1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình Mác và Ăngghen xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học

93 779 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên do hạn chế về điều kiện lịch sử, đồng thời chưa nhận thức đúng vai trò lịch sử của giai cấp vô sản nên những lý luận về chủ nghĩa xã hội của các nhà tư tưởng lúc bấy giờ chưa c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI LAN PHƯƠNG

SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH MÁC VÀ ĂNGGHEN XÂY DỰNG VÀ PHÁT

TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Triết học

Hà nội - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI LAN PHƯƠNG

SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH MÁC VÀ ĂNGGHEN XÂY DỰNG VÀ PHÁT

TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Triết học

Mã ngành: 60.22.80

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH TRIẾT HỌC

Hà nội - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

NỘI DUNG 14 CHƯƠNG 1 14 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14 1.1 Bối cảnh lịch sử và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm của Mác và Ăngghen về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 15 1.1.1 Bối cảnh lịch sử 15 1.1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm của Mác và Ăngghen

về lý luận và thực tiễn, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 27

- Những quan điểm về lý luận trong triết học trước Mác 27

- Những quan điểm về thực tiễn trong triết học trước Mác 35 1.2 Quan niệm của C Mác và Ph Ăngghen về lý luận và thực tiễn, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 39 1.2.1 Quan niệm về lý luận của Mác và Ăngghen 39 1.2.2 Quan niệm về thực tiễn của Mác và Ăngghen 42 1.2.3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo quan niệm của Mác và Ăngghen 44 1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đối với

sự phát triển lý luận về xã hội 47 CHƯƠNG 2 49 MÁC, ĂNGGHEN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN CHỦ

NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TRÊN NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ 49 2.1 Quá trình Mác và Ăngghen từng bước xây dựng và phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học theo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 49 2.1.1 Bước đầu hoạt động chính trị - xã hội của Mác và Ăngghen 50 2.1.2 Bước chuyển từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa xã hội của Mác và Ăngghen trên cơ sở thống nhất giữa lý luận và thực tiễn xã hội trong giai đoạn 1842 - 1843 53

Trang 4

2.1.3 Sự chuyển biến hoàn toàn của Mác và Ăngghen từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn

1843 - 1844 60 2.1.4 Giai đoạn đề xuất những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác và Ăngghen thời kỳ 1844 - 1846 63 2.1.5 Giai đoạn hoàn thiện đầu tiên của Mác và Ăngghen trong quá trình xây dựng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học trên cơ sở thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 77 2.2 Ý nghĩa của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đối với việc xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ

nghĩa xã hội ở Việt nam hiện nay 83 KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 6

đó đã phản ánh những mâu thuẫn của xã hội tư bản và dự báo về sự ra đời của một xã hội mới thay cho chủ nghĩa tư bản Đó là xã hội xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên do hạn chế về điều kiện lịch sử, đồng thời chưa nhận thức đúng vai trò lịch sử của giai cấp vô sản nên những lý luận về chủ nghĩa xã hội của các nhà tư tưởng lúc bấy giờ chưa chỉ ra được con đường đúng đắn của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội như thế nào Những hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội đó chưa phù hợp với thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản Do vậy, chúng chưa được gọi là chủ nghĩa xã hội khoa học Trên cơ sở quan điểm duy vật về lịch sử, đánh giá đúng vai trò của thực tiễn đối với quá trình nhận thức nói chung và nhận thức lý luận về xã hội nói riêng, Mác và Ăngghen đã xây dựng lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học với tư cách là một hệ thống lý luận khoa học là một quá trình hoạt động lý luận tích cực kết hợp với quá trình đấu tranh cách mạng rất phức tạp của Mác và Ăngghen trong đó hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn luôn gắn bó và đi liền với nhau

Lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời có ý nghĩa to lớn đối với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản Nó đưa phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản phát triển từ chỗ tự phát lên tự giác

Việc nhận thức đúng nội dung khoa học của chủ nghĩa xã hội khoa học

có ý nghĩa rất quan trọng để xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng

Nhưng để nhận thức đúng nội dung khoa học của chủ nghĩa xã hội khoa học thì cần phải nghiên cứu sâu sắc quá trình ra đời và phát triển của nó Từ

đó tìm được quy luật khách quan chi phối sự vận động và phát triển của xã hội nói chung và sự ra đời của xã hội xã hội chủ nghĩa nói riêng

Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài luận văn của mình là : “Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình Mác và Ăngghen xây dựng chủ nghĩa

xã hội khoa học”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời như một cuộc cách mạng về lý luận xã hội, bởi nó đã làm sáng tỏ vai trò của giai cấp vô sản và quần chúng lao động

Trang 7

do đảng mácxít lãnh đạo trong quá trình đấu tranh nhằm cải biến xã hội tư bản, cải biến xã hội dựa trên chế độ người bóc lột người, thống trị giai cấp, để xây dựng hình thái kinh tế - xã hội mới – hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

Ở Việt Nam, chủ nghĩa xã hội khoa học đã được du nhập vào từ rất sớm với sự tuyên truyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh Dưới ánh sáng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, nhân dân ta đã giành được độc lập tự do cho đất nước, do vậy, việc nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội khoa học được nhiều nhà nghiên cứu tham gia Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung khảo sát một số tác phẩm, tài liệu liên quan trực tiếp đến đề tài

- Đối với sách chuyên khảo tiêu biểu phải kể đến tác phẩm “Lê-nin và vai trò của thực tiễn trong nhận thức” của M.A.Tác-khốp-va Tác phẩm do nhà xuất bản Trường Đại học Mát-xcơ-va xuất bản năm 1959 nhân kỷ niệm

50 năm ngày xuất bản cuốn “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” của V.I Lê-nin Tác phẩm giới thiệu những luận điểm của Lê-nin

về vai trò của thực tiễn trong nhận thức trong một loạt tác phẩm như “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, “Bút ký triết học”, “Lại bàn về công đoàn” … Tác phẩm nêu bật quan điểm của Lê-nin về vai trò của thực tiễn trong hoạt động nhận thức của loài người nói chung, cũng như đối với hoạt động của giai cấp công nhân Từ đó, tác phẩm đề cập đến những quan điểm đúng đắn trong hoạt động lý luận gắn liền với hoạt động mạnh mẽ của phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản

Tác phẩm “25 vấn đề lý luận cán bộ và quần chúng quan tâm” của Cục

lý luận Ban Tuyên truyền Đảng Cộng Sản Trung Quốc, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia dịch và xuất bản năm 2003 với nhan đề “25 vấn đề lý luận trong công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc” Tác phẩm bàn về vai trò của

lý luận cách mạng đối với quần chúng Trung Quốc trong sự nghiệp xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trên quan điểm chủ nghĩa Mác, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình và thuyết

ba đại diện Lý luận đó có vai trò lãnh đạo thực tiễn cách mạng Trung Quốc

Nó thể hiện sự sáng tạo, bám sát vào thực tế phát triển của thời đại Tác phẩm

Trang 8

1997 Trong tác phẩm, các tác giả đã trình bày quá trình hình thành và phát triển quan điểm của Mác, Ăngghen và Lênin về chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá

độ và khả năng đi lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, về cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở giai đoạn phát triển nhất Các tác giả cũng làm sáng tỏ những tư tưởng, luận điểm cơ bản của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học đến nay vẫn đúng; phân tích các luận điểm không còn thích hợp trong điều kiện lịch sử Từ đó, tác phẩm đề xuất một số kiến nghị về lý luận xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với nước ta và đắc điểm thời đại ngày nay

- Tác phẩm “Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Gs Nguyễn Đức Bình, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Tác phẩm gồm 3 phần: phần 1 đề cập đến con đường cứu nước và giải phóng dân tộc của Việt Nam ta Phần 2, tổng kết mô hình về chủ nghĩa xã hội, nêu lên những thành tựu và hạn chế của nó Từ đó trình bày quá trình đổi mới từ

tư duy đến cách thức tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhận xét tổng quan về thời kỳ đổi mới Phần 3, đề cập đến con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta hiện nay Tác phẩm là một tài liệu tham khảo có giá trị cho những nhà hoạch định chính sách, những nhà nghiên cứu lý luận cũng như những người chỉ đạo hoạt động thực tiễn – các nhà quản lý

- Đề tài khoa học cấp nhà nước: “Chủ nghĩa xã hội: Từ lý luận đến thực tiễn Những bài học kinh nghiệm chủ yếu”, Gs.Ts Lê Hữu Tầng NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Đề tài đã được nghiệm thu và xuất bản thành sách phục

vụ công tác nghiên cứu và chỉ đạo hoạt động thực tiễn Cuốn sách là một công trình nghiên cứu công phu, mang tính hệ thống và khái quát, làm sáng tỏ phương diện từ lý luận đến thực tiễn của chủ nghĩa xã hội khoa học Từ đó, tác phẩm đề

Trang 9

vệ đất nước

Còn tác giả Đào Hữu Hải lại nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, chống chủ nghĩa giáo điều trong quá trình cách mạng Việt Nam” Luận văn đi sâu vào hệ thống hóa những quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận

và thực tiễn, từ đó chỉ ra những đóng góp của sự vận dụng nguyên tắc đó trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Nhìn chung, các tác phẩm nói trên đều có nhiều ý kiến đóng góp đáng quý đối với những người muốn tìm hiểu về tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong chủ nghĩa xã hội Song, các tác phẩm trên còn chưa trình bày chính diện về tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng lý luận chủ nghĩa xã hội - đặc biệt là quá trình Mác và Ăngghen bước đầu xây dựng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ sự thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn trong quá trình Mác và Ăngghen xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn từ 1844 – 1848 qua một số tác phẩm tiêu biểu Qua đó rút ra ý nghĩa của vấn đề này trong việc nhận thức lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm

vụ sau:

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình Mác và Ăngghen hoạt động lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó giải quyết mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn xã hội

- Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu sự thống nhất

giữa lý luận và thực tiễn từng bước được thực hiện trong quá trình Mác và Ăngghen xây dựng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn 1844 – 1848, tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu sau:

1/ “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen – Lời nói đầu” (cuối năm 1843 – tháng 1 năm 1844)

2/ “Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị học”

3/ “Bản thảo kinh tế - triết học” (1844)

4/ “Gia đình thần thánh” hay “Phê phán sự phê phán có tính chất phê phán” (tháng 9 – 11 năm 1844, xuất bản năm 1845)

5/ “Hệ tư tưởng Đức” (tháng 11 năm 1845 đến tháng 4 năm 1846)

6/ “Sự khốn cùng của triết học” (1847)

7/ “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848)

Và một số bài báo, tác phẩm khác cùng thời kỳ này của Mác và Ăngghen

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện

chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử về mối quan hệ biện chứng giữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chật, giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội

- Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: phân tích và tổng hợp, lô-gich và lịch sử, diễn dịch và quy nạp …

6 Đóng góp của luận văn

Trang 11

- Luận văn đã trình bày được một cách hệ thống sự thống nhất giữa lý

luận và thực tiễn trong quá trình Mác và Ăngghen xây dựng và phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học thể hiện qua một số tác phẩm của các ông trong giai đoạn 1844 – 1848

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho mảng kiến thức về chủ nghĩa xã hội khoa học và về lịch sử tư tưởng chủ nghĩa xã hội

7 Kết cấu của luận văn

- Ngoài Phần mở đầu, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trang 12

lý luận và thực tiễn khác nhau Song, do hạn chế về lập trường và hoàn cảnh lịch sử cụ thể nên các quan điểm của họ mới chỉ đề cập đến một số mặt của lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, những quan niệm đó cũng là tiền đề cho sự ra đời tư tưởng của Mác và Ăngghen về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

1.1.1 Bối cảnh lịch sử

- Tình hình kinh tế - chính trị tại Châu Âu từ 1815 đến 1848

Tình hình chính trị nói chung ở Châu Âu thời kỳ này bước vào thời kỳ

đầy biến động Nước Anh, Pháp nói chung đã hoàn thành cách mạng dân chủ

tư sản: nước Anh với cách mạng tư sản 1640-1688, Pháp với cách mạng tư sản 1789-1794 Các cuộc cách mạng tư sản này đã lật đổ chế độ phong kiến, quét sạch những rào cản kìm hãm lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, tạo tiền đề thuận lợi cho chủ nghĩa tư bản phát triển

Bên cạnh đó, các thế lực phong kiến ra sức phục hồi và củng cố lại địa vị

đã bị lung lay do ảnh hưởng của cách mạng tư sản Tuy nhiên, trong đà đi lên của lịch sử, phong trào cách mạng tư sản vẫn liên tiếp diễn ra trong những năm

20 – 30 của thế kỷ XIX ở Châu Âu

Năm 1820 – 1823, cách mạng diễn ra ở Tây Ban Nha với động lực từ tầng lớp tư sản tiến bộ, nông dân và bình dân thành thị có sự góp phần quan trọng từ lực lượng quân đội Trước cao trào của cách mạng, vua Phec-đi-năng VII phải thừa nhận hiến pháp sửa đổi, do đó một số cải cách tư sản được tiến hành Song

do lãnh đạo phong trào là những phần tử quý tộc sĩ quan cao cấp, họ không muốn thực sự tiến hành cải cách dân chủ tư sản, không đi theo con đường cách mạng

Do vậy, với sự giúp sức từ quân đội của Đồng minh thần thánh ( “Đồng minh thần thánh” là sự hợp tác của Anh, Pháp, Phổ, Áo với mục đích ngăn chặn triều đại Buốc-bông phục hồi trên đất Pháp và đàn áp các phong trào cách mạng của quần chúng) và các thế lực phản động trong nước cuộc cách mạng đã bị dập tắt

Trang 13

Tháng 7 năm 1820 một cuộc khởi nghĩa đòi thực hiện hiến pháp tư sản đã

nổ ra ở Ý Ngọn lửa cách mạng nhanh chóng lan ra trên cả nước song trước sự đàn áp và can thiệp của Đồng minh thần thánh phong trào cũng bị dập tắt Sự thiếu liên hệ với quần chúng nhân dân và tư tưởng hẹp hòi là nguyên nhân chủ quan làm cho cách mạng yếu ớt, không thể đứng vững được

Năm 1821, một cao trào cách mạng diễn ra ở Hy lạp nhằm chống lại ách thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ và mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển Nhân dân Hy lạp đã đấu tranh hết sức anh dũng và giành được độc lập năm 1830 Năm 1830, một cuộc cách mạng tư sản lại bùng nổ tại Pháp nhằm lật đổ nền thống trị của triều đại Buốc-bông Thay thế vào đó là nền quân chủ tháng Bảy do Lui Philip làm vua, đại diện cho lợi ích của bộ phận tư sản ngân hàng Song đó chưa phải là một chính phủ chung của giai cấp tư sản mà chỉ ở trong tay một nhóm nhỏ những nhà quý tộc tài chính Do vậy, mâu thuẫn giữa giai cấp

tư sản nói chung với bộ phận giai cấp tư sản chính quyền là một điều không thể tránh khỏi và dẫn đến một cuộc cách mạng mới

Cuộc cách mạng 1830 tại Pháp có sức ảnh hưởng to lớn đến Châu Âu Hàng loạt phong trào đấu tranh đòi độc lập và dân chủ bùng nổ trên toàn lục địa Đầu tiên phải kể tới cuộc khởi nghĩa dân tộc ở Ba Lan nhằm chống lại ách thống trị của Sa hoàng Nga Dù cuộc khởi nghĩa rất được dư luận ủng hộ nhưng cuối cùng bị đàn áp và dẫn tới thất bại

Cùng năm 1830, cách mạng tư sản cũng diễn ra tại Bỉ nhằm chống lại ách thống trị của Hà Lan Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Bỉ liên tiếp giành được thắng lợi, buộc chính phủ Hà Lan phải thừa nhận nền độc lập của Bỉ

Cao trào cách mạng dân chủ tư sản 1848 tại Châu Âu

Tại Pháp, đầu năm 1848, tình thế cách mạng đã chín muồi, các tầng lớp nhân dân bất mãn trước những chính sách phản động của nền Quân chủ tháng bảy do Lui Philip đứng đầu Phong trào đòi cải cách chế độ tuyển cử diễn ra mạnh mẽ Quần chúng nhân dân đã tiến hành một cuộc biểu tình lớn ở Pari đòi cải cách tuyển cử Nhiều cuộc xung đột đã nổ ra giữa cảnh sát, binh lính và

Trang 14

người biểu tình Xung đột lên tới đỉnh điểm khi người biểu tình chiếm lấy các vị trí chiến lược, chuyển Pari vào tay nghĩa quân Vua Lui Philip bỏ chạy sang Anh Ngai vàng bị lôi ra quảng trường và bị đốt trong tiếng hò reo của nhân dân Sau 18 năm thống trị (1830 – 1848) nền quân chủ tháng Bảy hoàn toàn sụp

đổ Ngày 25 – 2 – 1848 nền cộng hòa thứ hai được tuyên bố thành lập Chính phủ lâm thời là sự thỏa hiệp giữa các giai cấp khác nhau đã cùng lật đổ nền quân chủ tháng Bảy Song, về thực chất đa số đại biểu trong chính phủ là các đại biểu của giai cấp vô sản Chính phủ lâm thời thông qua nhiều quyết định nhằm dàn hòa xung đột giữa công nhân và chủ xưởng, ngăn ngừa các cuộc bãi công, làm

tê liệt tinh thần cách mạng của quần chúng

Ngày 22 tháng 6 năm 1848, Chính phủ lâm thời ra hàng loạt sắc lệnh nhằm tách công nhân ra khỏi Pari và phá hoại phong trào cách mạng của nhân dân Công nhân Pari đã ngay lập tức tuyên bố họ không rời khỏi thành phố trước khi thông qua bản hiến pháp mới đảm bảo tính chất bất khả xâm phạm của chế độ cộng hòa, đảm bảo “dân chủ, xã hội và nhân dân”

Trưa ngày 23 tháng 6, tiếng súng giao tranh bắt đầu nổ giữa các chiến lũy của công nhân và quân đội của chính phủ Sau ba ngày giao tranh, cuộc khởi nghĩa của công nhân Pari bị nhấn chìm trong biển máu 25 nghìn công nhân bị bắt, 3 nghìn người bị đưa đi đày không xét xử, khắp nước Pháp bao trùm không khí khủng bố bắn giết

Cuộc khởi nghĩa tháng Sáu bị thất bại bởi thiếu một trung tâm chỉ đạo thống nhất Các chỉ huy chiến lũy không liên hệ được với nhau, không thực hiện được kế hoạch ban đầu, không có tổ chức thống nhất, thiếu sự lãnh đạo chặt chẽ

và sáng suốt Giai cấp công nhân Pari tiến hành khởi nghĩa mà không có được

sự ủng hộ rộng rãi của các trung tâm công nghiệp lân cận

Cuộc khởi nghĩa tháng Sáu bị thất bại nhưng có ý nghĩa lịch sử to lớn Đây

là cuộc đấu tranh đầu tiên có tính chất vô sản Mác và Ăngghen đã từng nhận xét đó là “trận giao chiến lớn đầu tiên đã diễn ra giữa hai giai cấp đối lập trong

xã hội hiện đại Đó là cuộc đấu tranh để duy trì hoặc để tiêu diệt chế độ tư sản”

[23; tr 45]

Trang 15

Tại Áo, tin tức về cuộc cách mạng tháng Hai năm 1848 tại Pari đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh âm ỉ nhiều năm ở đế quốc Áo Đến giữa thế kỷ XIX, đế quốc Áo vẫn ở trong tình trạng lạc hậu dưới sự thống trị của triều đại phong kiến Hapxbua Đế quốc Áo là nhà tù của các dân tộc bao gồm nhiều vùng Trung Âu như: một phần Đức, Bô-hêm, Hunggari, miền Bắc Ý… Cuộc đấu tranh đầu tiên

nổ ra ở Praha ngày 8 – 3 – 1848 và làn sóng cách mạng lan về Viên ngày 13 – 3 Các chiến lũy mọc trên thành phố, nhân dân bao vây cung điện nhà vua, đội quân vệ quốc tư sản được thành lập Trước áp lực của quần chúng, nhà vua đã lập một nội các gồm các nhân vật thuộc phái tư sản tự do Tháng 4, hiến pháp được công bố, quy định chế độ hai viện nhưng tước quyền bầu cử của công nhân Điều đó gây ra bất mãn trong quần chúng, nhiều cuộc đấu tranh vũ trang của công nhân, thợ thủ công, sinh viên xảy ra trên đường phố Giai cấp tư sản buộc phải thừa nhận quyền bầu cử của công nhân và tuyên bố phế bỏ thượng nghị viện Nhưng chính phủ và nghị viện tư sản tự do không chịu tiếp tục giải quyết những yêu sách của quần chúng, đặc biệt là vấn đề ruộng đất

Sợ hãi trước sự lớn mạnh của giai cấp công nhân và phong trào cách mạng của quần chúng, chính phủ liên kết với thế lực phản động do vua Phéc-đi-năng I cầm đầu công khai đối lập với nhân dân Tháng 8, chính phủ công bố sắc lệnh

hạ lương công nhân và đàn áp những cuộc biểu tình của quần chúng Tháng 10, chính phủ cử quân đội đi đàn áp cách mạng Hunggari Các đơn vị quân đội chống lệnh đó và cùng nhân dân kết nghĩa, kêu gọi khởi nghĩa chống chính phủ phản động Hơn 7 vạn quân tinh nhuệ ở khắp nơi được điều về đàn áp cách mạng Viên Các lực lượng khởi nghĩa chống cự quyết liệt, bảo vệ từng ngôi nhà, từng ụ đất Nhưng đến ngày 1 – 11, cuộc khởi nghĩa Viên hoàn toàn bị dập tắt Như vậy, cuộc cách mạng 1848 tại Áo không hoàn thành được nhiệm vụ lật đổ chế độ quân chủ và giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của đế quốc Áo Tại Đức, đến giữa thế kỷ XIX, Đức vẫn là một quốc gia phong kiến lạc hậu Theo quyết định của hội nghị Viên (1815), Đức là một liên bang gồm 31 tiểu vương quốc tách biệt và 4 thành phố tự trị Quyền lực nhà nước nằm trong tay giai cấp quý tộc phong kiến của từng vương quốc Chính sự chia cắt quốc gia đó đã gây nên nhiều trở ngại đối với sự phát triển của đất nước

Trang 16

Cuối tháng 2 – 1848, cách mạng bắt đầu lan từ miền Nam sang toàn nước Đức Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ chỗ đấu tranh đòi quyền tự do báo chí, võ trang toàn dân, bãi miễn các bộ trưởng phản động và trao quyền cho các đại biểu của giai cấp tư sản tự do Những cuộc nổi dậy ở miền Nam nước Đức đã thu được một số thắng lợi nhất định buộc giai cấp phong kiến phải thay các chính phủ phản động bằng nội các tư sản tự do

Từ ảnh hưởng của cách mạng miền Nam, tháng 3 ở Phổ và Bắc Đức cũng xảy ra nhiều cuộc đấu tranh Các tầng lớp nhân dân từ thợ thủ công, sinh viên và các tầng lớp thuộc giai cấp tiểu tư sản đã đề xuất các yêu cầu như ân xá tù chính trị, lập cơ quan đại diện của nhân dân và thành lập Bộ Lao động Trước làn sóng cách mạng của nhân dân, vua Phổ nhượng bộ, hứa sẽ bãi bỏ việc kiểm duyệt báo chí, sửa đổi hiến pháp, cải tổ Liên bang Đức và triệu tập quốc hội liên bang Song, khi công bố dự án cải cách, nhân dân không thỏa mãn vì yêu cầu quân đội phải rút khỏi thủ đô không được thực hiện Khi những người biểu tình hô to

“quân đội cút đi” thì hàng loạt súng đã bắn vào quần chúng Lập tức, công nhân

hô hào đấu tranh đứng lên cướp vũ khí, lập chiến lũy chống lại binh lính và đại bác Sau 14 giờ đấu tranh, binh lính dần ngả về nhân dân Nhà vua buộc phải nhượng bộ, ra lệnh cho quân lính rút lui khỏi thành phố Cuộc cách mạng tháng

Ba ở Béc-lin đã tỏ rõ sức mạnh của giai cấp công nhân Do thắng lợi của cách mạng, nhà vua Phổ buộc phải thành lập nội các tư sản tự do Nhưng bộ máy quan liêu cảnh sát cũ và quân đội vẫn nằm trong tay bọn địa chủ quý tộc Không

Trang 17

có sĩ quan và viên chức cũ nào bị thải hồi Ở các vương quốc, địa chủ quý tộc vẫn nắm quyền thống trị Yêu cầu vũ trang toàn dân không những không được thực hiện mà giai cấp tư sản tự do lại đồng tình với nhà vua không vũ trang cho giai cấp công nhân

Ngày 2 – 4 – 1848, cuộc bầu cử quốc hội toàn Đức được tiến hành đi ngược lại ý muốn của quần chúng, không có một đại biểu nào của công nhân và chỉ có một đại biểu nông dân Tư sản tự do chiếm đại đa số Song do ảnh hưởng của thất bại của cuộc khởi nghĩa tháng Sáu ở Pari và cuộc khởi nghĩa tháng Mười ở Viên, vua Phổ đã lập tức thải hồi các bộ trưởng, giải tán quốc hội để lập lại chế độ cũ Như vậy, bọn phản động đã thắng cách mạng do sự phản bội của giai cấp tư sản

Ngoài ra, phong trào cách mạng tại Châu Âu thời kỳ 1848 còn ghi nhận hàng loạt cao trào cách mạng tại Tiệp Khắc, Hunggari, Ý Song do các thế lực phản động còn mạnh và sự phản bội của giai cấp tư sản cũng như chưa có ý thức chính trị rõ ràng nên các cao trào cách mạng của giai cấp vô sản đã bị dập tắt

Khi phong trào cách mạng tư sản không ngừng diễn ra trên toàn Châu Âu thì kinh tế tư bản chủ nghĩa đã có những bước tiến quan trọng

Nước Anh, từ năm 1830, tốc độ phát triển công nghiệp ngày càng tăng, việc

ứng dụng máy móc vào sản xuất ngày càng phổ biến Các ngành thương nghiệp,

kỹ thuật, luyện kim, đường sắt phát triển nhanh chóng Điều đó đã thúc đẩy sự phát triển của thị trường trong nước và tăng cường mối liên hệ kinh tế giữa các trung tâm công nghiệp Tuy nhiên, trong thời kỳ phát triển của mình, nền công thương nghiệp nước Anh không tránh khỏi khủng hoảng Cuộc khủng hoảng kinh

tế lớn đầu tiên nổ ra vào năm 1825 và tiếp đó là các cuộc khủng hoảng xảy ra vào những năm 1837, 1847 gây ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế

Nước Pháp, đứng hàng thứ hai trong nền kinh tế thế giới Cuộc cách mạng

công nghiệp trên đất Pháp đang trên đà phát triển với việc sử dụng máy móc trong sản xuất, luyện kim và khai khoáng Nhưng tốc độ phát triển kinh tế của Pháp còn diễn ra chậm chạp, quy mô nhỏ bé do sự tồn tại của chế độ tiểu nông làm cho thị trường trong nước thu hẹp, nguồn công nhân hạn chế, nguyên liệu ít

ỏi Hơn nữa sự thống trị của chính quyền Lui Philip cũng là một trở ngại lớn vì

Trang 18

bọn quý tộc tài chính chỉ chăm lo làm giàu bằng con đường cho vay chứ không phải bằng cách phát triển sản xuất Nước Pháp, cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ khủng hoảng kinh tế, nhất là cuộc khủng hoảng năm 1847

Nước Đức, mặc dù quan hệ phong kiến còn chiếm địa vị thống trị, nhưng

về mặt kinh tế cũng đã có một số chuyển biến nhất định Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ nhất ở vùng sông Ranh, vì ở đó nhân dân được phần nào giải phóng khỏi chế độ phong kiến và có nhiều nguyên liệu hơn

cả Vùng sông Ranh nhanh chóng trở thành một trung tâm công nghiệp của nước Đức Tuy nhiên, đến những năm 30 – 40 của thế kỷ XIX thì hình thức công nghiệp phổ biến vẫn là những công trường thủ công và các công xưởng lớn Tình trạng chia cắt đất nước và sự tồn tại của chính quyền phong kiến là nguyên nhân chủ yếu cản trở sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Đức

Như vậy, trong giai đoạn 1815 – 1848 các cuộc cách mạng dân chủ tư sản và

cách mạng công nghiệp liên tục diễn ra tại các quốc gia Châu Âu Ở một số nước, tuy chưa tiến hành cách mạng dân chủ tư sản nhưng kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng

đã giành được những thành tựa đáng kể Sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa đã tạo ra một nguồn của cải vật chất phong phú và khả năng sản xuất to lớn Đồng thời nó cũng tạo ra những mâu thuẫn ngày càng sâu sắc trong xã hội Bên cạnh mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chế độ phong kiến, xuất hiện mâu thuẫn giai cấp giữa tư sản và vô sản Điều đó đã dẫn tới phong trào công nhân trong thời

kỳ này

- Phong trào công nhân giai đoạn 1815 – 1848

Giai cấp công nhân ra đời và lớn mạnh theo sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Song, đời sống của người công nhân thì ngày càng khổ cực do phải chịu sự bóc lột của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chế độ phong kiến Cách mạng công nghiệp làm cho số công nhân ngày một đông đảo và tập trung Nhưng tình cảnh của họ thì ngày một sa sút và tồi tệ Ngày lao động của công nhân kéo dài từ 12 đến 16 tiếng và chỉ được lĩnh những đồng lương chết đói Lao động trẻ em và phụ nữ được sử dụng rộng rãi trong những điều kiện khắc nghiệt Họ còn bị nạn thất nghiệp đe dọa do những cuộc khủng hoảng kinh tế gây nên Mối mâu thuẫn giữa

vô sản và tư sản là điều không thể tránh khỏi và ngày càng trở nên gay gắt

Trang 19

Ngay từ những ngày đầu tiên trong các công trường thủ công, công nhân đã chống lại bọn chủ một cách lẻ tẻ và tự phát Nhưng khi đó, mâu thuẫn chủ yếu bao trùm xã hội là mâu thuẫn giữa sức sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản xuất phong kiến Công nhân, khi đó chưa tấn công quyết liệt vào giai cấp tư sản

mà còn đi theo giai cấp tư sản “chống lại kẻ thù của kẻ thù mình” tức là chống phong kiến Sự tham gia tích cực và thái độ kiên quyết của công nhân trong những cuộc cách mạng tư sản là bằng chứng không thể chối cãi được Nhưng do hạn chế về ý thức và trình độ tổ chức của giai cấp công nhân mà mọi thành quả cách mạng đạt được thường bị giai cấp tư sản cướp đoạt

Hình thức phản kháng sơ khai của người công nhân là những cuộc bạo động tự phát chống lại việc sử dụng máy móc trong sản xuất Trong buổi đầu của cách mạng công nghiệp, sự xuất hiện của máy móc không cải thiện đời sống của công nhân mà thậm chí, nhờ máy móc bọn chủ xưởng càng ra sức bóc lột, đuổi thợ ra khỏi xưởng gây ra nạn thất nghiệp tràn lan Cho rằng máy móc là nguồn gốc của tình trạng thất nghiệp, công nhân nhiều nơi đã tiến hành đấu tranh bằng cách đập phá máy móc Phong trào đập phá máy móc và công xưởng lan nhanh trong các trung tâm công nghiệp Tất nhiên những cuộc đấu tranh đó không đem lại kết quả gì ngoài sự tăng cường đàn áp của giai cấp thống trị Dần dần, công nhân nhận thấy máy móc không phải là kẻ thù thực sự và hậu quả của việc đập phá máy móc chỉ là sự trấn áp của chính quyền Công nhân đã tiến lên một bước cao hơn là xây dựng công đoàn và tiến hành bãi công Ngành lao động

ở Anh xây dựng hệ thống công đoàn sớm nhất với mục đích bảo vệ công nhân, chống lại những hành động bạo ngược của giới chủ, đòi hỏi quy định tiền lương

và chống lại những quy chế khắc nghiệt của chủ xưởng Những cuộc đấu tranh ban đầu đó thường chỉ là những cuộc bãi công nhỏ, nên nhanh chóng thất bại khi bị đàn áp và chưa giải quyết được vấn đề gì lớn

Qua quá trình đấu tranh, giai cấp công nhân dần dần có ý thức và có tổ chức hơn Họ không tiến hành những cuộc đấu tranh chống lại riêng một chủ xưởng mà tổ chức những cuộc đấu tranh có quy mô lớn hơn, chống lại toàn bộ giai cấp tư sản, đòi hỏi không riêng quyền lợi kinh tế mà còn có những yêu cầu

chính trị rõ ràng Cuộc khởi nghĩa ở Ly-ông Pháp năm 1831và 1834, phong trào

Trang 20

Hiến chương ở Anh từ 1836 – 1848 và cuộc khởi nghĩa Sê-lê-diên Đức năm

1844 đánh dấu thời kỳ đấu tranh có tính chất độc lập của giai cấp công nhân

1 - Cuộc khởi nghĩa Ly-ông Pháp 1831 và 1834

Cuộc khởi nghĩa Ly-ông ở Pháp năm 1831 là một sự kiện có ý nghĩa lịch

sử to lớn Đây là cuộc đấu tranh đầu tiên của giai cấp công nhân có lực lượng hùng hậu, kiên quyết và độc lập

Cuộc khởi nghĩa ở Ly-ông diễn ra trong điều kiện nền sản xuất công nghiệp đặc thù: bọn “môi giới” chuyên kinh doanh tơ lụa và đặt hàng, chủ xưởng và những người trong gia đình thường lao động với công nhân, ở các xưởng thường có 3 vạn thợ làm việc; công nhân được lĩnh một nửa số tiền công

do “người môi giới” trả Công việc nặng nề, có hại đến sức khỏe, thời gian làm việc mỗi ngày 15 giờ (không kể thời gian nghỉ ngơi và ăn uống), nhưng đồng lương thì thấp hơn nhiều mức sống tối thiểu Công nhân phải sinh sống trong những khu phố cũ, hôi hám

Năm 1826, công nghiệp dệt ở Ly-ông khủng hoảng trầm trọng do Anh, Mỹ lâm vào suy thoái giảm mức đặt hàng Vì vậy, tình cảnh người công nhân càng thêm tồi tệ, nạn thất nghiệp tràn lan Lợi dụng nạn thất nghiệp, bọn “môi giới” ở Ly-ông cấu kết với nhau hạ thấp giá tiền công lao động của công nhân Nhiều công nhân phải đi ăn xin để sống qua ngày, hàng trăm gia đình công nhân phải rời bỏ thành phố

Công nhân đã yêu cầu các nhà chức trách can thiệp Một hội nghị tập hợp những đại biểu của các chủ kinh doanh và công nhân đã họp dưới sự chủ tọa của viên quận trưởng Hội nghị đã ấn định mức thang lương do công nhân đề nghị, trong đó nâng tiền công lên chút ít

Song, bọn “môi giới” không chấp hành mức lương mới đó Điều đó làm cho công nhân vô cùng phẫn nộ Ngày 20 – 11 – 1831, đám đông công nhân quyết định ngừng làm việc và kéo về quảng trường thành phố nhằm đưa yêu sách cho nhà chức trách Quân đội cận vệ quốc gia gồm toàn bọn tư sản đã án ngữ, chặn không cho công nhân vào thành phố

Sáng ngày 21 – 11- 1831, cuộc đấu tranh vũ trang quy mô lớn đã nổ ra giữa công nhân và giai cấp tư sản Công nhân nêu cao khẩu hiệu “Sống để làm việc

Trang 21

hay chết trong chiến đấu” Sau những trận kịch chiến trên đường phố, công nhân

đã làm chủ thành phố Ly-ông trong 3 ngày

Song do lập trường thỏa hiệp của bọn chủ xưởng tham gia khởi nghĩa, công nhân đã không nắm lấy chính quyền mà chỉ duy trì trật tự trong thành phố Viên quận trưởng và thị trưởng vẫn được giữ lại và không bị cắt liên lạc với Pari

Do trình độ còn non kém, sau khi làm chủ được thành phố, công nhân đã không hành động kiên quyết với chế độ hiện hành và nhanh chóng bị quân đội trở lại đàn áp Trong cuộc khởi nghĩa đầu tiên này công nhân đã nêu ra khẩu hiệu và mục tiêu chính trị

Đến tháng 4 năm 1834, cuộc khởi nghĩa thứ hai của công nhân Ly-ông lại

nổ ra Lần này, công nhân nêu cao khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái hay là chết” và “Nền cộng hòa hay là chết” Giao tranh dữ dội đã nổ ra giữa công nhân

và quân đội chính phủ trong 7 ngày liền Đến khi cuộc khởi nghĩa kết thúc, quân đội tư sản đã huy động đến hơn 3 vạn quân chính quy

Có thể nói, hai cuộc khởi nghĩa của công nhân Ly-ông có ý nghĩa lịch sử to lớn Đó là cuộc đấu tranh tiên phong của giai cấp công nhân, giai cấp vô sản trên toàn thế giới Nếu ở cuộc đấu tranh thứ nhất, năm 1831, chưa có màu sắc chính trị, thì cuộc khởi nghĩa thứ hai đã có tính chất ủng hộ chế độ cộng hòa rõ nét Song cả hai cuộc khởi nghĩa đều là những cuộc đấu tranh độ tự phát của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản Do đó, xét về tính chất thì các cuộc khởi nghĩa đó đều có tính chất chính trị, tính chất vô sản – giai cấp

2- Phong trào Hiến chương ở Anh từ 1836 – 1848

Ở Anh, sau cuộc cải cách bầu cử năm 1832, giai cấp tư sản đã có phần thỏa mãn, rời bỏ cuộc đấu tranh Song giai cấp công nhân vẫn chưa được hưởng một chút quyền chính trị nào Phong trào Hiến chương phát triển trong những năm

30 – 40 của thế kỷ XIX nhằm đấu tranh cho những quyền lợi chính trị cơ bản của người công nhân như: quyền phổ thông đầu phiếu, phân chia khu vực bầu

cử bình đẳng, bỏ phiếu kín, trả lương cho nghị viên, hàng năm bầu cử quốc hội, xóa mọi hình thức thuế đối với điều kiện ứng cử nghị viện

Cao trào Hiến chương lần thứ nhất diễn ra vào tháng 5 năm 1839 Một

bản kiến nghị với hơn một triệu chữ ký đã được đệ trình lên nghị viện Công

Trang 22

nhân chủ trương đấu tranh bằng hòa bình nếu có thể được Song, nghị viện đã bác bỏ kiến nghị của quần chúng Một cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở Bơcminhham ngày 15 tháng 6 nhưng nhanh chóng bị đàn áp Trước tình hình đó, công nhân kêu gọi tổng bãi công trên toàn quốc Nhưng do chia rẽ trong nội bộ tổ chức lãnh đạo công nhân nên phong trào đã dần suy thoái và tan rã

Cao trào Hiến chương lần thứ hai diễn ra vào năm 1842 Đó là thời kỳ nền

kinh tế Anh sa sút, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực Ngày 2 tháng 5, một bản kiến nghị mới được trình lên nghị viện với hơn 3 triệu chữ ký Bản kiến nghị đã bóc trần chế độ chính trị độc đoán tại Anh và nêu lên tình trạng khốn cùng trong

xã hội Kiến nghị đòi thủ tiêu ách áp bức của Anh đối với Ailen Một lần nữa nghị viện bác bỏ kiến nghị Đáp lại, phong trào bãi công nổ ra liên tiếp từ các trung tâm công nghiệp và dần mang tính chất tổng bãi công trên toàn quốc Cuộc bãi công thể hiện rõ tính chất chính trị và nâng phong trào công nhân lên mức khởi nghĩa vũ trang Chính phủ đã tiến hành đàn áp để dập tắt phong trào Tuy vậy, cao trào Hiến chương cũng đã đạt được một số thành quả nhất định như buộc nghị viện thông qua đạo luật rút ngày lao động của công nhân xuống còn 10 giờ Đó là sự thụt lùi đầu tiên về nguyên tắc và trên thực tế của giai cấp

tư sản trước cao trào tấn công của công nhân

Đến năm 1848, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1847 và những cao trào cách mạng tại Châu Âu, những người thuộc phái Hiến chương lại tiến hành cuộc đấu tranh lần thứ ba Với bản kiến nghị mới gồm hơn năm triệu chữ ký, công nhân tiến hành bãi công, biểu tình khắp nơi Song do sự chia

rẽ trong nội bộ lãnh đạo phong trào mà cao trào dần lắng dịu và bị chính quyền đàn áp

Có thể nói, phong trào Hiến chương ở Anh là bước phát triển tiếp theo của phong trào công nhân thế giới Từ chỗ phụ thuộc vào giai cấp tư sản đến chỗ độc lập về chính trị; từ chỗ chỉ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh xã hội đòi hỏi cải tạo xã hội trên cơ sở bình đẳng, hòa bình giai cấp; từ chỗ là những phong trào đấu tranh lẻ tẻ, rời rạc, đến một phong trào mạnh mẽ trên cả nước và có tổ chức thống nhất Sự độc lập thực sự về mặt chính trị của giai cấp công nhân đã dần được hình thành

Trang 23

3 - Khởi nghĩa Sê-lê-diên Đức năm 1844

Ở Đức, cùng với sự phát triển của nền công nghiệp và ảnh hưởng của các cao trào cách mạng ở Châu Âu, giai cấp công nhân Đức cũng dần lớn mạnh về

số lượng và ý thức giác ngộ Nhưng trước sự kiểm soát khắt khe của chính quyền quý tộc Phổ, giai cấp công nhân Đức có những hạn chế nhất định về ý thức giai cấp và trình độ chính trị Trước tình hình đó, các nhà hoạt động tiên phong của giai cấp công nhân đều buộc phải bỏ ra nước ngoài để hoạt động Năm 1836, “Đồng minh những người chính nghĩa” - tổ chức tiền thân của

“Đồng minh những người cộng sản” - được thành lập tại Pari Tổ chức hoạt động theo nhiều quan điểm không tưởng nhưng đã có sự liên kết hoạt động với nhiều hội bí mật của thợ thủ công ở trong nước Đức

Trong thời kỳ này, đời sống của công nhân Đức vô cùng cực khổ Ngoài ách bóc lột của chủ tư bản, giai cấp công nhân Đức vẫn phải gánh các nghĩa vụ phong kiến đối với nhà nước Phổ Năm 1844, cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn đầu tiên đã nổ ra ở Sê-lê-diên Do hậu quả của các cuộc khủng hoảng kinh tế và

sự bóc lột tàn bạo của bọn chủ tư bản, thợ dệt ở Sê-le-diên đã phải sống dưới mức nghèo khổ, thậm chí phải bán cả đồ dùng cá nhân để trang trải cuộc sống Trong khi đó, bọn chủ tư bản thì càng lợi dụng nạn thất nghiệp để bắt chẹt, giảm tiền công của công nhân Thợ dệt đã thấy rõ, chủ xí nghiệp càng giàu lên thì công nhân càng nghèo đi Sự phẫn uất đã lên đến đỉnh điểm khi công nhân họp nhau, đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm Song giới chủ xí nghiệp lại đàn áp thô bạo đoàn người Thế là công nhân ùa vào phá hủy các văn phòng, đốt giấy

nợ và phá hủy nhà của của bọn tư sản Phong trào đã lan ra các vùng lân cận nhưng bị chính quyền và quân đội đàn áp dã man

Tuy thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Sê-lê-diên năm 1844 đã chứng tỏ giai cấp công nhân Đức cũng như giai cấp công nhân Anh và Pháp đã bước đầu tiến hành đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp mình Đó không phải đơn thuần là một cuộc bạo động vì đói mà thực chất là một cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa tư bản Công nhân đã ý thức được rằng mình chính là những người làm thuê bị bóc lột một cách tàn nhẫn Họ đã chĩa sự phẫn nộ không phải vào đồ vật mà vào chính bọn bóc lột và những quan hệ áp bức ghi

Trang 24

trong sổ sách văn phòng Phong trào bùng nổ trước tiên do sự bạo động tự phát

mà ra, mặc dù không có tính chất chính trị, nhưng xét về quy mô và mục đích thì chưa có một cuộc đấu tranh chống bóc lột lớn mạnh như vậy diễn ra ở Đức Như vậy, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân giai đoạn này đã phản ánh từng bước phát triển về mặt chính trị và xã hội của giai cấp vô sản và đặc điểm riêng có của từng quốc gia Nếu như cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở Anh bùng nổ nhằm khắc phục sự lệ thuộc về mặt chính trị vào giai cấp tư sản đang cố nắm lấy chính quyền; thì ở Đức, nó là kết quả của sự căm phẫn không mang tính chất chính trị của giai cấp công nhân; còn ở Pháp thì đó là sự vùng lên đấu tranh vì lợi ích xã hội của giai cấp mình Nhưng tất cả những cuộc đấu tranh đó đã chứng tỏ rằng giai cấp công nhân sẵn sàng đấu tranh với chủ nghĩa tư bản để bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình Công nhân đã hiểu rằng chính quyền nhà nước hiện hành không đại biểu cho toàn dân tộc, mà chỉ đại biểu cho một bộ phận có lợi ích trong dân tộc Cũng từ những cuộc đấu tranh đó

đã biểu lộ khả năng hành động một cách kiên quyết và đáng sợ của giai cấp công nhân Đồng thời, do hạn chế về trình độ nhận thức, giai cấp công nhân giai đoạn này chưa thể hiện mục tiêu đấu tranh rõ rệt, trong số các phương thức đấu tranh vừa tầm với phong trào thì có nhiều phương thức mà họ chưa biết đến, chưa có kế hoạch hành động chính trị và chưa có hệ tư tưởng riêng Chính vì chưa có hệ tư tưởng dẫn đường nên trong các cao trào, công nhân thường sử dụng những tư tưởng của các nhà tư tưởng không phải là vô sản Chính vì chưa

có tổ chức vững mạnh và không được trang bị lý luận khoa học dẫn đường, giai cấp công nhân vẫn chưa thể giành được thắng lợi Các trào lưu tư tưởng đương thời đã không đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Điều này đã tạo điều kiện tất yếu cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác nói chung và

chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng

1.1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm của Mác và Ăngghen

về lý luận và thực tiễn, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

- Những quan điểm về lý luận trong triết học trước Mác

1- Imamuel Kant (1724-1804)

Trang 25

Quan điểm về lý luận là tiền đề cho sự ra đời quan niệm của Mác và Ăngghen về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đầu tiên phải kể đến là quan niệm của Imamuel Kant (I-ma-nu-el Can-tơ) (1724 – 1804) Kant là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng triết học phương Tây trước Mác Ông được xem là người sáng lập nên nền triết học cổ điển

Đức Ở Kant, vấn đề lý luận nhận thức được ông đề cập trong Triết học lý luận, còn thực tiễn thì được giải quyết trong Triết học thực tiễn

Lý luận nhận thức của Kant bao gồm những vấn đề về nhận thức luận và lô-gic học Mục đích của nó là xây dựng một nền tảng thế giới quan mới cho con người, xác định đối tượng và giới hạn tri thức của con người, nhằm trả lời cho câu hỏi “Tôi có thể biết được gì?”

Kant cho rằng nhiệm vụ của triết học là phải khám phá ra tri thức hoàn hảo tuyệt đối, coi đó là lý tưởng tri thức của con người Cũng giống như Hi-

um và Lép-nít, Kant cho rằng khoa học thực sự phải dựa trên tri thức tiên nghiệm với hai đặc tính tất yếu và phổ quát Do chưa thoát khỏi quan điểm siêu hình xem xét các mặt đối lập tách rời tuyệt đối, nên ông đã đi đến quan niệm cho rằng, mọi vật trong thế giới bên ngoài chúng ta chỉ tồn tại dưới dạng đơn nhất, cá biệt và chúng không có sự liên hệ, ràng buộc gì với nhau

Theo Kant, sự vật phải phù hợp với nhận thức của con người Như vậy với việc thừa nhận tri thức tiên nghiệm của khoa học và triết học, ông đứng trên lập trường duy tâm chủ quan Tuy nhiên, những mâu thuẫn trong quá trình nhận thức giữa hiện thực và tri thức đã buộc Kant phải thừa nhận có cái gọi là “Vật tự nó” không thể nhận thức được

“Vật tự nó” theo Kant có mấy nghĩa sau: thứ nhất, đó là sự thể hiện những gì thuộc lĩnh vực hiện tượng (Kant đồng nhất với kinh nghiệm) mà chúng ta chưa nhận thức được; thứ hai, đó là bản chất của mọi sự vật khách quan tồn tại bên ngoài chúng ta, mà theo ông chúng thuộc về lĩnh vực siêu nghiệm – và về nguyên tắc chúng ta không thể nhận thức được-; thứ ba, “vật

tự nó” ám chỉ những lý tưởng là chuẩn mực của mọi sự hoàn hảo tuyệt đối mà con người không đạt tới được, nhưng đây là điều mà nhân loại hằng mơ ước,

Trang 26

Do vậy ông gọi triết học của mình là triết học tiên nghiệm với nhiệm vụ nghiên cứu con người như một chủ thể

Kant cho rằng con người nhận thức thế giới bên ngoài qua ba giai đoạn: thứ nhất, giai đoạn trực quan cảm tính là đối tượng của cảm giác học tiên thiên; thứ hai là giai đoạn giác tính phân tích, đối tượng của phân tích tiên nghiệm; thứ ba, giai đoạn cao nhất là lý tính, đối tượng của biện chứng tiên nghiệm Trong đó biện chứng tiên nghiệm và phân tích tiên nghiệm là bộ phận của khoa học lô-gic tiên nghiệm

Đối với nhận thức trực quan cảm tính, Kant thừa nhận các hiện tượng cảm tính có được là do tác động của sự vật khách quan ở bên ngoài con người Nhưng ông cho rằng, con người chỉ biết được hình ảnh của sự vật mà thôi, chứ không phải là bản thân các sự vật tồn tại trên thực tế - cái mà ông gọi là “vật tự nó” Ông coi “vật tự nó” là bản chất đích thực của sự vật mà con người không thể nhận thức được Như vậy, tách rời bản chất và hiện tượng là đặc điểm cơ bản của triết học lý luận của Kant Do đó, nhận thức luận của Kant không phải là nhận thức bản chất đích thực của tự nhiên, mà là hoạt động nhận thức của chủ thể - con người trong giới hạn hiện tượng luận

Đối với giai đoạn thứ hai của nhận thức, giai đoạn giác tính phân tích, Kant cho rằng để có tư duy giác tính thì phải có những “công cụ” cơ bản để tập hợp các tài liệu của nhận thức – đó là các phạm trù Song cũng giống như Hi-um, Kant coi các phạm trù không phải là phản ánh hiện thực khách quan,

mà chỉ là kết quả sáng tạo của riêng giác tính trên quan điểm con người chỉ nhận thức được những gì do mình tạo ra Các phạm trù tiên thiên thuộc về chủ quan, có trước kinh nghiệm và không liên quan gì đến hiện thực khách quan Quan điểm đó của Kant là do ông xét năng lực nhận thức của con người ở

Trang 27

ngoài hoạt động thực tiễn của họ, bên ngoài lịch sử của nhận thức Các phạm trù hiểu theo Kant thì đơn thuần chỉ là những hình thức tư tưởng, chưa bao hàm nội dung nào cả Vì thế, để có nội dung và trở thành tri thức, các phạm trù phải được vận dụng vào kinh nghiệm cảm tính Ông viết: “Tư tưởng thiếu nội dung thì trống rỗng, mà trực quan thiếu khái niệm thì mù quáng”[53; tr32] Kant coi nhiệm vụ của giác tính là dùng phép suy diễn tiên nghiệm các phạm trù, nghĩa là dùng các phạm trù vào kinh nghiệm, quy tụ các tư liệu cảm tính đa dạng dưới sự thống nhất của phạm trù

Phép suy diễn tiên nghiệm các phạm trù là năng lực bẩm sinh, con người

có thể thực hiện được nó nhờ năng lực hoạt động trí tuệ - Kant gọi là năng lực tưởng tượng có hiệu quả Đây là năng lực bẩm sinh mà tạo hóa cho con người,

“và thiếu nó thì không thể bù đắp nổi bằng bất cứ trường học nào… và người ta gọi điều đó là ngu đần”[41, tr 218] Như vậy, ông đã khẳng định vai trò quyết định của sinh lý học đối với tư duy và ý thức con người

Để thực hiện phép suy diễn tiên nghiệm, cần có khâu trung gian gắn phạm trù với kinh nghiệm Thời gian là phạm trù cảm tính, sự thống nhất giữa

tư duy giác tính và kinh nghiệm được thực hiện trong thời gian được Kant gọi

là lược đồ, tức là quy tắc hình thành hình ảnh trên cơ sơ tiếp cận các phạm trù của chúng Việc xây dựng lý luận khoa học cần phải được tiến hành trên cơ sở

sử dụng các lược đồ, chứ không phải là các hình ảnh trực tiếp

Từ đây, con người đưa ra quan điểm của mình về thế giới với phương châm: tự nhiên phải tuân theo quan niệm của con người, chứ không phải là ngược lại Giới tự nhiên theo quan niệm của Kant ở đây là mặt hiện tượng luận chứ không phải vật tự nó Con người không chỉ là chủ thể nhận thức, mà còn sáng tạo ra quy luật của tự nhiên bằng chính phép suy diễn tiên nghiệm trên Nếu như giác tính thỏa mãn với việc nhận thức hiện tượng, thừa nhận

“vật tự nó” bất khả tri, thì lý tính (khả năng trí tuệ cao nhất của con người) có khát vọng nhận thức trọn vẹn, tuyệt đối cả vật tự nó

Lý tính khác với giác tính ở chỗ nó muốn thâm nhập vào cả lĩnh vực vật

tự nó, thể hiện khát vọng của con người muốn đạt đến lý tưởng tuyệt đối Trong khi giác tính của con người bị bó hẹp trong khuôn khổ hiện tượng luận,

Trang 28

Có thể nói học thuyết về các antinomia của Kant còn nhiều hạn chế Thứ nhất, ông chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư tưởng, lý tính con người, mà chưa thấy được mâu thuẫn trong hiện thực khách quan Thứ hai, các antinomia mà Kant bàn đến không có yếu tố biện chứng, chưa có sự thống nhất và chuyển hóa lẫn nhau Thứ ba, quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn của Kant còn dừng lại ở việc giải quyết mâu thuẫn hình thức; chưa thấy mâu thuẫn là động lực thúc đẩy sự phát triển.Thứ tư, Kant đã sai lầm khi hạn chế số lượng các antinomia Thực chất, như Hêghen nhận xét, chúng có trong tất cả các sự vật, ở mọi hình thức, trong tất cả các quan niệm, ý niệm và khái niệm Tuy nhiên, học thuyết của Kant cũng có những yếu tố hợp lý Ông đã nhận thấy các antinomia là bản chất khách quan của lý tính con người, chứ không đơn thuần là những lỗi lô-gic thông thường Ông là người đầu tiên tìm cách bao quát toàn bộ những nguyên lý tư duy đối lập nhau của thời đại dựa trên một quan niệm thống nhất, vạch ra những vấn đề còn bỏ ngỏ trong các cuộc tranh luận về bản chất của tư duy

Trong học thuyết về các antinomia, Kant lần lượt phân tích và bác bỏ sự tồn tại của thượng đế, thực thể tối cao – nguồn gốc của toàn bộ thế giới, nguyên nhân cuối cùng tuyệt đối của chuỗi nhân quả… trong thế giới hiện tượng và kinh nghiệm Tuy vậy, ông lại không có cách nào để phủ nhận khả năng tồn tại của chúng trong thế giới “vật tự nó” Tri thức lý luận – kể cả tri thức triết học – chỉ có thể khẳng định chúng nằm ngoài khả năng nhận thức

Trang 29

là những quy luật chung của hiện thực, mà là thế giới hiện tượng do lý tính dựng nên cùng với những “hình thức tiên nghiệm”

Trong thực tế, không có gì ngăn cách giữa vật tự nó và thế giới hiện tượng Chỉ có giới hạn tạm thời có tính chất lịch sử giữa cái đã nhận thức và chưa nhận thức được Lênin nhấn mạnh rằng, những vật tự nó trong quá trình nhận thức và quá trình thực tiễn xã hội, luôn biến thành vật cho ta Kant không coi nhận thức là quá trình lịch sử dựa vào hoạt động thực tiễn của con người, mà lại coi nó là một cái gì một khi đã có thì vĩnh viễn không thay đổi Thừa nhận vật tự nó không thể nhận thức được, Kant đã tách rời hiện tượng khỏi bản chất Ông không thấy sự thống nhất biện chứng và chuyển hóa lẫn nhau giữa cái bên ngoài và cái bên trong, cái hiện tượng và cái bản chất

2- G G Phích-tơ (1762-1814)

Tiếp sau Kant, G G Phích-tơ, một trong những đại biểu nổi tiếng của

triết học cổ điển Đức, cũng đưa ra những quan niệm của mình về lý luận và thực tiễn với nhiều điểm khác biệt Theo Phích-tơ con người là trung tâm và chủ đề chính của khoa học và triết học Con người không phải do chúa trời tạo ra, mà con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả hoạt động của chính mình

Đặc trưng của con người là sinh vật có ý thức, trong đó bản chất của nó là cái tôi, cái mà nhờ đó con người tự ý thức về mình Ông từng viết: Tôi là gì trước

khi tôi có thể tự ý thức Câu trả lời theo ông: tôi chẳng là gì nếu tôi không phải là tôi, nghĩa là tôi chỉ có được khi nó ý thức về chính bản thân mình Nếu như ở Kant, con người mới chỉ là chủ thể nhận thức – hoạt động – giá trị, ông chưa nhận ra nguồn gốc của con người, coi con người sinh ra đã

có tri thức tiên thiên Con người theo Kant, gần như từ trên trời xuống và có sẵn tri thức để hoạt động Nhưng ở Phích-tơ, con người gồm các năng lực của mình, vừa là nguyên nhân, vửa là kết quả của chính mình; thông qua hoạt

Trang 30

động thực tiễn, con người tạo ra năng lực của mình Đây là điểm tiến bộ hơn hẳn của Phích-tơ so với Kant

3- Giooc-giơ-vin-hem Phi-drich Hê-ghen (1770-1831)

Nói đến triết học cổ điển Đức không thể không nhắc đến

Giooc-giơ-vin-hem Phi-drich Hê-ghen Ông là một nhà biện chứng lỗi lạc, một trong những

nhà triết học vĩ đại nhất của nhân loại, bậc tiền bối của triết học Mác Ăngghen nhận xét, Hê-ghen không chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên trong mọi lĩnh vực, ông xuất hiện như một người vạch thời đại

Điểm xuất phát của hệ thống triết học Hê-ghen là tinh thần tuyệt đối, hay

ý niệm tuyệt đối Ông cho rằng, tinh thần tuyệt đối được hiểu như đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên, con người và cả lịch sử xã hội Tinh thần tuyệt đối được coi là thực thể của mọi sự vật trong tự nhiên và xã hội Con người là biểu hiện sự sáng tạo cao nhất của tinh thần tuyệt đối Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người cũng chính là công cụ để ý niệm tuyệt đối thể hiện mình

Hê-ghen lý giải nhận thức lý luận của con người một cách trừu tượng thông qua sự vận động của tinh thần tuyệt đối Theo đó, ý niệm tuyệt đối vận

động và phát triển qua ba giai đoạn chủ yếu : tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan, tinh thần tuyệt đối Trong đó, tinh thần chủ quan là tinh thần

thuần túy, tức tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai của nó; tinh thần khách quan là giới tự nhiên, tức là giai đoạn tinh thần tuyệt đối “tha hóa” bản thân

nó, tồn tại dưới dạng các sự vật tự nhiên; tinh thần tuyệt đối là sự thống nhất giữa tinh thần chủ quan và tinh thần khách quan, là lĩnh vực lịch sử xã hội

Sự vận động của tinh thần tuyệt đối qua ba giai đoạn cơ bản, thực chất là sự giải thích một cách trừu tượng, thần bí hóa hoạt động nhận thức của con người Giai đoạn đầu tiên, khi tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai nhất – tinh thần thuần túy, được Hê-ghen nghiên cứu trong “Khoa học lô-gic” Đây là một

bộ phận quan trọng trong hệ thống triết học duy tâm khách quan của Hê-ghen,

và là điểm xuất phát, nền tảng của toàn bộ hệ thống triết học của ông Tại đó nghiên cứu sự tồn tại, vận động của tinh thần tuyệt đối trong lĩnh vực tinh thần

Trang 31

thuần túy Về thực chất, theo chủ nghĩa Mác, đây là triết học về tư duy: nó làm

rõ sự vận động, phát triển về năng lực của tư duy Tinh thần tuyệt đối trong lĩnh

vực tinh thần thuần tuý vận động theo ba cấp độ: tồn tại – bản chất – khái niệm

Trong đó khái niệm là giai đoạn đỉnh cao và khi đạt được nó sẽ chuyển thành

cái khác

Theo chủ nghĩa Mác: con người nhận thức sự vật thông qua con đường

trực quan sinh động tới tư duy trừu tượng Sự vật được nhận thức qua con

đường cảm tính, từ đó con người lĩnh hội được các thuộc tính về sự vật, dần

xây dựng biểu tượng về sự vật, tiếp đó là nhận xét về bản chất của sự vật và

hình thành nên khái niệm, phán đoán, suy lý về sự vật

Nhưng Hê-ghen lại trình bày quá trình này dưới hình thức là sự vận động

của ý niệm tuyệt đối – theo ba giai đoạn: chất – lượng – độ Theo đó, sự vật

trong đầu ta sẽ tồn tại với tư cách là một chất (vì khi ta nhìn vào một sự vật thì

điều đầu tiên ta chú ý là chất của nó, phân biệt nó với các sự vật khác); sau đó

ta mới chú ý đến hình thù, màu sắc – đó là lượng; đến khi ta biết được sự vật

đó là gì rồi thì đó là độ “Ý niệm tuyệt đối” mới đầu là một cái gì đó tồn tại

một cách thuần túy, chưa có tính chất gì cả hay chính xác hơn là ta chưa nhận

thức được về các thuộc tính của nó Điều này nó dường như đồng nhất với

“hư vô” Mà “hư vô” lại tồn tại, dẫn tới sự mâu thuẫn giữa hư vô và tồn tại

Từ đó lại sinh ra sự “sinh thành” – sự vật được nhận thức Đó chính là động

lực của sự nhận thức

Trên cơ sở này Hê-ghen trình bày quy luật về những sự thay đổi về chất

dẫn tới sự thay đổi về lượng Khi trải qua quá trình nhận thức chất – lượng –

độ thì sẽ đi đến bản chất của sự vật

So với chủ nghĩa Mác thì ta có thể dễ dàng nhận thấy sự mâu thuẫn giữa

hư vô và tồn tại thực chất là mâu thuẫn giữa khách thể và nhu cầu nhận thức

của chủ thể - đây là một mâu thuẫn của quá trình nhận thức Hơn nữa, thực tế

sự vật luôn vận động từ lượng đến chất mà Hê-ghen lại cho rằng là từ chất

vận động đến lượng – điển hình của quan điểm duy tâm – do ông chỉ đề cập

đến quá trình nhận thức

4- Lút-vích Phoi-ơ-bách (1804-1872)

Trang 32

Lút-vích Phoi-ơ-bách là đại diện lỗi lạc của triết học cổ điển Đức Ông là một trong những nhà duy vật lớn nhất trước Mác Công lao vĩ đại của ông là ở chỗ đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm và thần học; ông đã khôi phục lại địa vị xứng đáng cho triết học duy vật Mác nói: Phơ-bách đã thay thế cái tự biện say rượu bằng triết học tỉnh táo

Theo Phoi-ơ-bách thế giới tự nhiên tồn tại độc lập với con người, ý thức

là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người Ông thừa nhận thế giới khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người, và sự nhận thức đạt đến chân lý nghĩa là đạt đến tri thức phù hợp với hiện thực khách quan Chân lý là

sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan

Quá trình nhận thức, theo Phoi-ơ-bách, qua hai giai đoạn: cảm tính, lý tính Ông nói rằng: người ta có thể đọc sách bằng các giác quan nhưng để hiểu sách thì phải có lý tính

Hạn chế trong quan điểm về nhận thức của Phoi-ơ-bách là ông hiểu sự nhận thức của con người một cách giản đơn như là soi gương Ông cho rằng nhận thức chỉ là sự ngắm nhìn thế giới giản đơn, chứ không đề cập đến hoạt động thực tiễn như trong chủ nghĩa Mác

- Những quan điểm về thực tiễn trong triết học trước Mác

1- Imamuel Kant (1724-1804)

Nếu như triết học lý luận nghiên cứu khả năng nhận thức của con người nhằm xác định giới hạn nhận thức và những quy luật nhận thức, thì triết học thực tiễn nghiên cứu những nguyên lý hoạt động thực tiễn của con người trong xã hội, nhằm giải đáp câu hỏi “Tôi cần phải làm gì?”

Trong cuốn “Phê phán lý tính thuần túy” Kant đã đi đến kết luận rằng, không thể xác minh hay bác bỏ sự tồn tại của thượng đế, của linh hồn bất tử

và ý chí tự do bằng con đường lý luận Ông đưa sự chứng minh đó vào địa hạt luân lý học của triết học thực tiễn Luân lý học có nhiệm vụ hòa giải giữa khoa học và tôn giáo Theo Kant, cái mà người ta không thể chứng minh được (thượng đế, linh hồn, bất tử…) thì người ta lại có thể đạt tới trong lĩnh vực lý tính thực tiễn

Trang 33

Thực tiễn theo cách hiểu của Kant là một hoạt động đạo đức của con người; hai là hoạt động chính trị, pháp quyền, văn hóa,… Theo cách hiểu đó, thực tiễn không bao hàm hoạt động sản xuất vật chất, một hoạt động thực tiễn

cơ bản nhất của con người Đối với Kant, hoạt động thực tiễn về cơ bản đối lập với hoạt động nhận thức của con người

2- G G Phích-tơ (1762-1814)

Theo Phích-tơ, con người càng nhận thức và cải tạo thế giới bao nhiêu thì càng tự do bấy nhiêu Trong quá trình sáng tạo nên thế giới thì con người đồng thời cũng sáng tạo chính bản thân mình Ở đây, Phích-tơ đã có nhận thức về vai trò của thực tiễn, của hoạt động lao động trong lịch sử nhân loại Nhưng điều đó lại mâu thuẫn với quan niệm duy tâm của ông về vai trò của nhận thức Ông đã đem hòa tan đời sống vật chất xã hội vào trong đời sống tinh thần, và trong ý thức của cái tôi tuyệt đối, như thế ông đã thần bí hóa quá trình lịch sử Cũng giống như Kant, Phích-tơ coi hoạt động thực tiễn cao hơn

lý luận, nhưng thực tiễn chỉ bao gồm các hoạt động chính trị xã hội, còn hoạt động vật chất ít được ông đề cập đến

3- Giooc-giơ-vin-hem Phi-drich Hê-ghen (1770-1831)

Xuất phát từ quan điểm coi con người là chủ thể phát triển đồng thời là kết quả quá trình hoạt động của mình, Hê-ghen đã tiếp cận được với tư tưởng

đề cao vai trò tích cực của thực tiễn và nền tảng kinh tế đối với sự phát triển

xã hội cũng như tiến trình lịch sử

Hê-ghen viết: Trong công nghiệp con người là mục đích của chính bản thân mình, và con người đối sử với tự nhiên như cái gì đó thuộc về mình, và đặt dấu ấn hoạt động của mình vào tự nhiên… ở các dân tộc được giải thoát khỏi những lo sợ trước tự nhiên và ách nô lệ trước đó

Tuy nhiên, hạn chế trong quan điểm của Hê-ghen ở chỗ: một là, hoạt động thực tiễn ở con người, ông coi là hoạt động tinh thần; hai là, chưa thoát khỏi lập trường giai cấp, chưa đánh giá đúng mức vai trò sản xuất vật chất của quần chúng đối với sự phát triển của xã hội, mặc dù ông coi thực tiễn cao hơn lý luận

4- Lút-vích Phoi-ơ-bách (1804-1872)

Trang 34

Phoi-ơ-bách không hiểu vai trò của những mối quan hệ xã hội lịch sử tác động đến con người Ông hiểu rằng, con người thông qua những công cụ sản xuất của họ, tác động tích cực đến giới tự nhiên, thay đổi bộ mặt của nó, làm cho nó thích ứng với nhu cầu của họ Ông nghiên cứu hoạt động của các giác quan nhưng ông không nghiên cứu hoạt động thực tiễn của con người Phoi-ơ-bách chỉ nghiên cứu sự thỏa mãn nhu cầu cảm tính của con người nói chung, không phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử xã hội chứ không nghiên cứu kết quả lịch sử hoạt động thực tiễn của con người Rõ ràng, Phoi-ơ-bách không đánh giá hết vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, hoạt động sáng tạo thế giới và cả bản thân con người qua hoạt động thực tiễn Thực tiễn bị ông đồng nhất với hoạt động thỏa mãn nhu cầu “kiểu con buôn” tầm thường

Kết luận chung về các tư tưởng về lý luận và thực tiễn trước Mác

Có thể nói các tư tưởng về lý luận và thực tiễn trước Mác trên đây là thành quả to lớn của tư tưởng triết học nhân loại, thể hiện tư tưởng của những tầng lớp khác nhau của các giai cấp trong xã hội Tuy nhiên, nó lại phản ánh tính chất phân tán, lạc hậu, sự thỏa hiệp với lực lượng phản động trong xã hội

Sự phát triển của tư tưởng triết học, xã hội học và khoa học tự nhiên đã được tổng kết lại trên lập trường duy tâm trong các học thuyết của Kant, Phích-tơ, Hê-ghen cùng với những điều kiện phát triển kinh tế lớn lao của chủ nghĩa tư bản Vai trò của khía cạnh khách quan của nhận thức và các yếu tố chủ quan của nó đã không được giải quyết một cách đúng đắn và khoa học Vai trò của Kant về mặt là nhà sáng lập triết học cổ điển Đức thể hiện ở chỗ: ông bước đầu đã đặt ra những vấn đề căn bản của nhận thức luận Ông phân tích sự khác nhau về chất giữa tư duy với tri giác cảm tính; vạch ra bản chất mâu thuẫn của những phạm trù chủ yếu – mà những phạm trù này biểu thị đặc tính của thế giới với tư cách là một chỉnh thể

Nhưng Kant đứng trên quan điểm siêu hình, duy tâm nên ông không thấy những khái niệm xuất hiện từ tri giác cảm tính về thế giới khách quan Ông không hiểu sự chuyển hóa biện chứng từ tri giác cảm tính sang tư duy lý luận

Do vậy, ông giải thích nhận thức trên lập trường duy tâm và bất khả tri

Trang 35

Phích-tơ tiếp tục quan điểm triết học của Kant, đồng thời khắc phục mâu thuẫn trong triết học của Kant Ông đặt ra vấn đề mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể, giữa lý luận và thực tiễn, nhận thức với thực tại dù vẫn đứng trên lập trường duy tâm chủ quan Mặc dù vậy, ông đã tiến xa hơn Kant khi đưa quá trình phát triển vào khái niệm chủ thể Ông thống nhất nhận thức và hoạt động của chủ thể - hoạt động sáng tạo ra những đối tượng của nhận thức Song, trong học thuyết của Phích-tơ, mâu thuẫn được coi là động lực của quá trình nhận thức về bản ngã Ông coi quá trình ấy là quá trình phát triển của chính bản thân giới tự nhiên và đời sống xã hội

Hê-ghen – đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức – được Mác nhận xét: Biện chứng ở trong tay Hê-ghen đã bị thần bí hóa Nhưng sự thần bí ấy cũng không ngăn cản rằng chính Hê-ghen là người đầu tiên trình bày bức tranh đầy đủ và có ý thức về những hình thức chung của sự vận động biện chứng Ở Hê-ghen, biện chứng đứng bằng đầu Cần phải đặt lại cho nó đứng bằng chân, thì sẽ khám phá được cái hạt nhân hợp lý đang ẩn náu đằng sau cái

vỏ thần bí

Trong lô-gic học, ông đứng trên lập trường duy tâm để nghiên cứu quá trình nhận thức và các phạm trù lô-gic chủ yếu Ông đem đối lập lô-gic biện chứng với lô-gic hình thức vừa chứng minh sự cần thiết phải áp dụng phép biện chứng vào khoa học

Triết học của Hê-ghen chứa đựng những mâu thuẫn giữa phương pháp biện chứng và hệ thống duy tâm bảo thủ Đồng thời, trong quá trình chứng minh sự vận động của ý niệm tuyệt đối ông chưa thoát khỏi phương pháp siêu hình, máy móc Điều đó không chỉ xuyên tạc những nguyên lý biện chứng cách mạng tiến bộ, mà những mâu thuẫn ấy còn đưa đến những kết luận chính trị trên lập trường phản động

Đến Phoi-ơ-bách, ông đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, xây dựng thế giới quan duy vật Song triết học của ông mang tính chất trực quan, siêu hình, kết hợp với quan điểm duy tâm về lịch sử Do vậy, triết học của ông không khắc phục nổi những hạn chế chủ yếu của chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVIII

Trang 36

Triết học Mác là sự tổng kết sự phát triển của triết học cổ điển Đức và

tư tưởng triết học của cả nhân loại, đem lại cho chủ nghĩa duy vật một hình thức mới – chủ nghĩa duy vật biện chứng Lênin nói rằng: “Mác đã không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII, ông còn tiến xa hơn nữa Ông làm cho triết học phong phú bằng cách sử dụng những thành quả của triết học cổ điển Đức, nhất là hệ thống triết học của Hê-ghen, hệ thống này chính nó đã đưa tới chủ nghĩa duy vật Phoi-ơ-bách Trong số những thành quả ấy, thì thành quả chủ yếu nhất là biện chứng”[44, tr.4]

1.2 Quan niệm của C Mác và Ph Ăngghen về lý luận và thực tiễn, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Phạm trù lý luận và thực tiễn là những phạm trù nền tảng và cơ bản của toàn bộ triết học Mác – Lênin Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quan điểm về lý luận và thực tiễn của các nhà triết học trước Mác, Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại một quan điểm đúng đắn, khoa học về lý luận và thực tiễn Với việc đưa phạm trù thực tiễn và lý luận gắn với nhau, các ông đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nhận thức nói riêng và lý luận nói chung Lênin nhận xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”[49, tr 167]

1.2.1 Quan niệm về lý luận của Mác và Ăngghen

1- Khái niệm lý luận

Trong các tài liệu khoa học có nhiều định nghĩa khác nhau về lý luận, nhưng có thể nói, chưa có một ý kiến thống nhất về vấn đề này

C Mác và Ăngghen đã từng chỉ rõ, hoạt động lý luận là một công viêc đòi hỏi phải có khả năng về trí tuệ và phương pháp cùng với sự nỗ lực cao trong công việc: “Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có cách nào khác hơn là nghiên cứ toàn bộ triết học trước đây”[6, tr 525]

Là người phát triển chủ nghĩa Mác, V I Lênin đã đưa ra khái niệm lý luận: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó,

Trang 37

trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó,

tự nó và vì nó”[45, tr 227] Theo Lênin, lý luận phải được nhận thức trong sự tồn tại, vận động và phát triển của nó Nhận thức lý luận phải quan sát khách thể trong sự tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng cấu thành chỉnh thể Còn theo Từ điển triết học, Nhà xuất bản Sự thật, Mátxcơva, 1986 đã nêu khái niệm lý luận như sau: : “Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người, là toàn bộ những tri thức về thế giới khách quan,

là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện trong lô-gic của các khái niệm cái lô-gic khách quan của các sự vật”

Ta có thể dễ dàng nhận thấy khái niệm lý luận có thể định nghĩa theo

nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau nhưng tựu chung lại lý luận là một quá trình hoạt động nhận thức – hoạt động lý luận, là kết quả của quá trình nhận thức ở trình độ khái quát, trừu tượng và sâu sắc

Khái niệm trên về lý luận bao hàm hai nghĩa: thứ nhất, lý luận với tư cách là kết quả của hoạt động nhận thức; và thứ hai, lý luận với tư cách là bản thân quá trình nhận thức

Với tư cách là kết quả của quá trình nhận thức: lý luận là những tri thức

ở trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa về tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Lý luận xem xét sự vật và hiện tượng trong sự vận động, phát triển và tác động qua lại đa dạng của nó với thế giới Lý luận được hình thành trên cơ

sở chọn lọc, bổ sung, khái quát những tri thức kinh nghiệm về đối tượng Lý luận là một hệ thống các phạm trù, khái niệm, quy luật với các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Với tư cách là bản thân quá trình hoạt động nhận thức: hoạt động lý luận phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát ở trình độ cao biểu hiện ở nội dung và hình thức của một lý thuyết nhất định nào đó

Là hoạt động nhận thức của con người, lý luận chính là quá trình tư duy

lý luận Tư duy lý luận là tư duy khái quát, tư duy trừu tượng trong đó tư duy

sử dụng các khái niệm khoa học để khái quát sự vật

Như vậy, dưới góc độ nào thì lý luận cũng là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan, là sự phản ánh cái tất yếu, cái bản chất của sự vật

Trang 38

2- Đặc điểm của tư duy lý luận so với tư duy kinh nghiệm

Kinh nghiệm và lý luận là hai trình độ khác nhau của nhận thức, đồng thời lại thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau Nhận thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận được từ quan sát và thí nghiệm, nó tạo thành tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm có được từ những hoạt động thực tiễn của con người như lao động sản xuất, đấu tranh xã hội hay thí nghiệm khoa học Do đó, tri thức kinh nghiệm được chia làm hai loại: thứ nhất, đó là tri thức kinh nghiệm thông thường, có được từ những quan sát hàng ngày trong cuộc sống và lao động sản xuất; thứ hai, đó là tri thức kinh nghiệm khoa học, có được từ những thí nghiệm khoa học

Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chỉ giới hạn ở việc miêu tả, phân loại các dữ kiện về sự vật, hiện tượng quan sát và thí nghiệm được Nó đã mang trong mình tính trừu tượng và khái quát, dù mới chỉ là bước đầu

Tri thức kinh nghiệm có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày Bởi, cuộc sống là vô cùng phong phú và phức tạp nên không thể tìm thấy mọi lời giải của thực tiễn trong sách vở hay suy diễn thuần túy Chính kinh nghiệm của con người trong cuộc sống hoạt động thường ngày mới đem lại nhiều bài học quý giá

Do vậy, kinh nghiệm là cơ sở để kiểm tra, sửa đổi, bổ sung lý luận cũ và

xây dựng lý luận mới

Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm lại bị hạn chế bởi nó chỉ đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng rẽ của sự vật Ở trình độ này thì chúng ta chưa thể biết được mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng Do đó, Mác và Ăngghen từng nói: “sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu”[6, tr.718]

Lý luận hay tri thức lý luận là những tri thức được khái quát từ tri thức

kinh nghiệm nhưng nó là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Từ những đặc điểm nêu trên của lý luận ta có thể dễ dàng nhận thấy lý luận được bắt nguồn từ việc tổng kết kinh nghiệm, thực tiễn hoạt động của xã hội Do vậy lý luận mang tính trừu tượng và khái quát Lý luận đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính quy luật của sự vật hiện tượng

Trang 39

Như vậy, lý luận là những tri thức thể hiện một cách có hệ thống bản chất, tính quy luật của sự vật, hiện tượng Do vậy, lý luận có vai trò rất to lớn trong hoạt động thực tiễn của con người

3- Sự phát triển của lý luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”[52, tr 497] Lý luận được hình thành từ

những kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm Lý luận theo đó chính là những kinh nghiệm của loài người, là tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong lịch sử Như vậy, để có được tri thức lý luận thì cần phải có sự tổng kết

và tổng hợp các tri thức đó và trong suốt quá trình lịch sử lâu dài

Nhưng lý luận không hình thành một cách tự phát từ kinh nghiệm mà có tính độc lập tương đối của nó Lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm Nhờ có đặc điểm khái quát hơn, chính xác hơn, hệ thống hơn so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có thể phản ánh được, dự kiến được quy luật vận động bên trong của sự vật, hiện tượng trong tương lai Từ đó, lý luận có thể chỉ

ra phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn Lý luận khoa học và đúng đắn có thể làm cho hoạt động thực tiễn của con người trở nên chủ động

và tự giác

Tuy vậy, điều đó không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh nghiệm Nếu kinh nghiệm phản ánh, miêu tả sự vận động bên ngoài của sự vật hiện tượng, thì lý luận lại tổng kết kinh nghiệm ấy để chỉ ra sự vận động bên trong bản chất của thế giới

1.2.2 Quan niệm về thực tiễn của Mác và Ăngghen

1- Khái niệm về thực tiễn

Trước hết chúng ta cần tìm hiểu thực tiễn là gì Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

Như vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới Con người

Trang 40

khác với con vật ở chỗ: con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới, nhưng con người nhờ có ý thức đã làm cho hoạt động của mình có mục đích, chủ động và có tính xã hội để cải tạo thế giới nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động với thế giới và làm chủ thế giới Tuy nhiên, con người lại không thể thỏa mãn với những gì tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn Do vậy, con người phải tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình Trong quá trình lao động, con người đã chế tạo và sử dụng các công cụ lao động nhằm làm tăng năng suất lao động Từ đó, con người đã tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong trong tự nhiên Không có hoạt động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được

2- Bản chất, đặc điểm của thực tiễn

Xét về mặt nội dung và phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử -

xã hội Trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, với trình độ và các hình thức

hoạt động thực tiễn thay đổi qua các thời kỳ, thực tiễn luôn là dạng hoạt động

cơ bản và phổ biến của xã hội loài người Thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của nó Trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục giới tự nhiên và làm chủ xã hội của con người

Bất kỳ một quá trình hoạt động thực tiễn nào cũng gồm nhiều yếu tố như nhu cầu, lợi ích, mục đích, phương tiện, phương thức và kết quả Các yếu tố

đó có liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau mà nếu thiếu chúng thì hoạt động thực tiễn không thể diễn ra được

3- Các hình thức của thực tiễn

Thực tiễn tồn tại dưới nhiều hình thức hoạt động, trong đó có các hình

thức cơ bản sau: thứ nhất là hoạt động sản xuất vật chất Đây là dạng hoạt

động thực tiễn nguyên thủy nhất và cơ bản nhất Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Nó cũng quyết định các dạng khác của của hoạt động thực tiễn vì nó tạo nên cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động

vật Thứ hai là hoạt động chính trị - xã hội Đây là hoạt động nhằm biến đổi

Ngày đăng: 24/03/2015, 08:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w