mà còn là nguồn năng lượng sạch có công suất lớn, chi phí rẻ hơn và có khả năng vận chuyển, bảo quản dễ hơn, dưới đây là bảng so sánh các nguồnnhiên liệu cần thiết cho 1 nhà máy điện có
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCMTRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP.HCM
ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌCNGÀNH: THIẾT BỊ MẠNG VÀ NHÀ MÁY ĐIỆN
TIỂU LUẬN QUY HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐIỆN
TÌNH HÌNH QUY HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG
HẠT NHÂN Ở VIỆT NAM
GVGD: TS Trần Hoàng Lĩnh HV: Đặng Ngọc Ẩn MSHV: 12214282
TP HCM, Tháng 12 Năm 2013
Trang 2Phục lục
TÌNH HÌNH QUY HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG
HẠT NHÂN Ở VIỆT NAM
Chương I Tổng Quan Tình Hình Năng Lượng Hạt Nhân Thế Giới 3
Chương II Tình Hình Quy hoạch Và Phát Triển Năng Lượng Hạt Nhân Việt Nam 7
1 Giới thiệu 7
2 Các điều kiện ảnh hưởng đến kế hoạch và quy hoạch nhà máy điện nguyên tử ở Việt Nam 7
3 Tìm hiểu công nghệ, đối tác và an toàn hạt nhân trong quy hoạch phát triển hạt nhân ở nước ta 9
Chương III Tìm Hiểu Các Dự Án Quy Hoạch Và Phát Triển Năng Lượng Hạt Nhân Ở Việt Nam 12 1.Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt 12
2 Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận I, Ninh Thuận II 14
3 Các dự án quy hoạch khác 18
4 Các trường các cơ sở đào tạo ngành vật lý hạt nhân và Kỹ thuật hạt nhân ở Việt Nam 19
Chương IV Mục Tiêu, Định Hướng Sau Khi Quy Hoạch Và Phát Triển Năng Lượng Hạt Nhân Ở Việt Nam 20
1 Mục tiêu tổng quát 20
2 Mục tiêu cụ thể 20
3 Định hướng phát triển các nhà máy điện hạt nhân 23
Chương V Quan Điểm Cá Nhân Về Quy Hoạch Và Phát Triển Năng Lượng Hạt Nhân Ở Việt Nam 25
Tài liệu tham khảo 25
Trang 3Chương I Tổng Quan Tình Hình Năng Lượng Hạt Nhân Thế Giới
- Hiện nay với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế, nhu cầu sử dụng năng lượng trên thế giới ngày càng cao Theo các tính toán của Hội đồng thế giới về năng lượng (WEC), nhu cầu năng lượng thế giới, do dân số và quá trình đô thị hóa gia tăng, đặc biệt tại các nước đang phát triển, sẽ tăng từ 27 đến 61% từ nay đến năm 2050 - khi dân số toàn cầu ước tính sẽ lên tới 9 tỉ người Các chính phủ và các ngành công nghiệp hiện cùng lúc đứngtrước 3 áp lực hết sức nhạy cảm, đó là: vừa phải bảo đảm được nguồn năng lượng trong bối cảnh dân cư thế giới tiếp tục gia tăng mạnh; vừa phải bảo đảm giá cả năng lượng thấp
ở mức chấp nhận được và đồng thời gia tăng năng lượng nhưng lại không được làm
nghiêm trọng hơn quá trình nhiệt độ trái đất đang nóng dần lên Việc đầu tư nghiên cứu & phát triển các nguồn năng lượng tái tạo là nhu cầu tất yếu để giải quyết các vấn đề đó
- Năng lượng hạt nhân không chỉ là nguồn thay thế lý tưởng cho các nguồn nhiên liệu hóathạch (dầu, than đá, khí đốt ) mà còn là nguồn năng lượng sạch có công suất lớn, chi phí
rẻ hơn và có khả năng vận chuyển, bảo quản dễ hơn, dưới đây là bảng so sánh các nguồnnhiên liệu cần thiết cho 1 nhà máy điện có công suất 1000MW vận hành trong 1 năm:
Nhiên liệu Khối lượng Phương tiện vận chuyển Số lượng
Than đá 2200000 tấn Tàu trọng tải 20000 tấn 11 tàu
- Lịch sử phát triển điện hạt nhân trên thế giới đã trải qua 3 giai đoạn đáng chú ý sau:
Giai đoạn thập niên 50-60 là giai đoạn khởi đầu khi công nghệ chưa được thươngmại hóa, phát triển điện hạt nhân nhằm mục tiêu phát triển khoa học công nghệ và xâydựng tiềm lực hạt nhân đảm bảo an ninh quốc gia Vì vậy chỉ có các cường quốc mới pháttriển điện hạt nhân trên cơ sở chuyển đổi từ mục tiêu quân sự sang phát điện
Giai đoạn thập niên 70-80 khi công nghệ hạt nhân đã được thương mại hóa cao và
do khủng hoảng dầu mỏ nên nhiều quốc gia đã phát triển điện hạt nhân và đẩy nhanh tốc
Trang 4độ xây dựng nhà máy điện hạt nhân, đưa tỷ trọng điện hạt nhân toàn thế giới tăng gấp 2lần, từ 9% lên 17%.
Giai đoạn thập niên 80-90, điện hạt nhân vẫn tiếp tục phát triển với tốc đọ khoảng10% năm, nhưng đã vấp phải những thử thách chưa từng thấy Sau sự cố Three MileIsland ở Mỹ năm 1979 và đặc biệt sau thảm họa Chernobyl tại Liên Xô cũ năm 1986,niềm tin của dân chúng vào đọ an toàn của điện hạt nhân bị giảm sút đã làm cho tốc độxây dựng điện hạt nhân giảm mạnh ở Châu Âu và Bắc Mỹ, một số nước còn tuyên bố chủtrương loại bỏ hạt nhân như Đức, Thụy Điển
- Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nước đã và đang sử dụng các lò phản ứng hạt nhân để đáp ứng nhu cầu năng lượng, ví dụ như Mỹ, Nhật, Pháp, Trung Quốc Tính đến 10-2013, trên thế giới hiện nay đang có 434 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động ở 30 nước với tổng công suất là 370667MWe
Hình.1 Biểu đồ về sự phân bố các nhà máy hạt nhân ở các khu vực trên thế giới
Trang 5USA FRANCE JAPAN RUSSIA KOREA INDIA CANADA CHINA ENGLAND UKRAINE SWEDEN GERMANY SPAIN BELGIUM CZECH TAIWAN SWITZERLAND FINLAND HUNGARY SLOVAKIA PAKISTAN ARGENTINA BRAZIL BULGARIA MEXICO ROMANIA SOUTH AFRICA
ARMENIA IRAN NETHERLANDS SLOVENIA
100 58
50 33
23 20 19 18 16 15 10 9 8 7 6 6 5 4 4 4 3 2 2 2 2 2 2 1 1 1 1
Hình.2 Biểu đồ về số lượng các lò phản ứng hạt nhân ở các nước
Trang 6FRANCE SLOVAKIA BELGIUM UKRAINE HUNGARY SWEDEN SLOVENIA SWITZERLAND CZECH FINLAND BULGARIA KOREA ARMENIA SPAIN ROMANIA USA TAIWAN ENGLAND RUSSIA GERMANY CANADA PAKISTAN SOUTH AFRICA
ARGENTINA MEXICO NETHERLANDS
INDIA BRAZIL JAPAN CHINA IRAN
74.8 53.8
51 46.2 45.9 38.1 36 35.9 35.3 32.6 31.6 30.4 26.6 20.5 19.4 19 18.4 18.1 17.8 16.1 15.3 5.3
5.1 4.7 4.7 4.4 3.6 3.1 2.1 2 0.6
Hình.3 Biểu đồ về tỷ trọng điện hạt nhân so với các nguồn điện khác ở các nước
Trang 7Chương II Tình Hình Quy hoạch Và Phát Triển Năng Lượng Hạt Nhân Việt Nam
1 Giới thiệu.
- Đối với nước ta, tuy tiềm năng năng lượng sơ cấp đa dạng nhưng với tốc độ phát tiểnkinh tế nhanh, trung bình điện năng đầu người còn thấp như hiện nay thì khả năng đáp ứngnhu cầu điện năng tăng nhanh trong tương lai là một nhiệm vụ khó khăn Thêm vào đó đểđưa nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì cácyêu cầu về chỉ tiêu phát triển, về đa dạng hóa nguồn năng lượng, đảm bảo cung cấp nănglượng an toàn, bền vững, bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi trường là những nhiệm vụ hếtsức quan trọng
- Ở Việt Nam, chính phủ đang khai triển kế hoạch xây dựng nhà máy điện nguyên tử ởNinh Thuận với tổng công suất thiết kế 4000MW, gồm 2 nhà máy Ninh Thuận 1 và NinhThuận 2 và Viện nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt
2 Các điều kiện ảnh hưởng đến kế hoạch và quy hoạch nhà máy điện nguyên tử ở Việt Nam.
a.Các yếu tố để ảnh hưởng vị trí quy hoạch nhà máy điện nguyên tử.
- Đặc điểm thiết kế lò phản ứng:
Công suất thiết kế tối đa và chất thải phóng xạ của nhà máy
Tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng cho thiết kế của lò phản ứng;
Khả năng chống lại được các ảnh hưởng của thiên tai, động đất…
- Mật độ dân số và lối sống của người dân ở vùng ven quy hoạc:
Khu vực cấm: khu vực xung quanh lò phản ứng
Khu vực dân cư thấp: khu vực quanh khu vực loại cấm
Khoảng cách đến khu vực đông dân cư là khoảng cách từ các lò phản ứng đến ranh giới gần nhất trung tâm dân cư (≥ 25.000 dân)
- Đặc tính vật lý tại vị trí xây dựng: địa chấn, khí tượng, địa chất và thủy văn
Tiêu chuẩn địa chấn và địa chất tại nơi xây dựng nhà máy cần phải đảm bảo Mức
độ rung hay đứt gãy bề mặt đất đủ nhỏ để không làm hư hại đến nhà máy
Điều kiện khí tượng tại nhà máy và khu vực xung quanh
Đặc điểm địa chất, thủy văn ở vị trí đề xuất đặt nhà máy có thể tránh được sự lây lan chất phóng xạ Nếu một lò phản ứng đặt tại một địa điểm mà phóng xạ thải có thể vô tình chảy vào sông hoặc suối gần đó thì cần sử dụng các biện pháp phòng ngừa đặc biệt
b Một số tiêu chuẩn lựa chọn vị trí đặt nhà máy điện nguyên tử.
- Những điểm để đánh giá khi lựa chọn vị trí đặt cho một nhà máy điện nguyên tử:
Trang 8(1) Nguồn nước sẵn có: Nước là cần thiết cho mục đích làm mát và tải nhiệt, do đó
nhà máy phải được đặt nơi có nguồn nước nhiều Có thể lấy nước biển làm chất tải nhiệt, thuận lợi cho công tác xây dựng và vận chuyển
(2) Không có thiên tai: như động đất, núi lửa
(3) Đảm bảo đường lánh nạn khi có sự có
(4) Nền móng đảm bảo
(5) Phương tiện Giao thông vận tải: Vị trí đặt nhà máy điện nguyên tử phải có đầy
đủ thiết bị để vận chuyển các thiết bị nặng trong quá trình lắp đặt và tạo thuận lợi cho sự dichuyển của công nhân trong nhà máy
(6) Gần đường tải điện
(7) Góp phần phát triển địa phương
Từ các yếu tố nêu trên, sự lựa chọn lý tưởng cho một nhà máy điện hạt nhân là nơigần biển hoặc sông và xa khu vực dân cư dày đặc
c Khảo sát môi trường, địa điểm xây dựng
- Công tác khảo sát môi trường được tiến hành theo các hạng mục:
Mặt đất: khảo sát về địa hình, địa chất
Đại dương: khảo sát các vấn đề về dòng hải lưu, sự lên xuống của thủy triều, nhiêu
độ nước biển, địa hình và địa chất của đáy biển Căn cứ theo những tài liệu thu được cóthể tính được độ khuếch tán của nước thải nhiệt từ nhà máy và bảo toàn được môi trườngbiển Ngoài ra còn sử dụng để thiết kế các công trình chắn song, bãi tập kết vận chuyểnđường biển…
Khí quyển: thu thập các số liệu về tốc độ gió, hướng gió, nhiệt độ, phân bố nhiệt độtheo độ cao Các số liệu thu được được sử dụng để tính toán sự khuếch tán của gió khi xảy
ra tai nạn
d Thời gian xây dựng xong một nhà máy điện.
- Sau khi lựa chọn địa điểm cần khảo sát và đánh giá (mất khoảng 3 năm) Khi khảo sátxong sẽ tiến hành thiết kế và thẩm định an toàn (mất khoảng 4 năm), chỉ có thể xây dựngsau khi hoàn thành công tác thẩm định an toàn
- Thời gian xây dựng nhà máy điện nguyên tử thường là 5 năm Vì vậy từ khi quyết địnhđịa điểm xây dựng cho đến khi bắt đầu vận hành nhà máy điện hạt nhân mất ít nhất là 12năm
e Nguồn nhân lực.
Trang 9- Khi xây dựng nhà máy điện nguyên tử cần có các nguồn nhân lực để xây dựng mới, vận hành và ngừng hoạt động một lò phản ứng hạt nhân
Nguồn nhân lực để xây dựng: Ước tính để xây dựng mỗi lò phản ứng hạt nhân cần
3000 công nhân trong thời gian xây dựng là 5 năm
Nguồn nhân lực để vận hành và bảo trì: trung bình một nhà máy điện hạt nhân 1.1GW cần 677 nhân viên để vận hành và bảo trì
Nguồn nhân lực để ngừng hoạt động lò phản ứng
3 Tìm hiểu công nghệ, đối tác và an toàn hạt nhân trong quy hoạch phát triển hạt nhân ở nước ta.
a Công nghệ và đối tác.
- Trải qua quá trình phát triển hơn 50 năm, hiện nay trên thế giới có trên 10 loại lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động , thực chất chỉ mới có ba loại được công nhận là những công nghệ đã được kiểm chứng và được phát triển nhiều nhất, đó là PWR, BWR và PHWR Tỷ phần số lượng lò của các loại công nghệ như sau: Lò phản ứng nước áp lực: 60%
(Pressurired Water Reactor – PWR+VVER), kế theo đó là Lò phản ứng nước sôi: 21% (Boiling Water Reactor – BWR), và cuối cùng là Lò nước năng kiểu CANDU: 7%
(Pressurired Heavy Water Reactor – PHWR), phần còn lại là các loại lò khác (Nguồn:
Nuclear Engineering International Handbook 2005)
- Lò hạt nhân có thể được phân loại theo phản ứng hạt nhân, theo môi trường trung hòa, theo nguồn lạnh, hoặc theo thế hệ Nó cũng có thể được phân loại thế kích cỡ cũng như công nghệ sử dụng, như loại lò PWR, BWR, PHWR, hay LMFBR
Hình 4 Quá trình phát triển các công nghệ hạt nhân
Trang 10- Ở Việt Nam: Tháng 5 năm 2010, Nga được lựa chọn làm đối tác cung cấp công nghệ chonhà máy điện hạt nhân I, với cam kết lâu dài sẽ hỗ trợ Việt Nam trong công tác quản lý và
xử lý chất thải hạt nhân, đồng thời xây dựng một chương trình quốc gia về vấn đề
này Nga đưa ra mức giá ở nhà máy mức công suất 2.000 MWh là gần 8 tỷ USD và đồng ýcho Việt Nam vay tín dụng xuất khẩu để triển khai dự án.Nhà máy được dự tính xây dựng với hệ số an toàn cao trên cơ sở các lò phản ứng nước nhẹ hiện đại, sử dụng công
nghệ nước áp lực (VVER) theo thiết kế của nhà máy điện thế hệ 3 với mức độ an toàn hơnhẳn thế hệ 2 (như nhà máy Fukushima I) Các chương trình hệ thống nhà máy điện hạt nhân đảm bảo an toàn chủ động và thụ động Theo công nghệ mới, khu vực đảm bảo an toàn trong trường hợp xảy ra sự cố nằm cách nhà máy 800 m Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam khẳng định phía Nga hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự
an toàn của Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận I
- Chính phủ Việt Nam đã ký các thoả thuận hợp tác xây dựng máy điện hạt nhân Ninh Thuận II với Nhật Bản với công nghệ lò nước nhẹ cải tiến Tháng 9 năm 2011, Nhật Bản cho tàu khảo sát địa chất đến Việt Nam khảo sát địa chất biển phục vụ dự án xây dựng nhà máy II Các chuyên gia Công ty Điện nguyên tử Nhật Bản (JAPC) đưa ra công nghệ và các đặc tính an toàn của các thế hệ lò phản ứng tiên tiến của Nhật có khả năng chống độngđất và sóng thần cùng hướng khắc phục sau sự cố nhà máy điện Fukushima I
c Quy hoạch về nhiên liệu, quản lý chất phóng xạ, địa chất và an toàn hạt nhân
- Cung cấp nhiên liệu hạt nhân: đến năm 2030, nhiên liệu của các nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam sẽ được nhập khẩu
- Quản lý chất thải phóng xạ: Các chất thải phóng xạ hoạt độ thấp và trung bình sinh ra từ các nhàmáy điện hạt nhân được lưu trữ tạm thời tại kho chứa của nhà máy để sau này được chuyển đếnlưu trữ lâu dài tại bãi chứa chất thải quốc gia.Chất thải phóng xạ hoạt độ cao, chủ yếu là nhiên liệu
đã cháy, được lưu trữ tạm thời tại nhà máy điện hạt nhân, dưới hình thức lưu trữ ướt tại các bểngâm trong nhà máy điện hạt nhân
- Ninh Thuận được các nhà địa chất xác định là vùng động đất cấp 5 hoặc 6 Về mặt khoa học, trận động đất có cường độ lớn hơn 6,5 độ Richter xảy ra ngoài biển có khả năng gây
ra sóng thần Tại vùng Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận (giáp Ninh Thuận, thuộc tuyến đứt gãy 109 – 110 độ) hàng năm đều có động đất, cường độ từ 4,7 đến 5,2 độ Richter Đây là hoạt động kiến tạo bình thường không gây nguy hiểm, nhưng nếu động đất trên 8 độ Richter, ước tính sau 15-30 phút, sóng thần sẽ đến đất liền và ảnh hưởng trực tiếp lên khu vực nhà máy Các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế cho rằng, với mức độ động đất vốn
có, nếu núi lửa hoạt động có thể gây ra sóng thần nhưng mức độ cũng không mạnh Theo cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, khu vực xây dựng nhà máy tương đối ổn định
và những trận động đất thông thường sẽ không ảnh hưởng đến khu vực nhà máy
Trang 11- Tháng 3 năm 2011, đại diện Ban chuẩn bị đầu tư dự án cho biết: "Hai nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận sẽ được thiết kế ở mức dự phòng cao hơn từ 15 đến 30% so với mức
độ động đất cao nhất đã từng xảy ra ở Việt Nam (6,8 độ Richter)" Ngoài ra 2 nhà máy cònđược thiết kế hệ thống đê chắn sóng cao 15m, mặc dù mức sóng cao nhất ghi nhận được tại Ninh Thuận là 8m
- Từ 26 đến 28 tháng 7 năm 2011 đã diễn ra hội thảo quốc tế về "Các vấn đề liên quan đến động đất và sóng thần trong việc phê duyệt địa điểm Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận" với sự tham dự của hàng trăm chuyên gia đến từ Nga, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Armenia và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế Mục tiêu của hội thảo là đưa ra phương án xây dựngtối ưu nhất, đảm bảo sự an toàn và hiệu quả vận hành của nhà máy
- Tháng 8 năm 2011, tại Hội nghị khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc lần thứ 9, các chuyên gia khảo sát cho biết có một số đứt gãy đang hoạt động bị bỏ sót trong các nghiên cứu, khảo sát trước đây Các đứt gãy này được cho là có vai trò quan trọng đối với
sự ổn định công trình trong khu vực Các chuyên gia kiến nghị khảo sát bổ sung
- Ngày 3 tháng 2 năm 2012, công tác khảo sát địa chất đã bắt đầu tiến hành
Trang 12Chương III Tìm Hiểu Các Dự Án Quy Hoạch Và Phát Triển Năng Lượng
Hạt Nhân Ở Việt Nam
1.Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt
- Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt được xây dựng tại một khu vực có diện tích 21 ha ở số 4đường Nguyên Tử Lực Công trình được khởi công xây dựng từ tháng 4-1961 và đượchoàn thành vào tháng 12-1962.Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt là loại lò phản ứng nghiêncứu TRIGA - MARK II của hãng General Atomic thuộc công ty General Dynamics, cócông suất danh định là 250 kW, sử dụng nhiên liệu Uranium 235 được kích hoạt bằngnguồn nơtron chậm để tạo phản ứng nhiệt hạch dây chuyền và chất phóng xạ
- Sau một thời gian lắp đặt và thử nghiệm, lò hạt nhân DLR - I (Dalat Reactor - I) là lò hạtnhân đầu tiên ở Đông Nam Á đã đạt trạng thái “tới hạn” vào lúc 12 giờ 40 phút ngày 26-2-
1963 và chính thức đi vào hoạt động theo công suất danh định từ ngày 3-3-1963.Các bộphận nghiên cứu khoa học của Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt từ khi được thànhlập đến trước ngày đất nước được giải phóng (30-4-1975) gồm có: Phòng Vật lý lò, PhòngKiểm soát Phóng xạ, Phòng Điện tử, Phòng Vật lý hạt nhân, Phòng Hoá học Phóng xạ,Phòng Sinh học Phóng xạ và một thư viện với hơn 3.000 đầu sách, hàng trăm tạp chí khoahọc và hơn 30.000 báo cáo khoa học để phục vụ cho công tác nghiên cứu hoặc tham khảo
- Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt triển khai 3 chương trình chính:
Chương trình khai thác lò phản ứng: Lò phản ứng hạt nhân có khả năng sản xuất nhiều loại đồng vị phóng xạ khác nhau, không những để bảo đảm cho các hoạt động của Trung tâm mà còn cung ứng cho các cơ quan khảo cứu khoa học hay ứng dụng kỹ thuật hạt nhân khác
Chương trình huấn luyện, đào tạo về kỹ thuật: Tổ chức các lớp huấn luyện ở trình
độ đại học để đào tạo những chuyên viên kỹ thuật nguyên tử ứng dụng vào các mục tiêuhòa bình nhằm phục vụ cho các ngành của nền kinh tế - xã hội
Chương trình nghiên cứu khoa học: Xúc tiến khảo cứu khoa học và thực hiện một
số ứng dụng thực tiễn của kỹ thuật hạt nhân trong đời sống
- Trong giai đoạn 1968 - 1975, Trung tâm hoạt động cầm chừng và không có những kếtquả nổi bật Trước thời điểm Đà Lạt được giải phóng, Mỹ đã tiến hành thu hồi các thanhnhiên liệu của lò phản ứng và mang về Mỹ Sau ngày miền Nam được giải phóng, ViệnNghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt được thành lập trên cơ sở tiếp quản Trung tâm Nghiên cứuNguyên tử và được sử dụng thêm toàn bộ cơ sở vật chất tại số 13 đường Đinh Tiên Hoàng,thành phố Đà Lạt Theo thỏa thuận hợp tác giữa hai nước Liên Xô và Việt Nam vào năm
1979, thiết kế kỹ thuật khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được cácchuyên gia Liên Xô thực hiện và được phê duyệt Công trình khôi phục và nâng công suất
Trang 13lò phản ứng được tiến hành trong hai năm 1982 - 1983 Đến ngày 20-3-1984 lò phản ứnghạt nhân Đà Lạt chính thức đưa vào hoạt động với công suất danh định 500 kW.
- Hiện nay, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt được giao những nhiệm vụ cơ bản như sau:
Tổ chức triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng kỹ thuật hạtnhân và năng lượng nguyên tử trên nhiều lĩnh vực khác nhau để phục vụ cho sự nghiệpphát triển kinh tế xã hội của đất nước
Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và đào tạo nhân lực cho sự phát triển của ViệnNghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt và ngành khoa học hạt nhân của nước ta
Quản lý vận hành an toàn và khai thác sử dụng có hiệu quả hoạt động của lò phản ứng Ngoài công tác bảo đảm an toàn lò phản ứng, Viện còn hỗ trợ kỹ thuật trong việc quản lý Nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và xử lý chất thải phóng xạ cho cácđơn vị sử dụng kỹ thuật hạt nhân hay những thiết bị có phóng xạ như máy chiếu X
Quang, tham gia nghiên cứu quan trắc và bảo vệ môi trường
Mở rộng hợp tác trong nước và nước ngoài để trao đổi khoa học, các sản phẩmdịch vụ và chuyển giao quy trình công nghệ hạt nhân
- Kể từ khi lò phản ứng hạt nhân được khôi phục và nâng cấp, Viện Nghiên cứu Hạt nhân
Đà Lạt đã tiến hành nghiên cứu và phát triển ứng dụng kỹ thuật hạt nhân phục vụ có hiệuquả cho các mục tiêu hòa bình để phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong nhiều lĩnh vựckhác nhau:
Điều chế và sản xuất các đồng vị phóng xạ và các dược chất đánh dấu phục vụ chonhu cầu chẩn đoán và chữa trị bệnh của ngành y tế
Sử dụng nguồn nơtron của lò phản ứng để ứng dụng vào kỹ thuật phân tích kíchhoạt nhằm phân tích thành phần, hàm lượng các nguyên tố trong các mẫu vật khác nhauvới độ chính xác cao
Sử dụng nguồn Coban 60 (Co-60) với hoạt độ ban đầu là 16,5 kCi được lắp đặt tại
Lò phản ứng Hạt nhân Đà Lạt vào năm 1981 để ứng dụng công nghệ bức xạ phục vụ cácmục tiêu kinh tế - xã hội: Bảo quản nông sản, thực phẩm, cải tạo sinh khối, bảo đảm chấtlượng sản phẩm hàng hóa bằng phương pháp chiếu xạ khử trùng Nghiên cứu ảnh hưởngcủa bức xạ lên các hệ sinh vật, gây đột biến các giống cây trồng, để tăng độ nẩy mầm, tạo
ra các giống có năng suất cao hoặc thích hợp với điều kiện canh tác ở địa phương Khửtrùng các thiết bị y tế bằng phương pháp bức xạ hạt nhân
Tiến hành nghiên cứu cơ bản về vật lý hạt nhân, vật lý nơtron; sử dụng các kênhngang của lò phản ứng để giúp cho công tác vận hành và khai thác lò phản ứng được antoàn và có hiệu quả hơn
Trong lĩnh vực điện tử hạt nhân, Viện nghiên cứu chế tạo các khối điện tử và các hệthống điện tử hạt nhân chuyên dùng phục vụ cho yêu cầu của ngành y tế, công nghiệp vànghiên cứu khoa học
Đào tạo chuyên viên kỹ thuật cho các ngành điện nguyên tử, kỹ thuật hạt nhân