Thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” lần đầu tiên được đưa ra trong Hội nghịlập hiến Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1787.Những chính trị gia đầu tiên khởisướng và cổ vũ cho tư tưởng giám sát Hiến p
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 2
1 Tính cấp thiết của đề tài: 3
2 Mục đích nghiên cứu: 4
3 Phạm vi nghiên cứu : 4
4 Tình hình nghiên cứu: 4
5 Phương pháp nghiên cứu: 5
6 Bố cục đề tài: 5
CHƯƠNG I 6
KHÁI QUÁT VỀ HIẾN PHÁP VÀ CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP 6 1 Một số vấn đề lý luận về Hiến pháp và cơ chế giám sát Hiến pháp 6
1.1 Sự ra đời của Hiến pháp trong lịch sử 6
1.2 Khái niệm giám sát Hiến pháp, cơ chế giám sát Hiến pháp 6
Giám sát Hiến pháp: 6
1.3 Sự cần thiết phải có cơ chế giám sát Hiến pháp 9
1.4 Đối tượng giám sát Hiến pháp 14
1.5 Chủ thể giám sát Hiến pháp 15
1.6 Hậu quả pháp lý khi thực hiện hoạt động giám sát Hiến pháp 16
2 Mô hình giám sát Hiến pháp của một số nước trên thế giới 17
2.1 Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung (Decetrallised Constitutional control) 18
2.2 Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung 18
2.3 Mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp (Mô hình bảo hiến hỗn hợp kiểu Âu-Mỹ) 19
2.4 Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan giám sát Hiến pháp 20
CHƯƠNG II 22
THỰC TRẠNG CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 22
I Cơ chế giám sát Hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam 22
1 Hiến pháp 1946 22
2 Hiến pháp 1959 23
3 Hiến pháp 1980 25
4 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) 26
II Thực trạng giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay 37
1 Về hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội 38
2 Về hình thức giám sát văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm soát nhân dân tối cao: 39
Trang 23 Về hình thức giám sát thông qua việc thành lập các đoàn giám sát tại địa
phương 40
4 Về hình thức giám sát giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của nhân dân 40
5 Về hình thức xét báo cáo 40
6 Tình trạng cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội 41
III Những vấn đề đặt ra từ thực trạng của việc thực hiện pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội 44
1 Thứ nhất, đổi mới nhận thức lý luận và thực tiễn về quyền giám sát tối cao và chức năng của Quốc hội 44
2 Thứ hai, thực hiện pháp luật về giám sát tối cao của Quốc hội cần quán triệt các quan điểm chính sau 45
3 Thứ ba, tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật hoạt động giám sát của Quốc hội… 45
IV.Định hướng hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay……….47
1 Các quan điểm về mô hình cơ quan giám sát Hiến pháp 47
2 Một số kiến nghị hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp 50
2.1 Vị trí tính chất của Tòa án Hiến pháp 50
2.2 Cơ cấu, tổ chức của Tòa án Hiến pháp 50
2.3 Thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp 51
2.4 Trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp, vi phạm Hiến pháp 52
2.5 Hậu quả pháp lý của các phán quyết của Tòa án Hiến pháp 52
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
LỜI CẢM ƠN 62
Trang 3Lời nói đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong bối cảnh xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xãhội dân chủ ở nước ta hiện nay, quyền con người và các quyền công dân luôn đượcđặt ở vị trí trung tâm,đồng thời là sự giới hạn cho sự can thiệp của nhà nước Điều
2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” Nói đến nhà nước pháp quyền không thể
không nhắc đến Hiến pháp và ngược lại Công cuộc xây dựng Nhà nước phápquyền đã và đang đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi chung cho toàn xã hội
Một trong những yêu cầu quan trọng là Hiến pháp trong Nhà nước phápquyền phải được tôn vinh là văn bản có giá trị pháp lý tối cao, làm nền tảng choviệc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước.Để thực hiện sứ mệnh này cơ chếgiám sát Hiến pháp ra đời nhằm bảo đảm việc thực hiện có hiệu quả nguyên tắcphân quyền mà Hiến pháp đã ghi nhận nhằm hạn chế quyền lực nhà nước vàhướng tới mục tiêu cuối cùng là bảo vệ quyền con người
Tại Việt Nam cùng với sự ra đời và phát triển của các bản Hiến pháp, cơchế giám sát Hiến pháp cũng được xây dựng và không ngừng hoàn thiện Tuynhiên có một thực tế phải thừa nhận các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn
đề này còn khá tản mạn, rời rạc ở các văn bản khác nhau, chủ thể thực hiện hoạtđộng giám sát được giao cho nhiều cơ quan, cá nhân mà thiếu đi một thiết chếchuyên trách, một cơ chế hữu hiệu thực hiện hoạt động giám sát
Thực tiễn đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp và sớmthành lập cơ chế tài phán xử lý các hành vi vi phạm Hiến pháp Trong xu thếchung đó em đã chọn đề tài “Cơ chế giám sát Hiến Pháp ở Việt Nam – Thực trạng
và kiến nghị” làm đề tài nghiên cứu để hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp Do thờigian tiếp cận thực tế chưa nhiều, kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu các văn
Trang 4bản luật có liên quan còn rất hạn chế, do đó không tránh khỏi những sai lệch vànhững thiếu sót Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô khác,cũng như mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của tất cả những ai quan tâmđến đề tài.
2 Mục đích nghiên cứu:
Thông qua cương lĩnh chính trị năm 1991 và ghi nhận tại Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) xác định vấn đề cấp bách hiện nay đặt ra trongnhà nước pháp quyền là mô hình và lộ trình thực hiện cơ chế giám sát Hiến pháp ởViệt Nam phải được nghiên cứu một cách quy mô và thận trọng Qua đề tài này,
em sẽ khái quát tầm quan trọng của cơ chế giám sát và nhu cầu cần thiết phải hoànthiện cơ chế này, đề tài cũng phân tích thực trạng thực hiện cơ chế giám sát quabốn bản Hiến pháp và dự thảo hiến pháp 1992 sửa đổi 2013 để rút ra những hạnchế còn vướng mắc Đồng thời đề tài còn nêu ra phương hướng hoàn thiện cơ chếgiám sát Hiến pháp trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền
3 Phạm vi nghiên cứu :
Khái quát sơ lược về Hiến pháp và cơ chế giám sát Hiến pháp, khẳng địnhtính tối cao của Hiến pháp và nêu lên sự cần thiết phải có cơ chế giám sát Hiếnpháp Phân tích cơ bản các quy định của bốn bản Hiến pháp, dư thảo hiến pháp
1992 sửa đổi 2013 và những quy định của pháp luật hiện hành về cơ chế giám sátHiến pháp Đồng thời rút ra những thành tựu và hạn chế trong vấn đề thực hiện cơchế giám sát Hiến pháp và đưa ra phương hướng hoàn thiện qua việc đề xuất thànhlập Tòa án Hiến pháp độc lập trên cơ sở tham khảo mô hình giám sát Hiến phápcủa các quốc gia trên thế giới
4 Tình hình nghiên cứu:
Cơ chế giám sát Hiến pháp là một đề tài rất được nhiều nhà khoa học quantâm đây là đề tài mà hiện nay đang còn rất nhiều quan điểm về mô hình giám sátHiến pháp.Trong thời gian qua đã có nhiều cuộc hội thảo về cơ chế giám sát Hiến
Trang 5pháp được diễn ra: Hội thảo khoa học quốc tế - Kinh nghiệm quốc tế và mô hìnhtài phán Hiến pháp ở Việt Nam ở Hà Nội vào tháng 5 năm 2007 ; Hội thảo quốc tế
về Bảo Hiến cũng diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 3 năm 2009.Vấn
đề này cũng được sách báo đưa tin…và trong thư viện trường đại hoc Luật Thànhphố Hồ Chí Minh đã những khóa luận tốt nghiệp về đề tài này và một vài Đề tàinghiên cứu khoa học
5 Phương pháp nghiên cứu:
Khi nghiên cứu đề tài này em sử dụng tổng hòa các phương pháp tổng hợp, sosánh, phân tích, thống kê dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh để nghiên cứu
6 Bố cục đề tài:
Kết cấu của tiểu luận gồm:
Mục lục
Lời nói đầu
Nội dung tiểu luận
Chương I: Khái quát về Hiến pháp và cơ chế giám sát Hiến pháp
Chương II: Thực trạng cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam và hướng hoànthiện
Kết luận
\\Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 6CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ HIẾN PHÁP VÀ CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP
1 Một số vấn đề lý luận về Hiến pháp và cơ chế giám sát Hiến pháp 1.1 Sự ra đời của Hiến pháp trong lịch sử.
Trên phương diện lịch sử Hiến pháp ra đời và tồn tại rất lâu Trong các nhà nướcphương Tây, La Mã Cổ đại, phương đông tên gọi “Hiến pháp” với những ý nghĩakhác nhau Nhưng ngày nay, Hiến pháp với tính chất là đạo luật cơ bản của mỗiquốc gia quy định tổ chức quyền lực nhà nước, quy định các quyền và nghĩa vụ cơbản của công dân chỉ tồn tại hơn hai trăm năm trở lại đây gắn liền với thời kỳ cáchmạng tư sản giành chính quyền đấu tranh chống chế độ phong kiến chuyên chế Vìvậy, Hiến pháp được xem là sản phẩm của cuộc cách mạng tư sản Ở đâu cáchmạng tư sản giành được thắng lợi hoàn toàn, thì ở đó quyền lực chính trị đượcchuyển giao toàn bộ cho giai cấp tư sản mà Hiến pháp là một văn bản ghi nhận
Văn bản có tính chất Hiến pháp đầu tiên ra đời trong cách mạng tư sản ởnước Anh (1640-1654) về “ Hình thức cai quản nhà nước Anh, Xcốtlen, Ailen vànhững địa phận thuộc chúng” Tiếp đến là các bản Hiến pháp Hoa kỳ năm 1787(Hiến pháp thành văn đầu tiên của nhân loại), Hiến pháp của Pháp và Hiến phápBalan năm 1791 đến cuối thế kỷ thứ XVIII, ở nhiều nước Châu Âu đã có Hiếnpháp và sự ra đời của các bản Hiến pháp trên đánh dấu bước khởi đầu cho lịch sửlập hiến của nhân loại Sự hiện diện của Hiến pháp được xem là dấu hiệu pháp lýkhông thể thiếu của một nhà nước dân chủ hiện đại nên hầu như quốc gia nào cũng
có bản Hiến pháp riêng cho mình, bất luận là Hiến pháp thành văn hay bất thànhvăn Bởi lẽ Hiến pháp với ý nghĩa pháp lý quan trọng và nội dung mang tính nhânquyền và là cơ sở làm pháp sinh vấn đề giám sát Hiến pháp
1.2 Khái niệm giám sát Hiến pháp, cơ chế giám sát Hiến pháp
Giám sát Hiến pháp:
Trang 7Thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” lần đầu tiên được đưa ra trong Hội nghị
lập hiến Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1787.Những chính trị gia đầu tiên khởisướng và cổ vũ cho tư tưởng giám sát Hiến pháp là Wilson, Madison, Hamilton.Với mục đích nhằm kiềm chế quyền lập pháp của Quốc Hội liên bang, đảm bảocho các nhánh quyền khác có những quyền hạn tự bảo vệ khi cần thiết, chính trịgia đề nghị trao cho Tòa án quyền bãi bỏ dự luật do Quốc Hội liên bang thông qua.Theo mô hình của Mỹ, giám sát Hiến pháp còn có tên gọi khác là “giám sát tưpháp” (judicial review), được hiểu là thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xéttính hợp hiến của các đạo luật được ban hành bởi các cơ quan hoặc các cấp chínhquyền khác nhau.Ở Châu Âu, thuật ngữ “giám sát Hiến pháp”được sử dụng phổbiến vào những năm đầu thế kỷ XX Người đầu tiên khởi xướng tư tưởng giám sát
tư pháp Hiến pháp là luật gia người đức H.Kelsen Giám sát Hiến pháp ở Châu Âucòn có tên gọi là “giám sát tính hợp hiến” và được định nghĩa “Giám sát tính hợphiến là nguyên tắc theo đó Tòa án có thể tuyên bố các đạo luật được thông qua bởi
cơ quan lập pháp và cả cơ quan hành pháp là vi phạm Hiến pháp Tòa án có thểhủy bỏ các đạo luật vi phạm đến các quyền cơ bản của con người được quy địnhtrong Hiến pháp” Hiểu theo mô hình của Mỹ hay theo mô hình của Châu Âu, thìhoạt động giám sát Hiến pháp luôn hướng tới mục đích cuối cùng là bảo vệ tính tốicao của Hiến pháp
Tóm lại, có thể hiểu thuật ngữ giám sát Hiến pháp như sau: “Giám sát Hiến pháp” là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra các văn bản do
các cơ quan nhà nước khác ban hành hoặc hành vi của các quan chức nhà nướccao cấp có phù hợp với Hiến pháp hay không nhằm đảm báo tính tối cao của Hiến
pháp trong hệ thống pháp luật và trong đời sống xã hội Ngoài thuật nhữ ‘giám sát Hiến pháp” còn tồn tại nhiều thuật ngữ khác nhau: bảo hiến, bảo vệ Hiến pháp, tài phán Hiến pháp Thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” còn được gọi là “kiểm tra Hiến pháp bằng Tòa án” tức là cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp.Cơ
quan giám sát thông qua hoạt động tố tụng Hiến pháp sẽ đưa ra những bản án,
Trang 8những quyết định có giá trị như đạo luật trong việc xem xét tính hợp hiến của cácvăn bản do các cơ quan nhà nước ban hành và hành vi được thực hiện trên cơ sởnhững văn bản vi hiến xâm phạm đến các quyền và tự do hiến định của công dân.
Thuật ngữ “Bảo hiến” hay còn gọi là “bảo vệ Hiến pháp” được hiểu theo
hai nghĩa khác nhau:
Theo nghĩa rộng: Bảo hiến có thể hiểu là toàn bộ những yếu tố, cách thức,
biện pháp nhằm bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và chống lại mọi sự vi phạmHiến pháp Bất kỳ hoạt động nào, do ai thực hiện nhằm phòng ngừa, phát hiệnhoặc xử lý vi hiến được xem là bảo vệ Hiến pháp
Theo nghĩa hẹp: Bảo vệ Hiến pháp là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền
ra quyết ñịnh về tính hợp hiến hoặc bất hợp hiến và áp dụng chế tài đối với các cơquan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền do có văn bản pháp luật hay hành vi vihiến Bảo hiến theo nghĩa hẹp thường gắn với việc cơ quan có thẩm quyền xem xét
và ra quyết định về sự phù hợp với Hiến pháp của các đạo luật do cơ quan lậppháp, hành pháp ban hành, đồng thời xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp củacác cá nhân được Hiến pháp quy định các quyền và nghĩa vụ Việc dùng các thuậtngữ được sử dụng để diễn đạt cho hoạt động bảo đảm tính tối cao của Hiến phápkhông chứa đựng hàm ý mâu thuẩn, phủ định lẫn nhau Tuy nhiên sử dụng thuậtngữ ‘giám sát Hiến pháp”sẽ chính xác và mang tính khái quát hơn Vì giám sátHiến pháp ngoài việc thực hiện những nhiệm vụ của bảo hiên còn có chức năngxây dựng cơ quan giám sát, hoàn thiện cơ quan giám sát, thay đổi bộ máy cơ cấu,hoạt động của cơ quan giám sát sao cho cơ quan đó thực hiện hoạt động giám sátmột cách có hiệu quả nhất Cho nên ở một mức độ nhất định việc sử dụng thuật
ngữ “giám sát Hiến pháp” để bao hàm các thuật ngữ còn lại
Cơ chế giám sát Hiến pháp:
Là hệ thống các chức năng, thẩm quyền và thủ tục kiểm tra, giám sát việc tuântheo và thi hành Hiến pháp, pháp luật nhằm đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu
Trang 9quả các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước Hiến pháp với tính chất làđạo luật tối cao về tổ chức bộ máy nhà nước, ghi nhận và bảo vệ quyền công dân,rất cần có một cơ chế bảo vệ Sẽ đầy đủ và bao quát nếu gọi đúng tên của cơ chế
bảo vệ văn bản này là “Cơ chế giám sát Hiến pháp”
1 3 Sự cần thiết phải có cơ chế giám sát Hiến pháp
Trong lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, tư tưởng giám sát Hiến phápđược hình thành ở Anh vào cuối thế kỷ XVII gắn liền với hoạt động của Hội đồng
cơ mật với thẩm quyền tuyên bố văn bản do cơ quan lập pháp của các thuộc địaAnh ban hành trái với luật của Nghị viện Anh hay pháp luật nói chung Hiến pháptheo nghĩa hiện hành được đề cập tại Hội nghị lập hiến Hợp chủng quốc Hoa Kỳnăm 1787 Sau đó, các nước Brazin (1891), Urugoay (1917) lần lược thiết lập cơchế giám sát Hiến pháp dưới những mô hình khác nhau
Ở nước ta, tại đại Hội XX đảng ta đã khẳng định “ xây dựng, hoàn thiện cơchế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết địnhcủa các cơ quan công quyền’ và “ xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạmHiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” Cơ chế giám sát Hiếnpháp ra đời bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, đáp ứng yêu cầu của Nhà nướcpháp quyền
Sự xuất hiện của Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền chỉ là yếu tố cầnnhưng chưa đủ nếu các cơ quan nhà nước vượt quyền, lạm quyền Nên Hiến pháptrong nhà nước pháp quyền phải là văn bản pháp lý có hiệu lực tối cao làm cơ sởcho việc tổ chức quyền lực, để các cơ quan nhà nước không thể vượt qua giới hạnquyền lực mà Hiến pháp quy định
Làm được nhiệm vụ này, Hiến pháp phải được thừa nhận là văn bản có hiệu lựcpháp lý tối cao Và để Hiến pháp được tôn trong và bảo đảm trong thực tế cần phải
có cơ chế hữu hiệu bảo vệ và khôi phục trật tự hiến định Đó là cơ chế giám sátHiến pháp và nội dung của Hiến pháp được thể hiện như sau:
Trang 10• Thứ nhất: Hiến pháp – văn bản ghi nhận sự phân chia quyền lực nhà nước nhằmmục đích hạn chế quyền lực nhà nước.
Theo quy luật phát triển, lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến sự ra đời của chế độ
tư hữu và xã hôi phân chia thành các giai cấp, các giai cấp này trở nên đối kháng
và mâu thuẩn nhau để dung hòa mâu thuẩn giữa các giai cấp này thì Nhà nước rađời nhưng khi có trong tay quyền lực, Nhà nước dần dần trở thành tổ chức độc tài,chuyên chế có xu hướng lạm quyền, xâm phạm đến quyền lợi của cá nhân Đểkhắc phục tình trạng này cần phải giới hạn quyền lực nhà nước bằng cách phânquyền Và việc phân quyền này được thể hiện rõ trong thuyết phân quyền của nhàtriết học Anh J Locke và đặc biệt được kết tinh trong thuyết phân quyền củaMongtesquieu
Mongtesquieu chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh: lập pháp, hànhpháp và tư pháp, ba quyền này sẽ được giao cho những cơ quan khác nhau Quyềnlập pháp được trao cho Nghị Viện, quyền tư pháp được giao cho Tòa án và quyềnhành pháp được giao cho Chính phủ Mỗi cơ quan thực hiện một quyền khác nhaunhưng không hoàn toàn tách biệt mà có sự đan xen, kiềm chế và buộc phải dựavào nhau Lập pháp ban hành ra luật cần có hành pháp để thực thi, cần có tư phápđể luật được áp dụng trong hoạt động xét xử Đến lượt mình hành pháp cần có lậppháp ban hành ra luật để vận hành bộ máy nhà nước và tư pháp cần có luật để tiếnhành xét xử Đây chính là sự đan xen trong phân công quyền lực, trong quá trìnhthực hiện các cơ quan này có sự kiềm chế đối trọng lẫn nhau: hành pháp đượcquyền phủ quyết các dự án luật mà Quốc hội đã thông qua, lập pháp được phêchuẩn các quyết định bổ nhiệm của Tổng thống và các Bộ trưởng, tư pháp đượcquyền phán xét các hành vi của lập pháp và hành pháp, được quyền bổ nhiệm cácThẩm phán của Tòa án tối cao, được quyền xét xử các đạo luật vi hiến Sự kiềmchế này đã hạn chế khả năng lạm quyền, độc tài, chuyên chế của các cơ quan nhànước Thuyết phân quyền của Mongtesquieu chính là sự quan sát thực tế và có ýnghĩa lớn lao của thời đại
Trang 11• Thứ hai: Hiến pháp – văn bản ghi nhận quyền con nguời nhằm bảo đảmquyền con nguời.
Mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nuớc được hình thành từ khi xã hội cónhà nước và luôn chiếm một vị trí trung tâm trong lịch sử các học thuyết chính trị -pháp lý Quyền con nguời vừa là mục tiêu cao cả, vừa là động lực thúc đẩy sự pháttriển của xã hội Không thể có một cộng đồng tốt nếu không phải là vì các quyềnvốn có của con nguời
Cộng đồng xã hội chỉ tốt và luôn huớng Đến mục tiêu vì con nguời khiquyền con nguời Được Hiến pháp ghi nhận và mọi cá nhân trong cộng đồng đềutuân theo Hiến pháp và pháp luật
Hiện nay, Hiến pháp của các nuớc quy định về quyền con nguời đuợc pháttriển qua ba giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn thứ nhất: Quyền con nguời được quy định trong một văn bảnriêng Đó là bản tuyên ngôn nhân quyền 1686 của Anh, tuyên ngôn dân quyền vànhân quyền của Pháp 1789 Mặc dù không được nằm trong Hiến pháp, nhưng đềuđược thừa nhận là một phần nằm trong nội dung chính của Hiến pháp
Giai đoạn thứ hai: Quyền con nguời được quy định thành một chương, tức
là được quy định trực tiếp trong Hiến pháp
Ví dụ: Trong chương V của Hiến pháp 1992 nước cộng hoà xã hội Chủnghĩa Việt Nam nói về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Giai đoạn thứ ba: Quyền con người được quy định trong bản phụ trươngcủa Hiến pháp như 10 điều bổ sung trong tu chính án thứ nhất là bản phụ văn.Song cả bản chính văn và bản phụ văn đều là hai nội dung cấu thành Hiến phápnguyên thuỷ của Mỹ
Cơ chế giám sát Hiến pháp ra đời không nằm ngoài mục đích thực hiện tốthơn nguyên tắc phân quyền, giới hạn quyền lực nhà nước mà Hiến pháp đã ghinhận Hiến pháp được xem là văn bản ghi nhận việc con người quản lý con người
Trang 12Con người luôn có sự đam mê quyền lực và sự tùy tiện trong việc sử dụng quyềnlực là chuyện không tránh khỏi nên cần phải kiểm soát tính lạm quyền của conngười
Hiến pháp với thuyết chế phân quyền được xem là một trong những phươngtiện hữu hiệu để kiềm chế tính lạm quyền của con người
- Giới hạn quyền lập pháp: Quyền lập pháp không những bị kiểm soát, bị
hạn chế như những nhánh quyền lực nhà nước khác mà đòi hỏi tính cẩn trọngtrong việc thi hành các chức năng lập pháp của mình nhằm xây dựng một hệ thốngpháp luật hoàn thiện, có khả năng bảo vệ quyền con người, tạo cơ hội bình đẳnggiữa mọi người, mà không phải là một hệ thống pháp luật tồi, không có khả năngđảm bảo cho sự phát triển của con người, do những thảo luận vội vàng, thiếu cẩntrọng của các Nghị sĩ Ở Anh cơ chế giám sát Hiến pháp ra đời không nhằm mụcđích tăng cường quyền lực nhà nước mà là một công cụ kiểm soát tính hợp hiếntrong hành vi của ngành lập pháp Kiểm soát ngành lập pháp là bản chất của cơchế bảo hiến bằng ngành tư pháp Nghị viện dù là cơ chế đại diện cao nhất cho ýchí của nhân dân nhưng đây vẫn là một tập thể được hình thành từ những conngười cụ thể cho nên không trách khỏi trường hợp lạm quyền Nhờ có cơ chế giámsát hiến pháp mà hoạt động của Nghị viện diễn ra trong giới hạn cho phép củapháp luật
- Giới hạn quyền hành pháp: Quyền hành pháp không những bị hạn chế
theo tiêu chuẩn tuân theo pháp luật, mà còn đòi hỏi tính trách nhiệm của Chínhphủ cho sự tồn vong và phát triển của đất nước Nhà nước phải nhận thấy tầmquan trọng của Chính phủ- hành pháp trong vai trò là trọng
tâm của toàn bộ bộ máy nhà nước Theo quy định của Hiến pháp các nước quyềnhành pháp được trao cho Chính phủ Bởi lẽ Chính phủ là trung tâm của bộ máynhà nước nên Chính phủ cũng là cơ quan có nhiều nguy cơ nhất vượt quá giới hạnquyền lực và xâm phạm quyền con người Cho nên cần phải hạn chế quyền lực củanhánh hành pháp bằng cơ chế giám sát hiến pháp là rất cần thiết Hiến pháp cần
Trang 13phải hướng hành pháp điều hành và quản lý nhà nước trong khuôn khổ Hiến phápnhằm tránh những hành vi lạm quyền của các chủ thể.
- Giới hạn quyền lực tư pháp: Quyền lực tư pháp bị gới hạn bởi việc phải
tuân thủ các quy định của pháp luật, ngưng tư pháp ngày càng can thiệp sâu vàohoạt động của xã hội và có trách nhiệm ở mức tối đa những oan sai trong hoạtđộng xét xử Hơn nữa ngành tư pháp được đặt ở vị trí độc lập nhất trong mối quan
hệ với các ngành hành pháp, lập pháp, buộc hai ngành này phải chịu trách nhiệmvới những quyết định của họ, sẽ có lúc tư pháp vượt quá giới hạn quyền lực chophép xâm phạm sang các lĩnh vực khác Vậy Hiến pháp là cơ sở pháp lý vững chắccho việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước qua việc ghi nhận nguyên tắcphân quyền Hiến pháp là văn bản phân chia quyền lực nhằm hạn chế sự chuyênquyền, lạm quyền Thực hiện được mục tiêu giới hạn quyền lực mà cơ chế giámsát mang lại cũng có ý nghĩa là chúng ta đang từng bước hoàn thiện Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Có thêm thiết chế bảo vệ Hiến pháp độc lập sẽ bổsung, hoàn thiện thêm thiết chế bảo vệ Hiến pháp ở nước ta góp phần bảo vệquyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
- Cơ chế giám sát Hiến pháp ra đời bổ sung thêm phương tiện pháp lý bảo
vệ các quyền con người đã được Hiến pháp ghi nhận
Quyền con người có được là thành quả của những cuộc đấu tranh gian khổcủa loài người Và thành quả ấy được thể hiện lần đầu tiên trong Dự luật về cácquyền do Nghị viện Anh thông qua năm 7689 Tiếp đến là tuyên ngôn độc lập củaHoa kỳ năm 1776 và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 lầnlượt ra đời là những minh chứng cho thành tựu của con người Trên đà phát triển
đó, quyền con người được tiếp tục ghi nhận ở những văn bản có hiệu lực pháp lýtối cao Đó là Hiến pháp Và Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (vào năm1789) đã bổ sung, hoàn chỉnh trong việc quy định về quyền con người Hiến phápPháp năm 1958 cũng quy định tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 làmột phần không thể thiếu của Hiến pháp Ở Anh, mặc dù là quốc gia có Hiến pháp
Trang 14thành văn nhưng đại đa số đều thừa nhận Luật về các quyền ở Anh năm 1669 làmột phần của Hiến pháp bất thành văn Như vậy, quyền con người vừa được ghinhận trong tuyên ngôn, vừa được ghi nhận trong Hiến pháp
Mỗi một văn bản ghi nhận vấn đề này có một ý nghĩa khác nhau Nếu nhưTuyên ngôn nhân quyền có ý nghĩa định hướng cho việc bảo vệ quyền con ngườithì sự ghi nhận trong Hiếp pháp không hẳn là sự “ban pháp” các quyền cho conngười mà đấy là sự khẳng định các quyền các con người như một sự thật hiểnnhiên, nhân phẩm là bất khả xâm phạm và nhân quyền không thể chuyểnnhượng.Quyền con người không phải do ban phát của bất kỳ ai hay của cơ quan tổchức nào, mà đó là quyền tự nhiên, quyền bất khả xâm phạm nên ở một chừngmực nào đó Nhà nước phải thừa nhận và bảo đảm quyền nhân quyền trên cơ sởcủa nguyên tắc “ chủ quyền thuộc về nhân dân” Do vậy bảo vệ Hiến pháp cũngchính là bảo vệ quyền con người Cơ chế giám sát Hiến pháp là một mắc xíchkhông thể thiếu để thực hiện nhiệm vụ trên
Tóm lại, Nhà nước pháp quyền gắn với bản chất của nhà nước hợp hiến.Nên cần phaỉ có Hiến pháp và cơ chế bảo vệ Hiến pháp Sự ra đời của cơ chế giámsát Hiến pháp là yêu cầu cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của Nhà nước phápquyền - bảo đảm giá trị tối cao của Hiến pháp, góp phần thực hiện có hiệu quảnguyên tắc phân quyền mà Hiến pháp đã ghi nhận nhằm giới hạn quyền lực nhà7gtnước và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân
1.4 Đối tượng giám sát Hiến pháp
Đối tượng giám sát Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có giá trịpháp lý thấp hơn Hiến pháp
Các văn bản quy phạm pháp luật là đối tượng giám sát của Hiếnpháp gồm:
Trang 15 Các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý thấp hơn Hiến pháp:các luật, các văn bản dưới luật ( nghị định, chỉ thị, thông tư…) các bản án,quyết định của cơ quan tư pháp;
Các văn bản của các tổ chức chính trị xã hội được trao cho chức năng quản
lý nhà nước: điều lệ, nội quy…;
điều ước quốc tế theo quy định của pháp luật nhiều quốc gia cũng là đốitượng chịu sự giám sát của Hiến pháp
Đối tượng của hoạt động giám sát Hiến pháp còn là các hành vi vi phạm Hiếnpháp của những cá nhân có thẩm quyền Không phải mọi hành vi vi hiến đều là đốitượng của giám sát mà chỉ những hành vi của những chủ thể nhất định mới là đốitượng của giám sát Hiến pháp
Tóm lại, việc xác định đối tượng giám sát Hiến pháp trong cơ chế giám sátHiến pháp phụ thuộc nhiều vào mô hình tổ chức cơ quan tài phán trong cơ chếgiám sát đó, phụ thuộc vào nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, mối quan hệ giữacác nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, các đặc điểm chính trị xãhội, truyền thống lịch sử, văn hoá… của mỗi quốc gia Nhưng tổng quát nhất, đốitượng giám sát Hiến pháp bao gồm; các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý thấphơn Hiến pháp và hành vi của những cá nhân có thẩm quyền được Hiến pháp ghinhận quyền và nghĩa vụ
1.5 Chủ thể giám sát Hiến pháp
Tuỳ theo quy định của Hiến pháp, chủ thể giám sát Hiến pháp có thể là cơquan dân cử hoặc là các Toà án có thẩm quyền chung hoặc là cơ quan chuyên mônnhư Toà án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến
Vậy chủ thể giám sát Hiến pháp có thể khái quát như sau: Chủ thể giám sátHiến pháp vào thời kỳ đầu của nền lập hiến là những cơ quan dân cử Thẩm quyềngiám sát Hiến pháp có thể được trao cho một hội nghị dân cử, một uỷ ban củaQuốc hội (ở Pháp, theo Hiến pháp năm 1799 và năm 1852 Thượng viện là cơ quan
Trang 16thực hiện quyền giám sát Hiến pháp, theo Hiến pháp 1946, chủ thể giám sát Hiếnpháp là một Uỷ ban giám sát Hiến pháp) Ở những nước trao quyền giám sát Hiếnpháp cho cơ quan dân cử thường có sự phân biệt quyền lập hiến, quyền lập pháp
và chủ thể giám sát Hiến pháp chính là cơ quan lập hiến.Vậy cơ quan làm ra Hiếnpháp được quan niệm là có vị trí thuận lợi nhất để giải thích Hiến pháp, biết đượckhi nào Hiến pháp bị xâm hại, từ đó bảo vệ Hiến pháp một cách tốt nhất
Tuy nhiên, việc trao quyền giám sát Hiến pháp cho các chủ thể này đã trởnên lỗi thời Sự kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật của cơ quan dân cửthường mang tính chính trị ( thiên về lợi ích, tính hợp thời và giá trị thực tiễn củacác đạo luật), trong khi đó nhiệm vụ này phải thuộc địa hạt của ngành tư pháp.Chủ thể giám sát Hiến pháp là cơ quan tư pháp Với vai trò là người bảo vệ phápluật, việc trao cho cơ quan Toà án quyền giám sát Hiến pháp vừa phù hợp với tínhchất quyền lực của quyền tư pháp, một ngành quyền lực khác với các ngành lậppháp, hành pháp và ít có nguy cơ lạm quyền, vừa mang lại hiệu quả cao trong hoạtñộng giám sát
Trên thế giới hiện nay, có hai mô hình thực hiện quyền giám sát Hiến pháp
mà chủ thể là các cơ quan tư pháp Đó là mô hình Hoa Kỳ với chủ thể giám sát làcác Toà án có thẩm quyền chung và mô hình Châu Âu với chủ thể giám sát là Toà
án Hiến pháp ( Italia, đức, Ai cập…)
1.6 Hậu quả pháp lý khi thực hiện hoạt động giám sát Hiến pháp.
Hoạt động giám sát Hiến pháp trải qua một quá trình thực hiện quy mô,thận trọng, lâu dài và phức tạp Cho nên kết thúc quá trình giám sát sẽ pháp sinhnhững hậu quả pháp lý sau:
Văn bản quy phạm pháp luật mà trái với Hiến pháp sẽ có thể phátsinh những hậu quả sau:
Trang 17 Nghị viện (Quốc hội ) hoặc các cơ quan khác ra nghị quyết, quyết định đìnhchỉ thi hành, bãi bỏ, sửa đổi một phần hay toàn bộ văn bản đó (Việt Nam,Trung Quốc)
Cơ quan giám sát Hiến pháp tuyên đạo luật không có giá trị pháp lý (từ chốikhông áp dụng đạo luật vi hiến trên thực tế (cơ quan giám sát Hiến pháp môhình phi tập trung như Hoa Kỳ) Ví dụ: Vào năm 1905 Toà án liên bangHoa Kỳ đã bác bỏ một đạo luật của tiểu bang NewYork khi đạo luật nàygiới hạn số giờ làm việc của những người làm bánh mì trong một ngày
Cơ quan giám sát Hiến pháp huỷ bỏ, tuyên bố đạo luật vi hiến vô hiệu (cơquan giám sát Hiến pháp ở các nước theo mô hình tập trung: Pháp, đức,Italia…) Hành vi của cá nhân có thẩm quyền trái với Hiến pháp buộc phảichấm dứt ngay và gánh chịu hậu quả khác nhau Ví dụ: Năm 1972 Toà ántối cao liên bang Mỹ đã ra quyết định buộc Tổng thống Nicxon phải nộpcác tài liệu liên quan đến vụ án Watergate và mở đường cho Quốc hội ápdụng thủ tục cách chức Tổng thống trước thời hạn
2 Mô hình giám sát Hiến pháp của một số nước trên thế giới
Để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp các quốc gia trên thế gới xây dựngnhững mô hình bảo vệ Hiến pháp khác nhau Ở Việt Nam trong bối cảnh xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội dân chủ ở nước ta hiện nay, ViệtNam cũng đang xúc tiến xây dựng cơ chế phán quyết vi phạm Hiến pháp tronghoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp
Theo đó, có bốn mô hình giám sát Hiến pháp:
Đó là mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung; mô hình giám sát tậptrung; mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp; mô hình cơ quan bảo hiến đồng thời
là cơ quan giám sát Hiến pháp Mỗi quốc gia sẽ áp dụng mô hình nào là tuỳ thuộcvào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể mà quốc gia đó sẽ xác định cho mình
Trang 18một mô hình hay cơ chế bảo vệ Hiến pháp cho phù hợp.Dưới đây là các mô hìnhgiám sát Hiến pháp.
2.1 Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung (Decetrallised
Constitutional control)
Đây là mô hình mà Toà án tối cao và toà án các cấp đều có chức năng và thẩmquyền giám sát tính hợp hiến được xây dựng trên cơ sở của thuyết phân chia vàkiềm chế đối trọng giữa các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Theo quan điểm của học thuyết này, hệ thống các cơ quan Toà án không những
có chức năng xét xử các hành vi vi phạm pháp luật của công dân mà còn có khảnăng kiểm soát, hạn chế quyền lực của các cơ quan lập pháp và hành pháp.Cácnước theo mô hình này gồm:Mỹ, Mêhicô, Tây ban nha… Tóm lại, mô hình giámsát Hiến pháp phi tập trung, thẩm quyền giám sát được trao cho hệ thống các cơquan tư pháp Với phương pháp giám sát cụ thể gắn liền với sự việc đang tranhchấp nên quá trình giám sát không ảnh hưởng nhiều đến quy trình lập pháp củaNghị viện, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được bảo vệ hữu hiệu và linhhoạt
Tuy nhiên, vì hoạt động giám sát chỉ phát sinh sau khi văn bản đã được banhành và có hiệu lực nên hoạt động giám sát không có ý nghĩa trong việc thốngnhất hệ thống pháp luật; phạm vi tác động của phán quyết giám sát hẹp (chỉ cácbên trong vụ tranh chấp) Giao quyền bảo hiến cho táo án các cấp nên thủ tục dàidòng, khi một đạo luật được tòa án xác định là trái Hiến pháp thì đạo luật đókhông còn giá trị áp dụng và chỉ có hiệu lực bắt buộc đối với Tòa án cấp dưới (nếu
là phán quyết của Tòa án tối cao thì có giá trị bắt buộc đối với cả hệ thống tưpháp) Nhược điểm này sẽ được khắc phục trong mô hình giám sát tập trung
2.2.Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung
Khác với mô hình Mỹ, các nước lục địa Châu Âu không trao cho Tòa án tưpháp thực hiện giám sát Hiến pháp mà thành lập một cơ quan đặc biệt để thực hiện
Trang 19chức năng bảo hiến, có vị trí độc lập với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp,
Cơ quan này gọi là Tòa án Hiên pháp (Constitutional court) hoặc là Hội ñồng bảohiến (Constitutional council) Các nước theo mô hình này gồm; đức, Áo, Pháp,Miền nam Việt Nam…
Theo mô hình này, Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền như sau: xem xét tínhhợp hiến của các văn bản luật, các điều ước quốc tế mà Tổng thống hoặc Chínhphủ đã hoặc sẽ tham gia ký kết, các sắc lệnh của Tổng thống, các Nghị định củaChính phủ, có thể tuyên bố một văn bản luật, văn bản dưới luật là vi hiến và làm
vô hiệu hóa văn bản đó; xem xét tính hợp hiến của các cuộc bầu cử Tổng thống,bầu cử Nghị viện và trưng cầu dân ý; tư vấn về tổ chức bộ máy nhà nước, về cácvấn đề chính trị đối nội cũng như đối ngoại; giải quyết các tranh chấp về thẩmquyền giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, giữa chính quyềntrung ương và địa phương; giám sát Hiến pháp về quyền con người và quyền côngdân Ngoài ra, một số Tòa án Hiến pháp như của Italia còn có thẩm quyền xét xửTổng thống khi Tổng thống vi phạm pháp luật
Vậy, mô hình giám sát Hiến pháp tập trung với việc thành lập cơ quan giámsát Hiến pháp chuyên trách (Tòa án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến) với phươngpháp giám sát trừu tượng có ý nghĩa trong hoạt động thống nhất hệ thống phápluật, hiệu lực của phán quyết giám sát có phạm vi tác động rộng đã khắc phụcđược nhược điểm của mô hình giám sát phi tập trung Nhưng cơ chế giám sát do
cơ quan chuyên trách này thực hiện vẫn tồn tại hạn chế, với cơ chế giám sát vănbản trước khi công bố vô tình đã can thiệp quá sâu vào hoạt động của ngành lậppháp
2 3 Mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp (Mô hình bảo hiến hỗn hợp kiểu Âu-Mỹ).
Đây là mô hình kết hợp kết hợp những yếu tố của cả hai mô hình kiểu Châu
Âu và kiểu Mỹ được áp dụng ở một số nước như: Bồ đào Nha, Thụy Sỹ,Venezuela, Peru, Brazil…
Trang 20Theo mô hình này, thẩm quyền bảo hiến được trao cho cả cơ quan bảo hiếnchuyên trách như tòa Hiến pháp lẫn tất cả các tòa án thuộc hệ thống tư pháp.Trong đó, thẩm quyền của tòa án tư pháp và tòa án tối cao đối với những vụ việc
cụ thể được quy định ngay trong Hiến pháp, các tòa án khác khi giải quyết một vụviệc cụ thể có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật và được quyền không
áp dụng các đạo luật được cho là không phù hợp với Hiến pháp
Mô hình giám sát này vừa khắc phục được những hạn chế, vừa phát huyđược những yếu tố tích cực của cả hai mô hình giám sát Hiến pháp tập trung vàgiám sát Hiến pháp phi tập trung Việc sử dụng hai phương pháp giám sát cụ thể
và trừu tượng đã mang lại kết quả trong việc đảm bảo tính thống nhất, tính hợphiến của cả hệ thống pháp luật, quyền khởi xướng giám sát Hiến pháp cũng được
mở rộng, việc giải quyết hậu quả do văn bản vi hiến gây ra cũng được tiến hànhtriệt để hơn nhờ việc áp dụng hiệu quả hiệu lực hồi tố trong phán quyết giám sátcủa mô hình phi tập trung Chính sự kết hợp các yếu tố được xem là tích cực củahai mô hình mà ưu ñiểm nổi bật của mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp là sựlinh hoạt trong hoạt động giám sát Hiến pháp, thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp làphạm vi, đối tượng áp dụng thẩm quyền được mở rộng nên hoạt động giám sátHiến pháp theo mô hình này thực sự có hiệu quả
2 4 Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan giám sát Hiến pháp.
Hiện nay ở Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba và một số nước khác trên thếgiới không có cơ quan bảo hiến chuyên biệt Các nước này đều có quan điểmchung là Quốc hội (Nghị viện) là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, khôngnhững là cơ quan lập hiến, lập pháp duy nhất mà còn là cơ quan quyền lực nhànước cao nhất Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội phải
tự quyết định tính hợp hiến của một đạo luật Nếu Quốc hội trao quyền này chomột cơ quan khác phán quyết thì Quốc hội không còn là cơ quan quyền lực nhànước cao nhất nữa Mô hình này cũng có hạt nhân hợp lý của nó
Trang 21Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng nếu một cơ vừa lập pháp vừa tự mìnhphán quyết đạo luật do mình làm ra có vi hiến hay không thì cũng rất khó Cho nênkhi xây dưng mô hình giám sát Hiến pháp các Quốc gia cần cân nhắc lựa chọn vàxây dựng mô hình giám sát cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội trên cơ sởtham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác
Nhìn chung, cơ chế giám sát Hiến pháp đã trở thành một bộ phận không thểthiếu trong tổ chức của ña số các nhà nước dân chủ hiện đại do tư tưởng về nhànước pháp quyền đã được thừa nhận rộng rãi với đặc điểm cơ bản nhất đảm bảotính tối cao của Hiến pháp Tùy theo nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước củamỗi Quốc gia mà mô hình giám sát sẽ được thành lập khác nhau Nhưng dù tồn tại
ở mô hình nào đi chăng nữa thì tất cả mô hình giám sát Hiến pháp đều hướng đếnmục đích cuối cùng là bảo vệ giá trị tối cao của Hiến pháp đáp ứng yêu cầu củaNhà nước pháp quyền, thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội
Trang 22CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP VIỆT NAM VÀ
HƯỚNG HOÀN THIỆN.
I Cơ chế giám sát Hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn pháp luật và thực tiễn đời sống đòi hỏiHiến pháp phải luôn luôn được tôn trọng tuân thủ mà vấn đề giám sát Hiến pháp ởnước ta được đặt ra từ rất sớm và được quy định cụ thể qua bốn bản Hiên phápsau:
1 Hiến pháp 1946.
Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử lập hiến đạt đếntrình độ cao của kỹ thuật lập hiến Là bản Hiến pháp rất ngắn gọn, chỉ gồm lời nóiđầu, 7chương, 70 điều, nhưng lồng ghép trong những quy định của Hiến pháp vẫn
có sự xuất hiện của cơ chế giám sát Hiến pháp
Hiến pháp không được xác định rõ là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất mà theo
điều 4 “ Mọi công dân phải tôn trọng Hiến pháp” và điều 70 quy định về việc
sửa đổi Hiến pháp phải do 2/3 tổng số nghị viện yêu cầu Đối với các luật đã đượcnghị viện thông qua, Chủ tịch nước Việt Nam phải ban bố chậm nhất 10 ngày saukhi nhận đươc thông tri (điều 31) Nếu Chủ tịch có quyền yêu cầu nghị viện thảoluận lại Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được nghị viện ưng chuẩn thìbắt buộc Chủ tịch phải ban bố Như vậy, dù luật có trái với Hiến pháp nhưng nếunghị viện ưng chuẩn thì luật đó vẫn được ban hành
Theo điểm d điều 52 thì “ Chính phủ có quyền bãi bỏ những mệnh lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới (nếu cần) ” có thể không bảo đảm được tính thống
nhất pháp luật Vì vậy, năm 1953 Quốc hội ban hành luật cải cách ruộng đất tráivới điều 12 Hiến pháp về quyền tư hữu tài sản của công dân được bảo đảm nhưngkhông bị xem là vi phạm Hiến pháp
Trang 23Tuy nhiên, ở mức độ nhất định Hiến pháp 1946 đã có những quy định về kiểm tragiám sát hoạt động của các cơ quan công quyền thông qua vai trò của những cơquan chủ thể nhất định:
Nghị viện nhân dân có trách nhiệm ưng chuẩn hoặc phế bỏ những sắc lệnhcủa Chính phủ mà Ban thường vụ đã thông qua khi Nhị viện không họp Nhưngcăn cứ để Nghị viện ưng chuẩn hoặc phế bỏ những văn bản trên thì Hiến phápchưa dự liệu hết (điều 36 Hiến pháp 1946)
Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại những luật đã đượcNghị viện biểu quyết thông qua trong thời hạn 10 ngày trước khi ban bố Đây làquy định vừa thể hiện quyền giám sát của Chủ tịch nước với cơ quan lập phápđồng thời cũng là cơ chế giúp cho Nghị viện thận trọng hơn trong quá trình làmluật Nhưng điều 31 vẫn không mang lại hiệu quả cao trong quá trình giám sát, vìmột đạo luật dù có trái với Hiến pháp, Chủ tịch nước đã yêu cầu thảo luận lại màNghị viện vẫn ưng chuẩn (không sửa) thì Chủ tịch nước vẫn phải ban bố, đạo luật
2 Hiến pháp 1959.
Hiến pháp năm 1959 ra đời trên cơ sở kế thừa những quy định về giám sátHiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 tiếp tục hoàn thiện và xây dựng cơ chế giám sátHiến pháp và vấn đề này được thể hiện như sau:
Trang 24Theo khoản 3 điều 50 “Quốc hội có thẩm quyền giám sát việc thi hành Hiếnpháp” Tại điều 53 Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền giải thích Hiến pháp(khoản 3) và sửa đổi hay bãi bỏ những nghị định, nghị quyết của Hội đồng Chínhphủ trái với Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh; sửa đổi hay bãi bỏ những nghị quyếtkhông thích đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộctrung ương” (khoản 7) điều 59 các đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồngChính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ Đây là hình thức giám sátmang lại hiệu quả cao vì nó mang tính chất quy kết trách nhiệm pháp lý Điều 112quy định chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp, việc sửa đổi phải được
ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành (còn tại điều 48 các đạoluật và các nghị quyết của Quốc hội phải được quá tổng số đại biểu Quốc hội biểuquyết tán thành).Vậy giá trị pháp lý của Hiến pháp cao hơn và các văn bản phápluật khác không thể trái với Hiến pháp
Điều 73 Hội đồng Chính phủ căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh
mà quy định những biện pháp hành chính, ban bố những nghị định, nghị quyết, chỉthị và kiểm tra việc thi hành những nghị định, nghị quyết và chỉ thị ấy Khoản 7điều 74 quyết định cho Hội đồng Chính phủ “ sửa đổi hay bãi bỏ những quyết địnhkhông thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và quyết ñịnh khôngthích đáng của các Bộ, các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ; sửa đổi hay bãi bỏnhững quy định không thích đáng của Uỷ ban hành chính các cấp”
Điều 85 “ Hội đồng nhân dân có quyền sủa đổi hay bãi bỏ những quy định khôngthích đáng của Uỷ ban hành chính cấp mình, có quyền sủa đổi hay bãi bỏ nhữngnghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và quyếtđịnh không thích đáng của Uỷ ban hành chính cấp dưới trực tiếp”
“ Không thích đáng” không hẳn là vi hiến mà có thể dựa vào ý chí của cơquan có thẩm quyền Do đó, việc xử lý đối với các văn bản này không dựa trênmột tiêu chí, một cơ sở pháp lý cụ thể nào cả Và điều này khó đảm bảo cho tính
ổn định cần thiết của hệ thống pháp luật và có thể dẫn đến việc tuỳ tiện bởi những
Trang 25quyết định của những người có thẩm quyền trong Hội đồng Chính phủ hay Hộiđồng nhân dân Sự tuỳ nghi chủ quan đó có thể ảnh hưởng, xâm hại đến các quyền
và tự do của công dân
Điều 105 quy định: Vịên kiểm sát nhân dân tối cao của nước Việt Nam DânChủ Cộng Hòa kiểm soát việc tuân thủ theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hộiđồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương cá nhân viên cơ quan nhà nước vàcông dân
Như vậy, việc giám sát Hiến pháp được quy định rõ ràng và thuộc thẩmquyền của những cơ quan khác nhau: Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Việnkiểm sát, Hội đồng Chính phủ…Tuy nhiên, đối tượng giám sát vẫn còn tương đốihẹp (chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật), cơ chế giám sát hiện hành vẫnchưa có một cơ quan chuyên trách thực hiện việc giám sát Hiến pháp, căn cứ xử lýcác văn bản vi hiến còn mang nặng tính chủ quan, chịu ảnh hưởng nhiều bởi chủthể giám sát…Nhưng những quy định của Hiến pháp 1959 vẫn được các bản Hiếnpháp sau kế thừa và không ngừng hoàn thiện
3 Hiến pháp 1980.
Hiến pháp 1980 ra đời kế thừa những thành tựu của các bản Hiến pháptrước đó Đồng thời tiếp tục quy định và không ngừng hoàn thiện cơ chế giám sátHiến pháp
Tại điều 146, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nhà nước ta đã khẳng định :
“Hiến pháp nước Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của nhànước có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp vớiHiến pháp” Điều 147 “Việc sửa đổi Hiến pháp chỉ thuộc thẩm quyền của Quốchội Việc sủa đổi Hiến pháp phải được 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyếttán thành”
Vấn đề giám sát Hiến pháp được quy định trong những điều khoản cụ thể,thuộc thẩm quyền của các cơ quan cụ thể Tại khoản 3 điều 83: ”Quốc hội thực
Trang 26hiện quền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp và luật”.Điều 92 quy định rõvai trò của các Uỷ ban của Quốc hội trong việc giúp Quốc hội và Hội đồng nhànước thực hiện quyền giám sát.
Điều 98 Hội đồng nhà nước giao nhiệm vụ ”giám sát việc thi hành Hiếnpháp” “Hội đồng nhà nước sẽ đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ nhữngnghị quyết, nghị định, quyết định của Hội đồng bộ trưởng trái với Hiến pháp, luật,pháp luật; sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của Hội đồngnhân dân Tỉnh trực thuộc trung ương và cấp tương tương” Điều 107 quy định Hộiđồng bộ trưởng “ đảm bảo việc thi hành Hiến pháp và pháp luật” Điều 115 Hộiđồng nhân dân “bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và thi hànhnghiêm chỉnh ở địa phương”.Các quy định về thẩm quyền của Viện kiểm sát nhândân (điều 138), ủy ban thường vụ Quốc hội vẫn được kế thừa từ Hiến pháp 1959
Theo Hiến pháp 1980 quyền giám sát tối cao Hiến pháp được giao choQuốc hội nhưng vẫn còn mang tính chung chung chưa rõ ràng Quốc hội không tự
xử lý đối với các trường hợp vi hiến mà giao cho Hội đồng nhà nước- cơ quanthường trực của Quốc hội tiến hành
Tóm lại, Hiến pháp 1980 có nhiều điểm mới trong cơ chế giám sát Hiếnpháp (Hiến pháp được ghi nhận là đạo luật có hiệu lực pháp lý tối cao, đối tượnggiám sát Hiến pháp được mở rộng…) nhưng Hiến pháp 1980 vẫn chưa vượt quađược những hạn chế của Hiến pháp 1959 Thẩm quyền xử lý các loại văn bảnkhông quy định cho Quốc hội mà chuyển qua cho cơ quan thường trực của Quốchội, căn cứ xử lý văn bản quy phạm pháp luật chưa rõ ràng, mang nặng tính chủquan, khó xác định như thế nào là “không thích đáng”, có quá nhiều cơ quan thamgia vào hoạt động giám sát nhưng vẫn thiếu một cơ quan chuyên trách, Thực trạngnày tồn tại ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động giám sát
4 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).
Trang 27Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi bổ sung theo nghị quyết 51/2001 và cónhững điểm tiến bộ đáng kể trong các quy định về giám sát Hiến pháp.
Điều 146 quy định “Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
có hiệu lực pháp lý cao nhất” Mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp Điều 147 “chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp” Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” Điều
12 “các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật”.
Điều 84 quy định Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theoHiến pháp (khoản 2) và khoản 9 “bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ banthường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao vàViện kiểm soát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốchội” Với những quy định này, thẩm quyền của Quốc hội rõ ràng cụ thể hơn đó là
”giám sát tối cao” việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội Đây làđiểm tiến bộ so với quy định của Hiến pháp 1980 “giám sát việc tuân theo và thihành Hiến pháp và pháp luật”
Quốc hội sẽ tự mình xử lý đối với các văn bản trái pháp luật mà trước đâythẩm quyền này được trao về cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội Qua việc quy địnhvăn bản nào là đối tượng xử lý theo khoản 9, Quốc hội đồng thời đã thể hiện đượctính chất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Hiến pháp 1992 cũng đã quyđịnh rõ cơ sở pháp lý cho việc xử lý các đối tượng trên đó là “trái với Hiến pháp,luật, nghị quyết chủa Quốc hội” so với trước đây căn cứ là “không thích đáng”.Theo khoản 5 điều 91 Uỷ ban thường vụ Quốc hội “giám sát việc thi hành Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội”, “đình chỉ thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội huỷ bỏ các văn bản đó” Uỷ ban thường vụ Quốc hội được trao thẩm quyền xử lý các văn
Trang 28bản nào tạo ra một chế định rõ ràng so với các bản Hiến pháp trước không quyđịnh rõ ràng thẩm quyền, căn cứ và hình thức xử lý.
Điều 109 Chính phủ “bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật” Điều 112 quy định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong
việc giám sát Hiến pháp “bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổchức lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhândân”
Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ quyền hạn cụ thể, điều 114 “đình chỉviệc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, cácthành viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và Chủtịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp,luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ banthường vụ Quốc hội bãi bỏ”
Ngoài ra, Hiến pháp 1992 còn trao thẩm quyền giám sát Hiến pháp cho Hộiđồng dân tộc và Uỷ ban của Quốc hội đối với các văn bản quy phạm pháp luật củaChính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, vănbản quy phạm liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ươngvới cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội thuộc lĩnh vực mà Hội đồng
và các Uỷ ban phụ trách; Chủ tịch nước cũng thực hiện quyền giám sát Hiến phápđối với những đối tượng: Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ (điều 103, 105Hiến pháp 1992), Toà án nhân dân tối cao (điều 18 luật tổ chức toà án nhân dânnăm 2002), Viện kiểm soát nhân dân tối cao (điều 9 Luật tổ chức Viện kiểm sátnhân dân năm 2002); Toà án nhân dân (điều 127 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sungnăm 2001) quy định; Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân địa phương và cácToà án Quân sự, với tính chất là cơ quan xét xử, trong phạm vi chức năng củamình, Toà án thực hiện việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm phát hiệnnhanh chónh xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm Hiến pháp;
Trang 29Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tưpháp, góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thốngnhất (điều 137) Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn này, Viện kiểm sát
là một kênh gián tiếp thực hiện giám sát Hiến pháp
Tóm lại, Hiến pháp 1992 là Hiến pháp tiến bộ, quy định rõ ràng cụ thể đầy
đủ về đối tượng thuộc thẩm quyền giám sát Hiến pháp, chủ thể giám sát Hiếnpháp, quy định rõ về căn cứ xử lý, không còn mang tính mơ hồ Xuất pháp từ cơ
sở pháp lý rõ ràng, tạo ra một chế định pháp lý Điều này mang lại hiệu quả lớntrong quá trình giám sát, căn cứ cụ thể vừa có thể ngăn ngừa tình trạng vi phạmvừa Đảm bảo được việc xử lý sự vi phạm đạt hiệu quả cao nhất,hình thức xử lý cụthể rõ ràng, đảm bảo không tạo ra sự xáo trộn, vẫn đảm bảo được tính hệ thốngcủa hệ thống pháp luật, cũng như tính đúng đắn của các loại văn bản
Với các quy định của Hiến pháp 1992 về vấn đề giám sát Hiến pháp đã tạo
ra động lực cho sự phát triển của đất nước trên nhiều phương diện Các quy địnhnày đã hạn chế được sự tùy tiện của các cơ quan nhà nước khi ban hành các vănbản pháp luật và trong hoạt động của mìnhtrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo đảm nguyên tắc pháp chế Xã HộiChủ Nghĩa Điều này có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội,
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống pháp lý của nước ta
5 Dự thảo Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2013)
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, cơ chế bảo hiến được quyđịnh cụ thể và cơ quan bảo vệ Hiến pháp được ghi nhận ngay trong Hiến pháp.Điều này thể hiện sự thay đổi rất lớn trong quan điểm và cách nhìn của cơ quan lậphiến về vấn đề bảo vệ Hiến pháp, đạo luật cơ bản của nhà nước,đạo luật có hiệulực pháp lý cao nhất của quốc gia,xét ở góc độ rộng của cơ chế bảo hiến, Hiếnpháp hiện hành đã giao cho nhiều cơ quan từ trung ương đến địa phương đều cóthẩm quyền bảo đảm thi hành Hiến pháp, kiểm tra, giám sát và xử lý các văn bảnpháp luật trái Hiến pháp Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này chưa đáp ứng yêu
Trang 30cầu thực tiễn, giống như tình trạng “lắm sãi không ai đóng cửa chùa” vậy Biểuhiện rõ nhất là từ trước đến nay chưa có cơ quan nhà nước nào ở Trung ương cũngnhư địa phương, kể cả Quốc hội, đưa ra phán quyết với văn bản pháp luật vi hiếnbởi đây không phải là chức năng chủ yếu của những cơ quan này.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 120 Chương X Dự thảo Hiến pháp 1992sửa đổi năm 2013, cơ quan bảo vệ Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam có tên là Hội đồng Hiến pháp Hội đồng Hiến pháp là cơ quan nhà nước
do Quốc hội thành lập, làm việc theo chế độ tập thể Cơ cấu tổ chức gồm Chủ tịch,các Phó chủ tịch và các Ủy viên
Cũng Điều 120 Dự thảo Hiến pháp 1992, sửa đổi 2013 quy định về chứcnăng và thẩm quyền của Hội đồng Hiến pháp Theo đó, Hội đồng Hiến pháp cóchức năng kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm do Quốc hội, Chủ tịchnước, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhândân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Ngoài ra, Hội đồng Hiến pháp cóthẩm quyền kiến nghị Quốc hội xem xét lại văn bản quy phạm pháp luật của mìnhkhi phát hiện có vi phạm Hiến pháp; yêu cầu Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụQuốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểmsát nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của mình hoặc
đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm Hiến pháp; kiểm tra tínhhợp hiến của điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trìnhQuốc hội, Chủ tịch nước phê chuẩn Đây là chức năng và thẩm quyền nổi bật củaHội đồng Hiến pháp được quy định trong khoản 2 Điều 120 Quy định này có liên
hệ mật thiết với Điều 75 của Dự thảo tức là nếu Hội đồng phát hiện các văn bảnquy phạm pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền ban hành vi phạm hiến phápthì sẽ kiến nghị Quốc hội, là cơ quan cấp trên xem xét và sửa đổi (Khoản 1 Điều
75 Dự thảo); yêu cầu các chủ thể khác như Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ quốchội…sửa đổi, bổ sung văn bản của mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy
bỏ văn bản pháp quy vi hiến Cơ quan có thẩm quyền đó chỉ có thể là Quốc hội,
Trang 31thẩm quyền này của Quốc hội cũng đã được quy định rõ trong Khoản 10 Điều 75
Dự thảo
Các vấn đề liên quan đến tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồngHiến pháp và số lượng, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng Hiến pháp được dẫnchiếu đến một đạo luật khác sẽ được xây dựng trong tương lai và được quy địnhtại khoản 3 của Điều 120 này của Dự thảo
Một vài góp ý liên quan đến Hội đồng Hiến pháp theo quy định tại điều
120 Dự thảo Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2013
– Thứ nhất, các quy định liên quan đến cơ quan bảo vệ Hiến pháp trong Dự
thảo Hiến pháp sửa đổi 2013 là quá ít, chỉ gói gọn trong 1 điều luật với 3 khoảnchưa nói lên vị trí, vai trò cũng như chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cũng nhưtầm quan trọng của cơ quan bảo vệ Hiến pháp Với tư cách là cơ quan nhà nướcthực hiện chức năng đặc biệt quan trọng là bảo vệ hiệu lực của Hiến pháp nhưngnếu chỉ quy định như vậy thì Hiến pháp khó lòng được bảo vệ trên thực tế
– Thứ hai, về tên gọi của Hội đồng Cơ quan bảo vệ Hiến pháp phải có tên gọi
rõ ràng, thông qua tên gọi sẽ giúp hiểu ngay chức năng, nhiệm vụ cơ bản của cơquan này Theo quy định tại khoản 1 Điều 120 của Dự thảo, cơ quan bảo vệ Hiếnpháp của Việt Nam có tên gọi là Hội đồng Hiến pháp, tên gọi này chưa nói lênđược nhiều điều, nó chỉ thể hiện đây là cơ quan nhà nước, có chế độ làm việc tậpthể còn chức năng, nhiệm vụ là gì vẫn chưa được rõ ràng, chỉ biết rằng Hội đồngnày sẽ thực hiện chức năng, nhiệm vụ gì đó có liên quan đến Hiến pháp Theo quyđịnh của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi 2013, chúng ta lựa chọn mô hình bảo hiến tậptrung hóa gần giống với mô hình của cơ quan bảo hiến của Cộng hòa Pháp nhưngcũng nên quy định tên gọi cụ thể hơn, chẳng hạn như Hội đồng bảo vệ Hiến pháp
– Thứ ba, theo quy định tại khoản 1 Điều 120 Dự thảo Hiến pháp 1992, sửa
đổi năm 2013, Hội đồng Hiến pháp là cơ quan do Quốc Hội thành lập tức là phụthuộc về mặt tổ chức và hoạt động Theo quan điểm của nhiều học giả, cơ quan