luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1tế và chuyển giao công nghệ, từ đó tạo đà cho sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế một cách mạnh mẽ.
Nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua có những bước phát triểnvượt bậc, tăng trưởng khá cao và ổn định, mức sống người dân được cảithiện rõ rệt, chất lượng cuộc sống được nâng cao…Để có được nhữngthành tựu ấn tượng đó phải kể đến vai trò đặc biệt quan trọng của đầu tư.Với những chính sách nhằm thu hút và sử dụng có hiệu qủa vốn đầu tưtrong và ngoài nước, Việt Nam đang nâng cao uy tín, vị thế của mình trêntrường quốc tế Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của
tổ chức thương mại thế giới WTO, đang trở thành điểm hấp dẫn đầu tư củaChâu Á trong con mắt của cộng đồng đầu tư thế giới
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn rất nhiều bất cập trong việc sử dụngvốn đầu tư để tạo đà cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, các mục tiêukinh tế xã hội đưa ra chưa thực sự đạt kết quả như mong muốn
Để làm rõ vai trò của đầu tư vói tăng trưởng, phát triển kinh tế, đồngthời tìm ra những mặt còn hạn chế trong việc phát huy vai trò của đầu tư,
nhóm chúng em chọn đề tài: Dựa vào các lí thuyết kinh tế và đầu tư, giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Từ QuangPhương, chúng em đã cố gắng hoàn thành bài viết này Do giới hạn về kinhnghiệm, kiến thức, tài liệu, và tính phức tạp của đề tài, bài viết của chúng
em còn rất nhiều thiếu sót Rất mong được sự góp ý thẳng thắn, nhiệt tìnhcủa thầy cô và các bạn để bài viết của chúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ THUYẾT KINH TẾ VÀ ĐẦU TƯ
VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG,
Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đật được các kết quảlớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải chịu đựngkhi tiến hành đầu tư
Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, làsức lao động và trí tuệ
Những kết quả sẽ đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính( tiền vốn ), tài sản vật chất ( nhà máy, đường sá bệnh viện, trường học ),tài sản trí tuệ ( trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật )
và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơntrong nền sản xuất xã hội
2 Phân loại đầu tư
Hoạt động đầu tư được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.Bốn tiêu thức phân loại đầu tư thường được sử dụng là:
2.1 Theo mối quan hệ của chủ đầu tư với đối tượng đầu tư:
Theo tiêu thức này đầu tư được chia làm hai loại là đầu tư trực tiếp
và đầu tư gián tiếp
* Đầu tư gián tiếp: Là hình thức đầu tư, trong đó người bỏ vốn không
trực tiếp tham gia điều hành quản lý quá trình thực hiện và vận hành cáckết quả đầu tư Người có vốn thông qua các tổ chức trung gian để đầu tưphát triển Đó là việc các chính phủ thông qua các chương trình tài trợkhông hoàn lại hoặc có hoàn lại với lãi suất thấp cho các chính phủ của cácnước khác vay để phát triển kinh tế xã hội; là việc các cá nhân, các tổ chứcmua các chứng chỉ có giá cổ phiếu, trái phiếu… để hưởng lợi tức ( gọi làđầu tư tài chính ) Đầu tư gián tiếp là phương thức huy động vốn cho đầu tưphát triển
Trang 3* Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư, trong đó người bỏ vốn trực
tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quảđầu tư Loại đầu tư này tạo nên những năng lực sản xuất phục vụ mới ( cả
về lượng và chất ) Đây là loại đầu tư để tái sản xuất mở rộng, là biện phápchủ yếu để tăng thêm việc làm cho người lao động, là tiền đề để thực hiệnđầu tư tài chính và đầu tư chuyển dịch Đầu tư trực tiếp được thực hiện bởingười trong nước và cả người nước ngoài, được thực hiện ở nước sở tại và
cả nước ngoài Do vậy,việc cân đối giữa hai luồng vốn đầu tư ra và vào vàviệc coi trọng cả hai luồng vốn này là hết sức cần thiết
Chính sự điều tiết của bản thân thị trường và các chính sách khuyếnkhích đầu tư của Nhà nước sẽ hướng việc sử dụng vốn của các nhà đầu tưtheo định hướng của nhà nứơc, từ đó tạo nên được một cơ cấu đầu tư phục
vụ cho việc hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý
2.2 Theo bản chất của đầu tư
Theo bản chất của đầu tư, đầu tư được chia làm hai loại: đầu tư tàichính và đầu tư phát triển
Đầu tư tài chính: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho
người vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước ( gửitiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành
Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới của nền kinh tế mà chỉ làmtăng tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư
Đầu tư phát triển: Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là
việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăngthêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất ( nhà xưởng, thiết bị ) và tài sản trítuệ( tri thức, kỹ năng ), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vìmục tiêu phát triển
Đầu tư phát triển là loại đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới của nềnkinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ Hình thức đầu tư này đóngvai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền linh tế mỗiquốc gia
2.3 Theo nguồn vốn
Đầu tư dưới góc độ nguồn vốn được phân thành hai loại : nguồn vốnđầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư trong nước: Là phần tích luỹ của nội bộ nền kinh tế
bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanhnghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuấtcủa xã hội
Nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốn đầu tư nhà nước vànguồn vốn của dân cư và tư nhân
Trang 4Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích luỹ của cá
nhân , các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài cóthể huy động và quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại
Các nguồn vốn nước ngoài chính :
Tài trợ phát triển chính thức ( ODF ) : Nguồn này gồm Viện trợ pháttriển chính thức ( ODA ) và các hình thức tài trợ khác
Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
II KHÁI NIỆM TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1 Khái niệm
Ngày nay các quốc gia độc lập, có chủ quyền đều đề ra những mụctiêu phấn đấu cho sự tiến bộ của quốc gia mình Tuy có những khía cạnhkhác nhau nhất định trong quan niệm nhưng nói chung, sự tiến bộ trongmột giai đoạn nào đó của một nước thường được đánh giá trên hai mặt: sựgia tăng về kinh tế và sự biến đổi về mặt xã hội Trên thực tế người tathường dùng hai thuật ngữ: tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế đểphản ánh sự tiến bộ đó
Hai thuật ngữ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế nhiều lúc được
sử dụng thay thế cho nhau trong một nội dung của một phạm vi nhất địnhnào đó Song giữa chúng có sự khác nhau cơ bản
Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự tăng thêm hay là sự gia tăng về
qui mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhẩt định ( thường
là một năm )
Tăng trưởng kinh tế là tỷ lệ tăng sản lượng thực tế, là kết quả của hoạt
động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của nền kinh tế tạo ra
Sự tăng trưởng kinh tế được so sánh với các năm gốc kế tiếp nhau gọi
là tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện bằng hai cách Cách thứ nhất thể
hiện việc mở rộng sản lượng quốc gia của một nước( sự tăng lên của Tổngsản phẩm quốc dân, tổng sản phẩm quốc nội ) Cách thứ hai thể hiện sựtăng trưởng mức sống của một quốc gia ( sự tăng lên của Tổng sản phẩmquốc dân trên đầu người, tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người )
Trang 5Khác với tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế bao hàm nhiều ý nghĩa
rộng hơn
Phát triển kinh tế là một qúa trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh
tế trong một thời gian nhất định
Phát triển kinh tế bao gồm tăng về qui mô sản lượng ( tăng trưởng
kinh tế ), sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế và sự tiến bộ về xã hội
Khái niệm trên về kinh tế phát triển bao hàm các vấn đề cơ bản nhưsau:
Thứ nhất là mức độ gia tăng mở rộng sản lượng quốc gia và sự tăngmức sản xuất, mức sống của quốc gia trong một thời gian nhất định
Thứ hai là mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia Trong đóquan trọng nhất là tỷ lệ ngành công nghiệp trong tổng sản lượng quốc dân.Mức độ tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân càngcao thể hiện mức phát triển càng cao
Thứ ba là sự tiến bộ về cơ cấu xã hội, đời sống xã hội, mức độ giatăng thu nhập thực tế của người dân, mức độ công bằng xã hội của quốcgia
Các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế thường phải trải quacác giai đoạn bắt đầu tốc độ tăng trưởng nhanh Sau đó chững lại, dân sốtăng làm thay đổi cơ cấu tuổi dân cư trong nước Các xu hướng tiêu dùngtrong nước cũng thay đổi hẳn Số tiền thu nhập không tiêu dùng hết vàonhu cầu thiết yếu mà có xu hướng tiến lên sử dụng các hàng hoá lâu bền,các dịch vụ và nghỉ ngơi Then chốt của sự phát triểtn kinh tế ở đây làngười dân nước đó phải là thành viên chủ yếu của sự thay đổi cơ cấu
Nói cách khác, tổng sản phẩm quốc nội là tổng giá trị sản phẩm vậtchất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnhthổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định ( thường là mộtnăm )
Để tính GDP, có ba cách tiếp cận cơ bản : từ sản xuất, tiêu dùng vàphân phối
Về phương diện sản xuất, GDP được xác định bằng toàn bộ giá trị giatăng của các ngành, các khu vực sản xuất dịch vụ trong cả nước
VA= GO – IC
Trong đó:
VA là giá trị gia tăng của toàn bộ nền kinh tế
Trang 6GO là tổng giá trị sản xuất
IC la chi phí trung gian
Về phương diện tiêu dùng, GDP biểu hiện bằng toàn bộ hàng hoá dịch
vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành của thị trường được tạo ra trong lãnhthổ quốc gia hàng năm
GDP ( tiêu dùng ) = C + G + I + ( X- M )
Trong đó:
C: Các khoản tiêu dùng của hộ gia đình
G: Các khoản chi tiêu của chính phủ
I: Tổng đầu tư cho sản xuất của các doanh nghiệp
X –M: Xuất khẩu ròng trong năm
Do tính GDP theo giá hiện hành của thị trường, nó đã baogồm thuế gián thu ( Te ), cho nên GDP tính theo giá thị trường sẽ chênhlệch với GDP tính theo chi phí các yếu tố sản xuất một lượng giá trị, đó làthuế gián thu
GDP ( sản xuất ) = GDP ( tiêu dùng ) – Te
Về phương diện thu nhập, GDP là toàn bộ giá trị mà các hộ gia đình,các doanh nghiệp và các tổ chức Nhà nước thu được từ giá trị gia tăng GDP ( thu nhập ) = Cp + Ip + T
Trong đó :
Cp: Các khoản các hộ giađình được quyền tiêu dùng
Sp: Các khoản các doanh nghiệp tiết kiệm dùng để đầu tư ( Sp = Ip ) T: Chi tiêu của Nhà nước từ nguồn thuế
Các cách tiếp cận trên sẽ cho GDP kết qủa bằng nhau Nhưng thực tế
có những chênh lệch nhất định do sai sót từ các thông số, thống kê hoặctính toán
2.1.2 Tổng thu nhập quốc dân ( GNI )
Đây là thước đo xuất hiện trong bảng SNA ( hệ thống tài sản quốc gia )năm 1993 thay cho thước đo GNP Về nội dung thì GNI & GNP là giốngnhau, tuy vậy khi sử dụng GNI là muốn nói theo cách tiếp cận từ thu nhậpchứ không phải nói theo góc độ sản phẩm sản xuất như GNP
GNI là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng docông dân của một nước tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định( thường là một năm )
Chỉ tiêu này bao gồm các khoản hình thành thu nhập và phân phối lạithu nhập lần đầu có tính đến cả các khoản nhận từ nước ngoài về và chuyển
ra nước ngoài
Như vậy, GNI hình thành từ GDP tiếp cận theo góc độ thu nhập vàđược điều chỉnh theo con số chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài GNI = GDP + chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài
Trang 7Trong đó:
Chênh lệch thu nhập = Thu nhập lợi tức - Chi trả lợi tức nhân tố với nhân tố từ nhân tố ra nước ngoài nước ngoài nước ngoài
Sự khác nhau giữa GDP & GNI là ở phần chênh lệch thu nhập nhân tốvới nước ngoài Ở các nước đang phát triển thi GNI thường nhỏ hơn GDP
vì thông thường phần chênh lệch này mang giá trị âm
2.1.3 Thu nhập bình quân đầu người
Với ý nghĩa phản ánh thu nhập, chỉ tiêu GDP & GNI còn được sửdụng để đánh giá mức thu nhập bình quân trên đầu người của mỗi quốc gia( GDP/ người, GNI/ người )
Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân
số Qui mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báoquan trọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung
2.2 Các chỉ số về cơ cấu kinh tế
2.2.1 Chỉ số cơ cấu ngành
Chỉ số cơ cấu ngành là chỉ số phản ánh tỷ lệ của các ngành nôngnghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong GDP
Trong quá trình phát triển, cơ cấu ngành kinh tế của mỗi quốc gia đều
có sự chuyển đổi, và quy luật của sự phát triển là tỷ lệ ngành công nghiệp
và dịch vụ trong GDP càng cao thì tỷ lệ ngành nông nghiệp trong GDPcàng giảm Tỷ lệ ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP càng cao thểhiện nền kinh tế càng phát triển
2.2.2 Chỉ số cơ cấu xuất nhập khẩu
Chỉ tiêu này được biểu hiện bằng các tỷ lệ:
Tỷ lệ giá trị xuất khẩu / GDP
Tỷ lệ giá trị xuất khẩu / giá trị nhập khẩu
Tỷ lệ giá trị hàng công nghiệp trong xuất khẩu
Tỷ lệ giá trị máy móc và nguyên vật liệu trong tổng giá trị nhập khẩuMột nền kinh tế phát triển thường có mức xuất khẩu ròng trong GDP (thu nhập ròng X – M ) và các tỷ lệ trên ngày càng cao
2.2.3 Chỉ số tiết kiệm - đầu tư
Tỷ lệ tiết kiệm - đầu tư trong tổng sản phẩm quốc dân ( GNP ) haytrong tổng sản phẩm quốc nội ( GDP ) thể hiện khả năng về tăng trưởng vàphát triển kinh tế của quốc gia
Trên thế giới mỗi nước có một tỷ lệ tiết kiệm và một lượng kim ngạch
dự trữ khác nhau những nước có tỷ lệ đầu tư cao ( từ 20- 30% GDP )thường là các nước có mức tăng trưởng cao
Trang 82.3 Đánh giá sự phát triển xã hội
Các chỉ số về xã hội biểu hiện sự tiến bộ xã hội do tăng trưởng kinh tế
và tiến bộ của con người
2.3.1 Mức tăng dân số hàng năm
Mức tăng dân số liên quan đến thu nhập bình quân trên đầu người củanền kinh tế quốc gia Sự tăng dân số cao, sự bùng nổ dân số của các nướckém phát triển làm cho các nước này ngày càng nghèo đói thêm
Mức tăng dân số hàng năm còn liên quan đến mật độ dân số đó là :Tổng dân số quốc gia / tổng diện tích quốc gia
Tổng dân số quốc gia / tổng diện tích đất canh tác
Mức tăng dân số càng nhỏ các thể hiện mức phát triển của quốc giacàng cao
2.3.2 Số calo bình quân trên đầu người
Số calo bình quân trên đầu người ( calo / người / ngày ) là chỉ tiêu thểhiện mức sống, mức nhu cầu về lương thực, thực phẩm của con người đượcqui đổi thành đơn vị năng lực cần thiết cho con người là calo
Mức thu nhập bình quân trên đầu người tăng lên thì số calo bình quântrên đầu ngời cũng tăng lên
Chỉ tiêu này chỉ có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển, thể hiệnmột nền kinh tế giả quyết được nhu cầu cơ bản về lương thực, thực phẩm ởmức nào ? Còn đối với các nước đã phát triển vì mức sống cao nên chỉ tiêunày không còn ý nghĩa nữa
2.3.3 Chỉ số cơ cấu nông thôn và thành thị
Quy luật nền kinh tế - xã hội của quốc gia càng phát triển thì dân số vàlao động ở thành thị ngày càng tăng lên và ở nông thôn ngày càng giảm đi
Tỷ lệ dân số sống ở thành thị tăng lên theo mức thu nhập bình quânđầu người tăng lên
Sự tăng dân số và lao động ở thành thị nói lên sự văn minh trong đờisống của nhân dân, sự phát triển kinh tê- xã hội của một nước
2.3.4 Chỉ số phát triển con người ( HDI )
Chỉ tiêu này kết hợp ba yếu tố là tuổi thọ bình quân được phản ánhbằng số năm sống, trình độ giáo dục được đo bằng cách kết hợp tỷ lệ ngườilớn biết chữ và tỷ lệ đi học đúng độ tuổi, mức thu nhập bình quân trên đầungười tính theo sức mua tương đương HDI được tính theo phương phápchỉ số và nhận giá trị trong khoang 0 và 1 Quốc gia nào có HDI càng gần 1thì được đánh giá là càng phát triển cao
Trang 9
III VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUA CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VÀ ĐẦU TƯ
1 Đầu tư tác động đến tổng cung của nền kinh tế.
1.1 Lí thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái cổ điển.
Trong lịch sử các tư tưởng kinh tế, đầu tư và tích luỹ vốn cho đầu tưngày càng được xem là một nhân tố quan trọng cho sản xuất, cho việc giatăng năng lực sản xuất và cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế, từ đó tạo đàcho sự tăng trưởng
Từ các nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith trong cuốn “Của cảicủa các dân tộc” đã cho rằng vốn đầu tư là yếu tố quyết định chủ yếu của
số lao động hữu dụng và hiệu quả Việc tích tụ vốn đầu tư sẽ cho phép dân
số và lực lượng lao động gia tăng, cung cấp những người lao động vớitrang thiết bị tốt hơn và quan trọng hơn là có thể tạo ra phân công lao độngmột cách rộng rãi hơn Chỉ có như vậy mới làm tăng tổng sản lượng toàn xãhội và sản lượng bình quân mỗi lao động, tăng tốc độ tăng trưởng của nềnkinh tế
Còn theo David Ricardo ông cho rằng nông nghiệp là ngành kinh tếquan trọng nhất, các yếu tố cơ bản của sự tăng trưởng là đất đai, lao động,
và vốn Trong ba yếu tố kể trên thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, songđất đai cũng chính là giới hạn của sự tăng trưởng Vì khi sản xuất nôngnghiệp gia tăng trên những đất đai kém màu mỡ hơn thì giá lương thực,thực phẩm sẽ tăng lên Mà lương thực, thực phẩm lại là bộ phận quan trọngnhất để đảm bảo đời sống của gia đình công nhân Do đó tiền lương danhnghĩa của công nhân cũng phải tăng theo tương ứng, lợi nhuận của các nhà
tư bản có xu hướng giảm Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi lợi nhuận hạthấp không thể bù đắp được rủi ro trong kinh doanh làm cho nền kinh tế trởnên bế tắc: địa tô ở mức cao, tiền công ở mức tối thiểu, lợi nhuận ở gầnmức không, tích luỹ tư bản ngừng lại Vì thế để làm giảm sự giới hạn đótheo ông cần thiết phải đầu tư vốn nhiều vào ngành công nghiệp, rồi xuấtkhẩu hàng công nghiệp để mua lương thực rẻ hơn từ nước ngoài vào, hoặcđầu tư cho ngành công nghiệp thúc đẩy phát triển công nghiệp để tác độngvào nông nghiệp Lí thuyết của ông thể hiện vai trò của đầu tư trong việctăng trưởng các ngành nông nghiêp dẫn đến làm giảm giới hạn tăng trưởngchung
1.2 Quan điểm tăng trưởng kinh tế của K.Marx
Theo Marx các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai,laođộng, vốn và tiến bộ kĩ thuật Ông cho rằng giữa cung và cầu thị trườngluôn có khoảng cách, để giải quyết khoảng cách này cần thiết phải có tíchluỹ sản xuất, tích luỹ hàng hóa, đây cũng là hoạt động đầu tư hàng tồn trữ
Trang 10Ông cũng cho rằng khủng hoảng kinh tế là điều không thể tránh khỏi,sau khi khủng hoảng nền kinh tế trở nên tiêu điều, để thoát khỏi tình trạngnày các nhà tư bản phải tiến hành đổi mới tư bản cố định với quy mô lớnlàm cho nền kinh tế tiến tới hưng thịnh Để đổi mới tư bản cố định thì việcquan trọng nhất là các nhà tư bản phải có hoạt động đầu tư đổi mới côngnghệ Đây cũng chính là vai trò của đầu tư trong việc tăng trưởng kinh tế.
1.3.Lí thuyết tân cổ điển về đầu tư.
Trong mô hình tân cổ điển các nhà kinh tế học bác bỏ quan điểm cổđiển cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỉ lệnhất định về lao động và vốn Họ cho rằng vốn có thể thay thế được nhâncông, và trong quá trình sản xuất có thể gia tăng vốn cho một đơn vị laođộng để tạo sự phát triển kinh tế theo chiều sâu
Các nhà kinh tế tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sựtăng trưởng thông qua hàm sản xuất.Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa
sự tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, laođộng, tài nguyên và khoa học-công nghệ
g: tốc độ tăng trưởng của GDP
k,l,r: tốc đột tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
t: tác động của khoa học công nghệ
Qua đó ta thấy rằng sự tăng trưởng của yếu tố vốn cũng như yếu
tố đầu tư cũng góp phần vào tăng trưởng kinh tế nói chung
Trang 11Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế đối với cung lao độngSản xuất tỉ lệ với khối lượng máy móc
Nếu gọi:
Y là sản lượng năm t
g = ΔY/YY/Yt là tốc độ tăng trưởng kinh tế
ΔY/YY là sản lượng gia tăng trong kỳ
S là tổng tiết kiệm trong năm
s = S/Yt là tỉ lệ tiết kiệm/GDP
ICOR tỉ lệ gia tăng của vốn so với sản lượng
Từ công thức ICOR= ΔY/YK/ΔY/YY
Nếu ΔY/YK = I ta có ICOR = I/ΔY/YY
Mặt khác I = S = s*Y thay vào công thức tính ICOR ta có
ICOR = ΔY/YK/ΔY/YY=s*Y/ΔY/YY => ΔY/YY=s*Y/ICORPhương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế
g = ΔY/YY/Y = s*Y/ICOR : YCuối cùng ta có g = s/ICOR
Như vậy theo Harrod-Domar, tiết kiệm là nguồn gốc của tăng trưởngkinh tế Muốn gia tăng sản lượng với tốc độ g thì cần duy trì tỷ lệ tích luỹ
để đầu tư trong GDP là s với hệ số ICOR không đổi Mô hình thể hiện S lànguồn gốc của I, đầu tư làm gia tăng vốn sản xuất (ΔY/YK), gia tăng vốn sảnxuất sẽ trực tiếp làm gia tăng ΔY/YY, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế
2 Mô hình của Keynes: Đầu tư là nhân tố kích thích tổng cầu của nền kinh tế.
Các học thuyết kinh tế trước trường phái Keynes thường chủ yếu quantâm đến yếu tố cung, đồng nhất sự tăng cung với tăng trưởng kinh tế và chorằng nền kinh tế không có khủng hoảng Tuy nhiên, vào những năm 30 củathế kỉ 20, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp diễn ra thường xuyên và họcthuyết của trường phái Keynes ra đời đã đánh dấu sự phát triển mới về kinh
tế Lí thuyết này nhấn mạnh đến yếu tố cầu và coi tổng cầu là nguyên nhâncủa sự tăng trưởng cũng như suy thoái kinh tế Theo Keynes cầu tiêu dùnggiảm dần dẫn đến hàng hoá ế thừa, kinh tế trì trệ, sản xuất không bán được,các nhà sản xuất bi quan về nền kinh tế sẽ thu hẹp quy mô sản xuất hoặcnếu không sẽ bị phá sản Chính điều này sẽ khiến thất nghiệp xảy ra, tệ nạn
xã hội bùng phát Như vậy sụt giảm cầu là nguyên nhân của khủng hoảngkinh tế Để thúc đẩy kinh tế phát triển cần kích thích tổng cầu, tổng cầutăng làm cho tổng cung tăng, nền kinh tế đạt tới trạng thái cân bằng mới ởmức sản lượng cao hơn mức sản lượng ban đầu
Một trong những lí thuyết nổi tiếng của Keynes về đầu tư là lí thuyết
số nhân đầu tư Theo ông mỗi sự gia tăng về vốn đầu tư đều kéo theo sự giatăng nhu cầu bổ sung về nhân công và nhu cầu về tư liệu sản xuất Do vậylàm tăng việc làm và tăng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế Tất cả cácđiều đó làm tăng thu nhập của nền kinh tế và đến lượt mình tăng thu nhập
Trang 12lại làm gia tăng đầu tư mới Quá trình này thể hiện thông qua một đại lượnggọi là số nhân đầu tư Số nhân đầu tư thể hiện qua tác động dây chuyền:tăng đầu tư làm tăng thu nhập, tăng thu nhập làm tăng đầu tư mới, tăng đầu
tư mới làm tăng thu nhập mới Qua quá trình hoạt động này, số nhân đầu tưlàm phóng đại thu nhậplên
Số nhân đầu tư thể hiện mối quan hệ giữa mức gia tăng thunhập và mức gia tăng đầu tư Số nhân này xác định sự gia tăng đầu tư sẽlàm cho thu nhập tăng lên như thế nào Nếu kí hiệu dY là mức gia tăng thunhập, dI là mức gia tăng đầu tư và m là số nhân đầu tư thì:
m = dY/dI
vì S = I nên
m = dY/dS = dY/(dY-dC) = 1/(1-dC/dY) = 1/(1-c)
Trong đó c là khuynh hướng tiêu dùng cận biên Chẳng hạn khuynhhướng tiêu dùng cận biên của xã hội là 0.75 thì theo nguyên lí số nhân, từ 1
tỉ đồng đầu tư có thể có mức thu nhập là 4 tỉ đồng Rõ ràng đầu tư làm tăngthu nhập, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Cũng theo Keynes, hiệu quả cận biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỉsuất thu lời dự kiến của số tiền đầu tư mới chứ không phải so với phí tổnnguyên thuỷ của nó Như vậy, cùng với sự tăng lên của vốn đầu tư thì hiệuquả cận biên của mỗi đồng vốn gia tăng bị giảm sút Bởi vì, đầu tư làmtăng thêm khối lượng hàng hoá cung ứng trên thị trường, làm giảm giá củacác hàng hoá sản xuất thêm, và tăng cung ứng hàng hoá sẽ làm chi phí vốnđầu tư tăng từ đó làm giảm hiệu qủa sử dụng vốn Mặt khác sự khuyếnkhích đầu tư lại phụ thuộc vào lãi suất Người ta sẽ tiếp tục đầu tư chừngnào hiệu quả cận biên của vốn lớn hơn lãi suất huy động vốn Khi nào hiệuquả cận biên của vốn bằng hoặc thấp hơn lãi suất huy động vốn thì người takhông đầu tư nữa Vì vậy để kích thích đầu tư cần tìm biện pháp tăng hiệuqủa cận biên của vốn hoặc (và) giảm lãi suất
Keynes cũng đã chỉ ra vai trò của chính phủ và đầu tư trong việc kíchthích tổng cầu: AD = C + G + I
Trang 133.Đầu tư tạo sự phát triển cho các ngành kinh tế mũi nhọn từ đó tạo ra
sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Trong các tiêu thức đánh giá phát triển, cơ cấu kinh tế được xem như
là tiêu thức phản ánh sự thay đổi về chất, là dấu hiệu đánh giá, so sánh cácgiai đoạn phát triển của nền kinh tế Cơ cấu kinh tế biểu hiện dưới nhiềudạng khác nhau trong đó quan trọng nhất là cơ cấu ngành vì nó phản ánh sựphát triển của phân công lao động xã hội và sự phát triển của lực lượng sảnxuất Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trìnhdiễn ra liên tục và gắn liền với sự phát triển kinh tế Ngược lại nhịp độ pháttriển, tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khảnăng chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bêntrong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế
3.1 Mô hình các giai đoạn phát triển của W.Rostow
Trong cuốn “các giai đoạn phát triển kinh tế”, nhà lịch sử kinh tế MỹWalter Rostow đã đưa ra mô hình về quá trình phát triển kinh tế của mỗiquốc gia Ông chia quá trình phát triển thành 5 giai đoạn và ứng với mỗigiai đoạn cần có sự đầu tư hợp lí để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyểndịch cơ cấu ngành
Giai đoạn xã hội truyền thống: sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủđạo trong hoạt động kinh tế, năng suất lao động thấp nhìn chung nền kinh
tế chưa có những biến đổi mạnh
Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: ngành công nghiệp bắt đầu phát triển,nhu cầu đầu tư tăng lên đã thúc đẩy hoạt động của ngân hàng và sự ra đờicủa các tổ chức huy động vốn
Giai đoạn cất cánh: đây là giai đoạn trung tâm trong sự phân tích cácgiai đoạn phát triển của Rostow Những yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự cấtcánh là: huy động được nguồn vốn đầu tư cần thiết, tỉ lệ tiết kiệm và đầu tưtăng từ 5% đến 10% trong thu nhập quốc dân thuần tuý Ngoài vốn đầu tưtrong nước nguồn vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa cực kì quan trọng Khihuy động được nguồn vốn cần thiết sẽ tạo điều kiện để phát triển khoa học
kĩ thuật Từ đó tác động mạnh vào nông nghiệp và công nghiệp, côngnghiệp giữ vai trò đầu tầu, có tốc độ tăng trưởng nhanh, đem lại lợi nhuậnlớn, lợi nhuận lại được tái đầu tư phát triển sản xuất, thông qua nhu cầu thuhút công nhân, kích thích phát triển khu vực đô thị và các lĩnh vực dịch vụ
Có thể nói đầu tư đóng vai trò phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn, lôikéo các ngành khác phát triển, cơ cấu ngành kinh tế của giai đoạn này làcông nghiệp – nông nghiệp - dịch vụ
Giai đoạn trưởng thành: Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là tỉ lệđầu tư tăng liên tục, lên tới 20% thu nhập quốc dân thuần tuý Nếu có được
tỉ lệ đầu tư như vậy thì mới có điều kiện để ứng dụng khoa học kĩ thuật trên
Trang 14toàn bộ các mặt hoạt động của nền kinh tế, nhiều ngành công nghiệp mớihiện đại phát triển, nông nghiệp được cơ giới hoá, đạt năng suất lao độngcao, nhu cầu xuất nhập khẩu tăng mạnh, sự phát triển kinh tế trong nướchoà đồng vào thị trường quốc tế Cơ cấu ngành kinh tế trong giai đoạn này
là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp
Giai đoạn tiêu dùng cao: giai đoạn này thu nhập bình quân đầu ngườicao, dân cư giàu có dẫn đến sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hoá dịch
vụ, cơ cấu lao động thay đổi theo hướng tăng tỉ lệ lao động có tay nghề cao,phúc lợi xã hội tốt Cơ cấu ngành giai đoạn này là dịch vụ - công nghiêp
Để đạt được đến giai đoạn này thì ở từng giai đoạn việc sử dụng vốnđầu tư đúng hướng là vô cùng quan trọng
3.2 Mô hình hai khu vực của Arthus Lewis
Mô hình thể hiện mối quan hệ chặt chẽ và rõ ràng giữa sự gia tăng vốnđầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quan điểm cho rằng tích tụ vốncho đầu tư là chìa khoá sự tăng trưởng kinh tế được thể hiện trong cácchiến lược và chính sách phát triển tại nhiều quốc gia.(Pakistan và Ấn Độđều sử dụng kế hoạch 5năm trong những năm đầu thập kỉ 60 Trong đónhấn mạnh đến nhu cầu vốn trong giai đoạn khởi đầu qúa trình công nghiệphoá, ở đây việc sử dụng một lượng vốn lớn từ nước ngoài là có thể chấpnhận được)
Mô hình Arthus Lewis tiếp tục kế thừa quan điểm của các nhà kinh tếhọc cổ điển nhấn mạnh đến sự tăng trưởng tư bản của vốn để tăng lợinhuận và tích luỹ Trong mô hình kinh tế nhị nguyên, ông cho rằng vấn đềquan trọng trong lý thuyết phát triển kinh tế là hiểu được quá trình mà nềnkinh tế trước đây chỉ tích luỹ và đầu tư từ 4% hay 5% thu nhập quốc giahay thậm chí ít hơn, chuyển sang nền kinh tế mà mức tích luỹ tự nguyện làkhoảng 12%-15% thu nhập quốc dân hay hơn
Theo Lewis tất cả các quốc gia mà hiện nay đã tương đối phát triển đãtừng có thời kì gia tăng mạnh mẽ về vốn trong đó tỉ lệ đầu tư thuần của cácnền kinh tế này tăng từ mức 5% đến mức 12% hay hơn Quá trình đó chúng
ta gọi là cách mạng công nghiệp Quá trình này sẽ tác động nền kinh tếchuyển sang cơ cấu tăng dần tỉ trọng trong công nghiệp, tăng thu nhâp, tăngtrưởng kinh tế mạnh mẽ
Ví dụ, Ấn Độ trong những năm đầu thập kỉ 50, mức đầu tư thuần củacác nước này chỉ là 4% hay 5% thu nhập quốc gia, còn thu nhập đầu người
ở mức rất thấp, cho đến những năm 60 mức đầu tư ròng đạt được là 12%thì đời sống dân cư của nước này bắt đầu có cải thiện đáng kể
Nghiên cứu sự phát triển của nhiều nước đang phát triển trong nhiềunăm qua cho thấy rằng các quốc gia phát triển hàng đầu trong số các nước
đó là những nước có tỉ lệ tích luỹ vốn cao nhất còn những nước kém pháttriển là những nước có tỉ lệ đầu tư thấp nhất
Trang 153.3 Mô hình hai khu vực của Oshima.
Với quan điểm hướng tới một nền kinh tế phát triển, Oshima đã đưa rahướng quan tâm đầu tư phát triển nền kinh tế theo 3 giai đoạn với nhữngmục tiêu và nội dung phát triển khác nhau
Giai đoạn bắt đầu của quá trình tăng trưởng: tạo việc làm cho thờigian nhàn rỗi theo hướng tăng cường đầu tư phát triển nông nghiệp Theoông do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, nhất là ở các nước Châu Á giómùa là mang tính thời vụ nhỏ lẻ, lao động thất nghiệp mang tính thời vụcàng trầm trọng khi sản xuất nông nghiệp mang nặng tính độc canh, phântán Biện pháp hợp lí nhất để giải quyết lao động thất nghiệplà đầu tư để đadạng hoá sản xuất nông nghiệp, xen canh tăng vụ, mở rộng chăn nuôi Đầu
tư cho phân bón, thuốc trừ sâu, cải cách ruộng đất để nông dân phát huycao độ nỗ lực của mình Những biện pháp này đòi hỏi hướng đầu tư hợplí,ban đầu vốn đầu tư cho nông nghiệp không quá lớn, phù hợp với các nướcđang phát triển Khi chủng loại nông sản sản xuất ra ngày càng nhiều vớiquy mô lớn nhu cầu cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệptăng cao và xuất hiện yêu cầu chế biến nông sản với quy mô lớn nhằm tăngcường tính chất hàng hoá trong sản xuất nông nghiệp, tức là đặt ra vấn đềphát triển ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ, khi đó nền kinh tếchuyển sang giai đoạn hai
Giai đoạn hai: hướng tới có việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư pháttriển đồng thời cả nông nghiệp và công nghiệp Xuất phát từ mục tiêuhướng tới giải quyết đầy đủ việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,Oshima cho rằng cần đầu tư phát triển các ngành nông nghiệp, côngnghiệp, và cả dịch vụ theo chiều rộng Khi nông nghiệp đã phát triển thìviệc mở rộng thị trường công nghiệp, tạo yêu cầu tăng thêm quy mô sảnxuất công nghiệp cũng như nhu cầu về các hoạt động dịch vụ ngày cànglớn Qúa trình này diễn ra liên tục trong nhiều năm sẽ kéo theo sự thay đổi
cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỉ trọng trong nông nghiệp và tăng dần tỉtrọng trong các ngành công nghiệp và dịch vụ
Giai đoạn sau khi có việc làm đầy đủ: thực hiện phát triển các ngànhkinh tế theo chiều sâu Quan điểm của ông trong giai đoạn này là phải đầu
tư phát triển theo chiều sâu trên toàn bộ các ngành của nền kinh tế Mộtmặt trong nông nghiệp hướng tới sử dụng máy móc thiết bị theo hướng ápdụng phương pháp công nghệ sinh học nhằm tăng sản lượng Mặt khác khuvực công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng thay thế sản phẩm nhậpkhẩu và hướng về xuất khẩu với sự chuyển dịch dần về cơ cấu sản xuất sảnphẩm Sự quá độ từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp được hoànthành và nền kinh tế chuyển sang giai đoạn tiếp theo, đó là sự quá độ từcông nghiệp sang dịch vụ Giai đoạn ba kết thúc tức là nền kinh tế đã pháttriển đến giai đoạn phát triển cao nhất
Trang 16Rõ ràng rằng theo quan điểm của Oshima trong từng giai đoạn pháttriển đều cần đến sự đầu tư và phân bổ vốn đầu tư hợp lí để đạt được mụctiêu tăng trưởng bền vững.
4 Đầu tư được coi là cú huých từ bên ngoài giúp các nước đang phát triển thoát khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo.
Những năm đầu của thập kỉ 50 thế kỉ XX, nhà kinh tế học RagnarNurkse đã đưa ra học thuyết nhấn mạnh đến vai trò của đầu tư và vốn đầu
tư đến phát triển nền kinh tế Nurkse cho rằng việc thiếu vốn đầu tư là mộtnguyên nhân gây ra tình trạng nghèo đói Ông đã chỉ ra cái vòng luẩn quẩncủa sự nghèo đói
Về phía cung: một quốc gia có thu nhập thấp sẽ có khả năng tích luỹthấp, tích luỹ thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư, thiếu vốn đầu tư dẫn đến nănglực sản xuất bị hạn chế, cung không thể cao, năng lực sản xuất thấp dẫn đếnthu nhập sẽ thấp
Về phía cầu: thu nhập thấp làm cho sức mua thấp, sức mua thấp làmcho động lực gia tăng đầu tư bị hạn chế, đầu tư bị hạn chế dẫn đến năng lựcsản xuất thấp và từ đó cũng sẽ lại dẫn đến thu nhập thấp
Quan điểm này của ông cũng giống với quan điểm của nhà kinh tế họcSamuelson, Samuelson cũng đưa ra mô hình về cái vòng luẩn quẩn của sựđòi nghèo
Vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo
Thực tế cho thấy các nước nghèo hiện nay trên thế giới hầu hết chịucảnh nghèo đói một phần do những nguyên nhân trên Tức là sự nghèo đóitại các quốc gia này một phần là do thiếu vốn đầu tư và sự đầu tư thíchđáng, có hiệu quả Nguyên nhân của tình trạng đầu tư hạn chế tại các nướcnày là do hoặc vì thiếu động lực thúc đẩy đầu tư hoặc là khả năng tích luỹcủa nền kinh tế quá nhỏ
Điều này cho thấy rằng, để phát triển và thực hiện xoá đói giảm nghèothành công thì phải làm sao phá vỡ được cái vòng luẩn quẩn trên Mộttrong những biện pháp để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó là xuất phát từ khíacạnh đầu tư Nền kinh tế phải tạo được sự chuyển biến tăng mức tích luỹ từmức thấp lên mức trung bình và mức cao để tăng quy mô đầu tư từ đó tăng
Thu nhập thấp
Trình độ kĩ thuật thấp
Trang 17năng lực sản xuất và cuối cùng là gia tăng thu nhập, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế.
5.Đầu tư đúng hướng cho phép khai thác lợi thế tuyệt đối và tương đối, thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển.
5.1 Quan điểm của Adam Smith
Khi nghiên cứu mô hình kinh tế cổ điển chúng ta đã biết rằng các nhàkinh tế cổ điển coi đất đai là giới hạn của tăng trưởng Khi nhu cầu lươngthực tăng lên phải sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo đượclợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ không sản xuất nữa Các nhà kinh tế
cổ điển gọi đó là bức tranh đen tối của tăng trưởng Trong điều kiện đóAdam Smith cho rằng phải đầu tư khai thác những sản phẩm mà có chi phísản xuất thấp hơn, rồi đem đi xuất khẩu, và tích luỹ vốn để mua những sảnphẩm có chi phí sản xuất cao hơn ở nước mình nhưng thấp hơn ở nướckhác Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sảnphẩm có chi phí thấp sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn khi bán sản phẩmtrên thị trường quốc tế Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí cao
sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sảnxuất không đem lại lợi nhuận, người ta gọi là bù đắp được sự yếu kém vềkhả năng sản xuất trong nước
Ngày nay đối với các quốc gia đang phát triển việc khai thác lợi thếtuyệt đối có ý nghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loạisản phẩm đặc biệt là tư liệu sản xuất với chi phí có thể chấp nhận được.Việc không đủ vốn đầu tư làm các quốc gia này không thể sản xuất ra máymóc thiết bị đòi hỏi công nghệ cao, nhiều vốn, ngược lại không đủ khảnăng sản xuất ra máy móc thiết bị là nguyên nhân dẫn đến đầu tư thấp Nhưvậy nếu không đầu tư đúng hướng vào sản xuất sản phẩm mà mình có lợithế thì không thể thoát ra được cái vòng luẩn quẩn đó
5.2 Lí thuyết của Ricarđo và Heckscher-Ohlin.
Phát triển lí thuyết lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thươngRicardo đã nghiên cứu lợi thế này dưới góc độ chi phí so sánh để sản xuất
ra sản phẩm
Ví dụ, xem xét khả năng trao đổi sản phẩm giữa Việt Nam và Nga đốivới hai sản phẩm thép và quần áo:
Chi phí sản xuất
Sản phẩm Chi phí sản xuất (ngày công lao động)
Quần áo(1đơnvị) 5 4
Trang 18Xét theo chi phí sản xuất thì Việt Nam sản xuất thép hay quần áo đều
có chi phí cao hơn Nga, lợi thế tuyệt đối chỉ ra rằng Việt Nam không cókhả năng xuất khẩu sản phẩm nào sang Nga Song nếu chúng ta xét theochi phí so sánh thì lại có cách nhìn khác:
Chi phí so sánh
Theo chi phí so sánh thì thấy rằng chi phí sản xuất thép của Việt Namcao hơn Nga: để sản xuất ra một đơn vị thép ở Việt Nam cần 5 đơn vị quần
áo trong khi ở Nga chỉ cần 4 đơn vị Nhưng ngược lại chi phí sản xuất quần
áo của Việt Nam lại thấp hơn của Nga: để sản xuất ra một đơn vị quần áo ởViệt Nam cần 1/5 đơn vị thép, trong khi ở Nga cần 1/4 đơn vị Như vậyNga xuất khẩu thép sang Việt Nam, Việt Nam xuất khẩu quần áo sang Nga,việc trao đổi này đưa lại lợi ích cho cả hai nước Nó làm cho khả năng tiêudùng vượt khỏi đường giới hạn, nâng cao mức sống và thu nhập thực tế củamột nước
Phát triển lí thuyết của Ricardo hai nhà kinh tế học Thuỵ Điển là EliHeckscher và Bertil Ohlin đã cho rằng mức độ sẵn có của các yếu tố sảnxuất ở các quốc gia khác nhau và mức sử dụng yếu tố để sản xuất sản phẩm
là những nhân tố quan trọng quyết định sự khác biệt về chi phí so sánh.Quay lại ví dụ ta thấy rằng Việt Nam là nước tương đối sẵn có về lao độngnên tập trung vào ngành diệt may là ngành cần nhiều lao động, còn Ngatương đối sẵn có về vốn nên sẽ sản xuất và xuất khẩu thép là mặt hàng cầnnhiều vốn Lí thuyết Heckscher Ohlin đã giải thích sự có được lợi ích trongthương mại quốc tế nếu đầu tư vào những mặt hàng mà sử dụng nhiều yếu
tố sẵn có trong nước, nó cho phép bất kì nước nào cũng có thể tăng thunhập của mình thông qua ngoại thương
Trang 19CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
I TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
1.Tổng quan về kinh tế
Sau hơn 20 năm, với chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã cómột bước chuyển đổi cơ bản từ một nền kinh tế tập trung thành một nềnkinh tế thị trường đầy đủ Trong suốt thời kỳ này, nền kinh tế có tốc độtăng trưởng tương đối nhanh Mặc dù Việt Nam vẫn còn một khoảng cáchkhá xa so với các nước giầu có, song với sự đầu tư nước ngoài ngày càngtăng và các yếu tố thuận lợi khác trong nước đang giúp cho nền kinh tếViệt Nam từng bước đi lên
Sau đây là số liệu về tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam theo giá
so sánh năm 1994 do Tổng cục Thống kê công bố:
Năm 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 GDP 109,
2
113, 1
120, 0
125, 6
132, 0
193, 6
151, 8
164, 1
178, 5
195, 6
213,8 Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
GDP 231,
3
244, 7
256, 2
273, 6
292, 5
313, 2
336, 2
362, 4
393, 0
425, 2
Năm 1986, Đại hội lần thứ 6 Đảng cộng sản Việt Nam chính thức từ
bỏ hình thức kinh tế kế hoạch hoá Mác xít và bắt đầu đi theo các khuynhhướng kinh tế thị trường coi đó là một phần trong kế hoạch cải cách kinh tếtổng thể, được gọi là "Đổi mới" Đổi mới, theo nhiều hình thức, tương tựvới mô hình Trung Quốc, và đã mang lại nhiều thành công Một mặt, Việtnam đạt mức tăng trưởng GDP ở mức khoảng 8% một năm trong giai đoạn
1990 tới 1997, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế châu Á cuối năm
1997 cho nên tốc độ tăng trưởng của Việt Nam bắt đầu giảm từ năm 1997đến năm 1999, đến năm 2000 tốc độ tăng trưởng đạt 6,75%, cao hơn so vớichỉ tiêu Quốc hội đề ra là 5,5-6,5% và đặc biệt là đã chặn được đà giảm sútkinh tế mấy năm vừa qua, và tốc độ tăng trưởng GDP trung bình trong giaiđoạn 2000-2006 là 7,5 % /1 năm
Trong bối cảnh khó khăn nhiều hơn thuận lợi, song dưới sự lãnh đạocủa Đảng, Nhà nước, Quốc hội, sự điều hành sát sao của Chính phủ, cácngành, các địa phương, các doanh nghiệp và hàng chục triệu hộ sản xuấtkinh doanh cá thể trong cả nước đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn,phát huy thuận lợi để phát triển sản xuất, mở rộng kinh doanh dịch vụ Nhờ
Trang 20đó kinh tế cả nước trong năm 2007 tiếp tục phát triển toàn diện và hầu hếtcác chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Kinh tế tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến
bộ là thành tựu nổi bật nhất, cơ bản nhất của nền kinh tế Việt Nam năm
2007 Tổng sản phẩm trong nước tăng 8,48%, đạt kế hoạch đề ra (8,0 8,5%), cao hơn năm 2006 (8,17%) và là mức cao nhất trong vòng 11 nămgần đây Với tốc độ này, Việt Nam đứng vị trí thứ 3 về tốc độ tăng GDPnăm 2007 của các nước châu Á sau Trung Quốc (11,3%) và Ấn Độ(khoảng 9%) và cao nhất trong các nước ASEAN (6,1%) Tốc độ tăngtrưởng GDP cả 3 khu vực kinh tế chủ yếu đều đạt mức khá: Khu vực nông
lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,0%/ so với mức 3,32% cùng kỳ 2006, khuvực công nghiệp và xây dựng tăng 10,33% (riêng công nghiệp tăng10,32%)/ so với mức 10,4% và 10,32% cùng kỳ và khu vực dịch vụ tăng8,5%/ so với mức 8,29% của năm 2006 (tính theo giá so sánh năm 1994) Bảng - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997-2007 (%)
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 GDP 8,15 5,76 4,77 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,48 NLTS 4,33 3,53 5,53 4,63 2,89 4,17 3,62 4,36 4,02 3,3 3,0 CNX
9,48 10,4
8
10,2 2
10,6 9
10,3 7
10,4
DV 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,5 (Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006,tr 69)
Nếu không có thiên tai, dịch bệnh lớn như vừa trải qua, tốc độ tăngGDP chắc chắn còn cao hơn 8,5% Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tíchcực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng dịch vụ và giảm tỷtrọng khu vực nông nghiệp (khu vực nông nghiệp chiếm 20%; công nghiệp
và xây dựng chiếm 41,5%, dịch vụ 38,1% Giá trị sản xuất công nghiệp
năm 2007 đạt 574 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2006; trong đó,khu vực ngoài quốc doanh tăng 20,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoàităng 18,2% và khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 10,3%
Khu vực dịch vụ phát triển khá Thương mại nội địa phát triển mạnh.Nhiều hình thức kinh doanh góp phần cải thiện cơ cấu thị trường dần theohướng đa dạng, văn minh kết hợp với hiện đại hóa Khách du lịch quốc tếđến Việt Nam năm 2007 đạt 4,171 triệu lượt khách, tăng 16,4% so với năm
2006 Lượng khách du lịch nội địa năm 2007 ước đạt 18,5 triệu lượt khách,tăng 8,82% so với năm 2006 Số lượng khách du lịch Việt Nam đi du lịchnước ngoài khá lớn, đặc biệt là ở các thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh vàmột số địa phương có mức sống của dân cư cao Các ngành vận tải hànghóa, mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông, internet trong nước vàquốc tế, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… đều phát triển khá sovới năm 2006
Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt trên 40 tỉ USD, vượt 3,4% kếhoạch và tăng 21,5% so với năm trước Đây cũng là một trong những chỉ số
ấn tượng nhất về giữ vững nhịp phát triển trong năm qua
Trang 21Theo báo cáo của Bộ Tài chính, trong khi thu ngân sách vượt kế hoạch
thì bội chi ngân sách vẫn được khống chế dưới 5% GDP Bên cạnh đó, do
thặng dư lớn trong cán cân thanh toán quốc tế nên tạo được cơ sở để ổnđịnh tỷ giá và giá trị đồng Việt Nam so với ngoại tệ Không những thế, dựtrữ ngoại tệ cũng tăng lên đáp ứng được các nhu cầu bình ổn thị trườngngoại tệ Các chỉ số nợ của Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia ởmức an toàn cho phép
Không chỉ có nguồn vốn ngân sách nhà nước tăng lên mà nguồn vốnhuy động từ xã hội cho đầu tư phát triển cũng rất khả quan, khoảng 462,2nghìn tỷ đồng, bằng 40,5% GDP, tăng 15,9% so với năm 2006; trong đónguồn vốn từ khu vực dân cư và tư nhân chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư toàn
xã hội, tăng 19,5% so với năm 2006
2 Một số vấn đề xã hội
Cùng với tăng trưởng kinh tế là sự phát triển xã hội, phát triển conngười Chỉ số phát triển con người (HDI) do UNDP mới công bố cho thấy,HDI của Việt Nam đạt 3 điểm vượt trội
HDI liên tục tăng qua các năm (1995 đạt 0,560, năm 2000 đạt 0,688,năm 2003 đạt 0,704, năm 2004 đạt 0,709, năm 2005 đạt 0,733, khả năng
2007 vượt 0,750)
Thứ bậc về HDI của Việt Nam tăng khá Trong 10 nước ở khu vực,nếu năm 1995 còn đứng thứ 7 thì nay đứng thứ 6 Trong 41 nước và vùnglãnh thổ ở châu Á (có số liệu so sánh), năm 1995 đứng thứ 31, năm 2000đứng thứ 27 và năm 2005 đứng thứ 23 Trong 177 nước và vùng lãnh thổtrên thế giới, nếu năm 1995 đứng thứ 122 thì năm 2000 đứng thứ 109 vànăm 2005 đứng thứ 105
Thứ hạng về HDI đứng thứ 105 nhưng về chỉ số tuổi thọ đứng thứ 56,
về chỉ số giáo dục đứng thứ 101, cao hơn thứ bậc về chỉ số GDP bình quânđầu người (đứng thứ 123) HDI của Việt Nam còn cao hơn hàng chục nước
và GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam
Năm 2007 nhìn chung đời sống của dân cư tiếp tục ổn định và từngbước được cải thiện Đời sống cán bộ, công chức, viên chức và người laođộng hưởng lương đã được cải thiện, qua 1 năm thực hiện Nghị định94/2006/NĐ-CP và Nghị định 03/2006/NĐ-CP về việc điều chỉnh mứclương tối thiểu chung Thu nhập bình quân một tháng của một lao độngtrong khu vực Nhà nước đạt 2064,2 nghìn đồng, trong đó lao động doTrung ương quản lý 2522,6 nghìn đồng và lao động do địa phương quản lý1764,0 nghìn đồng Tuy nhiên, mức thu nhập giữa các ngành, các loại hìnhdoanh nghiệp, các địa phương không đồng đều
Mặc dù chịu tác động của nhiều yếu tố như giá tiêu dùng liên tục tăng,sản xuất nông nghiệp ở một số vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của bão lũ,nhưng đời sống của đại đa số dân cư ở nông thôn vẫn giữ được mức ổnđịnh, do giá nông sản, thực phẩm tăng đã khuyến khích nông dân sản xuất
Trang 22hàng hóa, tăng thêm thu nhập Tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007 vượt kế hoạch đề ra(16%)
Vị trí quốc tế của Việt Nam gia tăng với việc chính thức trở thànhthành viên WTO, được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồngBảo an Liên Hiệp Quốc,
II TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TÁC ĐỘNG VÀO TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM
1 Dựa vào vai trò của đầu tư tác động lên tổng cầu
Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộnền kinh tế Theo số liệu của ngân hàng thế giới, đầu tư chiếm khoảng 24đến 25 % trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Sự tănglên của đầu tư làm cầu các yếu tố liên quan tăng, sản xuất các ngành nàyphát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đờisống người lao động, giảm tệ nạn xã hội… tạo điều kiện cho sự tăng trưởngkinh tế Năm 2007 là năm chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của đầu tưphát triển Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giáthực tế đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% tổng sản phẩm trong nước(đạt kế hoạch đề ra 40% GDP) và tăng 15,8% so với năm 2006, trong đóvốn khu vực Nhà nước 200 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,3% tổng vốn và tăng8,1%; vốn khu vực ngoài Nhà nước 187,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,7% vàtăng 24,8%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 74,1 nghìn tỷ đồng, chiếm16% và tăng 17,1%
Trong vốn nhà nước, vốn đầu tư từ ngân sánh nhà nước (gồm vốn dự
án và chương trình mục tiêu) thực hiện 97 nghìn tỷ đồng, bằng 101,6% kếhoạch năm, trong đó vốn do địa phương quản lý 64,4 nghìn tỷ đồng, bằng107,2%, vốn trung ương quản lý đạt thấp hơn so với dự toán, chỉ bằng92,2%; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 40,3 nghìn tỷ đồng,đạt kế hoạch năm và vốn của các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chứcnhà nước khác khoảng 62,7 nghìn tỷ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếptục tăng khá, ước tính năm 2007 đạt 20,3 tỷ USD, tăng 69,3% so với năm
2006 và vượt 56,3% kế hoạch cả năm, trong đó vốn cấp phép mới là 17,86
tỷ USD
Sự phát triển mạnh mẽ của đầu tư cũng có nhiều tác động tích cựctrong việc duy trì ổn định và phát triển kinh tế Năm 2007 Việt Nam giảiquyết được việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động, tăng dần tỷ trọng trọnglĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, giảm đáng kể tỉ lệ thất nghiệp Ở đầu ra,tăng trưởng cao đạt được ở kênh tiêu thụ trong nước và kênh xuất khẩu.Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng khá so với năm trước,nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì vẫn còn tăng 13,5%, cao gấp gần 1,6 lần tốc
độ tăng trưởng GDP Dung lượng thị trường ở Việt Nam đạt quy mô khá,
Trang 23một phần do dân số đông (đứng thứ 13 thế giới), hàng năm vẫn tăng trên 1triệu người; một phần do thu nhập bình quân đầu người tăng, nhu cầu tiêudùng tăng lên cả về số lượng, mẫu mã, chủng loại, một phần quan trọnghơn là do tỷ lệ mua bán thông qua thị trường tăng nhanh.
2 Dựa vào vai trò của đầu tư tác động lên tổng cung.
Khi những kết quả đầu tư phát huy tác dụng thì tổng cung trong dàihạn tăng lên Sản lượng tăng làm giá giảm dẫn đến tiêu dùng tăng Từ đókích thích sản xuất, tăng tích lũy phát triển kinh tế Ở Việt Nam đầu tư vào
cơ sở hạ tầng, vật chất máy móc, trang thiết bị ngày càng được nâng caolàm cho sản xuất không ngừng mở rộng tạo thu nhập cho người tiêu dùng
Dưới góc độ mô hình của Ricardo:Ông cho rằng đất đai là yếu tố quan
trọng nhất và là giới hạn của tăng trưởng Khi sản xuất nông nghiệp giatăng trên những đất đai kém màu mỡ làm cho giá lương thực thực phẩmtăng lên tương ứng, lợi nhuận của nhà tư bản do đó mà giảm,dẫn đến sảnxuất trì trệ Từ đó ông đề ra phương pháp giải quyết bằng cách xuất khẩuhàng công nghiệp để mua lương thực rẻ từ nước ngoài hoặc phát triển côngnghiệp để tác động vào nông nghiệp
Việt Nam là nước có dân số đông, đất nông nghiệp ngày càng giảm về
số lượng lẫn chất lượng Từ thực tế đó, Việt Nam đã đầu tư sang côngnghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiệnđại hóa Trong những năm và cả giai đoạn trước mắt Đảng ta đã xác định
cơ cấu và phương hướng phát triển công nghiệp tập trung vào những nộidung sau :
- Công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh chiếm lĩnh thịtrường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu Một số ngành công nghiệp chếbiến nông, lâm, thủy sản, công nghiệp may mặc, da dày, điện tử, tin học,một số sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng có ưu thế Hiện nay tỷ trọng củangành này chiềm khoảng 80% trong giá trị gia tăng công nghiệp và 76%trong giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp, 53% trong tổng giá trị xuất khẩu
- Phát triển cơ sở quốc phòng cần thiết Kết hợp công nghiệp côngnghiệp quốc phòng với công nghiệp dân dụng
- Quy hoạch phân bổ có hiệu qủa các khu công nghiệp, khu chế xuất,xây dựng các khu công nghệ cao thành cụm khu công nghệ lớn, khu kinh tế
Trang 24mở đồng thời phát triển rộng các cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ, nhất làcông nghiệp ở nông thôn.
Dưới phương hướng phát triển công nghiệp như trên sản xuất côngnghiệp năm 2007 tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, nhất là khu vựcngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Giá trị sản xuất côngnghiệp năm 2007 theo giá so sánh 1994 tăng 17,1% so với năm 2006, baogồm khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10,3% (Trung ương quản lý tăng13,3%, địa phương quản lý tăng 3%); khu vực ngoài Nhà nước, tăng 20,9%;khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2% Nguyên nhân khu vực doanhnghiệp Nhà nước tăng thấp là do chúng ta đang tiếp tục thực hiện chủ trươngsắp xếp và cổ phần hoá nên số doanh nghiệp khu vực này giảm Khu vựcngoài Nhà nước vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ba khuvực, chủ yếu do Luật doanh nghiệp mới đã tạo điều kiện cho khu vực kinh tế
tư nhân phát triển
Công nghiệp chế biến chiếm 87,6% giá trị sản xuất toàn ngành, tăng19,1%; sản xuất, phân phối điện, ga và nước chiếm tỷ trọng 5,6%, tăng12,8%; công nghiệp khai thác mỏ chiếm 6,8%, giảm 1,1% so với nămtrước, chủ yếu do khai thác dầu thô giảm
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2007 tăng cao so với năm
2006 là: Máy công cụ tăng 69,8%; ô tô tăng 52,8%; điều hòa nhiệt độ tăng51,9%; động cơ điện tăng 24,3%; xe máy các loại tăng 23,9%; máy giặt tăng21,3%; bia tăng 19,2%; quạt điện tăng 18,6% Bên cạnh đó, có một số sảnphẩm tăng không cao, thậm chí còn bị giảm như: Thủy sản chế biến tăng12,6%; xi măng tăng 11,8%; than sạch tăng 11,5%; thép cán tăng 10,8%; dầuthô giảm 7,8%; khí hoá lỏng giảm 10,2%
Những địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp trên địa bàn lớn,năm nay vẫn đạt tốc độ tăng giá trị sản xuất cao hơn mức tăng chung17,1% của toàn ngành như: Vĩnh Phúc tăng 41,4%; Bình Dương tăng25,3%; Hà Tây tăng 25,1%; Cần Thơ tăng 23,4%; Đồng Nai tăng 22,4%;
Hà Nội tăng 21,4%; Đà Nẵng tăng 19,7%; Hải Phòng tăng 18,2% Riêngthành phố Hồ Chí Minh chỉ tăng 13,8% và Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 1,2%.Lĩnh vực nông nghiệp được hỗ trợ đầu tư để thúc đẩy nông nghiệpphát triển Để công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, Nhà nước đã điềuchỉnh quy hoạch và nâng cấp hệ thống thủy lợi, chú trọng điện khí hóa, cơgiới hóa nông thôn, áp dụng các tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất,thu hoạch, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp Vìthế, giá trị sản xuất của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2007theo giá so sánh 1994 đạt gần 200 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm
2006, trong đó nông nghiệp tăng 2,9%; lâm nghiệp tăng 1% và thuỷ sảntăng 11% Do ảnh hưởng của mưa bão, lũ ở nhiều địa phương và dịch bệnhtrên cây trồng, vật nuôi; chi phí đầu vào tăng, nhất là chi phí cho chăn nuôinên giá trị tăng thêm của khu vực này chỉ tăng 3,41% so với năm trước,
Trang 25gồm có nông nghiệp tăng 2,34%; lâm nghiệp tăng 1,1% và thủy sản tăng10,38% Tình hình sản xuất của các ngành cụ thể như sau:
Sản lượng lúa tính chung ba vụ đạt 35,87 triệu tấn, tăng 0,1% so vớinăm 2006, trong đó sản lượng lúa đông xuân 17,03 triệu tấn, giảm 3,2%(diện tích giảm 0,2%, năng suất giảm 3%); lúa hè thu 10,11 triệu tấn, tăng4,3% (năng suất tăng 9,6% bù lại diện tích giảm; lúa mùa 8,73 triệu tấn, tăng1,9% (năng suất tăng 2,1%, diện tích giảm nhẹ) Năm 2007 cũng là nămđược mùa ngô với sản lượng 4,11 triệu tấn, tăng tới 8,2% so với năm trước.Tính chung cả lúa và ngô thì sản lượng lương thực có hạt năm nay đạt gần
40 triệu tấn, tăng 0,8% so với năm 2006
Sản lượng nhiều loại cây công nghiệp hàng năm như đay, mía, lạc đậutương đều tăng so với năm trước, do tăng cả diện tích và năng suất Sảnlượng hầu hết cây có giá trị xuất khẩu cao như cao su, hồ tiêu, điều chètăng từ 8,3 đến 14,4% do mở rộng diện tích và tăng năng suất Riêng cây càphê, tuy diện tích tăng 1,9% nhưng do sâu bệnh nên năng suất thấp, kéotheo sản lượng giảm 2,4%
Chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển Tuy nhiên, tốc độ chănnuôi năm nay tăng không cao, chưa ổn định và thiếu đồng đều giữa các địaphương, đặc biệt bệnh dịch tai xanh đã làm chết nhiều gia súc Theo kếtquả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 01/8/2007, cả nước có gần 3 triệu contrâu, tăng 2,6% so với năm 2006; 6,7 triệu con bò, tăng 3,3%; 226 triệu giacầm, tăng 5,3% Tuy dịch lợn tai xanh đã được khống chế và dập tắt, nhưng
đàn lợn, chỉ có gần 26,6 triệu con, giảm 1,1% so với năm trước.
Dưới góc độ mô hình tân cổ điển :
Trường phái tân cổ điển cho rằng khoa học -kĩ thuật đóng vai tròquyết định trong phát triển kinh tế Dưới góc độ này Việt Nam đã bắt đầuchú trọng đầu tư vào khoa học công nghệ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
9 khẳng định: “phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, làđộng lực đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước’’ Bình quân giai đoạn 1996-2000đầu tư cho KHCN chỉ chiếm trên dưới 0,4%/GDP, trong đó vốn đầu tư từngân sách chiếm gần 70% Những năm sau đó tuy mức đầu tư có tăng lên
về số tuyệt đối nhưng tính theo số tương đối thì tỷ lệ đầu tư cho KHCN sovới tổng chi NSNN hầu như không tăng, đến năm 2001 tỷ lệ này được nânglên và đến năm 2003 đạt 2% tổng chi NSNN, xấp xỉ khoảng 5% GDP Cònđến năm 2006 thì đầu tư cho khoa học và công nghệ là 428 triệu đô la Mỹ,chiếm khoảng 0,17% GDP Hàng năm nguồn vốn của nhà nước cho khoahọc công nghệ khoảng 2% ngân sách và tiếp tục tăng đầu tư, huy động cácnguồn lực khác cho khoa học và công nghệ Đẩy mạnh hợp tác quốc tếtrong nghiên cứu khoa học công nghệ, thực hiện các chính sách bảo hộ trítuệ Có chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với các nhà khoa học có công trìnhnghiên cứu xuất sắc Chính vì thế đã thu được một số thành tự đáng kể,trong công nghiệp và xây dựng đã cải tiến một số dây chuyền sản xuất, xâydựng… Trong nông nghiệp ứng dụng một số thành tựu của công nghệ sinh
Trang 26học, đưa một số giống mới vào sản xuất đại trà cho năng suất cao, phẩmchất tốt.
3.Vai trò của đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển
Mở cửa đất nước để đón nhận những luồng gió mới nhằm chấn hưngnền kinh tế là chủ trương xuyên suốt trong công cuộc đổi mới của Đảng vàNhà nước Việt Nam Một năm ngay sau khi tiến hành công cuộc Đổi mới,Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài (FDI), tạo lậpmôi trường pháp lý để huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài phục vụ sựnghiệp phát triển đất nước Sau đó 7 năm, vào năm 1993, khi điều kiện đãchín muồi, Việt Nam đã nối lại quan hệ với cộng đồng tài trợ quốc tế vàtiếp nhận nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Nguồn vốn này cùngvới nguồn vốn FDI đã tạo thành các kênh vốn đầu tư từ bên ngoài có ýnghĩa quan trọng đối với Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xãhội của đất nước Kênh đầu tư trực tiếp (FDI) đạt được thành tựu ấn tượng,với mức thu hút vốn liên tục tăng cao sau các tháng
Những năm gần đây chúng ta chứng kiến sự gia tăng vượt bậc củavốn đầu tư Chỉ có 5 năm thôi (2003-2007) mà tổng số vốn FDI đăng ký đãgấp 7 lần với tốc độ tăng trưởng ở mức cao nhất là trong năm 2007,vượt xanhững dự đoán táo bạo nhất, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)vào Việt Nam tăng 100% so với năm trước
Bảng FDI thực hiện qua các năm
Nguồn : Tổng hợp của nhóm nghiên cứu.
Đối với nguồn vốn FDI, trong thời kỳ 1988 – 2007 (tính cuối năm2007), cả nước đã có hơn 9.500 dự án FDI được cấp giấy phép đầu tư vớitổng số vốn đăng ký đạt khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm) Trừ các
dự án hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn,hiện có hơn 8.590
dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 83 tỷ USD, trong đó vốn thựchiện đạt trên 43 tỷ USD, chiếm hơn 52,2% số vốn đăng ký Hơn 82 quốcgia và vùng lãnh thổ có các hoạt động đầu tư tại Việt Nam Cơ cấu vốn FDI
hỗ trợ đắc lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam, tập trung cho côngnghiệp và xây dựng (68,6% vốn thực hiện); Dịch vụ (24,5% vốn thực hiện)
và Nông lâm nghiệp (6,9% vốn thực hiện) Vốn FDI đã lan đến tất cả các
Năm FDI đăng ký(tỷ USD) so với năm trước (%)Tốc độ tăng
Trang 27tỉnh và thành phố, kể cả những địa phương nghèo, còn chậm phát triển nhưĐiện Biên, Lai Châu, Đắc Nông,…Vốn FDI đã đóng góp 18% tổng vốnđầu tư toàn xã hội tạo ra hơn 1,2 triệu việc làm trực tiếp, góp phàn chuyểndịch cơ cấu, nâng cao năng lực sản xuất, chuyển giao công nghệ
Không chỉ đơn thuần tăng về lượng, đạt mức kỷ lục chưa từng có(20,3 tỷ USD), mà nguồn vốn FDI thu hút trong năm qua còn tăng về chấtvới việc thu hút được nhiều dự án quy mô lớn, có ý nghĩa quan trọng, thuhút được công nghệ nguồn và công nghệ cao Điều này đã minh chứng mộtcách rõ nét về sức cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam đã đượcnâng cao Việt Nam đang trở thành điểm hấp dẫn đầu tư ở châu Á trongcon mắt của cộng đồng đầu tư quốc tế Qua kết quả khảo sát về triển vọngthu hút đầu tư của Hội nghị Thương mại và Phát triển liên hợp quốc(UNCTAD) vừa công bố, Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 6 trong tổng số
141 nền kinh tế được khảo sát (sau Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nga vàBrazil)
Cùng với việc gia tăng vốn đầu tư đăng ký mới, tình hình thực hiệncác dự án cũng đã có chuyển biến tích cực Tổng vốn ĐTNN thực hiệntrong cả năm đạt 4,5 tỷ USD, tăng 15,% so với năm trước Đây cũng làmức cao nhất từ trước tới nay cả về lượng vốn cũng như tốc độ tăngtrưởng
Có thể nói, con số 20,3 tỷ USD vốn FDI vào Việt Nam trong năm
2007 là kết quả tổng hòa của tất cả những nỗ lực trong 20 năm đổi mới, đặcbiệt là 10 năm trở lại đây Đây là thời kỳ đơm hoa kết trái sau những nỗ lựctrong cải thiện môi trường đầu tư của nước ta trong những năm qua Việc
áp dụng thống nhất Luật Đầu tư đối với cả đầu tư trong nước và đầu tưnước ngoài - phù hợp hơn với thực tiễn của đất nước và với thông lệ quốc
tế, đã tạo sự cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp Đồng thời, theo
đó, loại hình doanh nghiệp được mở rộng, đa dạng dễ dàng cho nhà đầu tưlựa chọn phù hợp với ý định kinh doanh của mình Đây cũng là thời kỳ mà
cơ sở hạ tầng đầu tư trong những năm qua đã bước đầu phát huy được tácdụng
Mặt khác, việc tăng cường phân cấp đã giúp cho các địa phương chủđộng, sáng tạo, linh hoạt trong công tác vận động thu hút và quản lý hiệuquả hoạt động ĐTNN Việc cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được triểnkhai đồng bộ trong bộ máy quản lý hoạt động đầu tư ở các địa phương theo
cơ chế liên thông một cửa và đã đạt kết quả bước đầu: thời gian cấp Giấychứng nhận đầu tư được rút ngắn
Đối với nguồn vốn ODA, Việt Nam hiện có trên 50 nhà tài trợ song
phương và đa phương đang hoạt động Tổng giá trị ODA cam kết của cácnhà tài trợ cho Việt Nam trong thời kỳ 1993-2007 đạt trên 42 tỷ USD vớimức cam kết năm sau cao hơn năm trước và đạt con số kỷ lục trên 5,4 tỷUSD trong năm 2007 Mức cam kết cao đã thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ
Trang 28của cộng đồng quốc tế đối với chính sách đúng đắn, hợp lòng dân của Đảng
và Nhà nước ta, coi Việt Nam là địa chỉ đầu tư đáng tin cậy Trong số vốnODA cam kết, 45% đã được giải ngân đã sử dụng để xây dựng hàng loạt cơ
sở hạ tầng kinh tế, xã hội quan trọng của quốc gia; giải quyết có hiệu quảcác vấn đề về xã hội như xoá đói giảm nghèo; phát triển y tế, giáo dục vàkhao học công nghệ; bảo vệ môi trường; cải cách hành chính, luật pháp; hỗtrợ một số lĩnh vực sản xuất Hàng loạt công trình đầu tư bằng nguồn vốnODA đến nay đã được đưa vào sử dụng, góp phần thúc đẩy tăng trưởngkinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Nếu xét trên bình diện tổng thể,trong 13 năm qua (1993 – 2006), nguồn vốn ODA đã hoà cùng với cácnguồn vốn trong nước, góp phần đưa tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của nước talên gấp 2,4 lần từ 3,5% năm 1993 lên 8,48% năm 2007; tỷ lệ đói nghèogiảm xuống một nửa; xuất khẩu tăng gấp 6 đến 7 lần… Bên cạnh những kếtquả đạt được mang tính định lượng nói trên, nguồn vốn ODA còn gián tiếp
hỗ trợ cho Việt Nam từng bước cải cách có hiệu quả các cơ chế, chính sáchquản lý kinh tế, góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện đầy đủ các cam kếtgiữa Việt Nam với cộng đồng các nhà tài trợ ODA Những kết quả trên đã
và đang tiếp tục khẳng định vị thế của Việt Nam trong việc sử dụng có hiệuquả nguồn vốn ODA đối với cộng đồng các nhà tài trợ ODA
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2007, Việt Nam cótốc độ giải ngân vốn ODA đạt gần 2 tỷ USD, vượt kế hoạch 5% so với mụctiêu đề ra Trong chuyến thăm Việt Nam gần đây, Chủ tịch Ngân hàng Thếgiới đã nhận xét: “Việt Nam là nước nhận nguồn vốn ODA lớn nhất và làquốc gia thành công nhất trong số các nước nhận ODA”
Đầu tư gián tiếp FPI vào Việt Nam trong thời gian gần đây cũng tăng
rất mạnh Biểu hiện rõ nhất là việc đầu tư vào thị trường chứng khoán củacác tập đoàn tài chính quốc tế trong thời gian qua đã không ngừng gia tăng.Đến cuối năm 2006, khoảng trên 2 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp đựoc công
bố thông qua các quỹ đầu tư chính thức Vào giữa năm 2007, lúc tổng vốnhóa thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam khoảng 20 tỉ đô la Mỹ(HOSE khoảng 15,5 tỉ, HASTC khoảng 4,5 tỉ), thì giá trị vốn hóa tính riêngcho đầu tư nước ngoài là gần 5 tỉ đô la Mỹ (khoảng 25% tổng thị trường).Cũng vào khoảng thời gian này, giới tài chính trong và ngoài nước đã đưa
ra con số ước đoán nguồn vốn FPI đầu tư vào TTCK Việt Nam trong năm
2007 có thể lên đến 2 tỉ đô la Mỹ Đến năm 2007, số quỹ đầu tư nước ngoàivào thị trường Việt Nam là khoảng trên 60, với số vốn mai phục khoảng 6
tỉ đô la Trong số đó, chỉ riêng ba quỹ là Dragon Capital, Vina Capital vàIndochina Capital đã có số vốn gần 4 tỉ đô la Mỹ Những thông tin vừa nêucho thấy nguồn vốn đầu tư tài chính nước ngoài đã tăng nhanh đáng kể,góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Trang 294 Đứng dưới mô hình các giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow.
Việt Nam đang trong giai đoạn chuẩn bị cất cánh, đây được coi là thời
kỳ quá độ giữa xã hội truyền thống và sự cất cánh Trong giai đoạn nàynhiều điều kiện cần thiết để cất cánh đã bắt đầu xuất hiện, đó là những hiểubiết về khoa học kỹ thuật đã bắt đầu được áp dụng vào sản xuất cả nôngnghiệp và công nghiệp Giáo dục được mở rộng và có những cải tiến đểphù hợp yêu cầu của sự phát triển Nhu cầu đầu tư tăng lên đã thúc đẩy sựhoạt động của ngân hàng và sự ra đời của các tổ chức huy động vốn Tiếp
đó giao lưu hàng hóa trong và ngoài nước tăng đã thúc đẩy sự hoạt độngcủa ngành giao thông vận tải, thông tin liên lạc
Ngành khoa học trong nước đã làm chủ được công nghệ sản xuấtgiống nhân tạo và công nghệ sản xuất một số loại thủy sản xuất khẩu chủlực của Việt Nam Một số địa phương đã triển trên diện rộng những kết quảkhoa học mới này Khoa học và công nghệ hướng vào việc giải quyếtnhững vấn đề lí luận và thực tiễn và dự báo những xu thế phát triển, cungcấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương phát triểnkinh tế xã hội, xây dựng con người, bảo vệ môi trường dự báo phòng chốngthiên tai KHCN hướng vào việc nâng cao năng suất lao động ,đổi mới sảnphẩm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, xây dựngnăng lực công nghệ quốc gia…
Để phát triển được một mức độ khoa học áp dụng vào thực tế thì nước
ta đã có những đầu tư thỏa đáng cho giáo dục đặc biệt từ năm 1985 dếnnay Giáo dục đại học, cao đẳng cũng ngày càng được mở rộng về quy môđào tạo, cơ sở vật chất ngày càng được nâng cấp, chương trình đào tạo dầndần được đổi mới Nền giáo dục đại học Việt Nam một mặt đã đáp ứng xuhướng thế giới là tiến tới phổ cập giáo dục đại học, mặt khác vẫn giữ nềntảng giáo dục tinh hoa
Trong những năm qua, để thúc đẩy giáo dục và đào tạo, nâng cao chấtlượng dạy và học, Nhà nước đã thực hiện xã hội hóa để huy động tiềmnăng của các thành phần kinh tế cho giáo dục và đào tạo Ngân sách Nhànước đầu tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng từ 15% năm 2000 lên 18%năm 2005 với cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụ trọng tâm của ngànhnhư đổi mới chương trình, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường giáo dục miềnnúi
Các dự án ODA trong giáo dục đào tạo cũng đã dành phần lớn chogiáo dục cơ bản và đang được triển khai với tổng vốn vay hàng trăm triệuUSD Việt Nam cũng đang tiến hành một dự án đặc biệt "Dự án giáo dụctiểu học cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn" với khoản kinh phí lớn nhằm tạomọi cơ hội, điều kiện cho những trẻ có hoàn cảnh khó khăn được đi học
Dự án đã được triển khai tại 219 huyện khó khăn thuộc 40 tỉnh trong cảnước với gần 15.000 điểm trường
Trang 30Bên cạnh đó, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách công bằng trongtiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn.Trước hết là ưu tiên đầu tư theo mục tiêu cho các địa bàn có nhiều khókhăn, phát hành công trái giáo dục để hỗ trợ cho các tỉnh miền núi, vùngkhó khăn xây dựng trường học kiên cố, đạt chuẩn chất lượng và thực hiệnxoá đói giảm nghèo, thông qua đó tạo nhiều cơ hội cho trẻ tiếp cận nhiềuhơn với dịch vụ giáo dục Hệ thống các trường phổ thông nội trú và bán trúđược củng cố và mở rộng với 13 trường trung ương, 50 trường tỉnh, 266trường huyện và 519 trường bán trú xã, cụm xã.
Năm 2000, Việt Nam đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cậptiểu học Từ năm học 2002-2003, tỷ lệ biết chữ của người lớn trong độ tuổi15-24 đã đạt gần 95%, số năm đi học trung bình của người dân đạt mức 7,3năm Việc dạy chữ dân tộc đã được đẩy mạnh ở các địa phương, nhờ đó tỷ
lệ người dân tộc thiểu số mù chữ giảm mạnh Phổ cập giáo dục tiểu học đãđạt được thành tích đáng kể ở tất cả các vùng miền trong cả nước ViệtNam được đánh giá là có tiến bộ nhanh hơn so với phần lớn các nước cóthu nhập thấp khác trên thế giới trong việc khắc phục những sự chênh lệch
về giới và về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi.Tỷ lệ học sinh tiểu học nhập họcđúng độ tuổi đã tăng từ 90% trong thập niên 1990 lên gần 98% trong nămhọc 2004-2005 Nếu như năm học 1997-1998, tỷ lệ học sinh hoàn thànhbậc tiểu học đạt 68% thì đến năm học 2004-2005, tỷ lệ này đã đạt từ 99%-100% ở các vùng miền và tăng nhanh ở khu vực Tây Nguyên
Các trường lớp của Việt Nam đã và đang phấn đấu đạt chuẩn quốcgia, tiêu chuẩn về hạ tầng cơ sở đảm bảo cho việc dạy và học có chất lượngtương đương với các nước khác trong khu vực Hiện tại, cả nước đã có gần
500 trường mầm non, gần 3.200 trường tiểu học, trên 400 trường trung học
cơ sở và phổ thông trung học đạt trường chuẩn quốc gia
Để tiến lên giai đọan cất cánh, Việt Nam đầu tư vào một số ngành
công nghiệp mũi nhọn, tạo điều kiện phát triển các ngành có lợi thế sosánh, đầu tư cho ngành nghề đó để xuất khẩu ra nước ngoài Ở Việt Namhiện nay xác định 10 ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn Theo đó, cảnước chỉ có 3 ngành công nghiệp mũi nhọn là cơ khí chế tạo (ô tô, đóngtàu, thiết bị toàn bộ, máy nông nghiệp, cơ điện tử); thiết bị điện tử, viễnthông và công nghệ thông tin; sản phẩm từ công nghệ mới (năng lượngmới, năng lượng tái tạo, công nghiệp phần mềm, nội dung số) 7 ngànhcông nghiệp ưu tiên là dệt may, da giày, nhựa, chế biến nông lâm thủy sản,khai thác chế biến bauxit nhôm, thép, hóa chất Các ngành công nghiệp nóitrên được ưu tiên bố trí đủ nhu cầu về đất khi đầu tư, được hỗ trợ xúc tiếnthương mại năm 2007,tỷ trọng hàng công nghiệp, hàng chế biến xuất khẩunăm 2007 chiếm 40,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Trang 315 Đầu tư đúng hướng, khai thác được lợi thế, tăng giá trị xuất khẩu.
Trong những năm qua Việt Nam đã phát triển ngành công nghiệp theohướng khai thác những lợi thế vốn có của đất nước như nguồn nguyên liệuthô sẵn có, nhân lực dồi dào Các ngành công nghiệp được ưu tiên pháttriển đã tăng trưởng khá mạnh, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước màcòn có giá trị xuất khẩu cao, thu về nguồn ngoại tệ cho đất nước Tổng kimngạch xuất khẩu đã tăng lên đáng kể theo từng năm
Trang 32Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu theo năm
Đơn vị tính: Triệu USD
cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng Tuy nhiên tỉ lệ nhập siêu cũng tăng lênđáng kể, vì vậy cần có những có chính sách để tăng giá trị xuất khẩu vàgiảm giá trị nhập khẩu
III NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI CỦA ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM.
1 Hạn chế của đầu tư.
1.1 Giải ngân thấp ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển.
Với một quốc gia đang phát triển nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốnrất lớn Tuy nhiên, thực tế hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của Việt Namhiện nay đến đâu? Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: "Ở Việt Nam,tồn tại một nghịch lí là nước nghèo nhưng không biết tiêu tiền hợp lí, gâylãng phí"
Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tổng vốn đầu
tư FDI đăng ký trong năm nay đạt 20,3 tỷ USD, mức kỷ lục trong 20 nămqua (1998-2007) từ khi Việt Nam thực hiện mở cửa thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI) Tuy nhiên, trong số 20,3 tỷ USD này, mới chỉ khoảng4,6 tỷ USD (chiếm 30%) được đưa vào thực hiện “Điều này cho thấynhiệm vụ cho những năm tiếp theo của chúng ta là tập trung cho giải ngânFDI”, đại diện Cục Đầu tư nước ngoài cho hay
B ng FDI ảng FDI đăng ký qua các năm đăng ký qua các nămng ký qua các n măng ký qua các năm
Năm (tỷ đồng)FDI Giải ngân(tỷ đồng) trọng(%)Tỷ
Trang 33Dựa vào bảng ta thấy vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay chính là tỷ lệgiải ngân nguồn vốn trong những năm gần đây đã giảm rất mạnh Nếu nhưnăm 2000, vốn cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 2,6 tỉ USD và
tỷ lệ vốn thực hiện lên tới 92,3% thì đến năm 2006, tỷ lệ vốn thực hiệngiảm còn 41% và sang đến 2007 thì vốn thực hiện giảm xuống còn 22,6%.Chúng ta đang đứng trước một vấn đề là vốn cam kết lớn nhưng năng lựcgiải ngân không theo kịp Tốc độ giải ngân không theo kịp nguồn tiền đổvào khiến chúng ta đang đứng trong một vòng luẩn quẩn Ngân hàng sẽtăng lãi suất huy động dẫn đến việc tăng lãi suất cho vay Gánh nặng này đèlên vai các doanh nghiệp và họ "chia sẻ" nó sang hàng hóa, sản phẩm, dịchvụ khiến cho giá cả tăng vọt và kẻ chịu trận cuối cùng chính là người tiêudùng
Hiện đang có rất nhiều yếu kém tác động đến việc thực hiện cam kếtcũng như tốc độ giải ngân các nguồn tiền đang đổ vào Việt Nam Cụ thể,kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu trầm trọng đường cao tốc, bến cảngcontainer, kẹt xe Nếu như ở Singapore chỉ mất 2 tiếng đồng hồ để chuchuyển một container thì ở VN phải mất tới 7 ngày Lợi thế giá nhân côngthấp bị giảm hấp dẫn vì thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực chất lượngcao Trong 1 năm qua, mức lương các nhân sự quản lý của Việt Nam đãtăng 34% bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng này
Một trong những “rào cản” mới nổi đối với giới đầu tư nước ngoàichính là tiếp cận đất đai Đã có không ít lời than phiền của các nhà đầu tư,rằng đó là một thị trường không minh bạch, thiếu an toàn, khó tìm kiếm vàquá phức tạp khi mua bán, chuyển nhượng Bên cạnh đó, rất nhiều các yếu
tố khác, như cơ sở hạ tầng hạn chế, tình trạng thiếu điện, đình công lanrộng vốn đã trở thành vấn đề “biết rồi, khổ lắm ” vẫn chưa biết khi nàomới được khắc phục Những hạn chế đó đã gây khó khăn kéo dài, tạo áplực ngày càng lớn đối với việc giải ngân vốn FDI
Ông Đặng Thành Tâm, thành viên của hội đồng tư vấn quốc giaAPEC, chủ tịch tập đoàn đầu tư Sài Gòn - DN đang sở hữu tới 20 khu côngnghiệp trên khắp Việt Nam cho biết, chúng ta đang gặp rất nhiều rào cản.Thiếu điện là vấn đề hết sức nghiêm trọng Theo quy hoạch phát triển điệncủa Việt Nam đến 2020, chúng ta phải có 100 tỷ USD đầu tư để có 100ngàn MGW điện Trong đó, Chính phủ chỉ lo cho TCty Điện lực Việt Namtối đa 30% số đó, tức là 70% còn lại là trông chờ vào các DN tư nhân củaViệt Nam và nước ngoài Điện đã trở thành vấn đề vô cùng bức xúc.Những năm vừa qua đã thiếu hụt rồi, nay đầu tư càng nhiều thì sẽ càngthiếu hụt Các nhà đầu tư nước ngoài đến với chúng tôi đặc biệt than phiền