CHUYÊN ĐỀ 1: KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC 1.1 Đối tượng và đặc điểm của triết học a) Sự thống nhất giữa yếu tố nhận thức và nhận định trong triết học; tính khoa học và tính đảng trong triết học Sự thống nhất giữa yếu tố nhận thức và nhận định trong triết học Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thức VI trước công nguyên với các thành tựu rực rỡ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Triết học, theo gốc từ chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là sự hiểu biết sâu sắc của con người, đi đến đạo lý của sự vật. Theo người Ấn Độ, triết học là darshana. Điều đó có nghĩa là sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải. Theo chữ Hy Lạp, triết học là philosophia, có nghĩa là yêu thích sự thông thái. Nhà triết học được coi là nhà thông thái, có khả năng nhận thức được chân lý, làm sáng tỏ được bản chất của sự vật. Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, khi triết học mới ra đời, đều coi triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt được chân lý, được quy luật, được bản chất của sự vật. Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học. Trong các quan điểm khác nhau đó vẫn có những điểm chung. Đó là, triết học là một hệ thống trong đó có hai yếu tố khác nhau, thậm chí đối lập nhau là nhận thức và nhận định. Nhận thức là sự tìm kiếm, khám phá, nó đem lại những tri thức nhất định về đối tượng. Những tri thức mà triết học tìm kiếm là những tri thức lý luận, khái quát chung nhất. Nhận định là đánh giá, bày tỏ thái độ, nó đem lại những quan điểm hay những cái nhìn nhất định về đối tượng. Tính khoa học và tính đảng trong triết học Quan điểm về thế giới được gọi là thế giới quan, quan niệm về con người được gọi là nhân sinh quan. Triết học định hướng chung nhất cho hoạt động của con người bằng phương pháp luận. Chủ nghĩa hư vô trong quan điểm lịch sử đồng nghĩa với sự dửng dưng đối với chính các vấn đề hiện tại, bởi lẽ nó hiểu lịch sử chỉ như những lát cắt rời rạc, không có mối liên hệ với nhau. Quan điểm máy móc, siêu hình xem lịch sử triết học thuần túy chỉ như lịch sử đấu tranh giữa hai hệ thống thế giới quan và hai phương pháp triết học đối lập nhau, theo sự phân tuyến đơn giản: tốt – xấu, đúng – sai, khoa học – phản khoa học. Lý luận khoa học chân chính không nhìn vấn đề một chiều như thế, mà cố gắng làm sáng tỏ bức tranh đa dạng và phức tạp của sự phát triển tư duy triết học, từ đó rút ra tính quy luật của nó. Sự thống nhất tính đảng (tính đảng phái) và tính khoa học (tính khách quan, chuẩn mực) trong việc xem xét các tư tưởng, học thuyết triết học trong lịch sử nhân loại đòi hỏi dựa vào cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, đồng thời nắm vững nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc lịch sử cụ thể, nhằm tránh sự áp đặt một cách võ đoán, chủ quan đối với lịch sử.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 1: KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC
1.1 Đối tượng và đặc điểm của triết học
a) Sự thống nhất giữa yếu tố nhận thức và nhận định trong triết học; tính khoa học và tính đảng trong triết học
- Sự thống nhất giữa yếu tố nhận thức và nhận định trong triết học
Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thức VI trước công nguyên với các thành tựu rực rỡ trong triết học TrungQuốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại
Triết học, theo gốc từ chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là sự hiểu biết sâu sắc của con người, đi đến đạo lý của
sự vật
Theo người Ấn Độ, triết học là darshana Điều đó có nghĩa là
sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải
Theo chữ Hy Lạp, triết học là philosophia, có nghĩa là yêu thích sự thông thái Nhà triết học được coi là nhà thông thái, có khả năng nhận thức được chân lý, làm sáng tỏ được bản chất của sự vật
Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, khi triết học mới
ra đời, đều coi triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt được chân lý, được quy luật, được bản chất của sự vật
Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khácnhau về triết học Trong các quan điểm khác nhau đó vẫn cónhững điểm chung Đó là, triết học là một hệ thống trong đó cóhai yếu tố khác nhau, thậm chí đối lập nhau là nhận thức vànhận định Nhận thức là sự tìm kiếm, khám phá, nó đem lạinhững tri thức nhất định về đối tượng Những tri thức mà triết
Trang 2học tìm kiếm là những tri thức lý luận, khái quát chung nhất.Nhận định là đánh giá, bày tỏ thái độ, nó đem lại những quanđiểm hay những cái nhìn nhất định về đối tượng
- Tính khoa học và tính đảng trong triết học
Quan điểm về thế giới được gọi là thế giới quan, quan niệm vềcon người được gọi là nhân sinh quan Triết học định hướngchung nhất cho hoạt động của con người bằng phương phápluận
Chủ nghĩa hư vô trong quan điểm lịch sử đồng nghĩa với sựdửng dưng đối với chính các vấn đề hiện tại, bởi lẽ nó hiểu lịch
sử chỉ như những lát cắt rời rạc, không có mối liên hệ với nhau Quan điểm máy móc, siêu hình xem lịch sử triết học thuần túychỉ như lịch sử đấu tranh giữa hai hệ thống thế giới quan và haiphương pháp triết học đối lập nhau, theo sự phân tuyến đơngiản: tốt – xấu, đúng – sai, khoa học – phản khoa học Lý luậnkhoa học chân chính không nhìn vấn đề một chiều như thế, mà
cố gắng làm sáng tỏ bức tranh đa dạng và phức tạp của sự pháttriển tư duy triết học, từ đó rút ra tính quy luật của nó
Sự thống nhất tính đảng (tính đảng phái) và tính khoa học(tính khách quan, chuẩn mực) trong việc xem xét các tư tưởng,học thuyết triết học trong lịch sử nhân loại đòi hỏi dựa vào cơ sởthế giới quan và phương pháp luận khoa học, đồng thời nắmvững nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc lịch sử cụ thể, nhằmtránh sự áp đặt một cách võ đoán, chủ quan đối với lịch sử
b) Một số định nghĩa triết học
Thời cổ đại, các nhà triết học như Plato, Aristotle định nghĩatriết học là học thuyết về “tồn tại tối cao” hay là học thuyết vềbản chất cuối cùng (substance) - bản thể của vạn vật Tồn tạitối cao không phải là tồn tại cảm tính, tồn tại vật chất, hữu hình(phisika), mà là tồn tại nói chung, là bản thể, “cái đằng- sau-
Trang 3của vật chất”, “siêu hình” (meta-phisika) Cho đến thời kỳ cậnđại, triết học được coi là bản thể luận - học thuyết về tồn tại(bản chất thế giới) Thời cận đại triết học quan tâm đến nhậnthức bản chất thế giới và được coi là nhận thức luận - họcthuyết về nhận thức, bên cạnh truyền thống bản thể luận có từtrước Chẳng hạn như Kant cho rằng triết học là học thuyết vềnhững khả năng và giới hạn tuyệt đối của mọi tri thức
Theo Oxford Advanced Learner’s Dictionary 1992, thì
philosopy là:
1 Sự nghiên cứu để hiểu rõ bản chất của vũ trụ và cuộc đờicon người
2 Một hay hệ thống những niềm tin do nhận thức đem lại
3 Tập hợp các niềm tin hoặc một cách nhìn về cuộc sống chỉđạo các nguyên tắc xử thế
4 Thái độ bình tĩnh, thản nhiên trước cuộc sống ngay cả khiđối mặt với đau khổ, nguy hiểm
Trong truyền thống của Marxism - Leninism có thể thấy các
định nghĩa:
1 Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thếgiới, về con người và về vai trò của con người trong thế giới
2 Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất về thế giới,
về con người và về vai trò của con người trong thế giới
Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học Trong các quan điểm khác nhau đó vẫn có những điểm chung Đó là, tất cả các hệ thống triết học đều là
hệ thống tri thức có tính khái quát, xem xét thế giới trong tính chỉnh thể của nó, tìm ra các quy luật chi phối trong chỉnh thể
đó, trong tự nhiên, xã hội và bản thân con người Khái quát lại,
có thể hiểu: Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung
Trang 4nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.
Những Triết lý thường dựa trên và tiệm cận đến những phạm trù thuộc chân lý, đạo đức, sức mạnh, trí tuệ, tiền tài, địa vị, sống chết, … xoay quanh sự bảo tồn, thể hiện, tranh đấu, mưu cầu….Hướng đến sự giáo dục bởi tính đúng đắn, tính hệ quả của
nó mà khích lệ các cá nhân, cộng đồng đều có thể tham khảo tích cực
Khác với các hệ thống triết học bác học do các nhà tư tưởng, các nhà khoa học hoàn toàn xác định tạo ra, các triết lý, thường
là vô danh, xuất hiện và tồn tại trong các hình thức khác nhau:
ca dao, tục ngữ, trong cuộc sống thường ngày, trong kiến trúc, v.v Không thể xác định được chính xác thời gian ra đời của mộtcái chung, một triết lý cụ thể nào đó Nhưng có thể xác định được tác giả và thời gian xuất hiện của một hệ thống triết học
cụ thể Những triết lý, những cái chung phong phú và đa dạng
đó tồn tại lâu đời trong cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc, nhưng chúng chỉ có thể tồn tại bên cạnh nhau, phản ánh các mặt, các quá trình cụ thể của đời sống xã hội mà không thể tạo thành một hệ thống triết học có kết cấu lôgíc bên trong, như một lý thuyết hay hệ thống lí luận triết học Chúng không thể có
Trang 5tính khái quát cao và tính hệ thống chặt chẽ như các hệ thống triết học bác học.
Các triết lý mới đạt tầm kinh nghiệm chứ chưa phải ở tầm trình độ lý luận Do vậy, chúng dễ hiểu, dễ vận dụng, sát hợp với tâm thức, bản sắc, tính cách của cộng đồng và dễ đi sâu vàocon người, dễ tiếp thu và định hướng hoạt động, giao tiếp của con người nhẹ nhàng hơn so với các nguyên lý lý luận trong các
hệ thống triết học
d) Vấn đề cơ bản của triết học, các trào lưu và các loại hình triết học cơ bản
Vấn đề cơ bản của triết học
Theo Ph Ăng ghen, ngay từ thời cổ xưa, con người đã gặp phải vấn đề quan hệ giữa linh hồn với thể xác của con người Từviệc giải thích những giấc mơ, người ta đi đến quan niệm về sự tách rời giữa linh hồn với thể xác, về sự bất tử của linh hồn Nhưvậy, ngay từ thời đó, con người phải suy nghĩ về mối quan hệ giữa linh hồn với thế giới bên ngoài Từ khi triết học ra đời, vấn
đề đó được tiếp tục nghiên cứu giải quyết nhưng trên cơ sở kháiquát cao hơn, đó là mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại , giữa tinh thần với tự nhiên, giữa ý thức với vật chất Đó chính là vấn
đề cơ bản của triết học Ph Ăng ghen viết: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại"
Vấn đề mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại, hay giữa ý thức với vật chất được gọi là "vấn đề cơ bản lớn" của triết học vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học
Việc giải quyết vấn đề này là tiêu chuẩn để phân chia các trường phái triết học trong lịch sử Vấn đề cơ bản của triết học
có hai mặt:
Trang 6- Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: vật chất và ý thức, cái nào
có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
- Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
Các trào lưu và các loại hình triết học cơ bản
- Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Căn cứ vào cách giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, các nhà triết học được chia làm hai trường phái chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
+ Chủ nghĩa duy vật cho rằng, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức Chủ nghĩa duy vật được thể hiện ba hình thức lịch sử cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chất
phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật Vào thời kỳ này, khoa học tự nhiên mới hình thành cho nên các quan điểm duy vật được hình thành dựatrên cơ sở trực quan, trực giác nên mang tính mộc mạc, chất phác Khi đó, các nhà duy vật giải thích thế giới vật chất bằng cách đi tìm một hay một số sự vật ban đầu, từ đó sinh ra mọi sựvật, hiện tượng trên thế giới Mặc dù còn mang tính mộc mạc, chất phác của nó, nhưng chủ nghĩa duy vật thời kỳ này đã xuất phát từ bản thân giới tự nhiên để giải thích tự nhiên, không việnđến thần linh, thượng đế
Chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại (Thế kỷ XVII- XVIII) ở các nước Tây Âu là thế giới quan của giai cấp tư sản cách mạng chống lại thế giới quan duy tâm, tôn giáo của giai cấp phong kiến Dựa trên những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật thời kỳ này đã có một bước phát triển so với chủ nghĩa duy vật thời cổ đại Tuy nhiên, do hạn chế bởi trình độ
Trang 7khoa học và lợi ích giai cấp, cho nên duy vật chưa triệt để và mang tính chất siêu hình, máy móc.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C Mác và Ph Ăng ghen sáng lập ra và không ngừng phát triển gắn liền với thực tiễn đấutranh cách mạng của giai cấp vô sản và các thành tựu của khoahọc hiện đại Nó đã thống nhất được chủ nghĩa duy vật với phépbiện chứng, và không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà cònduy vật trong cả lĩnh vực xã hội Đó là chủ nghĩa duy vật triệt để
+ Đối lập với chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm cho rằng: ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất Chủ nghĩa duy tâm chia làm hai hình thức: chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng: cảm giác, ý thức là cái
có sẵn trong con người, là cái có trước, quyết định sự tồn tại củamọi sự vật, hiện tượng Sự vật, hiện tượng chỉ là "tổng hợp các cảm giác" Như vậy, họ phủ nhận sự tồn tại khách quan của sự vật và cho rằng, cảm giác của con người quy định sự tồn tại của
sự vật Quan điểm đó không thể tránh khỏi đi đến chủ nghĩa duy ngã
Chủ nghĩa duy tâm khách quan lại cho rằng: ý thức, tinh thần ("ý niệm", "ý niệm tuyệt đối", "tinh thần thế giới" ) là cái có trước con người trước thế giới vật chất; nó quyết định sinh ra tự nhiên, xã hội và bản thân con người Tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất đều là biểu hiện (hay hiện thân) của một thứ ý thức, tinh thần nào đó có trước thế giới vật chất
- Thuyết khả tri (có thể biết) và thuyết bất khả thi (không thể biết)
Căn cứ vào cách giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, các nhà triết học chia ra: thuyết khả tri (thừa nhận
Trang 8khả năng nhận thức) và thuyết bất khả tri (phủ nhận khả năng
nhận thức)
Đại đa số các nhà triết học đều thừa nhận khả năng nhận
thức của con người, trong đó có cả các nhà triết học duy vật lẫn
các nhà triết học duy tâm Tuy nhiên, quan điểm của các nhà
triết học duy vật và chủ nghĩa duy tâm khác nhau về cơ bản
Các nhà triết học duy vật xuất phát từ chỗ cho rằng vật chất có
trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, cho nên nhận
thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người
và con người hoàn toàn có khả năng nhận thức đúng đắn thế
giới khách quan Ngược lại, các nhà triết học duy tâm xuất phát
từ chỗ cho rằng ý thức có trước, vật chật có sau, ý thức quyết
định vật chất, cho nên nhận thức là ý thức, tinh thần hay "ý
niệm tuyệt đối" tự nhận thức
Trong lịch sử triết học lại có một số người phủ nhận khả năng
nhận thức của con người Học thuyết của họ gọi là "thuyết
không thể biết" Theo thuyết này, con người không thể biết
được sự vật, nếu có biết thì cũng chỉ biết được hiện tượng bề
ngoài, chứ không thể hiểu được bản chất của sự vật Chẳng
hạn, Hium (nhà triết học Anh) cho rằng: chúng ta không biết
được sự vật là như thế nào, thậm chí cũng không biết được sự
vật có tồn tại hay không Còn Cantơ (nhà triết học Đức) thừa
nhận tồn tại các sự vật, mà ông gọi là "vật tự nó", nhưng không
nhận thức được "vật tự nó" mà chỉ có thể nhận thức được hiện
tượng của nó mà thôi
1.2 Sự khác nhau cơ bản giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây
1 Đối tượng ưu tiên và những lĩnh vực
quan tâm chủ yếu của triết học phương
1 Đối tượng ưu tiên và những lĩnh vực quan tâm chủ yếu của triết học phương
Trang 9- Triết học phương Đông lấy xã hội, cá
nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung
quanh Do đó đối tượng của triết học
phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị,
đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là
hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài
Đa số trường phái thiên về duy tâm
là duy vật
2 Hình thức thể hiện và phương pháp
tư duy của của triết học phương Đông:
- Triết học phương Đông thường dùng trực
giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào
cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện
tượng Trực giác giữ được cái tổng thể mà
tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến Nhưng nó
có tiềm tàng nhược điểm là không phổ
biến rộng được Trực giác mỗi người mỗi
khác Và không phải lúc nào trực giác
cũng đúng Thực ra 2 biện pháp kết hợp
lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng
- triết học phương Đông cho rằng người
nhận thức và đối tượng nhận thức cùng
hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy
chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng
2 Hình thức thể hiện và phương pháp
tư duy của của triết học phương Tây:
- Triết học phương Tây ngả về tư duy duy
lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác
Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng Phương Tây
đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật của toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể
- Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan
- Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu
Trang 10- Phương tiện nhận thức của triết học
phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình
ảnh, ngụ ngôn để không bị lưới giả về
nghĩa do khái niệm che phủ Nhưng điểm
yếu của triết học phương Đông chính là sự
đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các
phân tích khác nhau
- Triết học phương Đông biến đổi tuần tự
thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao
nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm
nền, không rời xa gốc đã có
- Trong phép biện chứng giải thích quy
luật của sự vận động - phát triển cũng có
nét khác biệt Phương Đông nghiêng về
thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần
hoàn
- Khuynh hướng nổi trội của phương Đông
lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền
bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống
nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp,
minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư
duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ
*Tóm lại: Đông (Á)
- Tinh thần - Đời người - Tĩnh lặng cảm
nhận các mối quan hệ
- Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật
- Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức
thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn
- Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước
- Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động - phát triển cũng có nét khác biệt Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn Phương tây nghiêng về sự đấu tranh
và vận động, phát triển theo hướng đi lên
- triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận,khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể
*Tóm lại: Tây (Âu)
- Vật chất - Máy móc - Mạnh mẽ, quyết
liệt, Sức động, quan tâm thực thể độc lập
- Thiên về khoa học công nghệ
- Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng Vũ trụ, học thuyết
- Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng
Trang 11Con người, đạo học
- Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh
3 Sự phát triển của triết học phương
Đông
- Phương Đông
để chỉ các nước châu Á các nên văn minh
trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông
Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập,
ả rập, ấn độ và Trung Hoa Hầu hết các
nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện
ở đây
- triết học phương Đông đi từ ngọn xuống
gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống,
lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể
luận )
- ở phương Đông, triết học gắn với những
hiền triết - nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo
đức, chính trị-xã hội
- mục đích chính của phương Đông là cải
tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải
thoát cho con người và làm sao cho con
người hoà đồng với thiên nhiên Nguồn
3 Sự phát triển của triết học phương Tây
- Phương Tây
Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào
- Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận từ đó xây dựng nhân sinh quan con người;)
- ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên
- Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách Nguồn gốc là do
ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định
Trang 12gốc là do ở phương Đông, thượng tầng
kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát
triển của hạ tầng cơ sở
đến thượng tầng kiến trúc
1.3 Triết học Ấn độ và Trung hoa cổ đại
a Tư tưởng cơ bản của Veda về Mối quan hệ giữa Brahmana và Atmana, về Vấn đề giải thoát.
- Thành tựu lớn nhất và có nhiều ảnh hưởng của văn hóa tinh thần Ấn độ làVeda Đó là một thế giới quan hỗn hợp chứa đựng từ những quan niệm tôn giáo
đa thần đến những quan điểm đạo đức và triết học Veda được thể hiện dướidạng những bài hát, bài thơ dài, các nghi lễ Toàn bộ Veda có 4 bộ, trong đóquan trọng nhất là Upanishad Trong Upanishad có 2 vấn đề mang tính chất và
ý nghĩa triết học lớn Thứ nhất là vấn đề mối quan hệ giữa vạn vật và cơ sởchung của chúng (giữa “tất cả” và “một”, giữa các “atman” và “brahman”).Theo đó thì vạn vật, kể cả con người đều có một linh hồn làm nên cái “bản ngã”độc đáo của nó là atman Các atman này thực ra lại chỉ là một bộ phận, một phầncủa tinh thần thế giới là brahman Thứ hai là thuyết luân hồi (samasana) Thuyếtnày cho rằng vạn vật đều chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác donghiệp (karma)
- Thứ nhất là vấn đề mối quan hệ giữa vạn vật và cơ sở chung giữa các
“Atman” và “Brahman” Brahman là toàn tri, toàn năng, là nguyên lý cấu tạo vàchi phối vũ trụ, là nguyên nhân của mọi sự sống Brahman là nguồn sáng củamọi ánh sáng, là cái ở đằng trước, đằng sau, bên phải, bên trái, ở chót vót trêncao, ở tận cùng đáy sâu Brahman là cái vĩ đại nhất Tinh thần vũ trụ tối caoBrahman là tinh thần của thế giới, là nguồn sống của tất cả, nó là bản chất nội tạicủa tất cả, là nguyên bản của tất cả Mọi sự vật, hiện tượng, thiên hình vạn trạng,luôn vận động biến đổi, kể cả con người là biểu hiện khác nhau của tinh thần vũ
Trang 13trụ tối cao Brahman Tinh thần vũ trụ tối cao biểu hiện trong con người và chúngsinh là linh hồn tối cao bất diệt Atman Atman là bộ phận của Brahman Không
ở đâu không có Brahman tồn tại tác động, chi phối Brahman là cái ngã vũ trụđại đồng thì Atman là cái ngã cá nhân Vì Atman đồng nhất với Brahman nênbản chất linh hồn cũng tồn tại vĩnh viễn, bất diệt như tinh thần tối cao Brahman
- Song do những tình cảm ý chí, dục vọng và những hành động của thể xácnhằm làm thỏa mãn mọi ham muốn của con người đã che lấp bản tính của mình,gây nên hậu quả là linh hồn bất tử, đầu thai hết thân xác này đến thân xác khác,
từ kiếp này sang kiếp khác gọi là thuyết “Luân hồi”
b Phe chính thống và phi chính thống trong triết học Ấn đô cổ đại.
- Triết học Ấn độ cổ đại mang nặng màu sắc tôn giáo chứa đựng nhiều yếu tốthần bí, hình thành và phát triển chủ yếu trong khoảng thời gian 1000 năm (tcn).Theo cách phân chia truyền thống triết học Ấn độ có 9 hệ thống triết học vàđược chia thành hai phái chính thống và phi chính thống
Phái chính thống là phái trung thành với các truyền thống tư tưởng có trong
Veda, bao gồm 6 hệ thống và vẫn thường được gọi chung là Ấn độ giáo(Mimamsa, Vedanta, Samkhya, Yoga, Nyaya và Vaisesika)
Phái phi chính thống là phái có những tư tưởng ít nhiều khác với Veda, bao
gồm 3 hệ thống (Lokayata, Jaina và Buddhism)
- Tư tưởng của các trường phái này bao gồm những tư tưởng duy vật vừa cónhững tư tưởng duy tâm Có thể coi Mimamsa và Vedanta có khuynh hướng duytâm mà tiêu biểu nhất là Vedanta Có tính nhị nguyên luận là phái Samkhuya.Chứa đựng nhiều yếu tố duy vật có phái Lokayata, Nyaya và Vaisesika Trong
đó học thuyết duy vật của phái Lokayata (Cha-rơ-vac) là triệt để nhất, nó đối lậpvới thuyết Vedenta (kinh Vê đà) của đạo Bàlamôn
c Các học thuyết chủ yếu của triết học Trung hoa cổ đại
Trang 14- Từ khoảng thế kỷ thứ VIII tcn trở đi, quyền lực nhà Chu suy yếu, các nướcchư hầu nổi lên tranh giành gây chiến tranh liên miên trong suốt gần 300 năm.Lịch sử gọi đây là thời kỳ “xuân thu chiến quốc” kết thúc vào năm 221(tcn) vớiviệc Tần Thủy Hoàng thôn tính các nước và thống nhất Trung quốc Thời kỳxuân thu chiến quốc xã hội phát triển rất sôi động, các học thuyết triết học lớnhình thành trong thời kỳ này Đó là thời kỳ mà sử sách ghi nhận là “bách gia chưtử”, “bách gia tranh minh”, “vương hầu trọng kẻ sỹ” Chín học thuyết lớn được
sàng lọc và tồn tại, có ảnh hưởng rất lớn cho mãi đến sau này là: Nho gia, Pháp gia, Đạo gia, Mặc gia, Âm dương gia, Tạp gia, Nông gia, Binh gia, Tung hoành gia.
d Quan điểm của Nho gia về con người, xã hội, chính trị và đạo đức.
- Nho gia là học thuyết nổi bật trong số các học thuyết triết học Trung quốc
và có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội không chỉ của Trungquốc mà còn của các quốc gia phương Đông khác trong thời gian dài
- Quan niệm chính trị xã hội của Nho gia
Lý tưởng của Nho gia là một xã hội có trật tự kỷ cương, sung túc, mọingười sống hòa thuận, yêu thương lẫn nhau
Xã hội ấy trước hết phải có “ Lễ” Lễ là phép tắc nhà nước, là nghi thức
sinh hoạt xã hội, là tật tự kỷ cương Để có Lễ cần phải thực hiện Chính danh,nghĩa là mọi người trong xã hội phải có ngôi thứ rõ ràng, chỉ làm những gì đúngvới danh phận của mình
Xã hôi ấy phải “Túc thực” tức là no đủ (Phú quý sinh Lễ Nghĩ, Tiên phú
hậu giáo, Dân dĩ thực vi Thiên, Hằng sản là điều kiện của Hằng tâm)
Xã hội ấy phải “Hòa” tức là mọi người phải yêu thương đoàn kết lẫn nhau
như anh em trong một nhà (tứ hải giai huynh đệ, bất hoạn nhi bần hoạn bất an)
Xã hội ấy phải công bằng (bất hoạn quả nhi hoạn bất quân)
Nho gia chủ trương cai quản đất nước bằng đạo đức (đường lối Đức trị, Lễtrị), lấy nêu gương đạo đức, thuyết phục nhân nghĩa (dĩ Đức, hành Nhân, giảVương), coi dân không chỉ là đối tượng sai khiến, cai quản mà còn phải chú
Trang 15trọng đem lại ân huệ cho dân, phải coi việc dân là quan trọng nhất (dân vi quý),
vì dân là gốc nước (dân vi bang bản, bản cố bang ninh)
- Quan niệm về con người và đạo đức của Nho gia xoay quanh vấn đề bản
tính con người và giáo dục đạo đức cho con người Về bản tính con người cácnhà Nho đều nhất trí cho rằng con người ta sinh ra với bản tính như nhau,nhưng hoàn cảnh sống, giáo dục mà có những phẩm chất khác nhau Mục đíchcủa giáo dục là đem đến những phẩm chất tốt đẹp cho con người, nhất là
“Nhân” Về cơ bản thì Nhân có nghĩa là yêu người (nhân giả ái nhân), tuy
nhiên, tùy từng trường hợp mà có nhiều biểu hiện Cha mẹ là những người thân
thiết nhất của ta, đối với họ ta phải kính yêu và biết ơn, - đó là Hiếu; anh chị em
là những người ruột thịt của ta, ta phải trên kính dưới nhường, - đó là Đễ; đối
với mọi người ai cũng như ta cho nên cái gì mình muốn thì làm cho người, - đó
là Trung, cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người, - đó là Thứ.
Theo các nhà Nho, để đạt được đức Nhân không dễ, việc tu Nhân, tích Đứcphải làm thường xuyên Người đạt được đức Nhân ở mức cao nhất, mức tuyệtđối thì gọi là Thánh nhân Dưới một bậc lần lượt là Đại nhân, Quân tử và Tiểunhân
Quan niệm về trời, mệnh trời của các nhà Nho không rõ ràng và nhất quán.Đối với Khổng tử thì “Thiên” vừa có nghĩa là tự nhiên (thiên hà ngôn tai),nhưng cũng có nghĩa là một đấng quyền năng (sinh tử hữu mệnh, phú quý tạithiên)
1.4 Triết học Hi Lạp cổ đại:
a Đặc điểm triết học Hi Lạp cổ đại:
- Triết học Hy Lạp cổ đại là sự kết tinh những gì tinh tuý nhất của nhận thứcnhân loại từ phương thức sản xuất thứ nhất đến phương thức sản xuất thứ hai ở phương Tây Vì vậy, ở đó đã dung chứa hầu hết các vấn đề cơ bản của thế giới quan và là một hệ thống tập hợp các tri thức về tự nhiên, về con người, mặc dầu chưa thoát khỏi trạng thái phôi thai mộc mạc nhưng cũng vô cùng phong phú, muôn hình muôn vẻ…Ph Ăngghen nhận xét
Trang 16như sau: “Chính vì trong các hình thức muôn vẻ của triết học Hi Lạp đã cómầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”.
- Triết học Hi Lạp đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người, khẳng định con người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới Mặc dù vậy, con người ở đây cũng chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định chủ yếu ở khía cạnh đạo đức, giao tiếp và nhận thức
- Triết học Hi Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát và biện chứng sơ khai, cố gắng giải thích các sự vật hiện tượng trong một khối duy nhất thường xuyên vận động và biến đổi không ngừng Với ý nghĩa đó, những
tư tưởng biện chứng của triết học Hi Lạp cổ đại đã làm thành hình thức đầu tiên của phép biện chứng
b Chủ nghĩa duy vật chất phác:
- Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại ra đời ở Hy Lạp vào thời kì
mà xã hội xuất hiện trong chế độ chiếm hữu nô lệ Nhìn chung nó mang tính duy vật tự phát Ngay khi mới ra đời, nó đã tìm cách giải thích thếgiới như một chỉnh thể thống nhât trong đó các sự vật vận động và biếnđổi không ngừng Đề cao vai trò trí tuệ, vai trò của tư duy lý tính thể hiện
trình độ tư duy trừu tượng hết sức cao
- Về thế giới quan là duy vật có ý nghĩa chống lại những tư tưởng sai lầmcủa triết học duy tâm và tôn giáo; nhưng về mặt phương pháp luận thìchưa có cơ sở khoa học, bởi nó mang tính trực quan, cảm tính chủ yếudựa vào tri thức kinh nghiệm của chính bản thân các nhà triết học hơn lànhững khái quát khoa học của bản thân tri thức triết học Vì, quan niệm
về thế giới là vũ trụ, là vạn vật, vật chất là vật thể cụ thể hoặc thuộc tínhcủa vật thể cụ thể, v.v… còn ý thức là linh hồn, là cảm giác nhưng nóphụ thuộc vào vật chất
Trang 17- Anghen viết: “Quan niệm về thế giới một cách nguyên thủy, ngây thơ,nhưng căn bản là đúng, là quan niệm của các nhà triết học Hy lạp thời
cổ, và nguời đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là Héraclite:mọi vật đều tồn tại nhưng đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đều trôi
đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều luôn ở trong quá trình
xuất hiện và biến đi”
- Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết họcduy vật thời cổ đại, mang nặng tính trực quan, ngây thơ, chất phác, chưadựa vào các thành tựu của các bộ môn khoa học chuyên ngành vì lúc đóchưa phát triển Tuy còn hạn chế nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác thời
cổ đại về cơ bản là đúng vì đã lấy giới tự nhiên để giải thích tự nhiên,không sử dụng đến thần linh hay thượng đế khi nói về vũ trụ
- Thời cổ đại, các ngành khoa học của Hy Lạp đã rất phát triển, đặc biệtthiên văn, toán học, y học… Triết học duy vật nhờ đó phát triển rực rỡ,chứa đựng hầu hết các nội dung cơ bản của nó
c Phép biện chứng tự phát
- Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác - Lênin thì Heraclit là người sáng lập ra phép biện chứng Ông cũng là người đầu tiên xây dựng phépbiện chứng dựa trên lập trường duy vật Phép biện chứng của Heraclit chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm khoa học màhầu như các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng được đề cập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý Tư tưởng biện chứng của Heraclit được thể hiện như sau: Một là Quan niệm về sự vận động vĩnh cửu của vật chất Theo Heraclit thì không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới là đứng im tuyệt đối, mà trái lại, tất cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá Ông nói: "Chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy trên sông";