Nghiên cứu cấu trúc nghĩa biểu hiện và các kiểu nghĩa biểu hiện của câu là một trong những vấn đề trọng tâm của Ngôn ngữ học nói chung và của Việt ngữ học nói riêng
Trang 1Đặc điểm của câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong tiếng Việt và một số nhận xét bước đầu về kiểu câu này trong thơ Xuân Diệu
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu cấu trúc nghĩa biểu hiện và các kiểu nghĩa biểu hiện của câu
là một trong những vấn đề trọng tâm của Ngôn ngữ học nói chung và của Việtngữ học nói riêng Một trong những kiểu nghĩa biểu hiện của câu thu hút sự chú
ý của các nhà Việt ngữ học là các câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển cóhướng
- Nguyễn Kim Thản là người đầu tiên miêu tả đặc trưng của nhóm vị từhoạt động này Ông cho rằng: “Trong những động từ thuần Việt có một nhóm từ
đặc biệt là những động từ vận động có phương hướng xác định như ra, vào, lên, xuống, đến, tới, sang, qua, lại, về Đứng về mặt phân phối, những động từ này
quả là rất giống với những động từ có ý nghĩa trừu tượng (làm lụng, yêuthương ) Nhưng đứng về mặt cấu tạo, chúng có những đặc điểm khác chúng
là những từ biểu thị vận động có phương hướng xác định, hay nói cách khác, tựthân nó đã bao hàm ý nghĩa về phương hướng” (Nguyễn Kim Thản - 1967)
- Nguyễn Lai, trong cuốn “Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt” thì tập trung vào việc nghiên cứu cách sử dụng một số vị từ chỉ hướng như đi,
ra, vào, lên, xuống, sang, qua, đến, tới, lại, về trên ba trục không gian, thời
gian và tâm lý (sắc thái) Tuy nhiên, cũng giống như Nguyễn Kim Thản, tác giảkhông đả động gì đến sự tình của câu mà các vị từ đó biểu thị
- Trong cuốn “Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt - Vị từ hành động” ,
Nguyễn Thị Quy cũng nghiên cứu khá kĩ về hoạt động di chuyển nhưng tác giả
chủ yếu đi sâu về miêu tả các vị từ hành động di chuyển như đi, lên, vào, ra, xuống, chạy, rời, trốn hơn là miêu tả các kiểu sự tình Tác giả chia ra làm hai
loại vị từ hành động di chuyển:
+ Vị từ hành động di chuyển một diễn tố:
Trang 2Chiếc xe phóng như bay
+ Vị từ hành động di chuyển hai diễn tố:
Thủ trưởng đã đến Hà Nội
Nói chung, cả ba tác giả trên đây tuy đã có những nghiên cứu khá sâu vềnhững vị từ hành động di chuyển nhưng thực tế vẫn không có ai đề cập đến vấn
đề này ở cấp độ cao hơn, đó là câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong đó
vị từ di chuyển đóng vai trò làm trung tâm Tình hình đó đòi hỏi phải có sựnghiên cứu sâu hơn về kiểu câu này nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm của chúng
2 Mục đích, ý nghĩa của khoá luận này
- Khoá luận này là một trong những công trình nghiên cứu về cấu trúcnghĩa biểu hiện của một kiểu câu: câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển
- Bằng các cứ liệu cụ thể, khoá luận này muốn đi sâu tìm hiểu đặc điểmcủa kiểu câu này thể hiện qua cấu trúc vị từ tham tố, ngữ nghĩa của vị từ trungtâm và đặc điểm các vai nghĩa
- Khoá luận còn bước đầu khảo sát và nêu ra những nhận xét sơ bộ vềkiểu câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong thơ Xuân Diệu trên hai bìnhdiện ngữ pháp và ngữ nghĩa
3 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu
3.1 Phương pháp nghiên cứu: chúng tôi sử dụng 4 phương pháp:
- Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp: đây là phương pháp đượcdùng để phân tích cấu trúc cú pháp của câu
- Phương pháp phân tích nghĩa (biểu hiện): đây là phương pháp dùng đểphân tích cấu trúc vị từ - tham tố của câu
- Phương pháp phân tích diễn ngôn nghệ thuật: phương pháp này dùng đểphân tích một văn bản thơ và các câu thơ trong văn bản
- Phương pháp thống kê được sử dụng để nghiên cứu sự phân bố của kiểucâu này trong văn bản
3.2.Tư liệu: Khoá luận của chúng tôi dựa trên hai nguồn tư liệu chính:
- Tư liệu tiếng Việt khẩu ngữ: Chúng tôi chọn lọc những ví dụ điển hìnhnhất trong tiếng Việt hàng ngày để khảo sát
Trang 3- Tư liệu văn bản thơ Xuân Diệu: Chúng tôi lấy tư liệu trong các tập thơ:
“Thơ thơ”, “Gửi hương cho gió” (giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945)
và “Riêng chung”, “Mũi Cà Mau”, “Cầm tay”, “Hai đợt sóng”, “Thanh ca” (giaiđoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945)
4 Bố cục của của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bố cục của khoá luận gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý thuyết.
Chương II: Đặc điểm của câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong tiếng Việt.
Chương III: Một số nhận xét bước đầu về kiểu câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong thơ Xuân Diệu
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Khái niệm nghĩa biểu hiện và các kiểu nghĩa biểu hiện của câu
1.1 Khái niệm nghĩa biểu hiện của câu
Kế thừa quan điểm của Moris (1936), S.Dik (1981) cho rằng có babình diện phân tích câu dựa trên quan hệ về chức năng: cú pháp, ngữnghĩa, ngữ dụng
1 Chức năng cú pháp chỉ định cái khung quy chiếu (prespective)
mà từ đó sự tình được thể hiện trong các biểu thức ngôn ngữ học: Chủngữ (Subject) và Bổ ngữ (Object)
2 Chức năng ngữ nghĩa chỉ định ra các vai, mang sở chỉ của các từngữ có liên quan, hiện diện trong cái sự tình được biểu thị bằng kết cấu vịngữ (predication): Tác thể (Agent), Đích (Goal), Tiếp thể (Recipent)
3 Chức năng ngữ dụng chỉ định tình trạng thông tin của các thành
tố với một tình huống giao tiếp rộng hơn mà trong đó nó xuất hiện: Chủ
đề (Theme) và Hậu đề (Tail), Đề (Topic) và Tiêu điểm (Focus)
Theo Dik, ở bình diện ngữ nghĩa, câu bao giờ cũng biểu thị một sựtình (state of affairs) nhất định Xét về mặt cấu trúc, kết cấu vị ngữ hạtnhân (nuclear predication) được tạo thành bởi thuộc tính hay quan hệ của
vị ngữ, liên kết với các thực thể do danh từ biểu thị có chức năng biểu thịcác “sự tình” Có nhiều loại sự tình khác nhau nhưng theo Dik, có hai đặctrưng cơ bản quy định sự khác biệt của các sự tình, đó là tính năng động(Dynamism) và tính chủ ý hay tính kiểm soát được (Control)
Phối hợp 2 tiêu chí này S C Dik phân chia các sự tình thành 4 loại:
Trang 5Bảng phân loại sự tình của Dik được biểu hiện như sau:
"phương thức phản ánh được thể hiện là hệ thống chuyển tác" (transitivity)
(Jack ngã và làm vỡ chiếc mũ miện của mình)
2 Quá trình tinh thần (mental processes) trong đó có nghiệm (Senser) và
có nhân tố gây cảm giác.Ví dụ:
Mary like the gift (Mary thích món quà)
3 Quá trình quan hệ (relational processes) trong đó có trả lời câu hỏi: cái
gì, của ai, ở đâu mà tham tố có chức năng mang một thuộc tính xác định, đồngnhất Ví dụ:
Tom is a leader (Tom là lãnh tụ)
4 Quá trình hành vi (behavioural processes) như nghe, nhìn, cử động vàtham tố duy nhất là người thực hiện hành vi Ví dụ:
Fortune is smiling on you (Vận may mỉm cười với chúng tôi)
5 Quá trình nói (verbal processes) trong đó có người nói (Sayer) nói ra
Trang 6điều gì và người tiếp nhận (Receiver) Ví dụ:
Responding, the minister implied that the policy had been changed (Phảnứng lại, ông bộ trưởng muốn nói rằng chính sách đã thay đổi)
6 Quá trình hiện hữu (existential processes) trong đó có tham tố là vật tồntại Ví dụ:
There was a storm (Có một cơn bão)
Trong sáu quá trình nêu trên Halliday phân biệt ba quá trình "Vật chất”,
“Tinh thần”, “Quan hệ” là 3 quá trình chính trong hệ thống chuyển tác trongtiếng Anh" Còn ba quá trình còn lại được "định vị trên đường ranh giới của cácquá trình này từ cái này qua cái kia, không thật sự rõ ràng", đó là:
- Trên đường ranh giới giữa các quá trình vật chất và quá trình tinh thần là
các quá trình hành vi
- Trên đường ranh giới giữa các quá trình tinh thần và quá trình quan hệ là
phạm trù của những quá trình phát ngôn
- Trên đường ranh giới giữa quá trình quan hệ và quá trình vật chất là các
quá trình liên quan đến sự hiện hữu
Và nội dung cụ thể của các quá trình được miêu tả bằng các tham thể vàchu cảnh với tư cách là "những phạm trù ngữ nghĩa giải thích một cách kháiquát nhất các hiện tượng của thế giới hiện thực trong các cấu trúc ngữ nghĩa" Vídụ:
Ngoài các tham thể nêu trên còn có các tham thể khác: Lợi thể (Beneficiaty), Cương vực (Range) và các thành phần chu cảnh.
Kế thừa các quan điểm của Dik và Halliday, ở Việt Nam đầu những năm
90, Cao Xuân Hạo đề cập đến nghĩa biểu hiện của câu Theo Cao Xuân Hạo,:
"nghĩa biểu hiện phản ánh các sự tình của thế giới được nói đến trong câu" Đểphân loại nghĩa biểu hiện của câu, ông cũng dựa vào hai tiêu chí tối quan trọng
Trang 7mà Dik đã nêu ra là [(+), (-)động] và [(+), (-)chủ ý], đồng thời bổ sung thêm tiêuchí khác: [(+), (-)nội tại] Kết quả phân loại của Cao Xuân Hạo đã phân biệt
thành 4 kiểu nghĩa biểu hiện: Hành động [+động], [+chủ ý], Quá trình [+động], [-chủ ý], Trạng thái [+động], [+nội tại], Quan hệ [+động], [-nội tại].
Ông cũng đưa thêm "Sự tồn tại" xếp ngang hàng với Biến cố và Tìnhhình, thay ô Tư thế (bậc 2) của Dik bằng loại Quan hệ mà Halliday coi như mộttrong 3 loại quá trình lớn của ông (bên cạnh quá trình vật chất và quá trình tinhthần) và đặt ngang hàng với loại Trạng thái trong các loại lớn của những quátrình tĩnh mà Dik gọi là Tình hình (situation)
Sơ đồ các kiểu nghĩa biểu hiện theo cách phân loại của Cao Xuân Hạođược biểu diễn như sau:
Trang 8Chuyển tháiChuyển vịTạo tácHuỷ diệt+ hướng
- hướng
cử độngứng xửChuyển tháiChuyển vịTạo tácHuỷ diệtChuyển tháiChuyển vịnảy sinhChuyển thái
diệt vong
th tính ( + sinh)
th tính (- sinh)trí tuệcảm tínhvật trạngthể trạng
ấn tượngcảm xúctương đốitương liên
vị tríthời điểmkết hợptương táckhông gianthời gian
Tính khí (-thể chất) + thể chất
- thể chất (tâm trạng)
Với vật thể
Với hoàn cảnh
Với
sự tình
Với hoàn cảnh
+Chuyển tác
Tính chất (+ thường tồn)
Vật thể
Sự tình
Hành động (+ chủ ý)
Quá trình ( - chủ ý)
Trạng thái ( + nội tại)
Quan hệ ( - nội tại)
- định vị
Biến cố ( + động)
Tình hình ( - động)
Trang 9Giải thích nội dung sơ đồ, Cao Xuân Hạo đã chỉ ra "3 loại nghĩabiểu hiện cơ bản" đó là "câu tồn tại", "câu chỉ sự tình động hay sự việc,biến cố" và "câu chỉ sự tình tĩnh hay tình hình" Và tiếp theo là lần lượtxét 4 loại câu, nêu cụ thể hơn một bước nữa là câu "chỉ hành động", câu
"chỉ quá trình", câu "chỉ trạng thái" và câu "chỉ quan hệ với những tiểuloại và cách thực hiện của nó"
Tiếp theo hướng đào sâu vào nghĩa của câu, gần đây Nguyễn Văn Hiệp đã
cố gắng tìm hiểu "cấu trúc câu tiếng Việt nhìn từ góc độ ngữ nghĩa" Tác giả chorằng "cú pháp lấy câu làm đơn vị nghiên cứu cơ bản - lại là một đơn vị phức tạp
về bản chất: có rất nhiều loại nội dung được truyền đạt trong một câu, dưới hìnhthức này hay hình thức khác" Tác giả chủ trương không miêu tả cú pháp độc lậpvới nghĩa và chú ý "dựa trên những kinh nghiệm tri nhận của chúng ta về thếgiới và cách chúng ta tổ chức, trình bày những kinh nghiệm đó"
Nguyễn Văn Hiệp thừa nhận "câu là một thực thể nhiều "chiều" và "đứngtrên góc độ ngữ nghĩa có thể có một cách nhìn "lập thể" về câu "đi đến một lốiphân tích mang tính mô-đun về các thành tố cấu trúc của nó" Tác giả đã phácthảo những mô-đun phân tích câu tiếng Việt theo "5 cấp độ sau:
1 - Cấp độ lõi sự tình của câu;
2 - Cấp độ khung câu;
3 - Cấp độ các chỉ báo tình thái của câu;
4 - Cấp độ các chỉ báo cho lực ngôn trung tiềm tàng của câu;
5 - Cấp độ cấu trúc thông điệp của câu"
Như vậy, có thể hiểu, theo tác giả, cấp độ thứ nhất - cấp độ lõi sự tìnhchính là cấp độ nghĩa biểu hiện của câu
1.2 Các kiểu nghĩa biểu hiện của câu
Theo Cao Xuân Hạo (1991), các sự tình được biểu hiện trong câu/phátngôn mà hạt nhân là khung vị ngữ, gồm lõi vị ngữ (mà trung tâm là vị từ) và cáctham tố của nó trong đó có một tham tố làm đề (hay tiêu đề nếu câu có nhiều bậccấu trúc đề - thuyết) Ở cấp độ khái quát, căn cứ vào kiểu sự tình mà câu biểuthị, có thể phân chia nghĩa biểu hiện của câu thành ba loại:
Trang 10- Câu tồn tại, nhận định rằng trong một thế giới hay một nơi nào đó có
một cái gì
- Câu chỉ sự tình hay sự việc, biến cố
- Câu chỉ sự tình tĩnh hay tình hình
* Sự tồn tại của một sự vật được biểu hiện trong câu tồn tại có thể được
định vị hay không được định vị Có những loại câu bắt buộc phải định vị như:
(a) Có chuột
(b) Trong nhà có tiền
(c) Trên tường treo một bức tranh
(d) Trên giường chễm chệ một thằng đáng ghét
Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào câu dùng vị từ có hay còn
cũng đều là câu tồn tại Câu tồn tại không có chủ đề mà chỉ có thể có khung đề
Những câu như: Nó có nhà, Nó có lỗi là những câu chỉ trạng thái chứ không phải
là câu tồn tại
* Trong những câu chỉ biến cố hay sự việc có thể chia ra thành câu chỉ hành động và câu chỉ quá trình Hành động là một sự việc có chủ ý có thể do con người hay động vật thực hiện Quá trình là một biến cố không có chủ ý, chủ
thể của nó (thực thể trải qua nó) có thể là người, động vật hay bất động vật
* Trong các câu chỉ tình hình có thể phân biệt câu chỉ trạng thái với câu chỉ quan hệ Trạng thái là một tình hình có mặt trong bản thân chủ thể (thực thể mang nó, hay ở trong trạng thái đó) Quan hệ là một tình hình mà nội dung là
một cái gì ở giữa hai sự vật, dù đó là sự tiếp xúc, một khoảng cách, một mối dâynhân quả hay sự so sánh
Trong luận văn này, chúng tôi dựa trên bảng phân loại các kiểu nghĩa biểuhiện trên của Cao Xuân Hạo để nhận diện và miêu tả các sự tình cần khảo sát
2 Sự tình động và các kiểu câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong tiếng Việt
2.1 Sự tình động
Thuật ngữ sự tình được hiểu theo nghĩa rộng là "cái có thể là tình huốngtrong một thế giới nào đó" Các sự tình có thể được chia thành nhiều kiểu khác
Trang 11nhau theo các thông số nghĩa cần yếu của chúng Hai thông số cơ bản đó là tínhđộng (dynamism) và chủ ý (control) (S Dik 1981)
Trước hết chúng ta phải phân biệt sự tình [+động] và sự tình [-động] Sựtình [-động] bao gồm các sự tình không bao hàm bất kỳ sự biến đổi nào, tức lànhững thực thể không đổi ở bất kỳ thời điểm nào trong suốt thời gian tồn tại của
sự tình Còn sự tình [+động] là những sự tình có sự biến đổi trong thời gian, tức
là các biến cố Sự tình [+động] (biến cố) có thể chia thành hai loại sự tình: hànhđộng [+chủ ý] và quá trình [-Chủ ý]
(a) Hành động là một sự tình chủ ý, có một trong những thực thể hàmchứa nó, có năng lực quyết định cái sự tình đó tồn tại hay không Ví dụ:
Hạnh mở cửa sổ
Trong ví dụ này, Hạnh là người quyết định sự tồn tại của sự tình được miêu tả - Hạnh có thể quyết định không mở cửa và là kẻ chủ ý của sự tình được
biểu thị trong ví dụ trên
(b) Quá trình là một sự tình trong đó thực thể là chủ thể quá trình khôngthể quyết định các quá trình đó có tồn tại hay không: Ví dụ:
Tác giả chia ra làm hai loại hành động: hành động chuyển tác và hànhđộng vô tác
(a)Một hành động không tác động đến một đối tượng khác được gọi làhành động không chuyển tác hay vô tác Hành động này có thể chỉ có một diễn
tố duy nhất là hành thể, tuy đó có thể là một diễn tố phức hợp, gồm nhiều nhân
Trang 12vật cùng hành động Trong các sự tình này ngoài diễn tố (argument) cũng còn cócác tham tố khác là các chu tố (circumstants)
- Đối với những vị từ như đi, chạy, bay, nhảy, ngoài hành thể (diễn tố duy
nhất) có thể có thêm các chu tố vị trí Ví dụ:
- Đối với các vị từ như đến, tới, vào, ra, rời, ngoài diễn tố hành thể còn
có thêm một diễn tố khác chỉ nguồn hay đích:
Với những hành động như xem, nhìn là hành động vô tác nhằm mục đích
tri giác đối tượng chứ không nhằm tác động đến đối tượng Đối tượng của các
hành động như xem, nhìn là những diễn tố được coi là loại đối thể đặc biệt,
không bị tác động mà còn tác động lại người hành động Đối thể này có thể
được gọi là đích hoặc là mục tiêu.Ví dụ:
- Hành động không tác động vào vật có sẵn mà làm cho nó hình thành, làmột hành động tạo tác Đối tượng của nó là một diễn tố được gọi là tạo thể Vídụ:
Trang 13- Hành động biểu thị bằng một vị từ như nói, hỏi, trả lời, thuật lại kể… khi dùng với một danh ngữ hay một câu làm bổ ngữ cũng là một hành động tạo tác có tạo thể là một diễn tố thứ 2 Ví dụ:
- Trong câu biểu hiện hành động: cho, tặng, gửi thì tiếng Việt xử lý người
nhận như là một diễn tố thứ hai Ví dụ:
Toản bóp quả cam nát bét.
Tâm đập cái cốc vỡ tan từng mảnh.
- Những hành động ngôn từ có tính chất điều khiển được biểu hiện bằng
những vị từ như: yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, sai…kèm theo một câu hành động
làm bổ ngữ cũng được coi là hành động gây khiến Ví dụ:
Khổng Minh sai Quan Vũ giết Tào Tháo nhưng Quan Vũ không làm Tào Tháo bắt Triệu Vân phải hàng nhưng Triêu Vân nhất định không hàng.
2.1.2 Sự tình [+động], [-chủ ý] được gọi là quá trình
Theo Cao Xuân Hạo: “một biến cố trong đó không có một chủ thể nào có
Trang 14chủ ý được gọi là quá trình”.
Tác giả chia ra làm hai loại quá trình: quá trình chuyển tác và quá trình vôtác
(a) Quá trình vô tác là một quá trình không tác động đến một đối tượngnào khác ngoài cái đối tượng trực tiếp trải qua cái quá trình ấy Một quá trình vôtác có thể là một sự chuyển biến, cũng có thể là một sự nảy sinh hay huỷ diệt
- Một quá trình chuyển biến có thể là một sự chuyển biến về vị trí (dichuyển) hay một sự chuyển biến về trạng thái (chuyển thái)
+ Trong một quá trình di chuyển, sự di chuyển không chủ động có thể cóhướng và cũng có thể kết thúc ở một nơi hoặc một điểm nhất định Những nơi,điểm kết thúc này thường là chu tố Ví dụ:
+ Ngoài ra trong quá trình di chuyển, điểm kết thúc cũng là một diễn tốkhi vị từ của những quá trình này là những vị từ biểu thị sự di chuyển có hướng(đến, tới, vào) Ví dụ:
Cô ấy tái mặt đi
- Một quá trình nảy sinh khi một hiện tượng mới bắt đầu, một đối tượng
xuất hiện: Một cô bé ra đời Còn một quá trình huỷ diệt khi một hiện tượng kết thúc, một đối tượng biến mất: Một con chó chết đi.
- Quá trình sinh diệt được xếp ngang với sự tồn tại vì những sự tình này
có cách xử lý giống nhau: diễn tố duy nhất của cả hai loại sự tình này đi sau vịngữ hạt nhân của phần thuyết Ví dụ:
Trang 15Từ nhà bếp bốc lên một mùi thơm
- Bên cạnh đó, cũng tồn tại một loại quá trình chuyển thái đặc biệt lànhững tri giác và sự nảy sinh cảm giác, tình cảm Ví dụ:
Tôi cảm thấy đau.
Tôi yêu anh ấy.
(b) Quá trình chuyển tác là những quá trình trong đó một vật vô tri gâymột tác động thay đổi trạng thái hay vị trí của đối tượng khác, hoặc huỷ diệt đốitượng đó đi Đó là những quá trình có hai diễn tố trong đó diễn tố thứ nhất làchủ thể của sự tác động, được gọi là lực Ví dụ:
Một trận bão huỷ diệt mùa màng
Tóm lại, dựa trên hai tiêu chí là động và chủ ý, chúng ta phân loại được 2loại sự tình:
hướng thì trước hết phải xác định rõ hai khái niệm hướng và đích.
Hướng là căn cứ vào một cái mốc chung trong cái không gian bao quanh thế giới của nhân loại Chẳng hạn hướng đi lên là xa dần trung tâm của Trái Đất, còn hướng đi xuống là ngược lại Sự di chuyển đó không phụ thuộc vào nguồn
và đích của nó Còn hướng ra và hướng đi thì chỉ cần căn cứ và nơi xuất phát,
không phải chú ý đến nơi hay vật làm đích đến
Còn đích là một vật cụ thể mà sự di chuyển nhằm thẳng vào Nếu sự di
chuyển ấy có chủ ý thì đích chính là nơi kết thúc mong muốn của sự di chuyểnđang được biểu hiện trong câu Đích qui định hướng và cách thức của sự di
Trang 16+ Diễn tố thứ nhất (DT1) là hành thể hoặc quá thể: chủ thể của hoạt động
di chuyển Diễn tố này luôn có mặt Ví dụ:
Trang 19Cầu thủ chạy trên sân
- Sự tình hoạt động di chuyển có hướng là loại sự tình mà người ta xácđịnh được hướng và đích của sự di chuyển Ví dụ:
Trang 20hai loại sự tình hành động di chuyển và sự tình quá trình di chuyển:
- Sự tình hành động di chuyển là sự tình mà chủ thể của hoạt động làmmột việc có chủ ý (chủ động, tự điều khiển):
3 Lý do chọn thơ Xuân Diệu để khảo sát
3.1 Một vài nét về thơ Xuân Diệu
- Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Xuân Diệu - Hành trình nghệ
Trang 21thuật và những đặc điểm nổi bật của một phẩm chất thơ.
Nhà thơ Xuân Diệu tên đầy đủ là Ngô Xuân Diệu (1916 - 1985) - Thuở
nhỏ ông còn có tên là Bàn - Ngô Xuân Bàn tiếng Bình Định, Khu V gọi thành Bàng - Ký ức về thời thơ ấu được Xuân Diệu ghi lại thật chân thành và cảm động trong một bài thơ có cái tên rất giản dị: “Về thăm chị Bốn” viết sau ngày
đất nước thống nhất:
Chị Bốn còn sống
Cho em về diện thăm
Chị ơi qua chết sống
Ôi! Cuộc đời muôn năm
Chị đã bảy mươi tuổi
Tóc xanh nay pha sương
Từ khi em nhỏ xíu
Chị đã thương “thằng Bàng”
Quê nội Xuân Diệu là làng Trảo Nha - huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Quêngoại Xuân Diệu là Vạn Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh BìnhĐịnh
Nói về gia cảnh của mình, Xuân Diệu có hai câu thơ được lưu truyền rộngrãi
Cha Đàng ngoài mẹ ở đàng trong
Ông đồ Nho lấy cô làm nước mắm…
Thuở thiếu thời, Xuân Diệu học chữ Nho, chữ Quốc Ngữ và cả tiếng Phápvới cha là cụ tú Kép (hai lần đỗ Tú tài) Ngô Xuân Thọ Năm 1927 (11 tuổi),Xuân Diệu từ giã nơi chôn rau cắt rốn của mình xuống nội trú tận trường Caođẳng tiểu học Quy Nhơn Lần đầu tiên từ nông thôn ra thành thị, cậu bé mới họclớp Nhì đệ nhị thấy có bao nhiêu điều mới lạ Đặc biệt là khung cảnh biển trờiQuy Nhơn thơ mộng đã dội vào tâm hồn Xuân Diệu những gợn sóng lãng mạnđầu tiên
Năm 1935, Xuân Diệu ra Hà Nội học Tú tài phần thứ nhất (Trường Bảohộ) Năm sau 1936, ông vào Huế học tiếp Tú tài phần hai (Trường Khải Định)
Trang 22Có thể nói rằng, sau những cảm xúc thơ trẻ tuổi cảnh trời xanh biển biếc của
“cái nôi lãng mạn Quy Nhơn”, hai lượt ra Hà Nội tiếp xúc với thiên nhiên xứBắc và vô Huế tiếp xúc với cảnh vật kinh đô đã mang đến cho nhà thơ nguồncảm hứng sâu sắc về vẻ đẹp của thiên nhiên, của non sông đất nước và con
người Bài thơ “trình làng” đầu tiên của Xuân Diệu có tên “Với bàn tay ấy” đăng trên báo Phong hóa năm 1935 Tập thơ đầu tay “Thơ thơ” của ông ra đời
năm 1938 với lời đề tựa trang trọng của Thế Lữ Năm 1945, Xuân Diệu cho ra
đời tập thơ thứ hai “Gửi hương cho gió” (Nxb Thời đại ấn hành).
Với “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” Xuân Diệu được đánh giá là một
trong những nhà thơ có tài năng và phong cách độc đáo vào hạng bậc nhất củatrào lưu thơ ca lãng mạn Việt Nam 1932 - 1945 Về nội dung ông đã mang đếncho thi đàn những năm 30 một nguồn cảm hứng yêu đời trẻ trung sôi nổi, mộtcái tôi tình yêu nồng nàn, say đắm và một nhịp sống gấp gáp, nhuốm màu sắchưởng thụ Về hình thức, Xuân Diệu là người có nhiều cách tân vô cùng mớimẻ: đã tìm ra nhiều kiểu cấu trúc mới lạ cho câu thơ Việt Nam và tạo ra một thếgiới nghệ thuật thơ phong phú, đa dạng với vô vàn những hình ảnh độc đáo vànhững nét “nhạc điệu tân kỳ” Chính nhà thơ Thế Lữ, người vẫn được mệnhdanh là có công sáng lập “khai sơn phá thạch” nên phong trào Thơ mới, ngườiđồng thời đã có công phát hiện đã phát hiện ra tài thơ Xuân Diệu đã hết lời cangợi “nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng”
“Nhà thi sĩ ấy … Tóc như mây vương trên đài trán thơ ngây, mắt như baoluyến mọi người và miệng cười mở rộng như một tấm lòng sẵn sàng ân ái”.Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người Vần thơ của ôngđược xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” Nhà phê bình danh tiếngHoài Thanh cũng đón chào Xuân Diệu hết sức nồng nhiệt: “Người đã đến giữachúng ta với một y phục tồi tàn và chúng ta đã rụt rè, không muốn làm thân vớicon người có hình thức phương xa ấy” Và đằng sau cái dáng dấp phương xakia, Hoài Thanh đã tinh tế nhận ra “Thơ Xuân Diệu là nguồn sống rào rạt chưatừng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này” và “nhất quyết” khẳng định: “XuânDiệu mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh - Thi nhân Việt nam tr 117,
Trang 23118) Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại” cũng đã sắc sảonhận ra: “Xuân Diệu là người đã đem đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái mớinhất” và “Xuân Diệu mới nhất, đằm thắm và nông nàn nhất trong tất cả Thơmới…”.
Có thể nói rằng: tuy không phải là người tiên phong, mở đầu như Thế Lữnhưng Xuân Diệu là người kế tục xuất sắc đã mang đến cho thi đàn những năm
1936 - 1939 một nguồn sinh lực dồi dào và đã đẩy trào lưu thơ ca này “đến thờicực thịnh” Trong số những tên tuổi lớn đã làm rạng danh “Một thời hoàng kim”của thơ ca hiện đại Việt Nam Như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Chế Lanviên, Hàn Mạc Tử, Nguyễn Bính… Xuân Diệu được đánh giá là một gương mặtnổi bật, tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới
- Cách mạng Tháng Tám 1945 bùng nổ, cũng như nhiều nhà thơ tiềnchiến khác, Xuân Diệu đã từ bỏ “tháp ngà tình yêu” riêng để hoà nhập vào lànsóng cách mạng chung của cả dân tộc Ông hăng hái tham gia hoạt động trongnhóm “văn hóa cứu quốc”
Là một nhà thơ chan chứa tình yêu cuộc sống và con người, Xuân Diệu đãđón nhận Cách mạng Tháng Tám một cách hồ hởi, say sưa Ông là nhà thơ lãngmạn đầu tiên cất tiếng ngợi ca nền chuyên chính vô sản non trẻ bằng 2 tập
trường ca: “Ngọn quốc kỳ” và “Hội nghị non sông” Từ đây, Xuân Diệu đã gắn
chặt cuộc đời mình vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc và lựa chọn cho mìnhmột lý tưởng sống, một con đường sáng tạo mới: “Vào cuộc chống Pháp, quátrình lớn là quá trình quần chúng hóa và tôi thấy quá trình quần chúng hoá nàyđối với người trí thức là một sự kỳ diệu, một sự tái sinh, nó làm cho anh ta vữngchãi và làm cho anh ta có hàng nghìn tay Tâm hồn anh ta được nhân rộng, lớnlên, và đứng về nghệ thuật, thì tôi được đi sâu hơn nữa vào tục ngữ ca dao và
Trang 24Một lần nữa, Xuân Diệu lại mang cái say nồng của tâm hồn và nhiệt tìnhnóng bỏng của trái tim để đi vào cuộc sống mới; chiến đấu bảo vệ Tổ quốc vàdựng xây đất nước Thời đại, đất nước, nhân dân đã đưa đến cho ông một nguồncảm xúc gắn bó máu thịt:
“Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi
Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu
Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
Của triệu người yêu dấu gian lao”
Từ một nhà thơ “Số 1 của cái tôi cá nhân”, Xuân Diệu đã hoà nhập với cái
ta chung của cuộc đời rộng lớn Ông lại tiếp tục viết về sự sống với một tình yêu
vô bờ bến và một tinh thần nhân bản sâu xa: “Đã là sự sống thì chẳng bao giờchán nản” và: “Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non”… Ông hăm hở giang rộngđôi cánh thơ để đón nhận những âm vang của cuộc sống mới “Hồn tôi cánh rộngmở/ Hai bên gió thổi vào/ Nghĩ những điều hớn hở/ Như trời cao cao cao…” Cóthể thấy đây là giai đoạn sáng tác sung sức nhất của Xuân Diệu - Ông đã đi đếnrất nhiều vùng quê trên miền Bắc thân yêu để ngợi ca công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội, hết lòng yêu thương ủng hộ đồng bào miền Nam trong sự nghiệpđấu tranh thống nhất đất nước, và dĩ nhiên là vẫn mê mải làm thơ tình để tặng
cho những người đang yêu Với các tập thơ: “Riêng chung” (1960), “Hai đợt sóng” (1967), “Tôi giàu đôi mắt” (1970), “Hồn tôi đôi cánh” (1976), “Thanh ca” (1982)… Chúng ta cũng đủ hình dung về hành trình nghệ thuật và năng lực
sáng tạo dồi dào của một nhà thơ có phong cách độc đáo: Đối với Xuân Diệu
“Sống là đồng nghĩa với sự đam mê, đam mê cuộc sống, đam mê tình yêu, đam
mê nghệ thuật…” Cả cuộc đời mình, Xuân Diệu đã sống, đã “cháy hết mình”cho sự sống và cho thơ, một đời người của ông là cả một đời thơ, những trangđời trùng hợp với những trang thơ…
Với nửa thế kỷ miệt mài sáng tạo, Xuân Diệu đã để lại trong kho tàng vănhọc dân tộc một gia tài văn chương có thể gọi là đồ sộ nhiều thể loại: bên cạnhthơ ông còn có một mảng công trình nghiên cứu tiểu luận phê bình rất có giá trịhọc thuật cùng với những tuyển tập văn xuôi, dịch thuật… Con đường đi của
Trang 25Xuân Diệu từ một nhà thơ lãng mạn thành một nhà thơ cách mạng là sự lựa chọncủa riêng ông, đồng thời cũng là con đường tiêu biểu cho cả một thế hệ thi nhân
tiền chiến 1932 - 1945: “Từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” (Chế Lan
Viên) Ở cả hai chặng đường ấy, Xuân Diệu đều có những đóng góp hết sức tolớn và vị trí của ông trên thi đàn dân tộc là không thể thay thế Nhà thơ Cộng sản
Tố Hữu gọi ông là “một nhà thơ lớn đặc sắc và độc đáo của nền thơ hiện đạiViệt Nam”, là “nhà thơ tình kiệt xuất của thơ Việt Nam thế kỷ 20” Khi XuânDiệu qua đời, nhiều thế hệ nhà văn Việt Nam đều có chung cảm tưởng “một câylớn nằm xuống, cả khoảng trời trống vắng”…
Khái quát về hành trình sáng tạo của mình, trong bài “Một tâm sự thi sĩ”Xuân Diệu đã viết: “Tôi muốn nói rằng tôi là cũ và tôi là hiện đại Và cả bài
“hồn thơ”, bài bút pháp sáng tác, bài giai đoạn lịch sử của đất nước tôi hoà lẫntrong tôi Tôi đã biết trong thời trẻ của tôi cái thú của sự buồn rầu, đã thưởngthức những êm dịu của niềm cô đơn vắng vẻ Tôi đã có trong các bài thơ về
trưng - Tôi không chút nào từ bỏ các sáng tác về trước của mình, nhưng tôi, nóinhư Pôn Êluya: “Từ chân trời của một người đến chân trời của mỗi người”…Tôi là một người hành động và mơ mộng bằng thơ” (Lý Hoài Thu - Thơ Xuân
Có thể nói rằng: Xuân Diệu là một trong số rất ít những nhà thơ hiện đại
có một hệ thống quan niệm khá hoàn chỉnh về thơ, đặc biệt là về nghề thơ, ngônngữ thơ Điều Xuân Diệu quan tâm nhất đóng vai trò cốt lõi trong ý thức sángtạo của nhà thơ là những cách tân đổi mới thơ ca trên cả hai phương diện, nộidung và hình thức, cảm xúc và ngôn từ Là một nhà thơ uyên bác, có “tầm trithức rộng rãi” và “am hiểu tường tận” nền thơ cổ điển dân tộc, nhưng ông đồngthời luôn biết cách gạt ra ngoài tác phẩm của mình những vết tích gò bó, khuônsáo của thơ cũ để đạt tới sự mới mẻ về cả”ý tưởng” lẫn “văn thể” Đề cập đếnquá trình sáng tạo thơ, ông chỉ ra rằng: “Nhà thơ hay, hay bằng tư tưởng, bằngtình cảm… Nhưng tất cả những cái hay đó phải hay thông qua cảm xúc, cảm
Trang 26giác… Một thi sĩ có tư tưởng, tình cảm rồi thì phải chứng tỏ cái bản lĩnh của
mình trong xúc cảm, cảm giác, hình tượng…” Đi sâu hơn về ngôn từ, bằng con
mắt sắc sảo của một nhà nghiên cứu cộng với độ nhạy cảm tuyệt vời tinh tế về
ngôn từ của một nhà thơ, ông viết: “Tôi muốn sát nhập vào thơ cái xứ sở thần
tiên mà âm nhạc mở ra cho chúng ta Không chỉ tạo ra những câu thơ du dương,vang động,đầy tính nhạc mà còn tạo nên những chất xạ mê ly đầy ảo thuậthuyền bí nhờ có phép luyện kim đơn của ngôn ngữ”
Nghệ thuật làm thơ, “suy cho cùng” chính là nghệ thuật sử dụng ngôn từ.Ngôn ngữ thơ ca của dân tộc nào cũng là sự kết tinh cao nhất cái hay, cái đẹp,cái độc đáo của tiếng nói dân tộc ấy Mọi nỗ lực sáng tạo của thi sĩ đều nhằm tạonên một hình thái ngôn ngữ tài tình thấm đẫm chất thơ Trong làn sóng tìm tòicủa thơ ca lãng mạn nói riêng và thơ ca hiện đại nói chung, Xuân Diệu thật sự là
“một nghệ sĩ ngôn từ tài ba” Bằng phép “luyện kim đơn về ngôn ngữ, ông đãtạo nên trong tác phẩm của mình một thế giới ngôn từ mới lạ, giàu sức biểu đạt
và in đậm dấu ấn phong cách hiện đại cùng cá tính sáng tạo độc đáo của nhà thơ
3.2 Mục đích khảo sát câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong thơ Xuân Diệu
Xuân Diệu được đánh giá là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.Bên cạnh sự đa dạng về phong cách thơ và cách sử dụng ngôn từ, thơ Xuân Diệuvừa đậm chất lạng mãn, vừa mang tính hình tượng Trong đó, điểm nổi bật nhấttrong cách thức sử dụng ngôn ngữ của ông là sự vận động của nhân vật trữ tình
và của cảnh vật, đọng lại trong tâm trí độc giả nhiều ấn tượng sâu sắc về sựphóng khoáng và uyển chuyển trong cách thức miêu tả nhân vật và cảnh sắcthiên nhiên một cách đa dạng và phong phú
Đặc biệt, trong thơ Xuân Diệu có khá nhiều kiểu câu biểu thị sự vận độngcủa cả con người và cảnh vật trong những khung cảnh hữu tình đa màu sắc Khinghiên cứu cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa trong một văn bản thơ, ta sẽthấy có những bước đột phá không chỉ về cách sử dụng từ ngữ mà còn nhận rađược những cách kết hợp lạ trong mô hình cấu trúc của một văn bản nghệ thuậtđậm chất trữ tình
Trang 27Vì vậy, trong đề tài này, bên cạnh tôi bước đầu tìm hiểu cách sử dụng một
số kiểu câu trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa để:
- Thấy rõ những biểu hiện của kiểu câu biểu thị sự tình hoạt động dichuyển có hướng trong một văn bản thơ
- Đặc điểm thơ Xuân Diệu trong cách sử dụng kiểu câu này
- Sự khác biệt phong cách thơ Xuân Diệu ở hai giai đoạn trước và sauCách Mạng tháng Tám 1945
Trang 28CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂU BIỂU THỊ SỰ TÌNH HOẠT ĐỘNG DI CHUYỂN
TRONG TIẾNG VIỆT
1 Đặc điểm cấu trúc cú pháp
1.1 Cấu trúc cú pháp của câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển
Để miêu tả cấu trúc cú pháp của câu, người ta thường dựa trên hai phưongpháp phân tích ngữ pháp chính là phương pháp phân tích thành phần câu (TPC)
và phương pháp phân tích thành tố trực tiếp (TTTT) Để tiện theo dõi, chúng tôitiến hành miêu tả bằng phương pháp phân tích TTTT, xét theo sự có mặt ở bậccuối cùng của các TTTT, chúng tôi chia ra các câu biểu thị sự tình hoạt động dichuyển thành ba mô hình cú pháp sau:
- Sự tình hoạt động di chuyển vô hướng: mô hình này được áp dụng với
những vị từ đơn như: chạy, bay, nhảy, đi Ví dụ:
(1)
(2) Cô ấy nhảy.
(3) Đoàn quân đi.
- Sự tình hoạt động di chuyển có hướng: mô hình này được áp dụng vớinhững những vị từ đi kèm với các yếu tố phụ trước và sau nó (vị từ) hoặc là vớicác yếu tố chỉ hướng:
Trang 29Chú ý: Trong cấu trúc sự tình D(1) + V có nhiều trường hợp chúng ta
không thấy D(2) Nhưng trong nhiều ngôn cảnh khác nhau thì thành phần D2không phải là zero mà ta có thể hiểu là nó được thay thể bằng đại từ hồi chỉ như:
“đây, chỗ này” mà ta đã xác định được nhờ phát ngôn trước hay phần trướctrong cùng một phát ngôn
Ta xem xét một số ví dụ:
(6) Anh ấy sắp đến nhà tôi Anh ấy đang đến
(7) Anh ấy vào sân thi đấu rồi Anh ấy đã vào rồi.
(8) Đội tuyển Tây Ban Nha đã sang Đức Đội tuyển Ý cũng sắp sang (9) Sau nhiều năm lưu lạc, anh ấy về quê hương thi đấu Anh ấy về rồi.
Trong cả 4 ví dụ trên đều là những trường hợp các phát ngôn liên kết vớinhau theo phương thức lặp ngữ pháp – kiểu lặp thiếu thành phần bổ ngữ Nhưngngười đọc hoàn toàn có thể hiểu thành phần bổ ngữ bị khuyết ở phát ngôn sauđều đã được nêu ở phát ngôn trước
(6) Anh ấy sắp đến nhà tôi Anh ấy đang đến
D1 V D2 D1 V
Ở phát ngôn trước, cụm danh ngữ nhà tôi là bổ ngữ chỉ đích của hành động di chuyển đến Còn ở phát ngôn liên kết (kết ngôn) thì tuy không xuất hiện nhưng ai cũng biết danh ngữ nhà tôi là bổ ngữ của phát ngôn này Phát ngôn sau
có tác dụng nhấn mạnh thêm nội dung thông tin đã được thông báo ở phát ngôntrước (chủ ngôn)
Trang 30D1 V D2 D V
Trong phát ngôn trước (chủ ngôn) thì sân là bổ ngữ chỉ đích của hành động di chuyển vào Còn ở kết ngôn tuy khuyết thành phần bổ ngữ nhưng người đọc hoàn toàn có thể hiểu sân là bổ ngữ của phát ngôn này.
D1 V D2 D1 V
Trong ví dụ này thì vị từ trung tâm đến là hành động di chuyển còn đích đến là Đức Ở đây là phương thức lặp ngữ pháp nhưng khác với hai ví dụ trước
chủ ngữ ở chủ ngôn và kết ngôn là hai chủ thể khác nhau Ở kết ngôn tuy khuyết
bổ ngữ nhưng chúng ta hoàn toàn có thể hiểu bổ ngữ của nó là Đức hoặc là đại
từ đây Phát ngôn sau vừa là liên kết về nội dung (tuyến tính) và vừa liên kết
hình thức (lặp)
=> Đội tuyển Tây Ban Nha đã sang Đức Đội tuyển Ý cũng sắp sang đây.
(9) Sau nhiều năm lưu lạc, anh ấy về quê hương để thi đấu Anh ấy về rồi.
D1 V D2 D V
Cũng tương tự như các ví dụ trước, bổ ngữ của hành động di chuyển đi ở chủ ngôn là quê hương Trong phát ngôn này, sau nhiều năm lưu lạc là trạng ngữ chỉ thời gian còn để thi đấu là trạng ngữ chỉ mục đích Ở kết ngôn tuy không xuất hiện bổ ngữ nhưng nó có thể được hiểu là quê hương hoặc thay thế bằng đại từ đây.
=>Sau nhiều năm lưu lạc, anh ấy về quê hương để thi đấu Anh ấy về đây
rồi
1.2.2 Cấu trúc D1 + V + D2
Đây là cấu trúc cú pháp của sự tình hoạt động di chuyển có hướng và của
cả sự tình hoạt động di chuyển vô hướng Đây là kiểu cấu trúc khá phổ biến đốivới loại sự tình này và nó được áp dụng cho cả sự tình là hành động di chuyểnlẫn quá trình di chuyển
- Sự tình hoạt động di chuyển có hướng
+ Sự tình là hành động di chuyển có hướng: các vị từ được dùng trong mô
hình này khá đa dạng: ra, vào, lên, xuống, đến, tới, về, sang, lại (hướng đích),
Trang 31rời, lìa xa, bỏ, tránh, trốn, từ giã, từ biệt, vượt (hướng nguồn) Ví dụ:
(10)
Tương tự với những vị từ khác:
(11) Dân miền Bắc vào Nam.
(12) Tàu này lên Hà Nội.
(13) Chiếc xe xuống Sài Gòn.
(14) Anh ta đến toà soạn.
(15) Cô ấy tới Paris.
(16) Lưu học sinh về nước.
(17) Bà cụ sang nhà tôi.
(18) Bác tôi lại nhà.
(19) Tàu rời bến Hàm Rồng.
(20) Anh ấy lìa xa tôi.
(21) Cậu ấy bỏ đội bóng cũ.
(22) Nhân viên tránh trưởng phòng.
(23) Cô gái trốn bố mẹ.
(24) Ronaldo từ giã AC Milan.
(25) John từ biệt quê nhà.
(26) Tay đua vượt con dốc.
+ Đối với sự tình là quá trình di chuyển có hướng, các vị từ được dùngtrong mô hình này là những vị từ phức (V(x) - S Dik ) Đó là những vị từ biểu
thị quá trình (rơi, bắn) đi kèm với những vị từ chỉ hướng (đến, tới, vào, xuống )
(27)
(28) Mực bắn vào quần áo
Chú ý: Đối với những vị từ chỉ sự di chuyển là vị từ phức (theo S Dik),
ta có mô hình cú pháp như sau: D1 + V(x) + D2
Trang 32(30) Anh ta đi xuống nhà máy.
(31) Nam đi vào Sài Gòn.
(32) Đoàn quân đi ra phía Bắc.
(33) Cô gái đi tới nhà tôi.
(34) Thằng nghiện đang đi đến đây.
(35) Bác tôi đã đi sang Mĩ.
(36) Cậu ấy đã đi về nhà.
(37) Cô gái đang đi lại chỗ tôi.
Trong số các ví dụ trên, xét về mặt cú pháp thì vị từ đi là vị ngữ trung tâm của các câu trên, còn các vị từ đi kèm như lên, xuống, ra, vào, tới, đến, sang, về, lại chỉ có tác dụng chỉ hướng của sự di chuyển.
(b) Vị từ chạy: kết hợp được với các vị từ chỉ hướng đi kèm như: lên,
xuống, ra, vào, tới, đến, sang, về, lại Ví dụ:
(38)
(39) Bà chủ chạy xuống nhà.
(40) Ông ấy chạy ra sân.
(41) Đứa trẻ chạy vào nhà.
(42) Cậu bé chạy tới nhà hàng xóm.
(43) Cô ấy chạy đến chỗ tôi.
(44) Nam chạy sang nhà bên cạnh.
Trang 33(45) Cô ấy chạy về nhà.
(46) Thằng nhóc chạy lại chỗ tôi.
(c) Vị từ bay: kết hợp được với các vị từ chỉ hướng đi kèm như: lên,
xuống, ra, tới, đến, sang, về Ví dụ:
(47)
(48) Phi cơ đang bay xuống mặt đất.
(49) Chiếc tàu vũ trụ đang bay ra khỏi Trái Đất.
(50) Phi cơ chở tổng thống Bush đã bay tới Việt Nam.
(51) Chiếc máy bay chở lương thực đang bay đến Teheran.
(52) Anh ấy sắp bay sang Mĩ.
(53) Đội tuyển sắp bay về nước.
(d) Vị từ nhảy: kết hợp được với các vị từ chỉ hướng đi kèm như: lên,
xuống, ra Ví dụ:
(54)
(55) Cô gái xấu số nhảy xuống đất
(56) Chàng trai nhảy ra khỏi đống lửa
(e) Vị từ bước: kết hợp được với các vị từ chỉ hướng đi kèm như: lên,
xuống, ra, vào, tới, sang Ví dụ:
Trang 34(62) Kuyt bước sang phòng cô gái
- Sự tình hoạt động di chuyển vô hướng: trường hợp tiêu biểu nhất là đối
với vị từ di chuyển đi Nếu đứng độc lập, loại vị từ này là vô hướng nhưng nếu
kết hợp với các vị từ chỉ hướng khác (đã nêu ở trên) thì nó là có hướng Ví dụ:
biểu hiện các diễn tố của vị từ, không biểu hiện những đối tượng của hành động
Chẳng hạn trong các ngữ đoạn như nhảy lầu, leo núi, các bổ ngữ trực tiếp chỉ là
những trạng ngữ chỉ nơi chốn và ta hoàn toàn có thể thay thể thay thế bằngnhững giới ngữ:
- Nhảy từ trên lầu
- Leo lên trên núi
Vì vậy đối với các vị từ chỉ sự di chuyển vô hướng này, nhất thiết phải đikèm với các yếu tố chỉ hướng
1.2.3 Cấu trúc:D1 + V + g + D2
Đây là mô hình cấu trúc của sự tình hoạt động di chuyển vô hướng Sựtình mà cấu trúc này biểu thị không nhất thiết phải chỉ hướng và không thể chỉđích:
- Đối với sự tình là hành động di chuyển: các vị từ phù hợp với mô hình
này là chạy, bay, nhảy, đi
Đây là loại sự tình hành động di chuyển mà nó không tác động đến một
mục tiêu nhất định Fillmore gọi tên là Objective (phân biệt với Agentive của
hành động chuyển tác) Ví dụ:
(64)
Trang 35(65) Con chim bay trên trời
(66) Cô ấy nhảy trên sàn.
(67) Người lữ khách đi trên đường
- Đối với sự tình là quá trình di chuyển, các vị từ phù hợp với kiểu mô
hình này là: rơi, rụng, trôi Ví dụ:
2 Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa
Một sự tình hoạt động di chuyển phải thoả mãn hai đặc điểm: [+động] và[+di chuyển]
- Một hoạt động trong đó chủ thể làm một việc có chủ ý được gọi là hànhđộng Hành động đó có thể có hướng hay vô hướng
- Một hoạt động trong đó không có chủ thể nào có chủ ý đuợc gọi là quátrình Quá trình đó có thể có hướng hay vô hướng
2.1 Cấu trúc ngữ nghĩa của câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển có hướng
Bên cạnh hai đặc điểm là [+động] và [+di chuyển], sự tình này thoả mãntiêu chí là [+hướng]
2.1.1 Sự tình là hành động di chuyển có hướng
Đặc điểm [+chủ ý] là đặc điểm khu biệt của sự tình hành động di chuyểnvới sự tình quá trình di chuyển Còn đặc điểm [+hướng] là đặc điểm khu biệtgiữa sự tình hành động di chuyển có hướng với sự tình hành động di chuyển vôhướng
2.1.1.1 Sự tình là hành động di chuyển hướng đích
- Cấu trúc vị từ tham tố:
Trang 36- Ngữ nghĩa của vị từ trung tâm: [+động]
- Đặc điểm các vai nghĩa:
Dưới sự chi phối của vị từ trung tâm với các vai nghĩa là các tham thểtrong cấu trúc nghĩa biểu hiện, bao gồm:
Hành thể: chủ thể của hành động di chuyển có hướng
(74) Hải quân vào đất liền.
(75) Gã cầu thủ đến quán rượu.
(76) Chuyến bay tới Bắc Kinh.
(77) Cô bé sang bên hàng xóm.
(78) Ba tôi về nhà.
(79) Thằng bé lại chỗ tôi.
Trang 37+ Vị từ phức:
(80) Tên cướp chạy đến nhà tôi.
(81) Phi cơ bay lên không trung.
(82) Bạn tôi đi đến Hải Phòng.
(83) Tên tử tù nhảy xuống sông.
2.1.1.2 Sự tình là hành động di chuyển hướng nguồn
Trong đó đặc điểm [+nguồn] là đặc điểm khu biệt của sự tình hành động
di chuyển hướng nguồn với hành động di chuyển hướng đích
Các vị từ điển hình cho loại sự tình hành động di chuyển hướng nguồn
này là: rời, bỏ, trốn, vượt (vị từ đơn) và trốn khỏi, vượt khỏi, rời bỏ, đi khỏi (vị
từ phức)
- Đặc điểm các vai nghĩa:
Dưới sự chi phối của vị từ trung tâm với các vai nghĩa là các tham thể củacấu trúc nghĩa biểu hiện, bao gồm:
Trang 38Diễn tố 1 Vị từ Diễn tố 2
(85) Cô ấy lìa xa tôi.
(86) Tên cướp vượt ngục.
(87) Hắn ta bỏ quê nhà.
(88) Du học sinh từ biệt quê hương.
(89) Anh ấy từ giã cố đô Huế.
(90) Kẻ trộm tránh trụ sở công an.
+ Vị từ phức:
(91) Beckham đi khỏi Manchester.
(92) Công nhân trốn khỏi nhà máy.
2.1.2 Sự tình là quá trình di chuyển có hướng
Đặc điểm [-chủ ý] là đặc điểm khu biệt của sự tình quá trình di chuyểnvới sự tình hành động di chuyển Còn đặc điểm [+hướng] là đặc điểm khu biệtgiữa sự tình quá trình di chuyển có hướng với sự tình quá trình di chuyển vôhướng
2.1.2.1 Sự tình là quá trình di chuyển hướng đích
- Cấu trúc vị từ tham tố
- Ngữ nghĩa của vị từ trung tâm: [+động]
Trang 39- Đặc điểm các vai nghĩa:
Dưới sự chi phối của vị từ trung tâm với các vai nghĩa là các tham thể củacấu trúc nghĩa biểu hiện, bao gồm:
Quá thể: chủ thể của quá trình di chuyển
Diễn tố 1: chủ thể của quá trình di chuyển
Diễn tố 2: đích đến của quá trình di chuyển
Một số ví dụ:
(93)
(94) Cục đá bay vào đầu cô ấy.
(95) Đám lửa lan tới nhà tổng thống Bush.
(96) Sao băng rơi xuống Trái Đất.
2.1.2.2 Sự tình là quá trình di chuyển hướng nguồn
- Cấu trúc vị từ tham tố:
- Ngữ nghĩa của vị từ trung tâm: [+động]
Các vị từ điển hình của loại sự tình này là rụng, lìa kh ỏi
- Đặc điểm các vai nghĩa:
Dưới sự chi phối của vị từ trung tâm với các vai nghĩa là các tham thể củacấu trúc nghĩa biểu hiện, bao gồm:
Quá thể: chủ thể của quá trình di chuyển
Trang 40Diễn tố 1: chủ thể của quá trình di chuyển.
Diễn tố 2: điểm xuất phát đến của quá trình di chuyển
Một số ví dụ:
(97)
(98) Đầu lìa khỏi cổ
2.2 Cấu trúc ngữ nghĩa của câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển vô hướng
Bên cạnh hai đặc điểm là [+động] và [+di chuyển], sự tình này thoả mãntiêu chí là [-hướng]
2.2.1 Sự tình là hành động di chuyển vô hướng
- Cấu trúc vị từ tham tố:
- Ngữ nghĩa của vị từ trung tâm (V): [+động]
Các vị từ điển hình cho loại sự tình này là: đi, chạy, bay, nhảy, bước
- Đặc điểm các vai nghĩa:
Dưới sự chi phối của vị từ trung tâm, có một tham thể cần yếu, đó là:hành thể: chủ thể của hành động di chuyển vô hướng (Ag) Hành thể có thể làngười hay động vật, thoả mãn các đặc điểm của vị từ trung tâm biểu thị
Diễn tố duy nhất chính là hành thể