Phân tích là phương pháp phân chia hệ thống thành các bộ phận cấu thành đơn giản hơn.. Nhưng muốn nhận thức được cấu tạo, tính chất, chức năng và qui luật phát triển thì phương pháp phân
Trang 22.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống
2.1.1 Nguyên lí tiếp cận hệ thống
2.1.2 Phương pháp phân tích hệ thống
Trang 32.1.1 Nguyên lí tiếp cận hệ thống
- Nguyên lí cơ bản của phương pháp tiếp cận hệ thống dựa trên phép biện chứng duy vật để nghiên cứu các hệ thống phức tạp.
- Quan điểm Duy vật biện chứng đã chỉ ra cách tiếp cận hệ thống bằng phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp Phân tích là phương pháp phân chia hệ thống thành các bộ phận cấu thành đơn giản hơn Nhưng muốn nhận thức được cấu tạo, tính chất, chức năng và qui luật phát triển thì phương pháp phân tích phải đi đôi với phương
Trang 4- Để điều khiển tối ưu một hệ thống lớn cần phải xuất phát từ việc thoả mãn mục tiêu tối ưu chung và thoả mãn một loạt các mục tiêu cục bộ Như vậy các mục tiêu cục bộ phải phù hợp với mục tiêu chung hoặc ít ra là không mâu thuẫn với mục tiêu chung.
- Để giải bài toán phức tạp này phải kết hợp các phư
ơng pháp chính qui chặt chẽ với các phương pháp không chính qui Đó chính là nội dung của việc tổng hợp và phân tích hệ thống
Trang 52.1.2 Phương pháp phân tích hệ thống
Các bước phân tích hệ thống:
1 Đặt bài toán: Lựa chọn hệ thống cần nghiên cứu, xác
định các giới hạn của nó, xây dựng mục tiêu cần điều khiển
2 Xây dựng mô hình toán học của hệ thống
3 Lựa chọn phương pháp giải mô hình toán học đã chọn.
4 Dự báo các chiều hướng vận động của hệ thống, xây dựng các phương án phát triển của hệ thống tuỳ theo các khả năng điều khiển
5 Chọn phương án phát triển tối ưu theo các tiêu chuẩn
Trang 62.2 Néi dung qui ho¹ch ph¸t triÓn
Trang 72.2.1 Mục đích qui hoạch phát triển hệ thống
năng lượng
Qui hoạch phát triển hệ thống năng lượng nhằm mục đích đảm bảo một cách tối ưu nguồn năng lượng hữu ích cung cấp cho nhu cầu của xã hội Xuất phát từ định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, các ngành trong nền kinh tế quốc dân xây dựng qui hoạch phát triển ngành.
Trang 8Năng lượng
sơ cấp
Năng lượng cuối cùng
Năng lượng hữu ích
Thuỷ năng
Hạt nhân Dầu thô
Động lực Hơi nước Nhiệt Chiếu sáng
Hệ thống biến đổi và sử dụng năng lượng
Điện năng
Sản phẩm dầu
Thông tin
Trang 92.2.2 Cấu trúc phân cấp của việc qui hoạch
Việc qui hoạch hệ thống năng lượng có cấu trúc phân cấp như hình vẽ
Trang 10qui hoạch
hoạch Năng lượng mới
Dự báo phụ Tải điện
Qui hoạch nguồn điện
Qui hoạch lưới điện
Trang 112.3 Nhiệm vụ của qui hoạch và phát
- Xác định tỉ lệ tối ưu giữa các loại nguồn năng lượng sơ cấp : thuỷ năng, nhiên liệu hoá thạch, hạt nhân, các dạng năng lượng mới và tái sinh dùng để chuyển hoá thành điện năng trong tương lai
Trang 12ơng: vấn đề liên kết hệ thống, tải điện đi xa, cấu trúc tối ưu của lưới điện, vấn đề sử dụng hợp lí và tiết kiệm điện năng, vấn đề giảm thiểu ảnh hưởng của việc phát triển điện năng lên môi trường
Trang 141 Gây ô nhiễm tầng khí quyển
Các chất thải độc hại từ các nhà máy nhiệt
điện có thể liệt kê ra như CO, CO2 , SO2 , NOx
Khi đốt 1 tấn than sẽ sinh ra 66 kg SO2, 11
kg bụi và nhiều khí độc hại khác C th là: ụ ể
+ Lượng khí CO2 do con người đốt nhiên liệu khoáng phế thải vào trong không khí là trên 5 tỉ tấn/ năm
+ Lượng SO2 là 200 triệu tấn / năm
+ Lượng NO là 150 triệu tấn / năm
Trang 15Các kết quả nghiên cứu về ô nhiễm do
sunphua điôxyt (SO2) và bụi thải cho thấy 50% dân số thành thị trên thế giới (khoảng 900 triệu người) đang sống trong môi trường không khí có hàm lượng SO2 vượt quá tiêu chuẩn cho phép,
trên 1 tỉ người đang sống trong môi trường có
hàm lượng bụi vượt quá tiêu chuẩn cho phép,
chính do nguyên nhân trên mà hàng năm trên thế giới có ít nhất khoảng 500.000 trẻ em bị chết
yểu, từ 4 đến 5 triệu người bị mắc bệnh đường
hô hấp và hàng triệu trường hợp mắc các bệnh
Trang 16Các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than là nguồn thải chính của các chất thải các bon Các nhà máy điện hiện nay sản
ra 36% chất thải các bon từ các sản phẩm năng lượng, và nó sẽ tăng lên đến 38%
vào năm 2015.
Hiện nay than chiếm 52% của tổng
số các nhà máy điện nhưng thải ra 87% các chất thải các bon.
Trang 17(Triệu tấn)
Lượng thải cacbon từ các nhà máy nhiệt điện
Trang 18Khí thải của các nhà máy điện lại góp phần làm thủng tầng ôzôn của trái đất, gây ra những
hậu quả to lớn mà cho đến nay người ta cũng
chưa thể đánh giá hết được.
Tầng ôzôn nằm ở độ cao 20-30 km trong tầng bình lưu được sinh ra do sự biến đổi của
oxy(O2) thành ôzôn (O3) Tầng ôzôn đã ngăn đư
ợc hơn 90% tia tử ngoại có hại do mặt trời chiếu xuống trái đất, cho nên các nhà khoa học còn gọi tầng ôzôn là "cái mộc của trái đất"
Trang 19Khi tầng ôzôn bị phá hoại, thì tia tử ngoại trực tiếp chiếu xuống mặt đất, gây ung thư da, làm tổn thương mắt một cách mãn tính và còn
ảnh hưởng đến chức năng của hệ thống miễn dịch của cơ thể
Hiện nay, tầng ôzôn của Nam cực đã mỏng
đi 65%, còn tầng ôzôn trên không trung Bắc
Âu, Nga và Canađa giảm đi từ 12 - 20%, thậm chí tầng ôzôn ở nhiều nơi còn bị thủng hẳn mà tiêu biểu là ở Nam cực đã có một lỗ thủng rộng bằng 20% diện tích của Nam cực
Trang 20nhiên, mà nó là kết quả sự biến đổi thành axit của
ra từ cột ống khói của các nhà máy điện
Trang 213 Hiệu ứng nhà kính
ở quy mô toàn cầu đã có nguy cơ ấm
dần lên của hành tinh chúng ta Các nhà máy
nhiệt điện có sử dụng khí thiên nhiên với hàm lư
thải chủ yếu là Cacbonic (CO2), mêtan (CH4) và
Trang 23Các nhà khoa học dự đoán đến cuối thế kỷ XXI này mực nước biển sẽ tăng lên từ 30 – 75cm Những vùng dân cư
Trang 24hết chương 2