản lý doanh nghiệp

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý doanh nghiệp phải giải quyết 3 vấn đề quan trọng sau đây:

Thứ nhất: Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình sản

xuất kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp

Thứ hai: Nguồn tài trợ là nguồn nào? Để đầu tư vào các tài sản, doanh

nghiệp phải có nguồn tài trợ nghĩa là phải có tiền để đầu tư Một doanh nghiệp có

Trang 9

thể phát hành cổ phiếu hoặc vay nợ ngắn hạn, dài hạn Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơ cấu như thế nào cho phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất

Thứ ba: Nhà quản lý tài chính phải chgiuj trách nhiệm điều hành hoạt động

tài chính và dựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết định vị lợi ích của cổ đông và doanh nghiệp Các quyết định và hành động của nhà quản lý tài chính đều nhằm vào các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp: Đó là sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnh tranh và chiếm được thị phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận và tăng trưởng thu nhập một cách bền vững Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sử hữu khi các quyết định của nhà quản lý được đưa ra đúng đắn Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong nghiệp là những người có nhiều lợi thế thực hiện phân tích tài chính một các tốt nhât

Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích tài năng khả toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Từ đó, họ có thể định hướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý

 Đối với các nhà đầu tư và doanh nghiệp

Các cổ đông là người bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp và họ có thể phải gánh chịu rủi ro Những rủi ro này liên quan tới việc giảm giá cổ phiếu trên thị trường, dẫn đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Chính vì vậy, quyết định của họ luôn có

sự cân nhắc giữa mức độ rủi ro và doanh nghiệp đạt được

Đối với các cổ đông, mối quan tâm hàng đầu của họ là khả năng tăng trưởng tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu Do đó, họ quan tâm trước hết tới lĩnh vực đầu tư

và nguồn tài trợ Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động và kết

Trang 10

quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những quyết định phù hợp Các nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư và một dự án nếu ít nhất có một điều kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương Khi đó lượng tiền của dự án tạo ra sẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mức lãi suất yêu cầu cho nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó đang mang lại sự giàu có cho những người sở hữu doanh nghiệp

Chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng

là vấn đề được các nhà đầu tư hết sức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Ta biết rằng thu nhập của cổ đông bao gồm phần cổ tức chia hàng năm

và phần chênh lệch giá cổ phiếu trên thị trường Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ

và vốn chủ sở hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốn đầu tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu Hơn nữa các cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khi quyền lợi của

họ ít nhất không bị ảnh hưởng Bởi vậy, các yếu tố như tổng lợi nhuận ròng trong

kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên 1cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của trị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính

 Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp

Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thực hiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của doanh nghiệp thì phân tích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thương mại cho doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xem xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ khi đến hạn trả Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tùy thuộc vào khả năng sinh lời này

Trang 11

Bên cạnh đó,các chủ ngân và các nhà cho vay khác cũng rất quan tâm đến số lượng vốn cũa chủ sở hữu và số lượng vốn của chủ sở hữu này là khoản tiền bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp rủa ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay

 Đối với người hưởng lương của doanh nghiệp

Bên cạnh các nhà đầu tư, các nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động Ngoài ra, trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp

 Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của nhà nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tyaif chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nhiệm vụ với nhà nước và khách hàng

Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra điểm mạnh và điểm yếu, về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo

và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp

Trang 12

1.2 TÀI LIỆU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

1.2.1 Tài liệu sử dụng trong phân tích tình hình tài chính Công ty

1.2.1.1 Vai trò của các báo cáo tài chính:

Báo cáo tài chính (BCTC) là sự phản ánh trung thực nhất về tình hình hoạt động tài chính cũng như thực trạng vốn hiện thời của doanh nghiệp Báo cáo tài chính đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp Nhưng Báo cáo tài chính như thế nào cho vừa hiệu quả lại giảm thiểu chi phí lại là điều mà không phải doanh nghiệp nào cũng nắm được Doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động hàng năm phải làm nghĩa vụ nộp Báo cáo tài chính dựa trên hệ thống sổ sách

kế toán, hóa đơn chứng từ trong năm Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đều phải theo một mẫu chung thống nhất và bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo thu nhập, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ .” [3, tr67].Dù một số hạng mục có thể khác nhau tùy theo đặc điểm kinh doanh của mỗi công ty Các Báo cáo tài chính doanh nghiệp luôn giống nhau về cơ bản nên rất dễ cho bạn so sánh việc kinh doanh của công ty này với các công ty khác Ngoài ra, Báo cáo tài chính là chứng từ cần thiết trong kinh doanh, Báo cáo tài chính đóng vai trò rất quan trọng cho hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp của bạn Các nhà đầu tư trong doanh nghiệp sẽ quyết định chiến lược đầu tư phát triến doanh nghiệp Các nhà đầu tư bên ngoài quan tâm

để rót vốn thu lợi nhuận cho họ Đối với các nhà đầu tư trong doanh nghiệp: Báo cáo tài chính giữ vai trò quan rất quan trọng đối với các nhà đầu tư tài chính trong doanh nghiệp Các cổ đông sử dụng chúng để theo dõi tình hình vốn đầu tư của mình đang được quản lý như thế nào Còn các chuyên gia quản lý tài chính doanh nghiệp sẽ phân tích các số liệu thu chi để nắm bắt được thực trạng hoạt động của doanh nghiệp Từ đó sẽ đưa ra các quyết định chính xác về các lĩnh vực cần thiết để can thiệp, các cơ hội đầu tư kinh doanh mang lại thành công cho doanh nghiệp Bên cạnh đó là những ảnh hưởng của các khoản nợ với việc cân bằng thu chi lâu dài và việc có khả năng phát sinh sau khi vay tiền đầu tư Đối với nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp: Đọc hiểu một báo cáo tài chính công ty có nghĩa là đã nắm rõ được tình hình nội bộ công ty: nền tảng doanh nghiệp tốt hay không, doanh nghiệp có đang

Trang 13

phát triển hay không, hệ thống tài chính doanh nghiệp hoạt động như thế nào Người cho vay vốn và cung ứng vật liệu xem Báo cáo tài chính với mục đích xác định khả năng thanh toán của công ty họ giao dịch Các nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp lại quan tâm đến Báo cáo tài chính ở khía cạnh khác để xác định cơ hội đầu

tư như là thực hiện dự án kinh doanh sản xuất hay đầu tư cổ phiếu của công ty

1.2.1.2 Hệ thống báo cáo tài chính :

Thông tin từ bên trong doanh nghiệp: chủ yếu là các thông tin trên báo cáo tài chính Hệ thống báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính

*Bảng cân đối kế toán

“Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng trong phân tích tài chính doanh nghiệp Nó mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Các chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán được phản ánh dưới hình thái giá trị và theo nguyên tắc cân đối là tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn .” [3, tr28]

Phân tích bảng cân đối kế toán sẽ giúp đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp ở những thời điểm sau:

- Phần tài sản: phản ánh giá trị tài sản hiện có tới thời điểm lập báo cáo

Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu thuộc phần tài sản phản ánh dưới hình thái giá trị quy mô, kết cấu các loại tài sản như tài sản bằng tiền, tài sản tồn kho, các khoản phải thu, tài sản cố định,… mà doanh nghiệp hiện có

Xét về mặt pháp lý, số liệu ở phần tài sản phản ánh số tài sản đang thuộc quyền quản lý , sử dụng của doanh nghiệp

- Phần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp hiện có

Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn phản ánh quy mô, kết cấu và đặc điểm sở hữu các nguồn vốn đã được doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh

Trang 14

Xét về mặt pháp lý, đây là các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn cho doanh nghiệp( cổ đông, ngân hàng,nhà cung cấp,…)

*Báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt động của doanh nghiệp tại một thời kỳ nhất định Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp

về phương thức kinh doanh, về việc sử dụng các tiềm năng vốn, lao động, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của doanh nghiệp , và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn .” [3, tr30]

Đây là một báo cáo tài chính được những nhà lập kế hoạch rất quan tâm, vì

nó cung cấp các số liệu về hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ Nó còn được coi như một bản hướng dẫn để dự báo xem doanh nghiệp sẽ hoạt động ra sao trong tương lai

Nội dung của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể thay đổi theo từng thời kỳ tùy theo yêu cầu quản lý, nhưng phản ánh được các nội dung cơ bản như doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, lợi nhuận và được xác định qua đẳng thức:

Lợi nhuận hoạt động kinh doanh = doanh thu thuần –giá vốn hàng bán – chi phí ban hàng – chi phí quản lý DN

*Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

“Đối một doanh nghiệp, nếu Bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải( tài sản) và nguồn gốc của những tài sản đó được hình thành từ đâu vào cuối

kì báo cáo; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh , thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập

để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào – ra trong doanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp.” [2, tr33]

Thực chất báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo cung cấp thông tin về những sự kiện và nghiệp vụ kinh tế phát si nh có ảnh hưởng đến luồng tiền của một doanh nghiệp, cụ thể là những thông tin sau:

Trang 15

- Doanh nghiệp đã thu được tiền từ đâu và chi tiêu như thế nào?

- Quá trình đi vay và trả nợ của doanh nghiệp

- Quá trình thanh toán cổ tức và các quá trình phân phối khác cho chủ sở hữu và cho các đối tượng khác

- Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp

* Thuyết minh báo cáo tài chính

“Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp Được lập để giải thích một số vấn đề về hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính kế toán khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết được” [3, tr35]

Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọ n để áp dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của doanh

nghiệp Đồng thời , thuyết minh báo cáo tài chín h cũng có thể trình bày thông tin riêng tùy theo yêu cầu quản lý của nhà nước và doanh nghiệp , tùy thuộc vào tính chất đặc thù của từng loại hình doanh nghiệp , quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý của doanh nghiệp Thuyết minh báo cáo tài chính được lập căn cứ vào số liệu trong sổ kế toán và các báo cáo tài chính Các báo cáo trên là nguồn thông tin quan trọng quyết định đến chất lượng

phân tích tài chính Bởi thông tin kế toán được tổn hợp khá đầy đủ trong hệ thống báo cáo tài chính, phản ánh khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp

Sau khi thu thập thông tin bao gồm thông tin từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Doanh nghiệp phải xử lý các thông tin đó , xử lý thông tin là quá trình chọn lọc, kiểm tra, loại bỏ những thông tin sai, sắp xếp các thông tin đã được lựa chọn đẻ phục vụ cho các bước tiếp theo

Đối với các thông tin bên ngoài, do nguồn cung cấp thông tin phong phú, đa dạng, nhà phân tích cần đặc biệt lưu ý trong việc chọn lọc các thông tin liên quan có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ thông tin chung, thông tin ngành đến thông tin pháp lý… nhằm tránh các thông tin không chính thống

Trang 16

Đối với các thông tin bên trong doanh nghiệp mà nguồn thông tin quan trọng nhất

là thông tin kế toán Tuy nhiên, các thông tin kế toán này lại phụ thuộc vào phương thức kế toán bao gồm việc lựa chọn, áp dụng các hình thức kế toán và thực hiện đúng các nguyên tắc, cơ sở, quy ước, quy tắc và các thông lệ cụ thể tại doanh nghiệp theo chuẩn mực Việt Nam và quốc tế Do vậy, trước khi sử dụng các thông tin này , nhà phân tích cần điều chỉnh dữ liệu nhằm đảm bảo tính nhất quán thông tin và loại trừ các nhân tố ảnh hưởng trọng yếu làm sai lệch thông tin của báo cáo tài chính

Tuy nhiên, mỗi đối tượng sử dụng thông tin có mục đích riêng của mình , nên trong xử lý thông tin có những cách xử lý khác nhau , nhằm tạo điều kiện có được những thông tin mà mình mong muốn

1.2.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính

Phương pháp phân tích tài chính gồm một hệ thống các công cụ và biên pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh ngiệp Về lí thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh ngiệp, nhưng thực tế người ta thường sử dụng các biện pháp sau

1.2.2.1 Phương pháp so sánh

- So sánh giữa số thực hiện kì này và số thực hiện kì trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới

- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp

- So sánh giữa số thực hiện kì này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với doanh nghiệp cùng ngành

- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỉ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại, các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh

Trang 17

- So sánh theo chiều ngang để thấy sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp

1.2.2.2 Phương pháp tỉ lệ

- Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỉ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn, vì:

- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn

là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp

- Việc áp dụng tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ

- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn

1.2.2.3 Phương pháp Dupont

“Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định.” [2, tr18]

Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ

số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont [3, tr55] như sau:

Trang 18

ROA = Lãi gộp x Vòng quay tổng tài sản LNST LNST Doanh thu

= - = - x - Bình quân tổng tài sản Doanh thu Bình quân tổng TS

ROE = Lãi gộp x Vòng quy tổng tài sản x Hệ số sử dụng vốn cổ phần

LNST Doanh thu Bình quân tổng TS

= - x - x - Doanh thu Bình quân tổng TS Bình quân vốn CSH

Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp làm tăng ROE nhƣ sau:

- Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ

nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động

- Tăng hiệu suất sử dụng tài sản Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về

cơ cấu của tổng tài sản

- Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lƣợng của sản phẩm Từ đó tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

Phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị doanh nghiệp thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân

tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý doanh nghiệp

1.3 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

1.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính Công ty

1.3.1.1 Tình hình tài chính chung (qua Bảng cân đối kế toán)

1.3.1.1.1 Tình hình về tài sản

Phân tích khái quát tình hình tài chính chung qua bảng cân đối kế toán cho ta biết về sự thay đổi về các khoản mục về tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp qua các kỳ kinh doanh Cụ thể hơn là phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn: xem xét đánh giá sự thay đổi của các tài khoản trên Bảng cân đối kế toán

Trang 19

Để tiến hành phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, trước hết ta trình bày Bảng cân đối kế toán dưới dạng bảng cân đối báo cáo (từ tài sản đến nguồn vốn), sau đó so sánh số liệu các kỳ trong từng chỉ tiêu của Bảng cân đối kế toán để xác định tình hình tăng giảm các chỉ tiêu đó trong doanh nghiệp theo nguyên tắc:

- Nếu tăng phần tài sản và giảm phần nguồn vốn thì được xếp vào cột sử dụng vốn

- Nếu giảm phần tài sản và tăng phần nguồn vốn thì được xếp vào cột nguồn vốn

- Nguồn vốn và sử dụng vốn phải cân đối với nhau

Cuối cùng, tiến hành sắp xếp các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn theo những trình tự nhất định tùy theo mục tiêu phân tích và phản ánh vào bảng biểu

Nội dung này cho ta biết trong một kỳ kinh doanh: tài sản và nguồn vốn tăng giảm bao nhiêu? Những chỉ tiêu nào là chủ yếu ảnh hưởng tới sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp? Từ đó có giải pháp khai thác các nguồn vốn

và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

1.3.1.1.2 Tình hình nguồn vốn

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tài sản bao gồm: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn, Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn Để hình thành hai loại tài sản này, phải có các nguồn vốn tài trợ tương ứng, bao gồm: Nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn

- Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảng thời gian dưới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm: các khoản nợ ngắn hạn, nợ phải trả nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác

- Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạt động kinh doanh, bao gồm: nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay nợ trung, dài hạn…

Nguồn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành Tài sản cố định, phần dư của nguồn vốn dài hạn và nguồn ngắn hạn được đầu tư hình thành nên Tài sản lưu động

Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, các nhà phân tích còn quan tâm đến chỉ tiêu vốn lưu động ròng hay vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cũng là một yếu tố quan trọng và cần thiết cho việc đánh

Trang 20

giá điều kiện cân bằng tài chính của một doanh nghiệp Nó được xác định là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động và tổng nợ ngắn hạn

Vốn lưu động ròng = Tài sản lưu động - Nợ ngắn hạn Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh

và khả năng nắm bắt thời cơ thuận lợi của doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào vốn lưu động nói chung và vốn lưu động ròng nói riêng Do vậy, sự phát triển còn được thể hiện ở sự tăng trưởng vốn lưu động ròng

Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của vốn lưu động thường xuyên Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, ta chỉ cần phải tính toán và so sánh giữa các nguồn vốn với tài sản

- Khi nguồn vốn dài hạn < Tài sản cố định hoặc Tài sản lưu động < Nguồn vốn ngắn hạn

Có nghĩa là nguồn vốn thường xuyên < 0 Do đó nguồn vốn dài hạn không đủ đầu tư cho TSCĐ, doanh nghiệp phải đầu tư vào Tài sản cố định một phần nguồn vốn ngắn hạn Khi dó, Tài sản lưu động không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất cân bằng, doanh nghiệp phải dung một phần Tài sản cố định để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả Trong trường hợp như vậy, giải pháp của doanh nghiệp là tăng cường huy động vốn ngắn hạn hợp pháp hoặc giảm quy mô đầu tư dài hạn hay thực hiện đồng thời cả hai giải pháp đó

- Khi nguồn vốn dài hạn > tài sản cố định hoặc

Tài sản lưu động > Nguồn vốn ngắn hạn

Tức là khi vốn lưu động thường xuyên > 0

Có nghĩa là nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào Tài sản cố định Phần thừa đó đầu tư vào Tài sản lưu động Đồng thời Tài sản lưu động > nguồn vốn ngắn hạn, do vậy khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt

- Khi vốn lưu động thường xuyên = 0

Có nghĩa là nguồn vốn dài hạn tài trợ đủ cho Tài sản cố định và Tài sản lưu động đủ

để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn Tình hình tài chính như vậy là lành

Trang 21

mạnh Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần

để tài trợ cho một phần Tài sản lưu động, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu

1.3.1.2 Kết quả kinh doanh (qua báo cáo kết quả kinh doanh)

Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp qua một thời kỳ nào đó Do đó, đặc điểm chung của báo cáo kết quả kinh doanh là cung cấp dữ liệu thời kỳ về tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp Từ nội dung báo cáo kết quả kinh doanh, có thể rút ra nhận xét chung nhất về tình hình doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ (trong đó đáng quan tâm nhất là doanh thu ròng), tình hình chi phí của doanh nghiệp (bao gồm: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp…), tình hình thu nhập của doanh nghiệp trong kỳ (bao gồm: thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ hoạt động tài chính và thu nhập bất thường…)

Trang 22

Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

 Hệ số thanh toán ngắn hạn = -

Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán ngắn hạn (hay còn gọi là hệ số thanh toán hiện thời) được xác định dựa vào thông tin từ bảng cân đối tài sản bằng cách lấy giá trị tài sản lưu động chia cho giá trị nợ ngắn hạn phải trả

Giá trị tài sản lưu động bao gồm tiền, chứng khoán ngắn hạn, khoản phải thu và hàng tồn kho Giá trị nợ ngắn hạn bao gồm khoản phải trả người bán và các khoản chi phi phải trả ngắn hạn khác Khi xác định tỷ số thanh toán ngắn hạn chúng ta đã tính cả hàng tồn kho trong giá trị tài sản lưu động đảm bảo cho nợ ngắn hạn Tuy nhiên, trên thực tế hàng tồn kho kém thanh khoản hơn vì phải mất thời gian và chi phí tiêu thụ mới có thể chuyển thành tiền Để tránh nhược điểm này, tỷ số thanh khoản nên được sử dụng

Tài sản lưu động – Hàng tồn kho

 Hệ số thanh toán nhanh = -

Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán nhanh được xác định cũng dựa vào thông tin từ bảng cân đối tài sản nhưng không kể giá trị hàng tồn kho vào trong giá trị tài sản lưu động khi tính toán Hệ số này cho biết công ty có đủ khả năng sử dụng tài sản thanh khoản nhanh để chi trả các khoản nợ ngắn hạn mà không cần thanh lý tồn kho Nếu hệ số thanh toán nhanh  1 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn nếu < 1 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán

Tiền mặt và các khoản tương đương tiền

 Hệ số thanh toán bằng tiền = -

Nợ ngắn hạn

Chỉ số này đặc biệt quan trọng đối với các bạn hàng mà hoạt động khan hiếm tiền mặt (quay vòng vốn nhanh), các doanh nghiệp này cần phải được thanh toán nhanh chóng để hoạt động được bình thường

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)

 Hệ số thanh toán lãi vay = -

Chi phí trả lãi

Trang 23

EBIT trong công thức nên lấy chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của báo cáo kết quả kinh doanh mà không kể các khoản mục lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận bất thường Mục đích là để xem khả năng sử dụng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp để trả lãi vay như thế nào? Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lãi thuần trước thuế So sánh giữa nguồn để trả lãi vay với lãi vay phải trả sẽ cho chúng ta biết doanh nghiệp đã sẵn sàng trả tiền lãi vay ở mức độ nào Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay cho chúng ta biết được số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức độ nào và đem lại một khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không

Sử dụng nợ nói chung tạo ra được lợi nhuận cho công ty, nhưng cổ đông chỉ

có lợi khi nào lợi nhuận tạo ra lớn hơn lãi phải trả cho việc sử dụng nợ Nếu không công ty sẽ không có khả năng trả lãi và gánh nặng lãi gây thiệt hại cho cổ đông Hệ

số này đo lường khả năng trả lãi của công ty Khả năng trả lãi của công ty cao hay thấp nói chung phụ thuộc vào khả năng sinh lợi và mức độ sử dụng nợ của công ty Nếu khả năng sinh lợi của công ty chỉ có giới hạn trong khi công ty sử dụng quá nhiều nợ thì hệ số khả năng trả lãi sẽ giảm

1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính (hay Đòn bảy tài chính) Đòn bẩy tài chính là mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động của công ty

Nó có tính hai mặt, một mặt nó giúp gia tăng lợi nhuận cho cổ đông, mặt khác nó gia tăng thêm rủi ro Do đó, quản lý nợ cũng quan trọng như quản lý tài sản Các tỷ

tự điều chỉnh từ hai phía: chủ nợ và con nợ Chủ nợ thường thích công ty có hệ số

Trang 24

nợ thấp vì như thế công ty có khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông thích muốn có hệ số nợ cao vì sử dụng đòn bẩy tài chính nói chung làm gia tăng khả năng sinh lợi cho họ Tuy nhiên, muốn biết hệ số này cao hay thấp cần phải so sánh với

hệ số nợ của bình quân ngành

Vốn chủ sở hữu

 Hệ số tự tài trợ = - = 1 – Hệ số nợ

Tổng tài sản

Hệ số này ngược với hệ số nợ, hệ số tự tài trợ nói lên mức độ sử dụng vốn chủ

sở hữu của công ty Nó được xác định bằng cách lấy tổng vốn chủ sở huux chia cho tổng tài sản hiện hành của công ty (hay bằng 1 trừ đi hệ số nợ, vì tổng của nợ phải trả và vốn chủ sở hữu đúng bằng tổng tài sản) Hệ số này thường được các chủ nợ quan tâm khi cho doanh nghiệp vay tiền Vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự quan tâm

và đầu tư của chính chủ doanh nghiệp đến công ty của họ

mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng có bao nhiêu đầu tư vào TSLĐ, bao nhiêu đầu

tư vào TSCĐ” Tuỳ theo loại hình sản xuất mà tỷ số này ở mức độ cao thấp khác nhau Bố trí cơ cấu vốn càng hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn càng tối đa hoá bấy nhiêu, nếu bố trí cơ cấu vốn bị lệch sẽ làm mất cân đối giữa TSLĐ và TSCĐ, dẫn tới tình trạng thừa hoặc thiếu một loại tài sản nào đó

Trang 25

1.3.2.3 Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động Nhóm tỷ số này đo lường hiệu quả quản lý tài sản của công ty, chúng được thiết kế để trả lời câu hỏi: Các tài sản được báo cáo trên bảng cân đối tài sản có hợp

lý không, hay quá cao hoặc quá thấp so với doanh thu? Nếu công ty đầu tư vào tài sản qúa nhiều dẫn đến dư thừa tài sản và nguồn vốn hoạt động sẽ làm cho dòng tiền

tự do và giá cổ phiếu giảm Ngược lại, nếu công ty đầu tư quá ít vào tài sản khiến cho không đủ tài sản phục vụ cho hoạt động sẽ làm tổn hại đến khả năng sinh lợi và

do đó cũng làm giảm dòng tiền tự do và giá cổ phiếu Do vậy, công ty nên đầu tư tài sản ở mức độ hợp lý Thế nhưng, như thế nào là hợp lý? Muốn biết điều này chúng ta sẽ phân tích các tỷ số sau:

Doanh thu thuần

 Vòng quay hàng tồn kho = - (vòng)

Hàng tồn kho bình quân

Số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng cách lấy doanh thu chia cho bình quân giá trị hàng tồn kho Bình quân giá trị hàng tồn kho bằng giá trị hàng tồn kho đầu kỳ cộng giá trị hàng tồn kho cuối kỳ chia đôi Sở dĩ phải sử dụng số liệu bình quân là vì doanh thu là chỉ tiêu thu thập từ báo cáo kết quản kinh doanh, phản ánh số liệu thời kỳ trong khi giá trị hàng tồn kho thu thập từ só liệu bảng cân đối kế toán, phản ánh số liệu mang tính thời điểm Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho cho biết bình quân hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng trong kỳ để tạo ra doanh thu Tỷ số này để đánh giá hiệu quả quản lý tồn kho của công ty, nó có thể đo lường bằng chỉ tiêu số vòng quay của hàng tồn kho trong một năm hoặc số ngày tồn kho

Trang 26

lớn thì tình hình kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt vì doanh nghiệp đầu tư vào hàng tồn kho ít nhưng doanh thu vẫn cao

Doanh thu thuần

 Vòng quay khoản phải thu = -

Khoản phải thu bình quân

Vòng quay càng lớn thì thu hồi các khoản phải thu càng tốt Bên cạnh đó, chỉ tiêu này còn phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp

360

 Kỳ thu tiền bình quân = -

Vòng quay các khoản phải thu

Trong quá trình hoạt động, việc phát sinh các khoản phải thu, phải trả là điều tất yếu Khi các khoản phải thu càng lớn, chứng tỏ vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng càng nhiều (ứ đọng trong khâu thanh toán) Nhanh chóng giải phóng vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán là một bộ phận quan trọng của công tác tài chính Vì vậy, các nhà phân tích tài chính rất quan tâm tới thời gian thu hồi các khoản phải thu và chỉ tiêu

kỳ thu tiền trung bình được sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân ngày

Các khoản phải thu bao gồm: Phải thu của khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, các khoản tạm ứng, chi phí trả trước

Doanh thu bao gồm: Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, thu nhập từ hoạt động tài chính và thu thập bất thường ở báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, phần báo cáo lỗ lãi

Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng của doanh nghiệp và các khoản phải trả trước kỳ thu tiền trung bình cho biết trung bình

số phải thu trong kỳ bằng doanh thu của bao nhiêu ngày Nếu giá trị của chỉ tiêu này càng cao thì doanh nghiệp đã bị chiếm dụng vốn, gây ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, khả năng thu hồi vốn trong thanh toán chậm Do đó, doanh nghiệp phải

có biện pháp để thu hồi nợ Tuy nhiên, trong tình hình cạnh tranh gay gắt thì có thể

Trang 27

đây là chính sách của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho những mục tiêu chiến lược như chính sách mở rộng, thâm nhập thị trường

Doanh thu thuần

 Vòng quay tài sản lưu động = -

Tài sản lưu động bình quân

Tỷ số này đo lường xác định hiệu quả sử dụng tài sản lưu động nói chung mà không có sự phân biệt giữa hiệu quả hoạt động tồn kho hay hiệu quả hoạt động khoản phải thu Tỷ số này được xác định bằng cách lấy doanh thu chia bình quân giá trị tài sản lưu động, tức là lấy giá trị tài sản lưu động đầu kỳ và cuối lỳ côngh lại chia đôi Về ý ngĩa, tỷ số này cho biết mỗi đồng tài sản lưu động thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu

Doanh thu thuần

 Vòng quay tài sản cố định = -

Tài sản cố định bình quân

Tỷ số này đo lường hiệu quả sử dụng tài sản cố định như máy móc, thiết bị

và nhà xưởng Cũng như vòng quay tài sản lưu động, tỷ số này được xác định riêng biệt nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của riêng tài sản cố định Tỷ số này được xác định bằng cách lấy doanh thu chia cho bình quân giá trị tài sản cố định

Nó phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu

Doanh thu thuần

 Vòng quay tổng tài sản= -

Tổng tài sản bình quân

Tỷ số này đo lường hiệu quả sử dụng tài sản nói chung mà không có phân biệt

đó là tài sản lưu động hay cố định Tỷ số cho biết mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu

Càn lưu ý rằng nhóm các tỷ số quản lý tài sản được thiết kế trên cơ sở so sánh

gí trị tài sản, sử dụng số liệu thời điểm từ bảng cân đối tài sản, với doanh thu, sử dụng số liệu thời lỳ từ báo cáo kết quả kinh doanh nên sẽ hợp lý hơn nếu chúng ta

sử dụng số bình quân các giá trị đó thau cho các giá trị thời điểm trong công thức

Trang 28

tính Tuy nhiên, điều này có thể không trở thành vấn đề nếu như biến động của các chỉ tiêu trong công thức giữa đầu kỳ và cuối kỳ là không đang kể

1.3.2.4 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời [6, tr55]

Lợi nhuận là mục đích cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận càng cao, doanh nghiệp càng tự khẳng định vị trí và sự tồn tại của mình trong nền kinh tế thị trường Nhưng nếu chỉ thông qua số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được trong thời kỳ cao hay thấp để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là tốt hay xấu thì có thể đưa tới những kết luận sai lầm Bởi lẽ số lợi nhuận này không tương xứng với lượng chi phí đã bỏ ra, với khối lượng tài sản

mà doanh nghiệp đã sử dụng Để khắc phục nhược điểm này, các nhà phân tích thường bổ xung thêm những chỉ tiêu tương đối bằng cách đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu đạt được trong kỳ với tổng số vốn mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh doanh Phân tích mức độ sinh lời của hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua việc tính toán và phân tích các chỉ tiêu sau:

Lợi nhuận sau thuế

 Tỷ suất lợi nhuận doanh thu = -

(ROS) Doanh thu thuần

Doanh thu thuần chính là doanh thu thuần hoạt động kinh doanh, bao gồm doanh thu thuần bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu thuần hoạt động tài chính Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng doanh thu thuần tạo được trong kỳ thì công ty thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Vì vậy, chỉ tiêu này càng cao cho thấy chi phí được sử dụng càng tốt, điều này giúp nhà quản trị đưa ra các mục tiêu để mở rộng thị trường, tăng doanh thu, xem xét các yếu tố chi phí ở bộ phận để tiết kiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Lợi nhuận sau thuế

 Tỷ suất sinh lợi của tài sản = -

(ROA) Tổng tài sản bình quân

Tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản được thiết kế để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty.Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

Trang 29

trước thuế và lãi vay Chỉ tiêu này càng cao, cho thấy doanh nghiệp sử dụng tài sản tốt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh

Lợi nhuận sau thuế

 Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu = -

(ROE) Vốn chủ sở hữu bình quân

Đứng trên góc độ cổ đông, tỷ số này là quan trọng nhất, nó được thiết kế để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần phổ thông Tỷ số ROE được xác định bằng cách chia lợi nhuận ròng dành cho cổ đông cho bình quân giá trị vốn cổ phần phổ thông Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả vốn chủ sở hữu, do đó hấp dẫn các nhà đầu tư, qua đó cũng cho thấy trong kỳ 1 đồng vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, đây là nhân tố giúp nhà quản trị tăng vốn chủ sở hữu phục vụ cho hoạt động kinh doanh Giống như ROA, ROE trước hết phụ thuộc vào kết quản kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, quy mô và mức độ rủi ro của doanh nghiệp Do đó, để đánh giá chính xác cần phải so sanh với bình quân ngành hoặc so sánh với doanh nghiệp tương tự trong cùng một ngành

EBIT

 Tỷ số sức sinh lời căn bản = -

(BEP) Bình quân tổng tài sản

Tỷ số này được thiết kế nhằm đánh giá khả năng sinh lợi căn bản của doanh nghiệp, chưa kể đến ảnh hưởng của thuế và đòn bẩy tài chính Nó được xác định bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế và lãi vay chia cho bình quân giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp

1.3.2.5 Nhóm các hệ số giá trị thị trường [6, tr65]

LNST

 Thu nhập trên mỗi cổ phần thường = -

(EPS) Số CP thường đang lưu hành

Thu nhập mỗi cổ phần quyết định giá trị của cổ phần đó, vì nó đo lường sức thu nhập chứa đựng trong một cổ phần

Trang 30

Giá thị trường của cổ phiếu

 Hệ số P/E = -

Lợi nhuận trên cổ phiếu

Hệ số này dung để đánh giá sự kỳ vọng của thị trường vào khả năng sinh lợi của công ty Nó cho thấy nhà đầu tư sẵn sàng trả bao nhiêu để có được một đồng lợi nhuận của công ty P/E được xác định bằng cách chia giá trị thị trường của cổ phiếu cho lợi nhuận trên cổ phần (EPS) Do vậy, để xác định P/E nhất thiết công ty phải

có cổ phiếu được giao dịch trên thị trường niêm yết hoặc OTC

Giá thị trường của cổ phiếu

 Tỷ số M/B = -

Giá trị sổ sách của cổ phiếu

Tỷ số M/B được xây dựng trê cơ sở so sánh gí trị thị trường với giá trị sổ sách của cổ phiếu Qua đó, phản ánh sự đánh giá của thị trường vào triển vọng tương lai của công ty Tỷ số này cao cho thấy thị trường đánh giá triển vọng công ty tốt và ngược lại

1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Phân tích tài chính doanh nghiệp là một hoạt động rất có ý nghĩa đối với sự phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc phân tích tài chính này chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, trong đó có cả nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

1.4.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Những nhân tố thuộc về nguồn lực của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, cụ thể như sau:

* Nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp về công tác phân tích tài chính

Nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp về công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp, vì ban lãnh đạo là người đề ra các quy chế, chủ chương, chính sách đối với việc phân tích tài chính doanh nghiệp Hơn nữa, cũng chính ban lãnh đạo là người sử dụng các kết quả, số liệu đã được phân tích ra Do vậy, nếu ban lãnh đạo

Trang 31

nhận thức được tầm quan trọng thực sự của công tác phân tích tài chính thì khi ấy

số liệu được phân tích ra mới có thể có độ chính xác cao và ban lãnh đạo nắm bắt được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp

* Trình độ chuyên môn của cán bộ phân tích

Trình độ chuyên môn của cán bộ phân tích cũng ảnh hưởng không kém đến

độ chính xác của kết quả phân tích Một đội ngũ có trình độ chuyên môn vững chắc,

có đạo đực nghề nghiệp, tâm huyết với công việc sẽ cho kết quả phân tích chính xác, kịp thời và đầy đủ, giúp cho ban lãnh đạo công ty đưa ra được những chính sách phát triển ở hiện tại và trong tương lai Do vậy, phát triển công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ phân tích là một việc hết sức quan trọng, bên cạnh đó, công ty phải có những chế độ ưu đãi, khuyến khích, thưởng cho những sáng kiến, tinh thần lao động tạo động lực thúc đẩy tinh thần hăng say và gắn gó với nghề, với công ty của cán bộ

* Quy trình thu thập, tổng hợp, phân tích tài chính

Việc thu thập, tổng hợp, phân tích các số liệu về tình hình tài chính của công

ty phải được xây dựng một cách cẩn thận, thông minh, sáng tạo theo một quy trình Kết quả phân tích được có độ chính xác cao hay thấp cũng phụ thuộc rất nhiều vào các quy trình này, nếu trình độ phân tích của cán bộ giỏi nhưng việc thu thập thông

tin không đầy đủ cũng có thể dẫn đến kết quả phân tích bị sai lệch

1.4.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

* Các yếu tố tự nhiên:

Các yếu tố tự nhiên tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của công ty

Về cơ bản thường tác động bất lợi đối với các hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt

là công ty sản xuất kinh doanh về bánh mứt kẹo là những sản phẩm theo mùa Để chủ động đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên công ty phải tính đến các yếu

tố tự nhiên có liên quan thông qua các hoạt động phân tích, dự baó của bản thân công ty và đánh giá của các cơ quan chuyên môn Các biện pháp thường được công

ty sử dụng : dự phòng, san bằng, tiên đoán và các biện pháp khác

Trang 32

tế, công ty phải theo dõi, phân tích, dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội , né tránh, giảm thiểu nguy cơ và đe dọa Khi phân tích, dự báo sự biến động của các yếu tố kinh tế, để đưa ra kết luận đúng, các doanh nghiệp cần dựa vào 1 số căn cứ quan trọng: các số liệu tổng hợp của kì trước, các diễn biến thực tế của kì nghiên cứu,các dự báo của nhà kinh tế lớn

* Các yếu tố về văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước

Chế độ chính sách của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài chính của công ty Chính vì vậy, công ty luôn phải cập nhật các thông tin, chính sách, văn bản pháp luật mới để áp dụng đúng, đầy đủ, phải hoạt động trong hành lang pháp lý

mà nhà nước đề ra Trong xu thế toàn cầu hiện nay, mối liên hệ giữa pháp luật và kinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện trong các quan hệ quốc tế Để đưa ra được những quyết định hợp lí trong quản trị tài chính của công ty, cần phải phân tích, dự báo sự thay đổi của môi trường trong từng giai đoạn phát triển cụ thể

Trang 33

Chương 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY

CỔ PHẦN KINH ĐÔ 2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ

2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty

- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ

- Tên tiếng Anh: KINH DO CORPORATION

- Tên giao dich: KINH DO CORPORATION

- Tên viết tắt: KIDO CORP

- Trụ sở: 141 Nguyễn Du, phường Bến Thành, Quận 1, TP Hồ chí Minh, Việt Nam

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Kinh Đô

- Công ty cổ phần Kinh Đô tiền thân là Công ty TNHH Xây dựng và Chế biến thực phẩm Kinh Đô, được thành lập năm 1993 theo Quyết định số 216 GP-UB ngày 27/02/1993 của Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh cấp và Giấy phép kinh doanh số 048307 Trọng tài kinh tế TP Hồ Chí Minh cấp ngày 02/03/1993

Trang 34

Trong những ngày đầu thành lập, Công ty chỉ là cơ sở nhỏ với vốn đầu tư là 1,4 tỉ VNĐ và khoảng 70 công nhân viên, chuyên sản xuất bánh mì, bánh tươi tại Phú Lâm, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh

- Năm 1994, sau hơn một năm kinh doanh thành công với sản phẩm bánh Snack (thị trường bánh Snack tại thời điểm đó chủ yếu là của Thái Lan) Công ty tăng vốn điều lệ lên 14 tỉ VNĐ, nhập dây chuyền sản xuất bánh Snack với công nghệ của Nhật bản trị giá trên 750.000 USD Việc sản xuất và tung ra sản phẩm Bánh Snack Kinh Đô phù hợp nhu cầu thị trường, mùi vị đặc trưng, hợp khẩu vị với người tiêu dùng trong nước đã trở thành một bước đệm quan trọng cho sự phát triển không ngừng của Kinh Đô sau này

- Năm 1996, Công ty tiến hành đầu tư xây dựng nhà xưởng mới tại số 6/134 Quốc lộ 13, phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh với diện tích 14.000m2, trang bị máy móc thiết bị mới, hiện đại được nhập từ Đan Mạch trị giá 5 triệu USD sản xuất ra nhiều sản phẩm với chất lượng cao, vệ sinh, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước Công ty cũng tạo công ăn việc làm cho trên 500 lao động

- Năm 1997 – 1998, Công ty nhập dây chuyền thiết bị sản xuất bánh mì, bánh bông lan công nghiệp với tổng trị giá đầu tư trên 1,2 triệu USD Và đến cuối năm 1998, dây chuyền sản xuất kẹo Chocolate được đưa vào khai thác sử dụng với tổng đầu tư khoảng 800.000 USD Sản phẩm Kẹo Chocolate Kinh Đô được người tiêu dùng trong nước rất ưa chuộng và có thể cạnh tranh với hàng ngoại nhập Tổng

số lao động lên đến 900 người, vốn điều lệ tăng lên 31 tỷ đồng

- Năm 1999, Công ty tăng vốn điều lệ lên 40 tỉ VNĐ, cùng với sự kiện nổi bật là sự ra đời của Trung tâm thương mại Savico – Kinh Đô, tại Quận 1, đánh dấu bước phát triển mới của Kinh Đô sang lĩnh vực kinh doanh khác ngoài ngành bánh kẹo Cũng trong năm 1999, Công ty khai trương hệ thống Bakery đầu tiên, mở đầu cho chuỗi hệ thống cửa hành bánh kẹo Kinh Đô từ Bắc vào Nam sau này

- Năm 2000, Công ty tiếp tục tăng vốn điều lệ lên 51 tỉ VNĐ, mở rộng nhà xưởng lên gần 60.000m2, trong đó diện tích nhà xưởng chiếm 40.000m2 Tiếp tục

Trang 35

đa dạng hóa sản phẩm, công ty đầu tư một dây chuyền sản xuất bánh mặn Cracker

từ Châu Âu trị giá trên 2 triệu USD, là một trong số các dây chuyền sản xuất bánh Cracker lớn trong khu vực lúc bấy giờ Công ty bắt đầu thực hiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 Bên cạnh đó, một nhà máy sản xuất bánh kẹo Kinh Đô cũng được xây dựng tại thị trấn Bần Yên Nhân tỉnh Hưng Yên trên diện tích 28.000m2, tổng vốn đầu tư là 30 tỉ VNĐ

- Năm 2001, Đây là năm được xác định là năm xuất khẩu của Công ty Kinh

Đô Công ty quyết tâm đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu ra các thị trường Mỹ, Pháp, Canada, Đức, Đài Loan, Singapore, Campuchia, Lào, Nhật, Malaysia, Thái Lan Bên cạnh đó, nhãn hiệu Kinh Đô cũng đã phủ khắp các tỉnh thành trong nước Giữa năm 2001, Kinh Đô đầu tư thêm một dây chuyền sản xuất Kẹo cứng và một dây chuyền sản xuất Kẹo mềm hiện đại với tổng trị giá 2 triệu USD, công suất 40 tấn/ngày, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước Và cũng trong năm 2001, tổ chức BVQI của Anh Quốc chính thức cấp giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng của Công ty phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO 9002

- Năm 2002, Kinh Đô chính thức chuyển thể từ Công ty TNHH Xây dựng và Chế Biến Thực Phẩm Kinh Đô sang hình thức Công ty Cổ Phần Kinh Đô Sản lượng tiêu thụ năm sau luôn tăng gấp đôi so với năm trước Kinh Đô có một mạng lưới 150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộng khắp cả nước Tốc độ phát triển kênh phân phối hàng năm tăng từ 15% đến 20% Kinh Đô được BVQI chứng nhận ISO 9002:2000 Cùng với việc vốn điều lệ được nâng lên 150 tỉ VNĐ, công ty bắt đầu gia nhập thị trường bánh Trung Thu

- Năm 2003, Kinh Đô mua lại nhà máy sản xuất kem Wall’s Việt nam từ tập đoàn Unilever và thành lập Công ty Cổ phần KI DO Đây là một sự kiện lớn trong lĩnh vực kinh doanh của khu vực Đông Nam Á, khi một Công ty tư nhân Việt Nam mua lại một Công ty từ Tập Đoàn Đa quốc gia của nước ngoài Hiện tại, KI DO phát triển với doanh số hàng năm tăng 30%

- Năm 2004, Công ty phát triển với mạng lưới gần 40 Kinh Đô Bakery và mô hình K-Do Bakery & Café ra đời thu hút được đông đảo người tiêu dùng đến

Trang 36

thưởng thức Cũng trong năm 2004, một số các công ty thnahf viên được thành lập như Công Ty Cổ phần Thực Phẩm Kinh Đô Sài Gòn được thành lập với chức năng sản xuất và kinh doanh các loại sản phẩm bánh tươi cao cấp, trực tiếp quản lý và phát triển hệ thống các Kinh Đô Bakery Công Ty Cổ phần Địa Ốc Kinh Đô được thành lập nhằm quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng của hệ thống Kinh Đô, đồng thời thực hiện các hoạt động kinh doanh bất động sản Một số dự án tiêu biểu: Tòa nhà văn phòng Kinh Đô, Dự án An Phước Tower Công ty Cổ phần Kinh Đô Bình Dương được thành lập có vốn điều lệ 100 tỷ đồng, trong đó Công ty Cổ Phần Kinh

Đô góp 80% vốn Tổng vốn đầu tư của dự án xây dựng Nhà Máy Kinh Đô Bình Dương trong khuôn viên rộng 13.200m2 là 160 tỷ đồng (10 triệu USD)

- Năm 2005, Kinh Đô chính thức lên sàn giao dịch chứng khoán (mã chứng khoán: KDC) và nhận được sự đầu tư từ các quỹ đầu tư lớn như: Vietnam Opportunity Fund (VOF), Prudential, Vietnam Ventured Limited, VinaCaptital, Temasek (Singapore), Quỹ Đầu tư Chứng khoán (VF1), Asia Value Investment Ltd

…Cũng trong năm 2005, Kinh Đô đầu tư vào Công ty Cổ phần Nước Giải Khát Sài Gòn - Tribeco Lần đầu tiên tại Việt Nam, một Công ty trong nước sử dụng công cụ tài chính đầu tư vào Công ty khác thông qua trung tâm giao dịch chứng khoán

- Năm 2006, Hệ thống Kinh Đô khởi công xây dựng 2 nhà máy mới: Kinh

Đô Bình Dương và Tribeco Bình Dương với tổng vốn đầu tư 660 tỷ đồng trên diện tích xây dựng 13ha tại KCN Việt Nam Singapore Và cũng trong năm 2006, Kinh

Đô và Tập đoàn thực phẩm hàng đầu thế giới Cadbury Schweppes chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác kinh doanh Đây là bước chuẩn bị sẵn sàng của Kinh Đô khi Việt Nam tham gia vào kinh tế khu vực trong khuôn khổ ASEAN (AFTA) và Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO

- Năm 2007, đây cũng là năm có nhiều sự kiện nổi bật như Kinh Đô Group

và Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam - Eximbank (mã chứng khoán: EIB) ký kết biên bản thỏa thuận hợp tác chiến lược Việc hợp tác này sẽ mang đến sự phát triển toàn diện và lớn mạnh cho cả hai bên; Hai công ty thành viên thuộc hệ thống Kinh Đô: Tribeco Sài Gòn (mã chứng khoán: TRI) và Công ty Cổ Phần Chế biến Thực

Trang 37

phẩm Kinh Đô Miền Bắc (mã chứng khoán: NKD) khởi công xây dựng nhà máy Tribeco Miền Bắc tại tỉnh Hưng Yên Kinh Đô; Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Dinh Dưỡng Đồng Tâm (Nutifood) ký kết hợp tác liên minh chiến lược toàn diện Đây là

mô hình liên kết kinh tế tiên tiến đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam, được đánh giá là sẽ mang lại nhiều lợi ích cho hai công ty; Kinh Đô đầu tư vào Công ty Cổ Phần Giải Pháp Sài Thành (SSC) và chính thức tham gia vào lĩnh vực đào tạo nhân

sự cấp cao

- Năm 2008, Kinh Đô chính thức khánh thành và đưa vào hoạt động nhà máy Kinh Đô Bình Dương Nhà máy được đầu tư hệ thống dây chuyền máy móc khép kín, hiện đại, tiên tiến bậc nhất trên thế giới theo công nghệ Châu Âu, đáp ứng các yêu cầu khu vực và quốc tế theo tiêu chuẩn GMP (Good Manufacturing Practices), HACCP, hệ thống quản lý lao động theo tiêu chuẩn SA 8000… Dự án này được thành lập nằm trong chiến lược của Kinh Đô nhằm chuẩn bị đón đầu cơ hội, đẩy mạnh xuất khẩu

- Năm 2010, Kinh Đô chính thức dời trụ sở về trung tâm Quận 1 Sự kiện này đánh dấu bước khởi đầu mới, hướng đến tương lai phát triển vững bền Hệ thống Kinh Đô Bakery phát triển và khẳng định vị thế hàng đầu với chuỗi 30 cửa hàng Kinh Đô Bakery và K-Do Bakery & Cafe Công ty Cổ Phần Kinh Đô (KDC), Công ty Cổ Phần Chế Biến Thực phẩm Kinh Đô Miền Bắc (NKD) và Công ty Ki

Do sáp thành Tập đoàn Kinh Đô

- Năm 2011, Kinh Đô liên kết công ty bánh kẹo Ezaki Glico Co Ltd đến từ Nhật Bản

- Năm 2012 Kinh Đô đã thông qua phương án sáp nhập Công ty Cổ phần Bánh kẹo Vinabico theo phương thức hoán đổi cổ phiếu Tỉ lệ hoán đổi cổ phiếu là 2,2:1, tức 2,2 cổ phiếu Vinabico đổi lấy 1 cổ phiếu KDC Sau khi sáp nhập, Vinabico sẽ thành Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên do KDC sở hữu 100% vốn điều lệ

Tóm lại, Kinh Đô được thành lập từ năm 1993, trải qua 19 năm hình thành

và phát triển, đến nay Kinh Đô đã trở thành một hệ thống các công ty trong ngành

Trang 38

thực phẩm gồm: bánh kẹo, nước giải khát, kem và các sản phẩm từ Sữa Hiện nay, Kinh Đô là Tập Đoàn Thực phẩm hàng đầu Việt Nam và là một Tập đoàn đa ngành: Thực phẩm, Bán lẻ, Địa ốc, Tài chính nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai

- Các sản phẩm mang thương hiệu Kinh Đô đã có mặt rộng khắp các tỉnh thành thông qua hệ thống phân phối đa dạng trên toàn quốc Thị trường xuất khẩu của Kinh Đô phát triển rộng khắp qua 35 nước, đặc biệt chinh phục các khách hàng khó tính nhất như Nhật, Mỹ, Pháp, Đức, Singapore

- Với phương châm ngành thực phẩm làm nền tảng cho sự phát triển, trong những năm qua, Kinh Đô đã liên tục đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, thực hiện các chiến lược sáp nhập, liên doanh liên kết và hợp tác như mua lại nhà máy kem Wall từ tập đoàn Unilever, mua lại Tribeco, Vinabico, đầu tư vào Nutifood, Eximbank

- Song song đó, với việc trở thành một tập đoàn đa ngành, Kinh Đô cũng mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác như đầu tư kinh doanh bất động sản, tài chính và phát triển hệ thống bán lẻ Theo đó, các lĩnh vực có mối tương quan hỗ trợ cho nhau, Công

ty mẹ giữ vai trò chuyên về đầu tư tài chính, các công ty con hoạt động theo từng lĩnh vực với các ngành nghề cụ thể theo hướng phát triển chung của Tập Đoàn

2.1.3 Ngành nghề, mục tiêu kinh doanh của công ty

Ngành nghề kinh doanh của Công ty gồm

- Chế biến nông sản thực phẩm;

- Sản xuất kẹo, nước uống tinh khiết và nước ép trái cây;

- Mua bán nông sản thực phẩm, công nghệ phẩm, vải sợi, hàng may mặc, giày dép, túi xách, đồng hồ, mắt kính, mỹ phẩm, kim khí điện máy, điện lạnh, thủ công mỹ nghệ, dụng cụ học tập và giảng dạy, văn phòng phẩm, vật tư ngành ảnh, rau quả tươi sống;

- Dịch vụ thương mại

- Tư vấn, xây dựng thi công các công trình dân dựng và công nghiệp;

- Hợp tác đầu tư tài chính;

Trang 39

- Kinh doanh bất động sản và môi giới bất động sản

- Mua bán hàng điện tử - điện gia dụng, vật liệu xây dựng, lương thực thực phẩm, thực phẩm công nghiệp, hóa mỹ phẩm, đồ chơi, đồ gia dụng, máy ổn áp, thiết bị điện gia dụng, hàng trang trí nội thất, thiết bị văn phòng, vàng, bạc, và thiết bị phụ tùng và một số dịch vụ khác thể hiện trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Mục tiêu hoạt động của công ty là không ngừng phát triển các hoạt động sản xuất, thương mại, đầu tư nhằm mang lại lợi nhuận tối đa cho các cổ đông, nâng cao giá trị Công ty và không ngừng cải thiện đời sống, điều kiện làm việc, thu nhập cho người

lao động trong Công ty, đồng thời làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách cho Nhà nước

2.1.4 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty

Trang 40

PHÓ TGĐ TÀI CHÍNH

PHÓ TGĐ

KẾ HOẠCH

PHÓ TGĐ PC&ĐN

PHÓ TGĐ KIỂM TOÁN

PHÓ TGĐ CUVT

PHÒNG KINH DOANH QUỐC TẾ

PHÒNG

KẾ TOÁN TÀI CHÍNH

PHÒNG

KẾ HOẠCH

PHÒNG

KIỂM TOÁN NỘI BỘ

PHÒNG

QUẢN TRỊ ĐƠN HÀNG & CUNG ỨNG PHÒNG

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

& GT PHÒNG TÍN DỤNG PHÒNG CHỨNG KHOÁN

PHÒNG

PHÁP CHẾ

PHÒNG

QA

PHÒNG R&D

Hình 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty cổ phần Kinh Đô

(Nguồn: Trích từ trang website http://www.kinhdo.vn/ )

Ngày đăng: 02/12/2020, 21:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w