1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận triết học nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn sự vận dụng nguyên tắc này trong sự nghiệp đổi mới ở việt nam hiện nay

21 79 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 174,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sựnắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đềcòn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá tr

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Sau hơn 02 tháng được học tập, nghiên cứu dưới sự dẫn dắt, hướng dẫn tận

tình của TS Nguyễn Ngọc Thu, tự bản thân, tôi đã hiểu hơn những tinh hoa của

Triết Học trong việc lý giải, chứng minh và làm nền tảng ứng dụng cho việc xử lýnhững vấn đề trong công việc, cuộc sống

Trên cơ sở thực hiện bài tiểu luận được giao với chuyên đề “ Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Sự vận dụng nguyên tắc này trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay” Tôi đã có dịp được đọc, tìm hiểu thêm các tài liệu

liên quan để thực hiện chuyên đề này Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộphận cấu thành của chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biệnchứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác Cho đến nay, chỉ có triết học Mác làmang tính ưu việt hơn cả Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhànước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướngchỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnhđất nước

Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn điđúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiếnkịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt Chính những thành tựucủa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và qua những năm đổi mới là minh chứngxác đáng cho vấn đề nêu trên Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sựnắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đềcòn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay

Để thực hiện được chuyên đề này, với tất cả sự kính trọng, tôi xin được kính

gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Ngọc Thu đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho những học viên lớp Cao Học QTKD – ĐH Hutech chúng tôi những kiến

thức chuyên sâu về Triết Học Mac-Lê Nin, giúp chúng tôi nhận ra đây không phải làmột môn học nhàm chán như những gì chúng tôi đã cảm nhận khi còn là sinh viên

Trang 2

Đại Học, mà nó là một môn khoa học ứng dụng trong việc giải quyết những hiệntượng thế giới quan, hay đơn giản chỉ là những vấn đề xã hội thường gặp.

CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

I PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ PHẠM TRÙ LÝ LUẬN

1 Phạm trù thực tiễn

a Các quan điểm về thực tiễn

Một trong những khuyết điểm chủ yếu của lý luận nhận thức duy vật trước Mác làchưa thấy hết vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Một số nhà triết học như Ph.Bêcơn, Đ Diđơrô …đề cao vai trò của thực nghiệm khoa học, chưa đề cập đến vai tròcủa các hình thức khác của thực tiễn đối với nhận thức

b Thực tiễn là gì

Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính xã hội - lịch sử của con ngườinhằm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân con người

c Các hình thức cơ bản của thực tiễn

Hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản :

- Lao động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn cơ bản nhất, là hoạt động trực tiếp

tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội

- Hoạt động biến đổi xã hội là hình thức thực tiễn cao nhất, Là hoạt dộng của conngười trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế

xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra

Trang 3

những môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giaicấp và cách mạng xã hội.

- Thực nghiệm khoa học là hình thức thực tiễn đặc biệt, nhằm mục đích phục vụ

nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học

Để hình thành lí luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh nghiệm.Nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại diễn biến của các sự vậthiện tượng Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm Tri thức kinhnghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoahọc Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ở trình độ thấp nhưng nó là cơ

sở để hình thành lý luận

b Các hình thái của lý luận

Lý luận có nghững cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó, có thểphân chia lý luận thành lí luận ngành và lí luận triết học

Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của mộtngành Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt động củangành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật…

Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và con người,

là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người

Trang 4

II NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

1.1 Thực tiễn là cơ sở cuả lý luận

Xét một cách trực tiếp những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả của quátrình hoạt động thực tiễn cuả con người Thông qua kết quả của hoạt động thực tiễn,

kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và cácmối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành

lý luận Quá trình hoạt động thực tiễn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh các lý luận đãđược khái quát Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn

đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết Thông qua đó, lý luậnđược bổ sung mở rộng Chính vì vậy, V.I.Lênin nói: “ Nhận thức lý luận phải trìnhbày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện cuả nó, trong

sự vận động mâu thuẫn cuả nó tự nó và vì nó”

1.2.Thực tiễn là động lực của lý luận

Hoạt động của con người không chỉ là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còngóp phần hoàn thiện các mối quan hệ của con người với tự nhiên, với xã hội Lý luậnđược vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn,mang lại lợi ích cho conngười càng kích thích cho con người bám sát thực tiễn khái quát lý luận Quá trình đódiễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy

đủ, phong phú và sâu sắc hơn Nhờ vậy hoạt động của con người không bị hạn chếtrong không gian và thời gian Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoahọc mới ra đời – khoa học lý luận

1.3 Thực tiễn là mục đích của lý luận

Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm thỏa mãn nhữngnhu cầu hiểu biết của con người nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng caonhững hoạt động của con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích caohơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội Tự thân lý luận khôngthể tạo lên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Nhu cầu đó chỉ được

Trang 5

thực hiện trong hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên và xãhội theo mục đích của con người Đó thực chất là mục đích của lý luận Tức lý luậnphải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người

1.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận

Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với thực tiễn khách quan vàđược thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận với hoạt động thựctiễn của con người Do đó mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm.Chính vì thế mà C Mác nói : “vấn đề đẻ tìm hiểu xem tư duy của con người có thểđạt đến chân lý của khách quan không, hoàn toàn không phỉa vẫn đề lý luận mà làvấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”.Thông qua lý luận những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào khp tàng chithức nhân loại, những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sunghoặc nhận thức lại Giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạtđộng thực tiễn

Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều

là tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn là tiêu chuẩn chấn lý của lý luận khi thực tiễn đạtđến mức toàn vẹn của nó Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quátrình tồn tại, hoạt động, phát triển và chuyển hóa Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn.Thực tiễn có nhiều giai cấp phát triển khác nhau Nếu lý luận chỉ khái quát một giaiđoạn nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn Do đó chỉ những lý luậnnào phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý Chính vì vậy

mà V.I.Lênin cho rằng :“ Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lầnđược in vào ý thức của con người bằng những hình tượng logic Những hình tượngnày có tính vững chắc của một thiên khiến, có một tính chất công lý, chính vì sự lặp

đi lặp lại hàng nghìn triệu lần ấy”

2 Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn

Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mụctiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báo đượckhả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi

Trang 6

ro đã xảy ra, những hạn chế những thất bại có thể có trong quá trình hoạt động Nhưvậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiện quả mà còn là cơ sở để khắcphục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người Mặt khác, lý luận còn

có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng tạo thànhsức mạnh vô cùng to lớn của quần chúng trong cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội.Chính vì vậy, C Mác đã cho rằng: “ Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thaythế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lựclượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”

Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, song nó còn mang tính lịch sử, cụ thể Do

đó, khi vận dụng lý luận chúng ta còn phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể Nếu vândụng lý luận máy móc, giáo điều, kinh viện thì chẳng những hiểu sai giá trị của lýluận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa lýluận và thực tiễn

Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của conngười trên cơ sở hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn tuy phong phú, đa dạngnhưng không phải không có tính quy luật Tính quy luật của thực tiễn được khái quátdưới hình thức lý luận Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn địnhhướng cho hoạt động thực tiễn Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lựclượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn Khôngnhững thế lý luận còn định hướng mô hình của hoạt động thực tiễn Vận dụng lý luậnvào hoạt động thực tiễn, trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theonhững mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến các mốiquan hệ, lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển đẻphát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao

Lý luận tuy là logic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu với thực tiễn Vận dụng

lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thờiđiều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận chophù hợp với thực tiễn Khi vận dụng lý luận vào thực tiễn, chúng có thể mang lại hiệuquả có thể không, hoặc kết quả chưa rõ ràng Trong trường hợp đó, giá trị của lý luânphải do thực tiễn quy định Tính năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho phù

Trang 7

hợp với thực tiễn Lênin nhận xét rằng: “ Thực tiễn cao hơn lý luận, vì nó có ưu điểmkhông những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”.

CHƯƠNG II VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC

TIỄN TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I Hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam sau chiến tranh thống nhất đất nước là cơ sở, là động lực, là mục đích của sự đổi mới

1 Thực tiễn kinh tế - xã hội Việt Nam sau chiến tranh

Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nước xã hội chủnghĩa lúc đó, nước ta bắt đầu xây dựng một mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trungdựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Các hình thức tổ chức sản xuất và dịch

vụ quốc doanh được phát triển Cùng với quốc doanh, hợp tác xã được tổ chức rộngrãi ở nông thôn và thành thị Với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể, sở hữu tưnhân bị thu hẹp lại, không còn cơ sở cho tư nhân phát triển Cùng với quốc doanh,hợp tác xã được tổ chức rộng rãi vì ta đã học tập được mô hình tổ chức kinh tế củaLiên Xô cũ Với sự nỗ lực cao độ của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ tận tình củacác nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, mô hình kế hoạch hoá tập trung đã phát huy đượcnhững tính ưu việt đó

Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán và manh mún, bằng công cụ kếhoạch hóa, ta đã tập trung được vào trong tay một lực lượng vật chất quan trọng về cơ

Trang 8

sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng thành thị và nông thôn, đất đai, máy móc, tiền vốn

để ổn định và phát triển kinh tế

Vào những năm sau của thập niên 60, ở Miền Bắc đã có những chuyền biến về kinh

tế, xã hội Trong thời kỳ đầu, nền kinh tế tập trung bao cấp đã tỏ ra phù hợp với nềnkinh tế tự cung, tự cấp, phù hợp với điều kiện hai nhiệm vụ sản xuất và chiến đấutrong chiến tranh lúc đó

Năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, một bức tranh mới về hiện trạng kinh tếViệt Nam đã thay đổi Đó là sự duy trì một nền kinh tế tồn tại cả ba loại hình : Kinh

tế cổ truyền ( tự cung tự cấp) ; Kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp ( ở miền Bắc) ;Kinh tế thị trường ( đặc trưng ở miền Nam)

Mặc dù đây là một tồn tại khách quan sau năm 1975 nhưng chúng ta vẫn tiếp tục xâydựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trên phạm vi cả nước Đó là sự

áp đặt rất bất lợi

Do chủ quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lý được hiệu quả cácnguồn lực dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng các nguồn lực của đất nước :tài nguyên bị phá hoại, sử dụng khai thác không hợp lý, môi trường bị ô nhiễm ; nhànước bao cấp và tiến hành bù lỗ phổ biến gây hậu quả nghiệm trọng cho nền kinh tế ;

sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, tăng trưởng kinh tế trên lý thuyết, giấy tờ ; hàng hoá,sản phẩm trở nên khan hiếm, không đáp ứng được nhu cầu trong nước ; ngân sáchthâm hụt nặng nề, vốn nợ đọng nước ngoài ngày càng tăng và không có khả năng chochi trả ; thu nhập từ nền kinh tế quốc dân không đủ chi dùng, tích luỹ hầu như không

có ; vốn đầu tư cho sản xuất và xây dựng chủ yếu là dựa vào vay và viện trợ nướcngoài Cùng với đó là sự thoái hoá về mặt con người và xã hội

Đến năm 1979, nền kinh tế rất suy yếu, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân khó khăn,nguồn trợ giúp từ bên ngoài giảm mạnh Từ năm 1975 đến năm 1985, các thành phầnkinh tế tư bản tư nhân, cá thể bị tiêu diệt hoặc không còn điều kiện phát triển dẫn đếnthực trạng tiềm năng to lớn của các thành phần kinh tế này không được khai thác vàphục vụ cho mục tiêu chung của nền kinh tế Ngược lại, thành phần kinh tế quốcdoanh đã phát triển ồ ạt, tràn lan trên mọi lĩnh vực trở thành địa vị đọc tôn trong hầuhết các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ ( trừ ngành nông nghiệp, thành phần

Trang 9

kinh tế tập thể là chủ yếu) Thời điểm cao nhất, thành phần kinh tế quốc doanh đã cõgần 13 nghìn doanh nghiệp với số tài sản cố định chiếm 70% tổng số tài sản cố địnhcủa nền kinh tế Thời kỳ này, kinh tế nước ta tuy có đạt được tốc độ tăng trưởng nhấtđịnh nhưng sự tăng trưởng đó không có cơ sở để phát triển vì đã dựa vào điều kiệnbao cấp, bội chi ngân sách, lạm phát và vay nợ nước ngoài

Do phát triển tràn lan lại quản lý theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá tập trung nên nhànước gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành các doanh nghiệp quốcdoanh, nhiều doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực lượng sản xuất khôngđược giải phóng, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng và tụt hậu

2 Lý luận xa rời thực tiễn đã dẫn nền kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ bấy giờ rơi vào tình trạng khủng hoảng

Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấukinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối dài, chưa nắm vững vàvận dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tinh hình nước ta Đến năm 1986, cơ chế tậptrung quan liêu, bao cấp về căn bản vẫn chưa bị xoá bỏ Cơ chế mới chưa được thiếtlập đồng bộ, nhiều chính sách, thể chế lỗi thời chưa được thay đổi Tình trạng tậptrung quan liêu còn nặng, đồng thời những hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật còn kháphổ biến Việc đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không nhạy bén, lànhững nguyên nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất từ trên xuốngdưới Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, hình thức,bước đi, cách làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được thoả đáng cả về lýluận và thực tiễn

3 Sự nhận định đúng thực tiễn là cơ sở để Đảng ta đưa ra những lý luận cho sự chỉ đạo đổi mới

Đất nước ta đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá độ : " Khuynhhướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những chính sách kinh tế làbệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theonguyện vọng chủ quan” ( Đảng công sản Việt nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VI-1986) Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế,chưa thừa nhận thật sự những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách

Trang 10

quan Chúng ta đã ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà hiệuquả kinh tế phát triển chậm Hơn thế nữa, ta chưa chú ý đúng mức tới sản xuất nôngnghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, sự tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa vào những năm cuốithập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 làm cho chúng ta mất đi một thị trường truyền thống,nguồn viện trợ quan trọng, gây nhiều khó khăn đối với sản xuất và đời sống

Chính sách cấm vận của Hoa Kỳ kéo dài, sự thù địch của các thế lực phản động cũng

có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Tất cả những nguyên nhân trên cộng với thiên tai, mất mùa liên tiếp vào những năm

1979 - 1980 đã đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng, công nghiệp chỉ tăng 0,6%,nông nghiệp tăng 1,9% trong khi lạm phát ở mức siêu cấp năm 1986 : 74%

Chính vì vậy, bài học kinh nghiệm được rút ra trong “ Văn kiện Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ VI về phát triển kinh tế phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hoạtđộng theo quy luật khách quan là hoàn toàn đúng đắn Chính từ những khó khăn trênđòi hỏi phải đổi mới nền kinh tế, xã hội Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánhdấu một mốc phát triển quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước

4 Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của Đảng ta đã đưa ra những biện pháp giải quyết tình hình phát triển kinh tế, tiến hành cuộc cuộc đổi mới

Để khắc phục khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước hết phải thayđổi nhận thức, đổi mới tư duy Phải nhận thức và hành động đúng đắn, đề ra nhữngchủ trương, chính sách phù hợp với hệ thống quy luật khách quan, trong đó các quyluật đặc thù của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối mạnh mẽ phương hướng pháttriển chung của xã hội Mọi chủ trương, chính sách, biện pháp kinh tế gây tác độngngược lại đều biểu hiện sự vận dụng không đúng quy luật khách quan, phải được sửađổi hoặc huỷ bỏ

Trên cơ sở đó, chúng ta phải vận dụng tổng hợp hệ thống các quy luật đang tác độnglên nền kinh tế Trong hệ thống các quy luật đó, quy luật kinh tế cơ bản cùng với cácquy luật đặc thù khác của chủ nghĩa xã hội ngày càng phát huy vai trò chủ đạo, đượcvận dụng trong một thể thống nhất với các quy luật của sản xuất hàng hoá, đặc biệt là

Ngày đăng: 11/06/2021, 08:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w