1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MÔ HÌNH NHTW THẾ GIỚI và VIỆT NAM

9 436 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 52,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Quyết định trong việc thực thi các chính sách nên tăng tính chủ động và giảm độ trễ của chính sách tiền tệ - Có thể từ chối trong mục tiêu thâm hụt ngân sách - Tự chủ về cơ chế tổ chức

Trang 1

I Mô hình của Ngân hàng Trung ương (NHTW) trên thế giới)

1 Mô hình NHTW độc lập với chính phủ:

Mô hình NHTW độc lập với chính phủ là mô hình trong đó NHTW không chịu sự quản lý của chính phủ mà là của quốc hội Quan hệ giữa NHTW và chính phủ là quan hệ hợp tác

 Ưu điểm:

NHTW có toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác

NHTW do có vai trò hết sức quan trọng tới đời sống kinh tế nên không thể ddặt dưới quyền Chính phủ được mà phải do quốc hội kiểm soát

- Tăng hiệu quả của mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinht ế, giảm thâm hụt ngân sách và ổn định hệ thống tài chính

- Được giảo quyền lựa chọn mục tiêu mà không chịu sự can thiệp chỉ ạo

từ Chính phủ hay cơ quan liên quan khác: rõ ràng, cụ thể và thống nhất

- Quyết định trong việc thực thi các chính sách nên tăng tính chủ động

và giảm độ trễ của chính sách tiền tệ

- Có thể từ chối trong mục tiêu thâm hụt ngân sách

- Tự chủ về cơ chế tổ chức và cơ chế tài chính nhân sự

- Trách nhiệm giải trình đầy đủ và minh bạch

Trang 2

Các NHTW theo mô hình này là ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ, NHTW Thụy Sĩ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản và gần đây là NHTW Châu Âu Mô hình NHTW Châu Âu là một mô hình ngân hàng hoạt động theo mô hình ngân hàng trung ương Đức mà về cơ chế hoạt động của mô hình này là NHTW độc lập với Chính phủ nhưng điểm đặc biệt là NHTW chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ của 13 quốc gia thuộc khu vực đồng tiền chung euro

 Nhược điểm:

Tuy nhiên, không phải tất cả các NHTW được tỏ chức theo mô hình này đều đảm bảo được sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của chính phủ khi điều hành chính sách tiền tệ mức độ độc lập của mỗi NHTW phụ thuộc vào sự chi phối của người đứng đầu nhà nước vào cơ chế lập pháp và nhân sự của NHTW NHTW khó tránh khỏi sự chi phối chính trị và sự thực hiện hài hòa giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa

2 Ngân hàng trung ương thuộc chính phủ:

Mô hình NHTW thuộc Chính phủ là mô hình trong đó ngân hàng trung ương nằm nội các chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của chính phủ về nhân sự, về tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ

Theo mô hình này, NHTW là một bộ máy của chính phủ, là một cơ quan chức năng của Chính phủ, chịu sự kiểm soát toàn diện của Chính phủ và thực hiện mọi chính sách thể chế của chính phủ

Sự đề xuất NHTW trực thuộc chính phủ xuất phát từ quan điểm cho rằng tiền tệ là một bộ phận của chính sách cai trị về tài chính, tiền tệ là phương diện của chính quyền

Trang 3

 Ưu điểm:

Theo mô hình này, chính phủ có thể dễ dàng phối hợp chính sách tiền

tệ của NHTW đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo mức độ và liều lượng tác động hiệu quả của tổng thể các chính sách đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ Mô hình này được xem là phù hợp vưới yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kỳ tiền phát triển

Tuy nhiên, không phải tất cả các NHTW được tổ chức theo mô hình này đều đảm bảo được sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của chính phủ khi điều hành chính sách tiền tệ Mức độ độc lập của mỗi ngân hàng trung ương phụ thuộc vào sự chi phối của người đứng đầu nhà nước vào cơ chế lập pháp và nhân sự của NHTW NHTW khó tránh khỏi sự chi phối chính trị và sự thực hiện hài hòa giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa

 Nhược điểm:

Điểm hạn chế chủ yếu của mô hình là ngân hàng trung ương sẽ mất đi

sự chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tiền tệ Sự phụ thuộc vào chính phủ có thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế

Các nước đang sử dụng mô hình này: phần lớn là các nước Đông Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Việt Nam,…) hoặc các nước thuộc khối XHCN trước đây

3 Mô hình NHTW trực thuộc Bộ Tài Chính:

Trang 4

 Ưu điểm:

Đây là loại mô hình kế thừa truyền thống cũ, khi Bộ tài chính còn làm nhiệm vụ phát hành tiền quốc gia Mô hình này xuất hiện đầu tiên ở Pháp, Anh, sau đó là các nước Malaysia, Thái Lan, Indonesia,… Người ta lần lượt từ bỏ mô hình này bởi vì cơ quan phát hành tiền trực thuộc Bộ Tài chính thì khả năng sử dụng công cụ phát hành bù đắp thiếu hụt ngân sách ngày càng dễ dàng

 Nhược điểm:

Cơ chế này tự nó tạo ra mâu thuẫn giữa một cơ quan thực hiện nhiệm

vụ của ngân sách với một cơ quan quản lý phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ Hay nói cách khác cơ chế này tự tạo ra mâu thuẫn giữa một cơ quan thực hiện nhiệm vụ của ngân sách “lấy thu để thực hiện chi tiêu” với một cơ quan quản lý phát hành tiền và điều khiển lượng tiền cung ứng

Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, nhưng hoạt động quản lý của ngân hàng trung ương khác về tính chất so với hoạt động quản lý của các Bộ Bởi vì việc quản lý của NHTW không chỉ bằng pháp luật mà còn dược thực hiện bằng cơ chế nghiệp vụ mang tính chất knh doanh, thực chất đó là những công cụ điều khiển

vĩ mô không vì mục đích lợi nhuận Hai mặt quản lý và kinh doanh gắn liền với nhau mà trong đó hoạt động kinh doanh chỉ là phương tiện để thực hiện mục tiêu quản lý

II Mô hình NHTW ở Việt Nam

Trang 5

Nếu hệ thống ngân hàng được ví là huyết mạch thì NHTW chính là trái tim của nền kinh tế Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi có một NHTW thực hiện tốt chức năng điều tiết hệ thống tiền tệ Ngược lại, những trục trặc trong hoạt động của NHTW cũng có thể gây ra những cú “đột quỵ” đối với cả nền kinh tế Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, NHTW cũng đều đóng vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội

1 Lịch sử hình thành ngân hàng nhà nước Việt Nam:

1951 – 1954: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạt động độc lập

tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên: Phát hành giấy bạc Ngân hàng, thu hồi giấy bạc Tài chính, Thực hiện quản lý Kho bạc Nhà nước, Phát triển tín dụng ngân hàng

1955-1975: cả nước kháng chiến chống Mỹ, Ngân hàng Quốc gia thực hiện những

nhiệm vụ cơ bản sau: Củng cố thị trường tiền tệ, Phát triển công tác tín dụng

1875 -1985: Ngân hàng Quốc gia của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã được

quốc hữu hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường

1986 đến nay: Tháng 5/1990: Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp

lệnh về ngân hàng (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) Sự ra đời của 2 Pháp lệnh Ngân hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp, trong đó Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng trung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật

2 Mô hình hiện nay của NHTW:

Ngày 16/6/2010 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt

Trang 6

động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm sự an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Nguyên nhân lựa chọn mô hình:

Xét về bản chất của NHTW: NHTW vừa thực hiện chức năng độc quyền phát hành giấy bạc Ngân hàng vào lưu thông, vừa thực hiện quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ - tính dụng – ngân hàng Tức mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương

là cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, điều hòa lưu thông tiền tệ và quản lý hệ thống ngân hàng, nhằm đảm bảo cho lưu thông tiền tệ ổn định, tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm và kiểm soát lạm phát

Dựa vào chức năng của NHTW, ta thấy ở bất cứ mô hình nào NHTW cũng có chức năng độc quyền phát hành tiền giấy, nên tiêu thức phát hành độc quyền giấy bạc Ngân hàng bị loại trừ

Dựa vào chức năng điều hành lưu thông tiền tệ, quản lý hệ thống Ngân hàng, ổn định kinh tế vĩ mô hay vấn đề được bàn luận sôi nổi hiện nay là kiềm chế lạm phát thì ở mỗi mô hình lại cho một kết quả khác nhau

Về tiêu thức phân biệt giữa các mô hình tựu chung lại chính là sự độc lập của NHTW với chính phủ

Chúng ta sẽ dựa trên hai tiêu thức trên nhằm liên hệ với mô hình NHTW tại Việt Nam

Mối liên hệ của hai tiêu thức trên là gì, đó chính là sự độc lập của NHTW sẽ ảnh hưởng đến khả năng quản lý ổn định kinh tế vĩ mô của NHTW Thật vậy, điều này

đã được chứng minh bằng thực tiễn và có nhiều công trình nghiên cứu đã đề

cập.tới vấn đề này Không nói đâu xa, ngay trong sách giáo trình Tài chính tiền tệ - chủ biên: Pgs.ts Sử Đình Thành+pgs.ts Vũ Thị Minh Hằng đã nêu 1 công trình nghiên cứu đáng giá, đó là công trình của Alberto Allesina và Lawrence Summers

Và công trình của Pollard

Nhưng độc lập không có nghĩa là tách ra khỏi Chính phủ, mà nó thể hiện bởi 3 tiêu thức cơ bản là mức độ quyết định của NHTW trong hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ, mức độ tự chủ về ngân sách, ảnh hưởng của áp lực chính trị tác động

Trang 7

vào các vấn đề tổ chức và hoạt động của NHTW Tính độc lập sẽ khác với việc hiểu đơn giản là độc lập về mặt vị thế

(Nêu ví dụ về áp lực chính trị mà hiện nay NHTW phải đảm nhận, như phát nhanh nhưng bền vững, giảm lạm phát đồng thời hạ lãi suất …)

Việc lựa chọn mô hình nào, NHTW độc lập như thế nào không những chỉ dựa vào những tiêu thức trên mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của từng nước

Nước ta có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “Kinh tế thị

trường” mang tính khách quan, “định hướng xã hội chủ nghĩa” mang tính chủ quan, để đưa một sự việc khách quan thành chủ quan cần có sự tác động của một chủ thể bên ngoài và đó không ai khác chính là chính phủ, điều này càng xác định

rõ hơn việc lựa chọn mô hình NHTW của nước ta Để đạt được mục tiêu chiến lược của quốc gia thì việc NHTW trực thuộc chính phủ là … hợp lý! Tuy nhiên không vì lựa chọn mô hình này mà ta làm lơ với sự độc lập của NHTW, nếu không chúng ta sẽ phải chịu hậu quả nặng nề trước sự biến động không ngừng của thị trường tài chính nói riêng hay cả nền kinh tế toàn cầu nói chung Để tồn tại trước những chấn động không ngừng này bắt buộc NHTW phải có phản ứng nhanh nhạy trước những biến động đó, mà sự nhanh nhạy, linh hoạt này lại gắn liền với sự độc lập của NHTW Do đó dù lựa chọn mô hình NHTW trực thuộc chính phủ thì cũng rất cần thiết nâng cao tối đa tính độc lập của NHTW, bởi có thế NHTW mới đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô hiệu quả, đặc biệt trong giai đoạn kiềm chế lạm phát hiện nay Theo một nghiên cứu được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố vào tháng 12/2004, về cơ bản, các NHTW trên thế giới được phân thành 4 cấp độ độc lập tự chủ gồm:

 Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động

 Độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động

 Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành

 Độc lập tự chủ hạn chế

Lợi ích từ việc sử dụng mô hình NHTW trực thuộc chính phủ của Việt Nam:

 Tạo được sự đồng bộ trong mục tiêu phát triển kinh tế với chính phủ

 Tương lai để tăng cường hiệu quả hoạt động của NHNN với tư cách là một NHTW trong nền kinh tế thị trường, việc nâng cao tính độc lập của NHNN là hết sức cần thiết do đó việc sử dụng mô hình này chính

Trang 8

là nền tảng cho những thay đổi mang tính độc lập hơn của NHTW sau này

 Giúp chính phủ thuận lợi trong việc hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, giảm thâm hụt ngân sách cho chính phủ

 Tạo niềm tin vào hệ thống ngân hàng

Hạn chế từ việc sử dụng mô hình:

 Điểm hạn chế chủ yếu của mô hình là NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ Sự phụ thuộc vào chính phủ có thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế, thẩm quyền của NHNN trong xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) còn hạn chế, NHNN có mức độ độc lập thấp và chịu sự can thiệp hành chính toàn diện của Chính phủ

 Về lí thuyết khi áp dụng mô hình NHTW trực thuộc chính phủ thì tỷ lệ lạm pháp khó duy trì ở tỷ lệ thấp hơn là mô hình độc lập với chính phủ

vì chính phủ có thể lợi dụng NHTW để bù đắp thâm hụt ngân sách

 Chính phủ là nơi quyết định chính sách (cả về mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động) cũng như can thiệp vào quá trình triển khai thực thi CSTT Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của NHTW, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền Đây chính là trường hợp của NHNN Việt Nam hiện nay và trên thực tế thì mức độ độc lập tự chủ này đã bắt đầu bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập Làm giảm tính linh hoạt trong việc điều hành thực hiện CSTT quốc gia, thậm chí đôi khi gây ra sự chậm trễ trong chính sách phản ứng trước các diễn biến khó lường trên thị trường tài chính tiền tệ ảnh hưởng đến

sự ổn định của đồng tiền

 Vì là cơ quan của Chính phủ nên có khi NHNN phải thực hiện những nhiệm vụ không phù hợp với mục tiêu của CSTT, chẳng hạn như tái cấp vốn để khoanh, xoá nợ các khoản vay của NHTM Nhà nước như vậy NHNN Việt Nam chỉ được coi là cơ quan quản lý hành chính nhà nươc, giống như các bộ khác chứ không phải là thiết chế đặc biệt dù tổ chức, hoạt động của NHNN ảnh hưởng rất lớn đến tính an toàn của hệ thống ngân hàng, sự ổn định của giá trị đồng tiền, an ninh tiền tệ của 1 quốc gia

Ngày đăng: 26/09/2018, 20:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w