Từ economies” (nghĩa là: kinh tế học) trong tiếng Anh và các chữ tương tự như: économiques trong tiếng Pháp... bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với oikos là nhà và nomos là quy tắc hay quy luật, nghĩa là quy tắc quán lí gia đình. Trong tiếng Việt, kính tế là một từ Hán Việt, rút gọn từ cụm từ “kinh bang tế thế” nghĩa là “trị nước, giúp đời” và từ học là 1 từ Hán việt có nghĩa là “tiếp thu tri thức” thường được đi kèm theo sau tên các ngành khoa học như ngôn ngữ học, toán học,...
Trang 1Họ và tên học viên:
Lớp:
Trường đại học
Tên bài tập: Kinh tế, lao động và việc làm là gì? Phân tích mối quan hệ
giữa 3 vấn đề trên và liên hệ với Việt Nam?
Bài làm:
1 Kinh tế
Từ "economies” (nghĩa là: kinh tế học) trong tiếng Anh và các chữ tương tự như: "économiques" trong tiếng Pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với oikos là "nhà" và "nomos" là "quy tắc" hay "quy luật", nghĩa là "quy tắc quán lí gia đình".
Trong tiếng Việt, "kính tế" là một từ Hán Việt, rút gọn từ cụm từ “kinh bang tế thế” nghĩa là “trị nước, giúp đời” và từ học là 1 từ Hán việt có nghĩa
là “tiếp thu tri thức” thường được đi kèm theo sau tên các ngành khoa học như ngôn ngữ học, toán học,
Nội dung khái niệm “kinh tế” đã mở rộng cùng với sự phát triển xã hội và nhận thức của con người, Kinh tế được xem là một lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người trong việc tạo ra giá trị, đồng thời với sự tác động của con người vào thiên nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội
- Kinh tế học là một nhánh của khoa học xã hội nghiên cứu sản xuất, phân phối, tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ
Nội dung khái niệm kinh tế đã mở rộng cùng với sự phát triển của xã hội và nhận thức con người
- Kinh tế được xem là lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người trong việc tạo ra giá trị, đồng thời với sự tác động của con người vào thiên nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người, xã hội
- Kinh tế học là một nhánh của khoa học xã hội, nghiên cứu sản xuất, tiêu dùng và phân phối, tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ
Kinh tế học, gồm tập hợp các ngành khoa học được chia thành hai nhóm: Kinh tế học lý luận và Kinh tế học ứng dụng.
Trang 2Kinh tế học lý luận (lý thuyết kinh tế): nghiên cứu bản chất, nội dung và quy luật phát triển chung nhất của các quá trình kinh tế Kinh tế học lý luận
là phần quan trọng nhất của khoa học kinh tế, tạo ra cơ sơ lý luận để phát triển kinh tế học ứng dụng.
Kinh tế học ứng dụng: nghiên cứu những chức năng riêng biệt trong quản lý kinh tế, hay nói cách khác, xây dựng những lý thuyết và phương pháp quản lý để ứng dụng trong các ngành kinh tế riêng biệt
Những vấn đề kinh tế được đề cập từ lâu, nhưng mãi đến cuối thế kỳ XVII, nó mới trở thành là một khoa học độc lập Thuật ngữ kinh tế hay chính xác là “kinh tế chính trị” được sử dụng vào năm 1776 trong cuốn sách cải của các dân tộc" của Adam Smith và này đã được thay thế bằng thuật ngữ "kinh
tế học".
Theo John Stuart Mill kỉnh tế là "ứng dụng của sản xuất và phân phối của cải " Trong đó của cải được xác định như toàn bộ những vật thể có ích.
Còn Theo Lionel Robbins: "kinh tế học là Khoa học nghiên cứu hành vi
con người cũng như mối quan hệ giữa nhu cầu và nguồn lực khan hiếm, trong
đó có giải pháp chọn lựa cách sử dụng".
Hệ thống xã hội là tập hợp các quan kinh tế-xã hội Mục đích của của nó là tăng trưởng kinh tế bền vững và thịnh vượng xã hội thông qua sử dụng hiệu quả tài nguyên và cách điều hòa hợp lý cùa nhà nước Cách tiếp cận này tạo cơ sở nghiên cứu cho kinh tế học định chế.
Hiện nay, cách tiếp cận về sự khan hiếm tài nguyên, vẫn là cách tiếp cận phổ biến Bởi vì các tài nguyên là hũu hạn, cho nên con người buộc phải lựa chọn cách sử dụng chúng thế nào để đạt lợi ích lớn nhất.
Trong nghiên cứu người ta thường phân kinh tế học thành 4 loại sau đây:
- Một là: Kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô và kinh tế thế giời là cách chia theo
kinh tế học hiện tại (Modern Economics)
- Hai là: Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn – kinh tế học thực chứng là nghiên cứu nhằm mục đích giải thích các hậu quả từ những lựa chọn khác
nhau dựa trên một tập hợp các giả định hay các quan sát
- Ba là: Kinh tế chính thống và kinh tế phi chính thống, chính thống nếu định
Trang 3hướng nghiên cứu tuân theo tổ hợp giả thuyết "Hợp lý - Chủ nghĩa cá thể - Cân bằng" và phi chính thống nếu chuyên theo "Định chế - lịch sử - Cơ cấu xã hội"
- Bốn là: Phân loại theo ngành nếu nghiên cứu kinh tế kết hợp vời các ngành khoa học khác hoặc vấn đề kinh tế nằm trong phạm vi các lĩnh vực nghiên cứu khác Chẳng hạn, địa lý kinh tế, lịch sử kinh tế, kinh tế văn hóa, kinh tế công
cộng, kinh tế tiền tệ, kinh tế quốc tế, kinh tế công nghiệp, kế toán
Như vậy, kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế tổng thể và hành vi của các chủ thể riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp, hộ tiêu dùng, người lao động và chính phủ.
Kinh tế học có hai bộ phận cấu thành là: kinh tế học vi mô và kinh tế học
vĩ mô
- Kinh tế học vi mô
Nghiên cứu các quyết định của các cá nhân và doanh nghiệp và các tương tác giữa các quyết định này trên thị trường Kinh tế học vi mô giải quyết các đơn vị cụ thể của nền kinh tế và xem xét một cách chi tiết cách thức vận hành của các đơn vị kinh tế hay các phân đoạn của nền kỉnh tế.
Mục tiêu của kinh tế học vi mô nhằm giải thích giá và lượng của một hànq hóa cụ thể Kinh tế học vi mô còn nghiên cứu các quy định,thuế của chính phủ tác động đến giá và lượng hàng hóa va dịch vụ cụ thể.
- Kinh tế học vĩ mô
Nghiên cứu nền kinh tế quốc gia và kinh tế toàn cầu, xem xét xu hướng phát triển và phân tích biến động một cách tổng thể, toàn diện về cấu trúc của nền kinh tế và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế.
Mục tiêu phân tích của kinh tế học vĩ mô nhằm giải thích giá cả bình quân, tổng việc làm, tồng thu nhập, tổng sản lượng sản xuất Kinh tế học vĩ
mô còn nghiên cứu các tác động của chính phủ như thu ngân sách, chi tiêu chính phủ, thâm hụt ngân sách lên tổng việc làm và tổng thu nhập.
Sự phân biệt kinh tế học vi mô và vĩ mô không có nghĩa là phải tách rời các vấn đề kinh tế một cách riêng biệt Nhiều vấn đề liên quan đến cả hai Kinh tế học
vi mô và kinh tế học vĩ mô là hai bộ phận cấu thành quan trọng của môn kinh tế học, có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
Trang 4Mối quan hệ này cho thấy rằng, trong thực tiễn quản lý kinh tế, cần thiết phải giải quyết tốt các vấn đề kinh tế trên cả hai phương diện vi mô và vĩ
mô Nếu chỉ tập trung vào những vấn đề vi mô như tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp mà không có sự điều tiết của chính phủ, thì không thể có một nền kinh tế phát triển ổn định, bình đẳng và công bằng.
Kinh tế là một hệ thống phức tạp, nhiều cấp bậc, tự phát
triển Hai yếu tố quan trọng xây dựng nên hệ thống kinh tế
là chủ thể kinh tế và môi trường dinh chế Một phương pháp nghiên cứu hệ thống kinh tế là so sánh kinh tế Đó là xu
hướng phân tích kinh tế xuất hiện sau thế chiến thứ hai và gắn liền với tên tuổi các nhà kinh tế học nổi tiếng như Samuelson, K Landuaer, V Oyken, K Poiany
3 xu hướng phân tích cơ bản về hệ thống kinh tế
- So sánh những hệ thống kinh tế trước và sau công nghiệp hóa (phân tích so sánh dọc)
- So sánh những hệ thống kinh tế trong cùng một thời đại (phân tích so sánh ngang)
- So sánh các hệ thống chuyển tiếp Ví dụ từ kinh tế hành chính-mệnh lệnh sang kinh tế thị trường, hay kinh tế thị trường tự do sang kinh tế hỗn hợp
2 Lao động
Điều 55 Hiến pháp năm 1992 của nước ta quy định: “Lao động là quyền nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch ngày càng tạo nhiều việc làm cho người lao động”
Lao động là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự nhiên, trong lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công cụ tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống con người, lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động rất cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người
Con người không thể sống khi không có lao động Qua đó mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định, và từ đây, con người bắt đầu ý thức được việc làm
Trang 5Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng Do đó, hơn bao giờ hết, việc làm có vai trò hết sức quan trọng Việc tìm hiểu về khái niệm cũng như vai trò, ý nghĩa của việc làm
có ý nghĩa cả trong lí luận và thực tiễn
Trên thực tế việc làm được thể hiện dưới 3 hình thức:
- Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó
- Hài là, làm công việc để thu lại cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó
- Ba là, làm các công việc cho hộ giạ đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiên công cho công việc đó Bao gồm sản xuát nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý
3 Việc làm
Dưới góc độ kinh tế - xã hội
Việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận Cụ thể, về khía cạnh này thì tất cả hoạt động kiếm sống hay mưu sinh cùa con người được gọi chung là việc làm
Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của từng cá nhân Con người muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên cải tiến thành các hoạt động nhất định Người có việc làm là khái niệm để chỉ những người hiện đang tham gia các hoạt động đó Tùy theo mức độ tham gia và thu nhập từ những hoạt động này mà có thể chia đối tượng này thành 2 loại là: người có việc làm đầy đủ và người có việc làm không đầy đủ hay thiếu việc làm
Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất xã hội Dọ
đó bên cạnh ý nghĩa là vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng, của
xã hội Điều này đòi hòi phải có các chính sách và biện pháp nhất định phù hợp từ phía nhà nước nhằm tăng số lượng việc làm và chất lượng việc làm, bảo đảm đời
Trang 6sống dân cư, kìm chế nạn thất nghiệp và thông qua đó giải quyết các vấn đề xã hội khác
Dưới góc độ pháp lý: Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm ILO coi việc khuyến nghị và xúc tiến việc làm là một trong những mục tiêu quan trọng trong tôn chỉ hoạt động của mình thểhiện qua việc ILO đã có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến việc làm, trong đó có một số công ước quan trọng như công ước số 47 về duy trì tuần làm việc 40 giờ, Công số 88 về tổ chức dịch vụ việc làm; công ước về về chính sách việc làm Theo quan niệm của ILO, người có việc làm là người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật còn người thất nghiệp là người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc
4 Mối quan hệ giữa 3 vấn đề trên và liên hệ với Việt Nam?
4.1 Mối quán hệ
Từ các khái niệm đã phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy kinh tế - lao động
- việc làm có mối quan hệ tác động lẫn nhau
Khi nền kinh tế của một quốc gia phát triển, được điều chỉnh bởi các quy luật kinh tế, tầm vi mô và vĩ mô thì đòi hỏi phải có nguồn lao động chất lượng và đảm bảo cả về số lượng và sẽ có nhiều việc làm được tạo ra cho xã hội Qua đó, năng xuất, hiệu quả lao động sẽ tác động trở lại nền kinh tế
Khi một quốc gia có nền kinh tế, yếu kém thì nguồn lao động sẽ bị dôi dư kèm theo đó là tỷ lệ thất nghiệp cao tác động xấu tới nền kinh tế cả vĩ mô và vi mô
Khi nguồn lao động có trình độ thì đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế, xã hội tác động tốt đến nền kinh tế, nó sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Khi nguồn lao động có trình độ thấp đỏi hỏi phải có chính sách đào tạo đội ngũ lao động để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế sẽ có tác động tích cực đến vấn đề việc làm; vì lao động được đào tạo có trình độ cao không chỉ có việc làm trong 1 quốc gia mà còn các nước khác
Khi tạo ra nhiều việc làm sẽ tác động trở lại nền kinh tế và nguồn lao động Đời sống của nhân dân nói chung sẽ được đảm bảo, tác động tích cực đến kinh tế
Trang 74.2 Liên hệ tại Việt Nam
Nhà nước ta thực hiện đường lối đổi mới trong đó có cả kinh tế; luôn chú trọng kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo kinh tế, đã giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh
tế quan trọng ở tầm chiến lược, vĩ mô, tạo ra những đột phá trong đổi mới, mở cửa
và hội nhập, đưa đất nước phát triển với thế và lực mới Đảng và Nhà nước xác định kinh tế - một lĩnh vực trọng yếu, huyết mạch của xã hội Quan điểm phát triển kinh tế còn xuất phát từ chính đòi hỏi của cuộc sống người dân với những lợi ích và nhu cầu thường nhật của họ Nhà nước lãnh đạo kinh tế, chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội chỉ nhằm mục đích duy nhất là phục vụ nhân dân; làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người dân có cơm ăn, áo mặc, có nhà ở, được học hành, được chăm sóc sức khỏe,…
Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, đảm bảo dân quyền để thực hiện dân chủ
và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, trong đó có lãnh đạo kinh tế Đó cũng là những điều kiện
để xây dựng nền dân chủ ở nước ta, tất cả đều vì dân, hướng tới cuộc sống và quyền làm chủ của dân trong một xã hội dân chủ, một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Để đạt được điều đó, thì “phát triển kinh tế là trung tâm”
Mặt khác, kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, quy định và chế ước lẫn nhau Vì vậy, Đảng, Nhà nước không chỉ quan tâm đến chính trị mà còn với kinh tế Sự lãnh đạo được thể hiện ở cương lĩnh, chiến lược, đường lối, chủ trương, nghị quyết và các nghị quyết Trung ương Nghị định Trong đó, không chỉ là quan điểm, nguyên tắc chính trị mà còn là các quyết sách ở tầm chiến lược về xây dựng và phát triển kinh tế, kể cả kinh tế đối ngoại
Thu hút và trọng dụng nhân tài, phát huy nguồn lực con người luôn là một nhiệm vụ quan trọng được Đảng, Nhà nước quan tâm thường xuyên Mở rộng đào tạo nghề; bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học, công nghệ, kinh doanh, về quản
lý kinh tế, xã hội và nhiều công nhân lành nghề; nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật cho người lao động” Trong văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khóa VII) đã nêu “Hình thành từng bước các trường lớp trọng
Trang 8điểm có chất lượng cao trong các ngành học, bậc học, cấp học; mở rộng hệ thống trường, lớp năng khiếu ở phổ thông, xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia”
Hay trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đưa ra chủ trương mới về sự phát triển, nhấn mạnh nhân tố con người, coi trọng phát triển bền vững, hài hòa, chủ trương thay đổi mô hình tăng trưởng (chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, từ chú trọng số lượng sang chú trọng chất lượng…) Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn (2011-2020), Đảng ta đã chỉ rõ: “Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn”
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ định hướng việc phát hiện, trọng dụng nhân tài của đất nước là: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề” “Phát huy và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tri thức của con người Việt Nam và khai thác nhiều nhất tri thức của nhân loại Xây dựng và triển khai lộ trình phát triển kinh tế tri thức đến năm 2020”
Mới đây nhất, Báo cáo chính trị do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng diễn ra cuối tháng 1/2016 cũng nêu rõ về vấn đề xây dựng, phát triển văn hóa, con người: “Các cấp, các ngành phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa, con người; phải thực hiện có kết quả mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh: “Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã
Trang 9hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”
“Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt đang đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng chiến lược nhân tài quốc gia, sử dụng đội ngũ trí thức, tạo thành chủ trương, cơ chế thống nhất Đó là một giải pháp căn bản của sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./
Mục tiêu của chính sách lao động việc làm của Đảng, Nhà nước là hướng vào giải phóng sức sản xuất, giải phóng và phát huy mọi tiềm năng sức lao động, khơi dậy tiềm năng của mỗi người và của cả cộng đồng dân tộc, coi trọng giá trị sức lao động, mở rộng cơ hội cho mọi người cùng phát triển
Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ VI (năm 1986) Đánh dấu bước chuyển biến trong nhận thức và quan niệm về vấn đề việc làm của Đảng Đại hội xác định:
“Nhà nước cố gắng tạo thêm việc làm và có chính sách để người lao động tự tạo ra việc làm” Nhà nước không bao cấp toàn bộ về việc làm mà chuyển dần sang Nhà nước kết hợp với người lao động, gia đình và xã hội tạo việc làm cho người lao động
Đặc biệt đến đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Đảng và nhà nước xác định rõ tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm và thấy rõ mối quan hệ giữa giải quyết việc làm và phát huy nhân tố con người Đại hội khẳng định: “Giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của quốc gia – Bằng nhiều biện pháp, hàng năm tạo ra hàng triệu việc làm mới, tận dụng số ngày công lao động chưa được sử dụng đến nhất là trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn ” và đưa ra những giải pháp cơ bản giải quyết việc làm cho người lao động như: Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế đầu tư phát triển mở rộng các cơ sở sản xuất kinh doanh tạo nhiều việc làm, phát triển thị trường lao động, đẩy mạnh xuất khẩu lao động Như vậy, đến đại hội IX của Đảng vấn đề việc làm đã được nhận thức sâu sắc và toàn diện trong mối quan hệ
Trang 10với các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội Chính sách việc làm phải nhằm khai thác tối đa nguồn lực con người Việt Nam, với trí tuệ và truyền thống của dân tộc
đó là nguồn lực chính của sự phát triển đất nước
Đảng và Nhà nước đã có những chính sách về việc làm như:
- Có chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm cho người lao động, xác định mục tiêu giải quyết việc làm trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; bố trí nguồn lực để thực hiện chính sách về việc làm
- Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia tạo việc làm và tự tạo việc làm có thu nhập từ mức lương tối thiểu trở lên nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, phát triển thị trường lao động
- Có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phát triển thị trường lao động và bảo hiểm thất nghiệp
- Có chính sách đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gắn với việc nâng cao trình độ kỹ năng nghề
- Có chính sách ưu đãi đối với ngành, nghề sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hoặc sử dụng nhiều lao động phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
- Hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật, lao động nữ, lao động là người dân tộc thiểu số
Và Trách nhiệm của Nhà nước cũng được quy định rõ như:
- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về việc làm
- Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về việc làm
- Quản lý lao động, thông tin thị trường lao động, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và bảo hiểm thất nghiệp
- Quản lý tổ chức và hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
về việc làm
- Hợp tác quốc tế về việc làm