Cơ cấu lao động theo ngành là sự phân chia lao động theo các ngành kinh tế mà trong đó ba nhóm ngành chính là: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.Các nhóm ngànhnày có mối liên quan chặt
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam thực hiện bởi chính sách cải cách, mở cửa nền kinh tế và chuyển sự vận hành các quan hệ kinh tế theo hướng thị trường Cơcấu kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng công nghiệp hóa Tỉ trọng ngànhnghề phi nông nghiệp đã tăng lên rõ rệt, đóng góp nhiều vào cải thiện và đa dạng hóathu nhập của người dân, bên cạnh đó sự thay đổi cơ cấu ngành nghề trong lĩnh vựcnông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa cũng đóng góp quan trọng trong việc tăngđóng góp của ngành nông nghiệp vào GDP
Đi liền với sự thay đổi về cơ cấu ngành kinh tế là sự biến đổi về cơ cấu của lực lượnglao động Do năng suất lao động trong các ngành phi nông nghiệp lớn hơn trong nôngnghiệp, tỷ trọng tăng lên của lao động được thu hút vào khu vực phi nông thường thấphơn mức tăng của tỷ trọng GDP của ngành này so với nông nghiệp Quá trình côngnghiệp hóa và hội nhập kinh tế đang diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam càng làm chocác luồng di chuyển lao động, biến động về cơ cấu lao động phát triển mạnh mẽ hơn,các vấn đề kinh tế - xã hội và các khó khăn nảy sinh ngày càng gay gắt Mục tiêuchuyển dịch cơ cấu lao động ngành nông nghiệp cũng ngày càng trở nên cấp thiết hơn.Những vấn đề đó đòi hỏi việc phân tích một cách hệ thống quá trình chuyển dịch laođộng ngành nông nghiệp Đề tài này được chúng tôi nghiên cứu nhằm phần nào trả lờinhững câu hỏi đó
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: lao động ngành nông nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: tại Việt Nam giai đoạn 2006-2011
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về chuyển dịch cơ cấu lao độngtừ ngành nông
nghiệp sang phi nông nghiệp
- Phản ảnh rõ nét hơn thực trạng lao động ngành nông nghiệp cũng như tình
trạng chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp ở ViệtNam giai đoạn 2006-2011
- Đưa ra các giải pháp cũng như đề xuất ý kiến nhằm tác động tích cực tới
chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp
Trang 34 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả
Trang 4CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO
ĐỘNG TỪ NÔNG NGHIỆP SANG PHI NÔNG NGHIỆP
1.1 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu lao động
1.1.1 Cơ cấu lao động theo ngành
Cơ cấu lao động theo ngành là mối quan hệ tỉ lệ giữa số lượng lao động trong từngngành kinh tế với tổng số lao động của một địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia.Các quan hệ tỉ lệ được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định,chúng luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể
Cơ cấu lao động theo ngành là sự phân chia lao động theo các ngành kinh tế mà trong
đó ba nhóm ngành chính là: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.Các nhóm ngànhnày có mối liên quan chặt chẽ với nhau
Hình 1: các mối liên kết giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp
Về nguyên tắc, cơ cấu lao động theo ngành phải phù hợp với cơ cấu kinh tế và chính
vì thế nó phản ánh trình độ phát triển của kinh tế, trình độ văn minh của một xã hội
Vì vậy theo quy luật phát triển không ngừng của xã hội thì cơ cấu lao động luôn luônvận động Đó là sự chuyển dịch cơ cấu lao động
Liên kết tiêu dùngKHU VỰC NÔNG NGHIỆP
KHU VỰC PHI NÔNG NGHIỆP
Di chuyển vốn ,lao động
Chia sẻ rủi ro
Sản phẩmdịch vụphi nôngnghiệpLiên kết sản xuất
Trang 51.1.2 Chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự chuyển hóa cơ cấu lao động từ trạng tháinày (cơ cấu lao động cũ ) sang trạng thái kia (cơ cấu lao động mới ) phù hợp với quátrình phát triển kinh tế xã hội Chuyển dịch cơ cấu lao động là một quá trình làm thayđổi cấu trúc và mối liên hệ lao động theo một mục tiêu nhất định
Chuyển dịch cơ lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp là quá trìnhphân bố lại lực lượng lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp theo tỉ lệ phù hợpvới quy trình vận động phát triển của kinh tế Trong điều kiện nước ta hiện nay cùngvới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH việc thực hiện quá trìnhchuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp là một tất yếu kháchquan Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động ngành nông nghiệp sang phi nôngnghiệp không chỉ xuất phát từ yêu cầu phát triển các ngành kinh tế mà còn để đápứng yêu cầu mở rộng hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế toàn cầu
1.2 Ý nghĩa và sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp
sang phi nông nghiệp
1.2.1 Ý nghĩa của sự chuyển dịch
- Chuyển dịch cơ cấu lao động nộng nghiệp sang phi nông nghiệp tạo điềukiện để thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng CNH-HDH, nhằmthích ứng với cơ cấu của kinh tế mới Kinh nghiệm của các nước trong khu vực vàtrên thế giới cho thấy,chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽvới sự thay đổi về chính sách khoa học kĩ thuật, công nghệ, tài chính với chính sáchphát triển nguồn nhân lực
- Chuyển dịch cơ cấu lao động nộng nghiệp tạo điều kiện phân bố lại lựclượng lao động hợp lý hơn giữa các vùng lãnh thổ, giữa các ngành nghề, giữa các khuvực kinh tế trong nông thôn, tạo điều kiện cho người lao động lực chọn nghềnghiphùhợp hơn, tăng cơ hội tìm được việc làm
- Chuyển dịch cơ cấu lao động nộng nghiệp sang phi nông nghiệp tạo điềukiện cân đối lại lao động về cung cầu, giải quyết vấn đề thất nghiệp,tạo điều kiện giảiquyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nôngnghiệp làm tăng dần lao động trong phi nông nghiệp, thực hiện đa dạnh hóa nôngnghiệp là giải pháp duy nhất để giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động,thực hiện xóa đói giảm nghèo bền vững Đồng thời song song với quá trình chuyểndịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp là quá trình tăng chất lượng laođộng thông qua quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
Trang 61.2.2 Sự cần thiết phải chuyển dịch
- Cơ cấu ngành kinh tế luôn luôn biến đổi vì vậy quá trình chuyển dịch cơcấu lao động cũng không kết thúc và diễn ra không ngừng Trong điều kiện nước tahiện nay cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa,việc thực thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp là một yếu
tố khách quan
- Việc chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp
là một giải pháp duy nhất đối với tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn là chuyển dịch
cơ cấu lao động theo hướng CNH-HDH Nói chung điều này sẽ dẫn tới tỷ trọng laođộng nông nghiệp giảm phù hợp với sự tăng trưởng kinh tế thì đòi hỏi phải có thờigian và điều kiện vật chất
- Chuyển dịch lao động với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cómối quan hệ biện chứng với nhau Theo lý thuyết phát triển nếu nền kinh tế tăngtrưởng thì sẽ tạo điều kiện thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khi cơ cấu kinh tếchuyển dịch sẽ tác động làm chuyển dịch cơ cấu lao động Tuy nhiên nền kinh tế cóthể chủ động tác động theo chiều hướng ngược lại Nghĩa là nhà nước chủ độngchuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực, sự tác động này sẽ tạo động lực cho
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sẽ làm cho kinh tế tăng trưởng Sự tác động này cóthể được thực hiện thông qua các chính sách, các chượng trình quốc gia về việc làm vànhững quy định trong sử dụng lao động
1.3 Yếu tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang
phi nông nghiệp
1.3.1 Yếu tố khách quan
- Sự phát triển của khoa học và công nghệ
Khoa học công nghệ là một nhân tố tham gia tích cực vào quá trình sản xuất Sựphát triển của khoa học công nghệ dẫn đến sự phát triển của những ngành mới đặcbiệt là các ngành phi nông nghiệp, theo đó cầu về lao động của những ngành nàycũng xuất hiện và gia tăng nhanh chóng
- Sự đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
Kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng và Nhà nước ta xác địnhkinh tế củanước ta là nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc phát triển nềnkinh tế được điều tiết bởi mối quan hệ cung cầu , và lao động cũng không phải làtrường hợp ngoại lệ Ngoài ra, nền kinh tế thị trường phát triển sẽ dẫn đến nhữngngành nghề phù hợp được thị trường chấp nhận tồn tại còn những ngành lạc hậu sẽ bị
Trang 7đào thải, theo đó lao động của những ngành này cũng sẽ dịch chuyển sang ngành nghềkhác.
- Xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế
Mở cửa hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy thươngmại phát triển Nhiều sản phẩm hàng hóa có điều kiện thâm nhập thị trường và khẳngđịnh thương hiệu trên thị trường thế giới Việc phát triển các ngành, các sản phẩm cólợi thế cạnh tranh thu hút và giải quyết việc làm cho người lao động cả tham gia trựctiếp và gián tiếp vào các khâu, các công đoạn trong chuỗi giá trị sản phẩm, qua đó làmchuyển dịch cơ cấu lao động
1.3.2 Yếu tố chủ quan
- Chính sách của Nhà nước
Chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng to lớn đối với tổng thể nền kinh tế nóichung và đối với sự chuyển dịch cơ cấu nói riêng Có rất nhiều chính sách của nhànước có liên quan đến việc chuyển dịch cơ cấu lao động như: chính sách vốn đầu tư,chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,chính sách, chính sách đầu tư phát triểnngành, chính sách đào tạo nguồn nhân lực…
Ngoài ra các chính sách về chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiệnđại hóa cũng ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phinông nghiệp
- Quy mô và số lượng cơ sở đào tạo nghề
Các cơ sở đào tạovà dạy nghề là nơi cung cấp nguồn cung lao động cho mọi ngànhnghề, đây cũng là nơi mà cung cầu lao động có sự gặp gỡ ban đầu.Việc tăng quy môcũng như số lượng đào tạo các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ cũng là nguyênnhân dẫn đến chuyển dịch lao động ngành nông nghiệp sang phi nông nghiệp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TỪ NÔNG NGHIỆP SANG PHI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-
2011 2.1 Thực trạng lao động nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 -2011
Thực trạng lao động ngành nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 -2011 thể
hiện ở một số đặc điểm cơ bản sau:
- Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn rất cao.
Trang 8Bảng 2.1: Tỷ lệ lao động nông nghiệp đang làm việc từ 15 tuổi trở lên giai đoạn
2006-2011 (ĐV:%)
(Nguồn: Điều tra Lao động và Việc làm Việt Nam năm 2011 của Tổng Cục Thống kê)
Bảng 2.1 cho thấy, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp có xu hướng giảm qua cácnăm, tuy nhiên tỷ lệ này còn tương đối cao so với lao động trong cả nước Năm 2006,lao động nông nghiệp đang làm việc là 54,3% chiếm hơn một nửa tổng số lao độngđang làm việc Đến năm 2011, tỷ lệ này giảm xuống còn 48,4% , giảm 5,9% so với
2006 Có thể thấy rằng, lao động tập trung chủ yếu là ngành nông nghiệp, trong khi
đó, tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp trong GDP lại thấp hơn rất nhiều so với côngnghiệp và dịch vụ (Bảng 2)
Trang 9- Dư thừa lao động nông nghiệp ngày càng gia tăng, tình trạng “nông nhàn” ngày càng trở nên đáng báo động
Người nông dân thiếu việc làm do bị mất đất do xu thế tích tụ ruộng đất ngay tạinông thôn và quá trình đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp hiện nay (20 nămqua, 300.000 héc-ta đất nông nghiệp bị mất đi do quá trình này) Ngoài ra, do sự mấtcân đối ngành nghề trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời cùng với quá trình chuyểndịch lao động dẫn đến lao động nông nghiệp nông thôn hiện nay rơi vào tình trạngthiếu việc làm trầm trọng
Bảng 2.3: Tỉ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động ở nông thôn (đv: %)
2010 khi mà nền kinh tế Việt Nam dần ổn định Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp tráhình của nông dân ngày càng nhiều và thời gian kéo dài hơn
- Năng suất, chất lượng lao động thấp
Trong điều kiện CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, đất nước đang rất cần nhữnglao động nông nghiệp nông thôn có trình độ tay nghề tuy nhiên trình độ kĩ thuật của
Trang 10lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn hiện nay ở tình trạng vẫn còn tồi tệ mặc dù
đã có bước đầu được cải thiện trong những năm gần đây
Tỉ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo của ngành nông nghiệp 3.9%(2009),2.4%(2010) và 2.7%(2011) Tỉ lệ này cho thấy trình độ lao động nông nghiệp vẫn cònrất thấp so với trình độ lao động của các ngành phi nông nghiệp
Năng suất lao động trong ngành nông nghiệp của Việt Nam luôn thấp nhất trong nhómcác nước có mức thu nhập trung bình thấp và không thể bắt kịp được năng suất laođộng của các nước này kể từ năm 2005 Trong khi đó, năng suất lao động của ngànhnông nghiệp lại đang có xu hướng chững lại, hiện chỉ bằng 1/3 so với năng suất chungcủa cả nước và khoảng cách giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp đang ngàycàng rộng ra
Bảng 2.4:Năng suất lao động của nông nghiệp và một số ngành phi nông
(nguồn: trung tâm năng suất Việt Nam)
Từ những phân tích trên có thể thấy rõ tất cả thể hiện ở hiệu quả lao động năng suấtlao động nông nghiệp thấp là do chất lượng lao động quá thấp cùng với sự dư thừa về
số lượng lao động Điều đó tác động làm cho thu nhập của những người làm nôngnghiệp cũng rất là thấp khoảng 500.000đ/tháng
Năng suất lao động trong khu vực Công nghiệp – xây dựng đạt mức cao nhất, năngsuất lao động trong khu vực Dịch vụ tương đối cao, năng suất lao động trong khu vựcNông nghiệp đạt mức thấp nhất mà ngành này chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng laođộng nên kéo theo Năng suất lao động của toàn nền kinh tế đạt mức thấp
Tóm lại chúng ta có thể kết luận rằng, lao động nông nghiệp ở Việt Nam hiện nayđang quá dư thừa về số lượng nhưng chất lượng còn thấp và chưa đáp ứng được nhucầu của quá trình CNH-HĐH Sự mất cân đối về lao động theo khu vực địa lí vàngành nghề làm giảm đáng kể khả năng hiểu quả sử dụng lao động nông nghiệp hiệnnay
Trang 112.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông
nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2006-2011
2.2.1 Thực trạng cơ cấu cung lao động
- Quy mô lực lượng lao động:
Bảng 2.5: Số người trong tuổi lao động và có khả năng lao động 2006-2011
(nguồn: tổng cục thống kê)
Năm 2011, lực lượng lao động cả nước đạt gần 51,9 triệu người Tỷ lệ lao động
so với dân số tăng từ 54,7% cuối năm 2006 lên 59% vào năm 2011, cho thấy ViệtNam đang bước nhanh vào thời kỳ dân số vàng với tiềm năng nguồn nhân lực cóthể tham gia vào thị trường lao động và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế
Quá trình đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp tiếp tục tác độngtới cơ cấu lao động nông thôn – thành thị.Trong tổng dân số cả nước năm 2011, dân
số khu vực thành thị là 26,88 triệu người, chiếm 30,6% tổng dân số, tăng 2,5% so
Trang 12với năm trước; dân số khu vực nông thôn là 60,96 triệu người, chiếm 69,4%, tăng0,41% Trong đó, nông thôn nước ta có 15,3 triệu hộ với xấp xỉ 32 triệu người trong
độ tuổi lao động, tăng 11,4% về số hộ và 4,5% về lao động so với kỳ Tổng điều tranăm 2006
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2011 là 51,39 triệu người, tăng 1,97%
so với năm 2010, trong đó lao động nam chiếm 51,6%; lao động nữ chiếm 48,4% Lựclượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,48 triệu người, tăng 0,12 Cơ cấu lao độngkhu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 48,7% năm 2010 xuống 48,0% năm2011; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,7% lên 22,4%; khu vực dịch vụduy trì ở mức 29,6%
Hình 2.1: Biểu đồ cơ cấu số lượng lao động năm 2006 và năm 2011
- Cơ cấu chất lượng nguồn lao động
Trình độ văn hóa:
Giáo dục, đào tạo
Trong những năm qua, công tác xây dựng trường, lớp và đào tạo giáo viên theocác tiêu chí trường chuẩn tiếp tục được triển khai mạnh tại các địa phương
Công tác đào tạo nghề cũng được các cấp, các ngành và địa phương tập trungquan tâm đầu tư Tính đến tháng 6/2011, cả nước có 128 trường cao đẳng nghề; 308trường trung cấp nghề; 908 trung tâm dạy nghề và trên 1 nghìn cơ sở khác mở các lớpdạy nghề Số học sinh học nghề được tuyển mới tính đến hết tháng 6/2011 là 740,4nghìn lượt người, đạt 39,8% kế hoạch năm, bao gồm: Cao đẳng nghề và trung cấpnghề là 92,4 nghìn lượt người, đạt 22%; sơ cấp nghề 648 nghìn lượt người, đạt 45%.Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và dạy nghề năm 2011 đang được triển khaitích cực với tổng số vốn là 2894 tỷ đồng, trong đó kinh phí dành cho đào tạo nghề đối