1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Kinh tế và đầu tư 2009 2010

15 302 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh tế & đầu tư 2009-2010
Tác giả Nguyễn Thu Phương, Hà Thu Trang
Trường học Công Ty Tài Chính Cổ Phần Handico
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2009 là một năm đầy biến động của nền kinh tế Việt Nam.

Trang 1

Nền kinh tế thế giới 2009 có dấu hiệu thoát đáy khủng hoảng sau những gói chi tiêu khổng lồ của các chính phủ

Năm 2010 kinh tế thế giới được dự báo sẽ hồi phục trong khó khăn và thận trọng

Theo nhịp với kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam đã phục hồi đà tăng trưởng từ quý II/2009 sau gói kích cầu của chính phủ

Triển vọng 2010 lạc quan hơn 2009 song thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại, lạm phát sẽ giới hạn khả năng tăng trưởng

Thị trường chứng khoán 2010 có thể tăng trưởng ổn

đị nh song thận trọng hơn năm 2009

Nội dung chính

Hà Nội, 05 tháng 01 năm 2010 KINH TẾ & ĐẦU TƯ 2009-2010

KINH TẾ & ĐẦU TƯ

2009-2010

Nhóm phân tích

Nguyễn Thu Phương

Hà Thu Trang

Đặng Thành Long

MỤC LỤC

Kinh tế thế giới 3

Kinh tế Việt Nam 6

Thị trường niêm

Thị trường trái

phiếu

12

Thị trường vàng 14

Trang 2

Năm 2009 là một năm đầy biến động của nền kinh tế Việt Nam Từ chính sách thắt chặt tiền tệ và tín dụng nhằm ngăn chặn lạm phát vào cuối năm 2008, Việt Nam đã chuyển sang chính sách nới lỏng tiền tệ-tín dụng và tích cực chi tiêu khi nền kinh tế rơi vào vực suy thoái trong quý I/2009 Từ qúy II/2009, sản xuất và tin dụng đã tăng trở lại Tuy vậy, đến cuối quý III/2009, tin dụng đã tăng sát ngưỡng mục tiêu 30% trong khi căng thẳng đã xuất hiện trên thị trường vàng-ngoại hối, chính sách một lần nữa phải chuyển từ hỗ trợ tăng trưởng sang ổn định vĩ mô Ngày 25/11/2009, Việt Nam trở thành nền kinh tế đầu tiên ở châu Á nâng lãi suất cơ bản (từ 7% lên 8%) kể từ khi cuộc khủng hoảng nổ ra đồng thời phá giá đồng VND 5% Thị trường chứng khoán sau những tháng phục hồi mạnh mẽ và đầy lạc quan đã phải dừng bước trước những khó khăn đầy rẫy của nền kinh tế thực Gói kích thích kinh tế quy mô lớn của Chính phủ, chủ yếu thông qua tăng tin dụng và tăng đầu tư cho các

dự án lớn, trong khi giúp vực đỡ một bộ phận của nền kinh tế ra khỏi khó khăn, cũng đã sinh ra nhiều vấn đề mới cần giải quyết

Trong những năm kinh tế tăng trưởng cao 2003-2007 (tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 7.5%), bối cảnh kinh tế thế giới là hết sức thuận lợi cho các chính sách kinh tế vĩ mô:

1-Thương mại thế giới tăng mạnh và đều đặn 2-Các dòng vốn rẻ và thanh khoản tràn ngập các thị trường tài chính thế giới

3-Lạm phát ở mức thấp Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, những điều kiện thuận lợi trên không còn, khiến cho không gian xoay trở của các chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam trở nên rất chật hẹp Sự cân bằng mỏng manh giữa mục tiêu tăng trưởng và yêu cầu kiềm chế lạm phát cũng như tính ổn định của hệ thống tài chính khiến Nhà nước chốc chốc lại phải nhảy từ thái cực này sang thái cực kia của chính sách tin dụng-tiền tệ Tâm lý bất định tràn ngập thị trường khiến việc ra các quyết định đầu

tư dài hạn trở nên khó khăn và là cản trở lớn cho bất kỳ sự phục hồi bền vững nào Kinh tế Việt Nam giống như một chiếc xe đang đi trên một lằn ranh mong manh giữa tăng trưởng và ổn định, luôn luôn phải sẵn sang cho những khúc cua bất ngờ hay những cú phanh gấp, mà tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào!

Sự đổi hướng thường xuyên và khó định trong chính sách kinh tế vĩ mô có thể một phần do tác động từ những biến động khó lường của thị trường tài chính thế giới, song nguyên nhân sâu xa nằm ở :

1-Thể chế quản lý kinh tế chưa hoàn thiện (Sự độc lập của Ngân hàng trung ương, minh bạch thông tin…)

2-Vốn đầu tư xã hội phân bổ kém hiệu quả (tập trung vào khu vực nhà nước có ICOR cao nhất…)

3-Cơ cấu kinh tế lạc hậu (tăng trưởng kinh tế chủ yếu do xuất khẩu tài nguyên và tập trung tin dụng vào xây dựng)

Những yếu điểm trên không thể nhanh chóng biến mất và có thể giải quyết bằng biện pháp kinh tế thuần túy Cho đến khi đó, các thị trường tài chính ở Việt Nam trong đó có thị trường chứng khoán sẽ phải phục hồi trong sự cảnh giác cao độ với những động tác bất ngờ từ phía chính sách và môi trường vĩ mô

Lời mở đầu

“Kinh t 2010

s phc hi

trong khó

khăn và thn

trng”

Trang 3

Đến cuối năm 2009, các chỉ số kinh tế cơ bản của các nền kinh tế chủ chốt trên thế giới đều cho thấy nền kinh tế thế giới đã bắt đầu tăng trưởng trở lại Điều này không gây ngạc nhiên sau khi các chính phủ trên thế giới đã trước sau tung ra những gói chi tiêu khổng lồ và hạ lãi suất xuống mức thấp kỷ lục Tổng cộng trong năm 2009 các chính phủ đã chi 12500 tỷ USD1, tương đương 20.6% GDP thế giới năm 2008, tập trung vào:

1 -Làm sạch bảng cân đối tài chính cho hệ thống ngân hàng-tài chính

2 -Đảm bảo thanh khoản và đảm bảo thanh toán cho hệ thống tin dụng

3 -Tăng chi tiêu, giảm thuế để kích cầu

Các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là ở châu Á, đã phục hồi mạnh mẽ nhất Đây cũng là nơi các chính phủ có những biện pháp kích thích kinh tế kịp thời và bạo tay nhất dựa trên nền tảng vĩ mô lành mạnh, tỷ lệ tiết kiệm cao, thâm hụt ngân sách và nợ thấp, dự trữ ngoại hối dồi dào sau gần một thập kỷ tăng trưởng kinh tế cao và duy trì mức thặng dư thương mại lớn

Niềm tin người tiêu dùng cũng đã được cải thiện Giá cả một số nguyên nhiên liệu đã phục hồi Lạm phát vẫn chưa phải là mối lo lớn trong chừng mực mà sản lượng thực tế còn thấp hơn sản lượng tiềm

năng.Thương mại toàn cầu bắt đầu sôi động trở lại Nhìn chung năm 2009, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu được cho là đã chạm đáy Mức độ phục hồi của nền kinh tế trong năm 2010 có thể còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng nền kinh tế nhìn chung được kỳ vọng là sẽ thoát suy giảm và có thể tăng trưởng nhẹ

Cầu tiêu dùng toàn cầu

có dấu hiệu hồi phục và

các hoạt động thương

mại quốc tế đã bắt đầu

sầm uất trở lại Đây là

điều kiện thuận lợi cho

xuất khẩu Việt Nam tăng

trưởng trong năm 2010

Biểu Tốc độ tăng trưởng giá trị thương mại toàn cầu 2005-2009

Nhà nước ra tay vực đỡ nền kinh tế

Biểu Tốc độ tăng trưởng doanh số bán lẻ 2005-2009

ht các n n kinh t trên th

gi i đã tăng trưng tr li nh các gói chi tiêu khng l ca nhà nư c”

Trang 4

Mặc dù kinh tế đã tăng trở lại vào nửa sau năm

2009, song đây gần như chỉ là hệ quả tất nhiên của

hàng loạt gói chi tiêu khổng lồ của chính phủ các

nước Sự phục hồi có thể không còn mạnh mẽ như

vậy sang năm 2010 vì những nguyên nhân sau:

1-Tình hình thất nghiệp chưa được cải thiện

2-Các gói kích thích kinh tế sắp chi hết hoặc đã hết

3-Khả năng ngân hàng trung ương tiếp tục hỗ trợ

thanh khoản và tín dụng không còn mạnh vì lãi

suất hiện tại đã ở mức thấp kỷ lục

4-Sản lượng tăng năm 2009 do các công ty đã

tăng tích trữ để thu lợi từ sự hỗ trợ của chính phủ

trong năm 2009 sau khi cắt giảm sản xuất và hàng

tồn kho hàng loạt cuối năm 2008

Biểu Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ 1947-2009

Biểu Thâm hụt ngân sách Mỹ 1999-2009 Biểu Tỷ giá gia quyền đồng USD với các đồng tiền lớn

Thách thức 2010

Tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao chứng tỏ sản lượng còn ở dưới mức tiềm năng rất nhiều, khả năng lạm phát cao trong năm 2010 là không nhiều và vi vậy chính sách tiền tệ được dự báo là sẽ tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng

Tuy nhiên, những vụ phá sản và vỡ nợ hàng loạt, bảng cân đối tài sản của hệ thống ngân hàng đã bị tổn thất nặng nề Các ngân hàng vẫn còn đang trong giai đoạn xây dựng lại bảng cân đối nên khó có thể mở rộng tin dụng ngay được Các quy định an toàn mới cho hệ thống ngân hàng cũng sẽ hạn chế khả năng cho vay của họ

Với hàng loạt gói chi tiêu kích thích kinh tế khổng lồ năm 2009, thâm hụt ngân sách

Mỹ đã lên mức cao kỷ lục, vì vậy sức ép lên đồng USD vẫn là rất lớn Tình hình kinh tế EU cũng khó khăn tương tự Đây cũng là những nước nhập siêu lớn trên thế giới Kinh tế Trung Quốc được dự báo tiếp tục tăng trưởng ở tốc độ cao, song Trung Quốc lại là nước xuất siêu lớn nhất thế giới, và tăng trưởng của Trung Quốc phần nhiều do đầu tư tăng năng lực sản xuất chứ không phải do tăng cầu tiêu dùng nội địa Những yếu tố này khiến năm 2010 có thể sẽ là năm cạnh tranh gay gắt giữa những nước xuất khẩu lớn nhằm tranh giành nguồn cầu có hạn của thế giới

“Kinh t th

gi i 2010 s

phc hi trong

khó khăn do

không còn các

gói kích thích

ca nhà nư c

và các yu t

cơ bn chưa

ci thin”

Trang 5

Tóm lại, năm 2010 là năm các chính phủ sẽ phải đứng trước sự lựa chọn khó khăn, hoặc tiếp tục vay nợ, chịu thâm hụt ngân sách để tiếp tục mạnh tay chi cho kích thích kinh tế, hoặc buông xuôi khi mà thất nghiệp vẫn ở mức cao và hệ thống ngân hàng vẫn còn rất mong manh Các nền kinh tế có khả năng sẽ tăng trưởng trở lại, nhưng trong khó khăn

Biểu 9 Triển vọng kinh tế các đối tác thương mại lớn của Việt Nam 2009-2010

Việc kinh tế thế giới tăng trưởng trở lại vào giữa năm 2009 không thực sự là điều ngạc nhiên

sau hàng loạt những gói kích cầu khổng lồ được các chính phủ tung ra kể từ khi cuộc khủng

hoảng nổ ra Tuy nhiên, chừng nào những mất cân đối trong nền kinh tế-tài chính thế giới,

vốn là nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện tại, chưa được giải quyết, thì nền

kinh tế thế giới còn chưa thể phục hồi một cách vững chắc Bản thân việc ồ ạt tung ra các gói

kích thích kinh tế khổng lồ như vậy cũng có khả năng làm phát sinh nhiều vấn đề tiềm ẩn mới

cho nền kinh tế thế giới Theo chúng tôi, trong năm 2010 có 4 nguy cơ mà kinh tế thế giới

phải đề phòng:

1- Kinh tế Mỹ rơi trở lại vào suy thoái khi mất cân đối tiết kiệm-đầu tư của nền kinh tế Mỹ ngày

càng trầm trọng, các hộ gia đình tiếp tục phải cắt giảm chi tiêu để trả nợ và tiết kiệm trở lại, trong

khi các ngân hang có nguy cơ phải đối mặt với một làn sóng tài sản xấu mới

2- Bong bong tài sản ở Trung Quốc cuối cùng cũng vỡ, sau khi tín dụng tăng trưởng với tốc độ

đáng sợ năm 2009 và thị trường thế giới cho hàng xuất khẩu của TQ vẫn chưa kịp hồi phục

3- Nguy cơ từ nợ quốc gia của các nền kinh tế mới nổi Cho đến nay những gì xảy ra ở Hy Lạp và

Dubai dường như vẫn chỉ mang tính cá biệt và chưa có nguy cơ lan ra các nền kinh tế mới nổi

khác Tuy nhiên tình hình nợ công của nhiều quốc gia có thâm hụt ngân sách lớn đang xấu đi rõ

rệt

Bất kỳ một sự đổ vỡ nào đều có thể dẫn đến sự rút chạy của các dòng vốn khỏi các nền kinh tế

mới nổi

4- Bùng nổ các cuộc chiến thương mại Trong quá khứ, mỗi khi kinh tế thế giới rơi vào suy thoái,

cầu tiêu dùng thu hẹp thì tất yếu xung đột thương mại , đặc biệt là giữa các nước xuất siêu và các

nước nhập siêu, là không thể tránh khỏi

Mỗi rủi ro trên nếu xảy ra có thể khiến những nỗ lực giải cứu nền kinh tế của các chính phủ

năm 2009 trở nên vô nghĩa, chấm dứt triển vọng tăng trưởng và có thể có tác hại mạnh đến

xuất khẩu và dòng vốn đầu tư quốc tế, vốn là những đầu tàu của nền kinh tế Việt Nam

“Các gói

tn kém, mc dù có tác dng gim sc, song hoc không gii quyt các mt cân

đi cũ

hoc đã to ra nhng vn

đ m i cho

n n kinh t th gi i”

Nguy cơ tiềm ẩn

Trang 6

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng

mạnh lên khu vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam,

đặc biệt là khu vực xuất khẩu, có quy mô tương

đương 70% GDP Kết thúc tháng 11/2009, xuất khẩu

đã giảm 11.4% so với cùng kỳ năm 2008, và có thể

còn tệ hơn nếu không nhờ xuất khẩu một lượng lớn

vàng trong quý I Nhằm cứu vãn các mục tiêu tăng

trưởng của mình, chính phủ Việt Nam đã tung ra gói

kích thích kinh tế 143 000 tỷ đồng (khoảng 9% GDP,

một tỷ lệ lớn so với các nước) trong đó có 17000 tỷ

đồng cho chương trình hỗ trợ lãi suất 4% nhằm

khuyến khích tín dụng tăng trưởng

Gói kích cầu đã đạt được mục đích chính của nó

Tăng trưởng kinh tế suy giảm sâu nhất trong quý

I/2009 khi chỉ đạt tốc độ 3.1%, song đã bật dậy từ

quý II với mức tăng trưởng 4.5%, quý III/2009 với

mức tăng 5.8% và quy IV ước đạt 6.8%, đưa mức

tăng trưởng cả năm đạt khoảng 5.2%

Biểu Tăng trưởng xuất khẩu 2009

Biểu Tăng trưởng GDP các quý

Gói kích cầu đã giúp tốc độ tăng GDP cao hơn,

song nó không giúp giải quyết các mất cân đối

tồn tại sẵn trong nền kinh tế Ngược lại, nó đã

làm cho nền tảng kinh tế vĩ mô của Việt Nam

càng trở nên mỏng manh và bấp bênh hơn và

không gian xoay trở cho các chính sách kinh tế

vĩ mô ngày càng chật hẹp, trong đó có 4 yếu tố

giới hạn của kinh tế Việt Nam mà các chính sách

phải dè chừng:

1– Thâm hụt ngân sách tăng mạnh

2- Đồng VND chịu áp lực mạnh

3-Tín dụng tăng trưởng vượt kế hoạch

4-Nguy cơ lạm phát

Chống suy giảm tăng trưởng

Năm 2009, doanh số bán

lẻ tăng 18%, thể hiện sự tăng trưởng vững chắc của cầu nội địa Trong các ngành công nghiệp, xây dựng dẫn đầu với tốc

độ tăng trưởng hai con số (11.4%) Đây chính là hai động lực chính kéo nền kinh tế ra khỏi đáy suy thoái nhờ sự tăng cường chi đầu tư từ ngân sách nhà nước, lãi suất được giữ ở mức tương đối thấp đồng thời lạm phát được kiêm chế có hiệu quả

Biểu Gói kích cầu 143 000 tỷ VND của chính phủ Việt Nam

đ

đa, bù đp cho

s st gim

gi i, qua đó

chn đà suy

gim tăng

trưng”

Hỗ trợ lãi suất 12% Dự án cấp bách 26%

Giảm thuế 20%

Hạng mục khác 42%

7.73%7.98%

8.69%8.50%

7.43%

5.82%6.55%5.89%

3.10%

4.46%

6.04%6.90%

Trang 7

Biểu Thâm hụt ngân sách 2003-2009 (% GDP) Không có bữa ăn nào miễn phí, các gói kích cầu

cũng như vậy Theo số liệu từ Bộ tài chính, thâm hụt ngân sách năm 2009 vào khoảng 6.9% GDP, cao hơn hẳn những năm trước (trên dưới 5%) Một số tổ chức kinh tế nước ngoài (WB, Goldman Sachs) khi tính cả các khoản chi ngoài ngân sách

từ các bộ khác bộ tài chính và các gói hỗ trợ kinh

tế đã đánh giá thâm hụt ngân sách lên tới 9-10% GDP Ngoài những khoản chi cho kích cầu, ngân sách còn bị giảm thu do giá dầu giảm mạnh và các hoạt động kinh tế cũng suy giảm

Thâm hụt ngân sách tăng cao không chỉ hạn chế khả năng của chính phủ nếu muốn tiếp tục chi tiêu kích thích tăng trưởng, chi phí huy động của nhà nước ngày càng cao mà còn gây áp lực mạnh lên đồng VND

Chừng nào đồng VND còn chưa tạo được niềm tin ổn định thì dự trữ ngoại hối còn có khả năng thoát ra qua hai kênh trên và làm giảm dự trữ ngoại hối Nhưng dự trữ ngoại hối càng mỏng thì càng khó cho NHNN thuyết phục người dân và giới đầu tư rằng họ có khả năng bảo vệ đồng VND Nhằm làm giảm sức ép to lớn đang đè nặng lên đồng VND, ngày 25/11/2009, NHNN đã có liền hai động tác tăng lãi suất cơ bản (từ 7% lên 8%) và điều chỉnh tỷ giá VND/USD, nói cách khác là giảm giá đồng VND 5% Sức ép lên đồng VND đã giảm phần nào, đồng thời tốc độ tăng trưởng tin dụng cũng được kìm hãm trước nỗi lo lạm phát có thể quay trở lại Nếu tình hình nhập siêu không được cải thiện hoặc giải ngân FDI và kiều hối không tăng đáng kể, nhiều khả năng nếu biến động xảy ra Việt Nam sẽ phải nhờ đến các biện pháp hành chính để ngăn cản đồng USD chảy ra khỏi biên giới

Biểu Thâm hụt thương mại tăng trở lại

Thâm hụt ngân sách tăng mạnh

Áp lực lên VND

Do hoạt động kinh tế suy giảm và giá cả nhiều mặt hàng nguyên nhiên liệu giảm mạnh,

kim ngạch nhập khẩu đã giảm mạnh trong những tháng đầu năm 2009 (giảm 21.7%

trong 10 tháng đầu năm) Tuy nhiên sau khi gói kích cầu phát huy tác dụng, các hoạt

động kinh tế trở nên nhộn nhịp hơn, cầu nội địa hồi phục trước cầu thế giới khiên thâm

hụt thương mại lại có nguy cơ nới rộng Nhập siêu cả năm 2009 ước tính là 12 tỷ USD,

bằng 21.1% kim ngạch xuất khẩu

Dự trữ ngoại hối được cho là đã giảm đi đáng kể trong năm Tháng 6/2008, dự trữ ngoại

hối được công bố là 20.7 tỷ USD, đến tháng 10/2009, theo báo cáo “Tình hình kinh tế xã

hội năm 2009” của chính phủ thì dự trữ ngoại hối “vẫn duy trì ở mức đảm bảo 12 tuần

nhập khẩu”, nghĩa là vào khoảng 16-18 tỷ USD Đáng chú ý trong các nguyên nhân làm

giảm dự trữ ngoại hối là khoản “lỗi và sai sót” (xem bảng Cán cân thanh toán) lên tới 5 tỷ

USD trong quay I/2009 và được ước tính vào khoảng 9.4 tỷ USD cho cả năm Khoản

thâm hụt này có thể bốc hơi qua 2 đường:

1- Các dòng tiền nóng (như tiền vào thị trường chứng khoán…) bị nhà nước

ngoài rút về nước

2- Người dân và doanh nghiệp trong nước găm giữ USD

“Thâm ht ngân sách

và thâm ht thương mi tăng mnh gây

áp lc l n lên đng VND”

Trang 8

Biểu Tăng trưởng tin dụng và lạm phát 2005-2010(p)

Lạm phát cả năm 2009 là 6.88%, giảm mạnh so với mức 23% của năm 2008, song đã có dầu hiệu tăng trở lại trong những tháng cuối năm Lạm phát

ở Việt Nam chịu tác động của những yếu tố sau:

1-Do chi phí đẩy (giá đầu vào tăng) 2-Do cầu kéo (kinh tế tăng trưởng nóng) 3-Do chính sách tiền tệ

4-Do yếu tố tâm lý và đầu cơ Tín dụng, thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại tăng mạnh đều gây áp lực mạnh lên đồng VND Việc điều chỉnh giảm VND so với USD sẽ làm tăng chi phí đầu vào Đây là những yếu tố vĩ

mô mong manh khiến lạm phát có thể quay trở lại trong năm sau nếu nền kinh tế tiếp tục hồi phục và

sẽ là thách thức lớn cho chính sách tiền tệ của NHNN

Tin dụng tăng trưởng vượt “ngưỡng”

Nguy cơ lạm phát

Năm 2009 tín dụng tăng trưởng 38%, cao hơn so với mức

tăng bình quân trong một vài năm gần đây và chỉ thấp hơn

mức tăng 52% của năm 2007

Tin dụng tăng trưởng mạnh, trong đó một phần đáng kể tín

dụng đi vào các dự án bất động sản và các dự án đầu tư lớn

của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Những dự án đầu

tư vào bất động sản mang tính đầu cơ cao và đánh cược vào

tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam trong những

năm tới Hiện giờ còn khó đánh giá mức độ tập trung vốn

vào xây dựng và bất động sản trong nền kinh tế Việt Nam đã

ở mức nguy hiểm hay chưa, song rõ ràng đây không phải là

cách thức tăng trưởng có thể duy trì lâu dài đồng thời là nguy

cơ cho sự an toàn của hệ thống ngân hàng

Ngân hàng nhà nước rõ ràng nhận thức được mối nguy này,

nên sau những tháng đầu tín dụng hỗ trợ lãi suất tăng mạnh

giúp cho các công ty “thay máu” các khoản nợ vay hồi lạm

phát phi mã của 2008 bằng những khoản nợ có lãi suất thấp

hơn, tin dụng mới đã giảm mạnh vào cuối năm để tránh cho

những khoản vay có hỗ trợ tín dụng này đi vào các dự án lớn

dài hạn, tránh làm lệch lạc cung cầu của thị trường vốn

Biểu Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất

“Tăng trưng tin dng cao là ch du báo hiu nhng thi kỳ lm phát

cao”

0.0%

10.0%

20.0%

30.0%

40.0%

50.0%

60.0%

2005 2006 2007 2008 2009 2010(p)

Tăng trưởng tin dụng Lạm phát

Biểu Lạm phát năm 2009

0.32%

1.17%

-0.17%

0.35%0.44%

0.55% 0.52%

0.24%

0.62%

0.37%

0.55%

1.38%

T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12

Trang 9

Có người hỏi tại sao mỗi khi nền kinh tế Việt Nam sắp sửa “cất cánh” thì nó lại phải

chứng kiến lạm phát và thâm hụt thương mại tăng cao cùng bong bong thị trường

tài sản? Có nhiều nguyên nhân, song nó chứng tỏ sản lượng tiềm năng của nền

kinh tế đang ngăn trở sản lượng thực tế tăng trưởng cao, và căn nguyên chính là

sự kém hiệu quả của việc sử dụng các đồng vốn đàu tư của nền kinh tế Hàng năm

Việt Nam đầu tư trên 40% GDP, một tỷ lệ cao so với thế giới và khu vực, song hiệu

suất đầu tư thì ngày càng giảm Các nguồn lực và tài nguyên của nền kinh tế là có

hạn, nếu các hoạt động đầu tư kém hiệu quả và phí phạm nguồn lực-tài nguyên

trong một thời gian dài thì tất yếu dư địa cho tăng trưởng cao sẽ hẹp hơn rất nhiều,

lạm phát sẽ tăng cao trong khi NHNN dù không muốn sẽ phải thắt chặt tín dụng và

tiền tệ

Chính sách tỷ giá

Bệnh nhập siêu kinh niên có nguyên nhân cấu trúc ngành của nền kinh tế Việt Nam và khó có thể giải quyết được trong ngắn hạn Cùng với kỳ vọng lạm phát vẫn ở mức cao và tín dụng tăng trưởng mạnh,

áp lực lên đồng VND là đáng kể Song Nhà nước cũng muốn khôi phục niềm tin của người dân cũng như các nhà đầu tư nước ngoài vào sự ổn định của đồng VND, nên ngay cả khi có những đột biến xảy ra với cán cân thanh toán của Việt Nam, NHNN cũng sẽ

ra tay can thiệp (dĩ nhiên còn tùy thuộc vào dự trữ ngoại hối của NHNN) Do vậy ít có khả năng đồng VND sẽ mất giá mạnh, mà sẽ là một quá trình xảy ra

từ từ

Chính sách tiền tệ

Năm 2010, NHNN có thể sẽ phải đau đầu khi lựa chọn

chính sách tiền tệ giữa tăng trưởng và ồn định, đặc

biệt nếu thị trường thế giới không hồi phục như mong

đợi Do ở Việt Nam, ổn định vĩ mô vẫn phải là điều

kiện hàng đầu, nên chính sách tiền tệ 2010 được dự

đoán là sẽ rất thận trọng và có thể thiên về thắt chặt

nhằm kiểm soát tốt lạm phát dưới 2 con số đồng thời

ngăn chặn sự tăng trưởng nóng của tín dụng nhằm

đảm bảo cho sự khỏe mạnh lâu dài của hệ thống ngân

hàng thương mại

n định rồi tăng trưởng

Lựa chọn chính sách

Biêu Một số dự báo kinh tế Việt Nam 2010 Chính sách tài khóa

Thâm hụt ngân sách nhà nước đã ở mức cao khoảng

7% GDP trong năm 2009 Trong năm 2010 Nhà nước

có thể muốn tiếp tục một số dự án đầu tư lớn để đảm

bảo phục hồi kinh tế vững vàng hơn, song do còn có

áp lực bảo vệ đồng VND và an toàn tài chính nên chi

ngân sách cũng khó có khả năng tăng mạnh và được

dự báo đảm bảo thâm hụt ngân sách không quá 10%

GDP Trên cơ sở đó chương trình hỗ trợ lãi suất 2%

trung và dài hạn có thể sẽ dần dần được rút bớt, đặc

biệt khi xuất khẩu dần hồi phục

“Không gian vĩ

mô cht h#p là

do s kém hiu qu và lãng phí ca

n n kinh t”

Trang 10

Những tháng đầu năm 2009, những phiên giao dịch u ám vẫn tiếp tục bị bao phủ thị trường chứng khoán Việt Nam Hàng chục mã cổ phiếu niêm yết trên thị trường bị đưa vào diện bị kiểm soát do kết quả kinh doanh năm 2008 phát sinh

âm

Cuối cùng, mốc 235 điểm cũng đủ lực chặn đứng

đà lao dốc của VN-Index Tuy nhiên, đây cũng là mức đáy sâu nhất trong vòng 4 năm trước đó của chỉ số này

Nhạy cảm với chính sách vĩ mô

Cơn bão tài chính toàn cầu 2008 gây tác động lớn đến nền kinh tế Việt Nam nói chung

và thị trường chứng khoán nói riêng Dư âm của các biện pháp thặt chặt tiền tệ, siết lại

nguồn tín dụng ngân hàng để chống lạm phát đã đẩy thị trường chứng khoán vào tâm

chấn của sự suy thoái Nhưng khi có thông tin Chính phủ ra quyết định “gói cứu trợ”

giải cứu nền kinh tế, VN-Index đã chính thức thoát ra khỏi khủng hoảng Sau đó suốt 8

tháng, VN-Index leo thẳng từ đáy 235 điểm lên đỉnh 624 điểm (22/10), tăng 393 điểm

(tăng tương ứng 165,5% so với đáy)

Cuối tháng 10, những nội dung thảo luận về các chính sách điều tiết vĩ mô tại kỳ họp

thứ 6, Quốc hội khóa XII đã tác động lên thị trường chứng khoán theo từng phiên giao

dịch Cùng với quyết định tăng lãi suất cơ bản, điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ của Ngân

hàng Nhà nước khiến VN-Index quay đầu về mốc 434 điểm (phiên 17/12)

ca chính ph

đã c$u VN

Index ra kh%i

đáy khng

hong”

Thăng trầm cùng đòn bẩy tài chính

Năm 2009 chứng kiến sự phát triển mạnh của các

dịch vụ đòn bẩy tài chính của các công ty chứng

khoán Thị trường lên điểm càng cao, đòn bảy tài

chính càng được tăng cường Có công ty chứng

khoán đã cho khách nợ T+2 (đặt lệnh mua sau 2

hôm mới phải trả tiền) hay cung cấp tỷ lệ cho tín

dụng lên đến 200%, 300% thậm chí là 400%

Khi yếu tố vĩ mô có biến, đòn bảy bị giới hạn, áp

lực tháo chạy sẽ dồn lên thị trường và đó cũng là

nguyên nhân đẩy VN-Index trượt dốc với tốc độ kỷ

lục trong lịch sử, chỉ trong vòng 40 phiên từ 23/10

đến 17/12, VN-Index giảm tới 190 điểm (tương ứng

giảm 30% kể từ đỉnh) Đòn bẩy tài chính làm tăng

biên độ biến động và rung lắc của thị trường

Vốn hóa thị trường đạt 40% GDP

Cuối tháng 10, giá trị vốn hóa TTCK Việt Nam bằng 55% GDP, là mức cao nhất trong năm 2009 và cao gấp gần 3 lần so với mức vốn hóa TTCK vào cuối năm

2008 Nguyên nhân là do có nhiều DN lớn lên sàn, giá

cổ phiếu tăng mạnh và vốn hóa thị trường năm 2009 được tính thêm cả quy mô thị trường UPCoM Tính riêng 5 "đại gia" tham gia TTCK năm 2009 là Tập đoàn Bảo Việt, Vietcombank, Eximbank, Vietinbank và Ma-san đã đóng góp trên 150.000 tỷ đồng giá trị vốn hóa cho toàn TTCK, bằng khoảng 1/3 quy mô thị trường.

Hiện TTCK Việt Nam có mức vốn hóa khoảng 38 tỷ USD, chiếm khoảng 40% GDP, trong đó, tổng giá trị danh mục của khối nhà đầu tư nước ngoài đạt 7,6 tỷ USD Số lượng tài khoản của nhà đầu tư cũng tăng mạnh, đạt hơn 730 nghìn tài khoản trong năm 2009

... tiềm ẩn

cho kinh tế giới Theo chúng tơi, năm 2010 có nguy mà kinh tế giới

phải đề phòng:

1- Kinh tế Mỹ rơi trở lại vào suy thoái cân đối tiết kiệm -đầu tư kinh tế Mỹ ngày

... manh Các kinh tế có khả tăng trưởng trở lại, khó khăn

Biểu Triển vọng kinh tế đối tác thương mại lớn Việt Nam 2009- 2010

Việc kinh tế giới tăng trưởng trở lại vào năm 2009 không... khiến nỗ lực giải cứu kinh tế phủ

năm 2009 trở nên vô nghĩa, chấm dứt triển vọng tăng trưởng có tác hại mạnh đến

xuất dòng vốn đầu tư quốc tế, vốn đầu tàu kinh tế Việt Nam

“Các

Ngày đăng: 14/08/2013, 10:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

“Đ n na sau năm 2009 hu ht các nn kinh t trên th - Kinh tế và đầu tư 2009 2010
n na sau năm 2009 hu ht các nn kinh t trên th (Trang 3)
1 -Làm sạch bảng cân đối tài chính cho hệ thống ngân hàng-tài chính 2 -Đảm bảo thanh khoản và đảm bảo thanh toán cho hệ thống tin dụ ng  3 -T ăng chi tiêu, giảm thuếđể kích cầu   - Kinh tế và đầu tư 2009 2010
1 Làm sạch bảng cân đối tài chính cho hệ thống ngân hàng-tài chính 2 -Đảm bảo thanh khoản và đảm bảo thanh toán cho hệ thống tin dụ ng 3 -T ăng chi tiêu, giảm thuếđể kích cầu (Trang 3)
gi i 2010 s - Kinh tế và đầu tư 2009 2010
gi i 2010 s (Trang 4)
Tuy nhiên, những vụ phá sản và vỡ nợ hàng loạt, bảng cân đối tài sản của hệ thống ngân hàng đã bị tổn thất nặng nề - Kinh tế và đầu tư 2009 2010
uy nhiên, những vụ phá sản và vỡ nợ hàng loạt, bảng cân đối tài sản của hệ thống ngân hàng đã bị tổn thất nặng nề (Trang 4)
Tính chất Hình th hành ức phát Đơ tn vị - Kinh tế và đầu tư 2009 2010
nh chất Hình th hành ức phát Đơ tn vị (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w