Cộng đồng kinh tế ASSEAN mở ra sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam đặc biệt trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, lao động và việc làm.. Bảng 1.1 Một số thông tin về các nước trong Cộ
Trang 1TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH
TẾ ASEAN – 2015 ĐẾN LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM TẠI
VIỆT NAM MÔN: QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
Niên khóa: 2012 – 2016 TP.HCM, tháng 11/2014
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Tên đề tài:
Trang 2
DANH SÁCH NHÓM
Trang 3MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Xã hội ngày càng phát triển, mỗi một quốc gia muốn tồn tại và có chỗ đứng trên trên trường quốc tế thì hội nhập là một điều tất yếu phải diễn ra Việt Nam cũng như những quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á chuẩn bị sẽ đón nhận một “ làn gió mới “ từ một sự kiện kinh tế sắp sửa mở cửa vào cuối năm 2015, đó chính là Cộng đồng kinh tế ASEAN (Asean Economic Community, viết tắt là AEC)
Cộng đồng kinh tế ASSEAN mở ra sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam đặc biệt trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, lao động và việc làm Với đề tài này, nhóm chúng tôi hy vọng sẽ giúp các bạn hiểu được sự tác động đó đối với Việt Nam Bất kỳ một vấn đề nào cũng vậy, chúng đều có tính hai mặt Hội nhập mang lại cho chúng ta cơ hội lớn nhưng thách thức cũng không hề nhỏ Chính vì vậy, cả đất nước Việt Nam cần phải làm gì để đón đầu nó Thế hệ trẻ hiện nay, điển hình là sinh viên – lực lượng lao động trẻ - sẽ là những người xây dựng đất nước trong tương lai, họ sẽ phải có sự chuẩn bị như thế nào để đón đầu cơ hội mới này
Chúng tôi hy vọng rằng đề tài này sẽ giúp cho các bạn phần nào hiểu được những vấn đề trên để có một sự chuẩn bị thật chu đáo cho những gì sắp đến và có một cái nhìn rộng hơn về sự kiện kinh tế đang đến gần này
Trang 4MỤC LỤC
1 Giới thiệu chung 5
1.1 Sơ lược về ASEAN 5
1.2 Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 7
1.2.1 Lịch sử hình thành 7
1.2.2 Mục tiêu 7
1.2.3 Bản chất 8
2 Phân tích tác động của AEC đến giáo dục, đào tạo và lao động tại Việt Nam 8
2.1 Giáo dục và đào tạo 8
2.2 Lao động và việc làm 11
3 Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi hội nhập vào cộng đồng kinh tế ASEAN 12
3.1 Cơ hội 13
3.2 Thách thức 13
4 Sự chuẩn bị của sinh viên cho hội nhập AEC 15
Trang 51 Giới thiệu chung
1.1 Sơ lược về ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN) là tổ chức liên chính phủ được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng-cốc, Thái Lan trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với 5 thành viên ban đầu là Indonexia, Malaysia, Philippine, Singapore và Thái Lan Tiền thân của ASEAN là tổ chức có tên Hiệp hội Đông Nam Á, thường được gọi tắt là ASA ASA là một liên minh thành lập năm 1961 gồm ba nước Philippines, Malaysia và Thái Lan Ngày 8 tháng 8 năm 1967, khi các bộ trưởng ngoại giao của năm quốc gia – Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan – gặp gỡ tại Bộ ngoại giao Thái Lan ở Bangkok đã ra Tuyên bố ASEAN, thường được gọi là Tuyên bố Bangkok để nhập ASA cùng với Indonesia và Singapore thành ASEAN Năm ngoại trưởng – Adam Malik của Indonesia, Narciso Ramos của Philippines, Abdul Razak của Malaysia, S Rajaratnam của Singapore, và Thanat Khoman của Thái Lan – được coi là những sáng lập viên của tổ chức này
Qua quá trình phát triển, ASEAN đã mở rộng bao gồm 10 quốc gia ở Đông Nam Á là Indonesia, Malaysia, Philipine, Singapore, Tháiland, Bru-nây, Việt Nam, Lào, Mianma
và Campuchia Đông Ti Mo hiện tại vẫn đang là quan sát viên của ASEAN
Tổng diện tích các nước ASEAN vào khoảng 4,43 triệu km2, với dân số gần 592 triệu người Tổng thu nhập quốc dân của các nước ASEAN năm 2009 đạt 1.492 tỷ đô-la Mỹ Các nước ASEAN có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hiện nay đang đứng hàng đầu thế giới về cung cấp một số nguyên vật liệu cơ bản như: cao su (90% sản lượng cao su thế giới); thiếc và dầu thực vật (90%), gỗ xe (60%), gỗ súc (50%), cũng như gạo, đường dầu thô, dứa… Công nghiệp của các nước thành viên ASEAN cũng đang trên đà phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực: dệt, hàng điện tử, hàng dầu, các loại hàng tiêu dùng Những sản phẩm này được xuất khẩu với khối lượng lớn và đang được thâm nhập một cách nhanh chóng vào các thị trường thế giới ASEAN là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các khu vực khác trên thế giới, và được coi là tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển
Trang 6Bảng 1.1 Một số thông tin về các nước trong Cộng đồng ASEAN
Hợp tác ASEAN ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu, bao gồm nhiều lĩnh vực
từ chính trị-an ninh đến kinh tế thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường, khoa học-công nghệ…
ASEAN cũng đã thiết lập được quan hệ hợp tác nhiều mặt với các Đối tác trong và ngoài khu vực thông qua các tiến trình như ASEAN+1 (hợp tác ASEAN với từng Đối tác); ASEAN+3 (với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc); Cấp cao Đông Á (với 3 nước Đông Bắc Á và Ấn Độ, Ôx-trây-lia, Niu Di-lân); Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF)
…
Sau 4 thập kỷ tồn tại và phát triển, ASEAN đã lớn mạnh thành một trở thành một thực thể chính trị - kinh tế gắn kết, có vai trò quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định
và hợp tác ở khu vực và là đối tác không thể thiếu của các nước và các tổ chức lớn trên thế giới Trên nền tảng đó, ASEAN đã nhất trí đẩy mạnh hợp tác và tăng cường liên kết nhằm hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN vững mạnh dựa trên ba trụ cột là Chính trị-An ninh, Kinh tế và Văn hóa-Xã hội vào năm 2015
Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN nhằm mục tiêu tạo dựng một môi trường hòa bình
và an ninh cho phát triển ở khu vực Đông Nam Á thông qua việc nâng hợp tác chính
trị-an ninh ASEAN lên tầm cao mới, với sự tham gia và đóng góp xây dựng của cả các đối tác bên ngoài
Cộng đồng Kinh tế ASEAN nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ
sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư,
6
Trang 7vốn và lao động; từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo ra sự hấp dẫn với đầu tư-kinh doanh từ bên ngoài
Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN với mục tiêu tổng quát là phục vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ASEAN, tập trung xử lý các vấn đề liên quan đến bình đẳng và công bằng xã hội, bản sắc văn hóa, môi trường, tác động của toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ
Mục tiêu chính của ASEAN được ghi rõ trong tuyên bố Bangkok là thông qua những nỗ lực chung trên tinh thần hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hoá ở mỗi nước, củng cố hòa bình, ổn định ở mỗi quốc gia thành viên, khu vực và trên thế giới
Hiện nay, ASEAN đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu bao trùm là hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN
1.2 Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
1.2.1 Lịch sử hình thành
Tại Tuyên bố Tầm nhìn ASEAN 2020 thông qua tháng 12/1997, các nhà lãnh đạo ASEAN đã định hướng phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN
Ý tưởng đó được tái khẳng định tại Hội nghị cấp cao ASEAN 9 tháng 10/2003, thể hiện trong Tuyên bố Hoà hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II) Theo đó, ASEAN nhất trí hướng đến mục tiêu hình thành một cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với 3 trụ cột chính là hợp tác chính trị - an ninh (Cộng đồng an ninh ASEAN – ASC), hợp tác kinh
tế (Cộng đồng Kinh tế ASEAN – AEC) và hợp tác văn hoá xã hội (Cộng đồng Văn hoá
Xã hội ASEAN – ASCC)
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 12 tháng 1/2007 các nước ASEAN đã quyết định rút ngắn thời hạn hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN từ 2020 xuống 2015
1.2.2 Mục tiêu
Bốn mục tiêu cũng là bốn yếu tố cấu thành AEC:
1 Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua: Tự do lưu chuyển hàng hoá; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do lưu chuyển đầu tư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề
2 Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở
hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử
Trang 83 Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN
4 Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu (WTO)
1.2.3 Bản chất
Mặc dù được gọi với cái tên “Cộng đồng kinh tế”, AEC thực chất chưa thể được coi là một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng Kinh tế châu Âu bởi AEC không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và những cam kết ràng buộc với lộ trình thực hiện cụ thể
AEC thực chất là đích hướng tới của các nước ASEAN thông qua việc hiện thực hóa dần dần 04 mục tiêu kể trên (trong đó chỉ mục tiêu 01 là được thực hiện tương đối toàn diện
và đầy đủ thông qua các hiệp định và thỏa thuận ràng buộc, các mục tiêu còn lại mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng lộ trình và thực hiện một số sáng kiến khu vực)
AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một Thỏa thuận hay Hiệp định với các cam kết ràng buộc thực chất Tham gia vào các mục tiêu của AEC là hàng loạt các Hiệp định, Thỏa thuận, Tuyên bố… giữa các nước ASEAN có liên quan tới các mục tiêu này Những văn bản này có thể bao gồm những cam kết có tính ràng buộc thực thi, cũng có những văn bản mang tính tuyên bố, mục tiêu hướng tới không bắt buộc của các nước ASEAN
Việc hiện thực hóa AEC đã được triển khai trong cả quá trình dài trước đây (thông qua việc thực hiện các cam kết tại các Hiệp định cụ thể về thương mại đã ký kết giữa các nước ASEAN) và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới (tiếp tục thực hiện theo lộ trình các Hiệp định, Thỏa thuận đã có và các vấn đề mới, nếu có)
2 Tác động của AEC đến giáo dục, đào tạo và lao động tại Việt Nam
2.1 Giáo dục và đào tạo
Ngay từ đầu những năm 1990, Bộ Giáo dục Đào tạo Việt Nam đã coi việc mở rộng quan
hệ hợp tác với các nước trong khu vực Đông Nam Á là một ưu tiên Thực hiện chủ trương đó, tháng 2/1990, Bộ Giáo dục Đào tạo chính thức gia nhập tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á (SEAMEO)
Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính của ASEAN, Bộ Giáo dục Đào tạo Việt Nam trở thành thành viên của Tiểu ban Giáo dục của ASEAN (ASCOE), đã tích cực phối
8
Trang 9hợp với các nước trong khu vực với nhiều hoạt động thiết thực, có hiệu quả và được các nước bạn đánh giá cao
Hiện tại, quá trình hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) 2015 đã gần chạm đến vạch đích cuối cùng Về lý thuyết, sự dịch chuyển tự do nguồn lao động trong 10 nước thành viên Asean nếu diễn ra đúng như mong muốn của lãnh đạo các nước Asean, thì sau
2015 sẽ là thời điểm sôi động của thị trường lao động khu vực Asean Cạnh tranh và đào thải sẽ là tất yếu khi thị trường lao động được mở rộng, yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao Sự cạnh tranh này sẽ là thời cơ đồng thời là thách thức lớn đối với ngành giáo dục, mà đặc biệt là giáo dục đại học ở Việt Nam – nơi chịu trách nhiệm trực tiếp cho việc đào tạo ra lực lượng lao động chất lượng cao, có đủ khả năng cạnh tranh với lực lượng lao động từ các quốc gia thành viên của AEC
Xuất phát điểm của giáo dục Việt Nam còn thấp, môi trường giáo dục vĩ mô còn nhiều yếu kém Bên cạnh đó, dù đã tham gia ASEAN trong 20 năm, nhưng đến nay Việt Nam vẫn nằm trong nhóm bốn nước kém phát triển của khối Khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với ASEAN-6 thì rộng ra, trong khi với ba thành viên khác của ASEAN-4 thì hẹp lại Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam
Trong quá trình xây dựng các đại học chất lượng cao, vẫn còn gặp khó khăn trong chuyển giao chương trình đào tạo, trình độ đội ngũ giảng viên, hệ thống các chuyên ngành đào tạo trong các đại học Việt Nam chưa hoàn thiện
Nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học ở Việt Nam còn thấp, sự phân bổ nguồn lực đầu
tư không đồng đều giữa các trường đại học trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam Điều này dẫn đến sự khập khiễng trong tốc độ phát triển, quy mô và chất lượng đào tạo của các trường đại học Việt Nam
Chất lượng công tác nghiên cứu khoa học của các trường đại học Việt Nam chưa cao Khoảng cách về chất lượng giáo dục đại học của Việt Nam với giáo dục đại học của các quốc gia trong khu vực còn lớn Vì vậy cần kịp thời tập trung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giáo dục với lộ trình phù hợp…
Cộng đồng kinh tế ASEAN ra đời sắp tới đây là một điểm nhấn để ngành giáo dục, đào tạo Việt Nam nhìn lại những gì mà mình đang làm đã phù hợp với yêu cầu của thời kỳ hội nhập chưa? Bất kỳ một vấn đề gì cũng có tính hai mặt của nó, hội nhập tạo cho chúng
ta cơ hội để thăng tiến nhưng nếu không có sự chuẩn bị thì đó sẽ là một sự thất bại Giáo
Trang 10dục và đào tạo đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra những con người trong thời đại cạnh tranh
Các trường đại học cần có một chến lược cơ bản, cụ thể cho từng nhóm ngành nghề chứ không thể nói chung chung, làm chung chung được Lấy ví dụ trong lĩnh vực dịch vụ mà trường Việt Giao đang đào tạo, trong đó có ngành du lịch là một trong tám ngành được AEC ưu tiên dịch chuyển lao động, với các thỏa thuận công nhận bằng cấp của nhau, nhà trường xác định để sinh viên có thể hội nhập, ngoài nhiệm vụ chuyên môn thì phải hình thành kỹ năng ngoại ngữ và khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa
Để chuẩn bị cho quá trình hội nhập AEC, một số trường đại học, cao đẳng và trường nghề đang tập trung vào mục tiêu đào tạo theo các tiêu chí mà thị trường mới yêu cầu
Cụ thể như ở mảng đào tạo nghề đang có sự chuyển động mạnh mẽ để hướng tới sự hội nhập PGSTS Dương Đức Lân, Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội) cho biết: “Từ nay đến năm 2020 sẽ có 30 nghề cấp độ ASEAN được đào tạo Bằng cấp sẽ được công nhận trong khu vực và trên thế giới Học các chương trình này, lao động Việt Nam sẽ có đủ năng lực để làm việc bất cứ quốc gia nào trong khu vực”
Tại Trường trung cấp nghề kỹ thuật công nghệ Hùng Vương, ông Nguyễn Ngọc Hạnh, Phó hiệu trưởng nhà trường, cho biết: “Trường đang đào tạo 3 ngành trọng điểm khu vực
và quốc tế, gồm cơ điện tử, bảo trì hệ thống thiết bị cơ khí và cắt gọt kim loại Từ năm
2011 đến 2014 trường được cấp kinh phí đầu tư là 19 tỉ, riêng năm 2015 là 7 tỉ Chúng tôi
đã đầu tư vào việc xây dựng phòng lab để học sinh đạt chuẩn ngoại ngữ 300 TOEIC, có thể làm việc giao tiếp trong doanh nghiệp nước ngoài Ngoài ra, trường đã đầu tư phần mềm chuẩn hóa tin học, chuẩn hóa các kỹ năng mềm, tay nghề, tác phong công nghiệp…”
Tương tự, Trường CĐ nghề du lịch Sài Gòn cũng đã xây dựng nhiều mối quan hệ với các quốc gia trong khu vực Mới đây nhất, trường đã phối hợp cùng Trung tâm thông tin du lịch Thái Lan tại TP.HCM tổ chức chuyên đề Thái Lan Sinh viên rất hào hứng tham gia các đề tài thuyết minh xoay quanh các chủ đề về địa lý, văn hóa, ẩm thực, lễ hội của nước bạn Thạc sĩ Phan Bửu Toàn, Phó hiệu trưởng nhà trường, cho biết: “Những hoạt động này sẽ giúp sinh viên có thêm kiến thức về các nước trong khu vực Đông Nam Á, sẵn sàng cho cơn sóng 'dịch chuyển lao động' giữa các quốc gia”
Đẩy mạnh các cơ sở đào tạo nghề và phát triển kỹ năng bằng cách:
Nâng cao chất lượng giáo dục trung học cơ sở và đào tạo nghề cần phải dựa trên các chính sách và quy định pháp luật của chính phủ, cụ thể là chiến lược phát triển nguồn nhân lực 2011-2020, chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020, chiến lược phát triển đào tạo nghề, chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 và luật dạy nghề
10