1. Trang chủ
  2. » Tất cả

SKKN môn GDCD

56 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 416,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giảm bớt tínhkhô khan, nhàm chán và khắc phục những khuyết điểm của bộ môn GDCD, việc ứng dụng công nghệthông tin vào các bài giảng giúp giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian trong

Trang 1

Với quan điểm xem giáo dục là quốc sách hàng đầu Những năm qua việc đổi mới nội dung,chương trình sách giáo khoa được thực hiện khá đồng bộ Việc đổi mới nội dung, chương trình yêucầu phải đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải sử dụngphương tiện dạy học phù hợp và CNTT là một trong những phương tiện quan trọng góp phần đổi mớiPPDH bằng việc cung cấp cho giáo viên những phương tiện làm việc hiện đại Cho đến nay, phải nóirằng không một ai nghi ngờ về vai trò to lớn và những tác dụng kỳ diệu của CNTT trong các lĩnh vựccủa đời sống Trong giáo dục, việc ứng dụng CNTT trên thực tế cũng đã đem lại kết quả đáng kể vànhững chuyển biến lớn trong dạy học, nhất là về PPDH.

GDCD là một môn học rất nhạy bén đối với những vấn đề xã hội, việc cung cấp thông tin, liên

hệ thực tế là một trong những yêu cầu quan trọng xuất phát từ đặc trưng của bộ môn Để giảm bớt tínhkhô khan, nhàm chán và khắc phục những khuyết điểm của bộ môn GDCD, việc ứng dụng công nghệthông tin vào các bài giảng giúp giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian trong việc ghi bảng, thay vào

đó, giáo viên có điều kiện tốt hơn để tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận, phát huy tính năng độngtích cực và sự say mê, hứng thú của học sinh trong học tập Đồng thời trong một thời gian ngắn củamột tiết học, giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh tiếp cận một lượng kiến thức lớn, phong phú đa

dạng và sinh động “Một hình ảnh, một đoạn phim có thể thay thế cho rất nhiều lời giảng”, vì vậy

đối với bài giảng có phim, hình ảnh thực tế mô phỏng hợp lý, sinh động sẽ thu hút được sự thích thúsay mê học tập của học sinh, lớp học sôi nổi, học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, giờ dạy có hiệu quả caohơn

Bản thân là một sinh viên chuyên ngành giáo dục chính trị, tương lai trở thành giáo viên dạymôn giáo dục trường trung học phổ thông, sống trong cơn lốc công nghệ thông tin đang trên đà phát

Trang 2

triển, hơn ai hết tôi thấy mình cần phải nhanh chóng nắm bắt và hội nhập, góp phần vận dụng đổi mớiphương pháp giảng dạy một cách tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học môn GDCD nói riêng vàchất lượng giáo dục nói chung.

Vì thế tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An

Giang” làm khóa luận tốt nghiệp đại học.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ởtrường trung học phổ thông

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việcứng dụng công nghệ thông tin, đồng thời đề ra giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy họcmôn GDCD các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dụccông dân ở trường trung học phổ thông, rèn luyện kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảngdạy môn GDCD nhằm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực để chuẩn bị cho công tácgiảng dạy trong tương lai, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân ở các trườngTHPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD ở cáctrường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang Trên cơ sở đó, đề ra giải pháp đểphát huy tính tích cực trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và phương pháp giảng dạy môn GDCDnhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên nói riêng,chất lượng dạy học nói chung

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vậtlịch sử, kết hợp phương pháp logic va lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp sosánh và hệ thống, phương pháp điều tra, phương pháp quan sát và phương pháp thống kê…

5 Đóng góp của khóa luận

Trang 3

Biết về thực trạng và hiểu thêm về giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học mônGDCD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang Qua đó khẳng định tầmquan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy học, góp phần giảmbớt sự khô khan, nhàm chán trong môn Giáo dục công dân, tạo hứng thú học tập cho học sinh nhằmnâng cao chất lượng dạy và học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT trên địa bàn thành phốLong xuyên, tỉnh An Giang.

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận được kết cấuthành hai chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn

GDCD ở trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang

Chương 2: Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở

trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG

TIN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀNTHÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

1.1 Đặc thù môn Giáo dục công dân ở trường THPT

1.1.1 Vị trí và nhiệm vụ của môn GDCD trong trường THPT.

1.1.1.1 Vị trí của môn GDCD trong trường THPT.

Trên cơ sở xác định mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển hài hòa, toàn diện và tínhchất xã hội chủ nghĩa của nền giáo dục, Điều 27 của Luật Giáo dục (2005) nước ta xác định: “Mục tiêucủa giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ vàcác kỹ năng cơ bản phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách conngười Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinhhọc lên và tiếp tục đi sâu vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Trên cơ sởmục tiêu chung của giáo dục phổ thông, Luật giáo dục của nước ta đã xác định rõ mục tiêu của từngcấp học, bậc học Trong đó, mục tiêu của cấp THPT là: “Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triểnnhững kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩthuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tụchọc đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi sâu vào cuộc sống lao động”

Mục tiêu trên đã trở thành định hướng chỉ đạo cho toàn bộ các hoạt động của hệ thống giáo dụcquốc dân mà trước hết là thông qua quá trình dạy học các môn học ở trường THPT, trong đó có môn

Trang 4

GDCD Liên quan đến vai trò và vị trí môn GDCD, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (Khóa VIII)của Đảng đã nhấn mạnh “hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duysáng tạo và năng lực thực hành…” nhằm “giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung vàphương pháp giáo dục – đào tạo”, góp phần phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước.

Vị trí của môn GDCD ở nhà trường phổ thông đã được xác định trong Chỉ thị số BGD & ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 1998 Theo đó, “Môn Giáo dục côngdân ở trường Trung học phổ thông có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách củahọc sinh thông qua việc cung cấp hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lốichính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộcViệt Nam; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu những giá trị tốt đẹpcủa nhân loại và thời đại”

30/1988/CT-Xuất phát từ vị trí đã được xác định, trong thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực thinhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn như: cải tiến nội dung chương trình,SGK; đào tạo bồi dưỡng GV để nâng cao chất lượng đội ngũ, bổ sung thêm tài liệu, trang thiết bị dạyhọc; khuyến khích giáo viên bộ môn tích cực đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theohướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học… Tuy nhiên, việc nhận thức hoặcđánh giá không đúng về vị trí của môn GDCD vẫn còn là một tình trạng khá phổ biến ở nhiều trườngphổ thông hiện nay Nhiều nhà quản lý, giáo viên (kể cả giáo viên bộ môn), học sinh và phụ huynh vẫncòn có những nhận thức, quan niệm lệch lạc khi cho rằng GDCD chỉ là môn học phụ, môn bổ trợ hoặcđồng nhất môn GDCD với môn chính trị hoặc đạo đức thuần túy Những sai lầm trong nhận thức đãkéo theo những hạn chế trong hoạt động thực tiễn dạy học bộ môn Nhiều trường học và cấp quản lýkhông chú ý quan tâm đầu tư cho môn GDCD, đội ngũ giáo viên không được đào tạo chính quy, tìnhtrạng giáo viên dạy chéo môn vẫn còn khá phổ biến, công tác bồi dưỡng giáo viên chưa được chú trọngđúng mức Nhiều giáo viên dạy qua loa, chiếu lệ còn học sinh thì coi thường môn học…Hiện trạng của

sự nhận thức và quan niệm sai lầm về vị trí của môn học đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy họccũng như vị thế của bộ môn này ở trong nhà trường phổ thông hiện nay Để khắc phục tình trạng này,

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo: “Các cấp quản lý Giáo dục- Đào tạo từ Bộ đến địaphương cần có nhận thức đúng vai trò vị trí và mục tiêu đào tạo của bộ môn GDCD cấp Trung học phổthông, có kế hoạch và các giải pháp tích cực nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, bồidưỡng giáo viên, đồng thời cần tăng cường công tác chỉ đạo bảo đảm chất lượng giảng dạy, giáo dụcđạo đức và pháp luật trong các trường Trung học phổ thông, đáp ứng yêu cầu “dạy người và dạy chữ,dạy nghề, trong đó mục tiêu dạy người là quan trọng nhất” nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước”

1.1.1.2 Nhiệm vụ của môn GDCD trong trường THPT

Môn GDCD ở trường THPT có những nhiệm vụ cơ bản sau:

Trang 5

Thứ nhất, trang bị cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật.

Môn GDCD ở trường THPT là một hệ thống kiến thức liên quan đến nhiều lĩnh vực như triếthọc, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối, quan điểm của Đảng,một số chính sách quan trọng của Nhà nước, pháp luật…Vì thế nhiệm vụ đầu tiên của môn học là phảitrang bị và giúp học sinh nắm vững hệ thống tri thức cơ bản, thiết thực của bộ môn

Đối với Phần thứ nhất:Công dân với việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học (GDCD 10), giáo viên phải giúp cho học sinh nhận biết được nội dung cơ bản của thế giới

quan duy vật và phương pháp luận biện chứng Hiểu được bản chất của thế giới là vật chất Thế giớivật chất vận động và phát triển theo những quy luật khách quan Con người có thể nhận thức và vậndụng được những quy luật ấy Giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa hoạt động của chủ thể vàkhách thể qua các mối quan hệ: Thực tiễn với nhận thức, tồn tại xã hội với ý thức xã hội, con người làchủ thể của lịch sử và là mục tiêu phát triển của xã hội

Đối với Phần thứ hai: Công dân với đạo đức (GDCD 10), giáo viên phải giúp cho học sinh

nắm vững một số phạm trù cơ bản của đạo đức học có quan hệ trực tiếp đến mục tiêu đào tạo THPT.Giúp học sinh nắm được các yêu cầu cơ bản về đạo đức của người công dân Việt Nam trong giai đoạnhiện nay

Đối với Phần thứ ba: Công dân với kinh tế (GDCD 11), giáo viên phải giúp cho học sinh hiểu

được một số phạm trù, quy luật kinh tế cơ bản và phương hướng phát triển kinh tế trong thời kì côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Giúp học sinh hiểu được trách nhiệm của công dân trong việc xâydựng, phát triển kinh tế cá nhân, gia đình và xã hội

Đối với Phần thứ tư: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội (GDCD 11), giáo viên phải

giúp cho học sinh hiểu được tính tất yếu và đặc điểm của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam Hiểu được bản chất của Nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Giúp học sinhnắm vững được một số nội dung cơ bản về những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước hiện nay

Đối với Phần thứ năm: Công dân với pháp luật (GDCD 12), giáo viên phải giúp học sinh hiểu

được bản chất giai cấp, xã hội của pháp luật; mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật với kinh tế, chínhtrị, đạo đức Giúp học sinh nhận biết được vai trò và giá trị cơ bản của pháp luật đối với sự tồn tại vàphát triển của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội Giúp học sinh hiểu được một số nội dung cơ bản củapháp luật liên quan đến việc thực hiện và bảo vệ quyền bình đẳng, tự do, dân chủ và phát triển củacông dân

Thứ hai, giúp học sinh từng bước hình thành thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học.

Trang 6

Trên cơ sở từng bước tiếp cận và nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản của môn GDCD, họcsinh sẽ từng bước có những hiểu biết cơ bản để hình thành cho bản thân thế giới quan đúng đắn vàphương pháp luận khoa học Giúp học sinh biết cách quan sát để có được quan niệm đúng đắn, kháchquan về thế giới xung quanh Xuất phát từ thế giới quan đúng đắn, phương pháp luận khoa học, họcsinh sẽ vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn củabản thân Nhiệm vụ này được tập trung trong phần: Công dân với việc hình thành thế giới quan,phương pháp luận khoa học (GDCD 10) Để thực hiện được nhiệm vụ này, trong quá trình dạy học,giáo viên bộ môn không nên sa đà vào các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật triết học mangnặng tính chất hàn lâm, kinh điển Thông qua việc dạy các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật,giáo viên phải hướng học sinh đến các ý nghĩa về mặt phương pháp luận Từ những ý nghĩa phươngpháp luận rút ra sau mỗi bài học, tiết dạy, học sinh sẽ tự liên hệ, rút ra những bài học cho bản thân,thông qua đó giúp các em từng bước hình thành cho mình phương pháp luận khoa học.

Thứ ba, môn GDCD có nhiệm vụ góp phần giúp học sinh hình thành nhân sinh quan tiến bộ.

Thông qua hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức- nhân văn, đường lối chính sách lớn củaĐảng, Nhà nước và pháp luật, môn GDCD giúp học sinh ý thức được các giá trị của con người ViệtNam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp các em có được những hiểu biết đúng đắn về xã hội

xã hội chủ nghĩa, về nhà nước xã hội chủ nghĩa, về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, về các định hướngphát triển kinh tế- xã hội, về vai trò và giá trị của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cánhân, nhà nước và xã hội Học sinh có cái nhìn đúng đắn về thế giới và thời đại, về con người và cộngđồng, về các hiện tượng khác nhau đang diễn ra trong đời sống Các em biết phân tích, đánh giá cáchiện tượng xã hội theo quan điểm khoa học tiến bộ, biết đấu tranh để ủng hộ và bảo vệ cái mới, cái tíchcực và chống lại những cái tiêu cực, lạc hậu, lỗi thời

Thứ tư, trang bị cho học sinh những kỹ năng sống cần thiết.

Trong quá trình dạy học môn GDCD, nhiều giáo viên bộ môn đã không hoàn thành nhiệm vụnày Nhiều giáo viên chỉ chú trọng đến việc truyền thụ tri thức trong khi không chú ý đến việc giáo dụccác kỹ năng sống cần thiết cho học sinh Do đó, bài học GDCD trở nên hàn lâm, đơn điệu, nhàm chán,không cuốn hút được học sinh, không đạt được mục tiêu đề ra Những kỹ năng trong các bài họcGDCD như: giao tiếp và ứng xử, tổ chức quản lý, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranhlành mạnh, định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với những điều kiện vàhoàn cảnh cụ thể trước những biến động không ngừng của đời sống xã hội,…hoặc những kỹ năng cụthể hơn như quan hệ bạn bè, đồng chí, những cư xử trong tình yêu, hôn nhân, gia đình,…luôn cần thiếtcho học sinh Thông qua mỗi bài học, tiết dạy, người giáo viên GDCD cần trang bị cho học sinh những

kỹ năng tương ứng, giúp các em uốn nắn những biểu hiện, cử chỉ, hành vi lệch lạc, không ngừng tựhoàn thiện bản thân, biết đón nhận và giải quyết những thách thức của cuộc sống một cách khoa học vàhiệu quả

Trang 7

Thứ năm, môn GDCD định hướng phát triển nhân cách của học sinh

Đối với môn GDCD, “mục tiêu dạy người” luôn được xác định “là quan trọng nhất” Vì thế,môn GDCD luôn ở “vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách của học sinh” Mỗi họcsinh là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, phát triển xã hội Do đó, thông qua mỗi bài dạy, tiếthọc, người giáo viên GDCD phải tích cực giáo dục, bồi dưỡng để giúp mỗi học sinh hình thành đượccho mình lẽ sống, niềm tin và lý tưởng lành mạnh Giáo dục để các em trở thành những công dân cóích cho bản thân, gia đình và xã hội Trở thành những con người phát triển cao về trí tuệ, trong sáng vềđạo đức và có đời sống tinh thần phong phú Thông qua các bài học GDCD, người giáo viên bộ mônphải giúp các em trở thành những con người sống có nghĩa có tình, thủy chung sau trước, có tinh thầntập thể, có ý thức tổ chức kỷ luật, có lòng nhân ái, khoan dung, biết yêu quê hương, đất nước, yêu chủnghĩa xã hội, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, luôn có

ý thức trách nhiệm trước tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước, dân tộc…Để thực hiện đượcnhiệm vụ này, người giáo viên GDCD phải biến những tri thức vốn khô khan, trừu tượng, khó hiểu củamôn học thành tình cảm, lẽ sống, lý tưởng, niềm tin ở học sinh, thôi thúc các em hành động theo lẽphải và không ngừng nổ lực phấn đấu để tự hoàn thiện bản thân, vươn tới “chân- thiện- mĩ”

Đối với người giáo viên GDCD, những nhiệm vụ nói trên hết sức nặng nề nhưng đó cũng lànhững nhiệm vụ rất đỗi vinh quang Để hoàn thành được những nhiệm vụ ấy đòi hỏi mỗi giáo viênGDCD với lương tâm và trách nhiệm của mình, phải không ngừng học hỏi, lắng nghe và trải nghiệm

để mang lại cho học sinh những bài học GDCD bổ ích và hiệu quả

1.1.2 Đặc thù tri thức môn GDCD ở trường THPT

Là môn khoa học xã hội ở trường THPT có vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu riêng do đó hệ thống trithức của môn học GDCD có những đặc thù sau:

Thứ nhất, hệ thống tri thức môn GDCD ở THPT mang tính đa dạng, tổng hợp Đặc điểm này

thể hiện ở cấu trúc nội dung chương trình cũng như ở từng bài học, từng đơn vị kiến thức trong sáchgiáo khoa Hệ thống tri thức của môn GDCD ở THPT được tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, nhiều bộ mônkhoa học khác nhau như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học,đường lối, quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà nước, pháp luật học, mọi đơn

vị kiến thức lại có những nội dung liên quan đến các lĩnh vực, các môn khoa học khác nhau như: dân

số, môi trường, y tế, ngoại giao, quốc phòng, giới tính và sức khỏe sinh sản, vật lý, sinh học, hóa học,lịch sử, địa lý, văn học…

Đặc thù nói trên đòi hỏi người giáo viên GDCD bên cạnh việc nắm vững hệ thống tri thức triếthọc, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, pháp luật học, đường lối, quan điểm của Đảng,chính sách của Nhà nước phải nắm vững nội dung liên quan ở những lĩnh vực, những bộ môn khoahọc khác nhau Người giáo viên GDCD phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ, phải am hiểu

Trang 8

nhiều lĩnh vực, nắm vững và biết vận dụng kiến thức của các lĩnh vực, các bộ môn khoa học khác nhauvào bài học GDCD.

Sự đa dạng của hệ thống tri thức cũng đòi hỏi người giáo viên GDCD phải sử dụng một cách

đa dạng và linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sau cho phù hợp với đặc thù tri thứccủa từng phần, từng bài học GDCD

Thứ hai, hệ thống tri thức môn GDCD ở THPT mang tính khái quát, trừu tượng.

Tính khái quát, trừu tượng của hệ thống tri thức GDCD trước hết thể hiện ở những nội dung,luận điểm được đề cập trong mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức Những nội dung đó thường là nhữngvấn đề lớn ở tầm vĩ mô, chẳng hạn: Những vấn đề cấp thiết của nhân loại, pháp luật với hòa bình và sựphát triển tiến bộ của nhân loại…hoặc bao trùm một lĩnh vực rộng lớn nào đó như chính sách quốcphòng và an ninh, chính sách đối ngoại, chính sách dân số và giải quyết việc làm, chính sách tàinguyên và bảo vệ môi trường…

Tính khái quát, trừu tượng của tri thức môn GDCD còn thể hiện thông qua một hệ thống kháiniệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật hết sức đặc thù Những khái niệm, phạm trù của môn GDCDthường là những khái niệm, phạm trù của triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hộikhoa học như: Thế giới quan, phương pháp luận, lượng, chất, phủ định, biện chứng, thực tiễn, phươngthức sản xuất, đạo đức, lương tâm, nghĩa vụ, sản xuất vật chất, phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế, giá trịhàng hóa, chủ nghĩa xã hội…Những nguyên lý, quy luật của môn GDCD cũng chủ yếu là nhữngnguyên lý, quy luật của triết học, kinh tế chính trị học, được trình bày một cách ngắn gọn, như: Sự vậnđộng và phát triển của thế giới vật chất (Nguyên lý phát triển trong triết học Mác- Lênin), nguồn gốcvận động, phát triển của sự vật và hiện tượng (quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập),cách thức vận động và sự phát triển của sự vật và hiện tượng (quy luật từ những thay đổi về lượng dẫnđến những thay đổi về chất và ngược lại), khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng (quy luậtphủ định của phủ định), tồn tại xã hội và ý thức xã hội, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luậtcạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cung cầu trong sản xuất và lưu thông hànghóa…Phạm vi phản ánh của những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật nói trên rất rộng vì thếchúng đều mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa rất cao

Đặc thù nêu trên đòi hỏi người giáo viên GDCD trước hết phải nắm vững nội dung, bản chất,đặc điểm của từng khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật, luận điểm liên quan Người giáo viênGDCD phải lựa chọn được các phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học phù hợp với đối tượng

để truyền thụ và giúp học sinh lĩnh hội chính xác những nội dung của bài học Việc tăng cường thựctiễn và đảm bảo tính vừa sức trong dạy học luôn là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong dạy họcGDCD, đặc biệt là đối với những nội dung có tính khái quát, trừu tượng

Thứ ba, hệ thống tri thức môn GDCD ở trường THPT mang tính thời sự.

Trang 9

Tri thức của tất cả các môn học điều gắn liền với thực tiễn cuộc sống ở những góc độ và lĩnhvực khác nhau Đối vơi môn GDCD, bên cạnh tính thực tiễn thì tri thức của môn học luôn mang tínhthời sự sâu sắc Những tri thức của môn học dù khái quát, trừu tượng hay cụ thể đều tập trung phảnánh những vấn đề, những hiện tượng đang nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày Những vấn đề tháchthức của toàn cầu như bùng nổ dân số, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường,…Ngay cả những nội dung kháiquát, trừu tượng như: quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa,quy luật cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cung cầu trong sản xuất và lưuthông hàng hóa…cũng đang hằng ngày, hằng giờ biểu hiện, tác động trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên GDCD phải luôn làm cho tri thức của bài học bắt nhịp vớicuộc sống đang đổi thay từng ngày Để làm được điều đó, mỗi người giáo viên GDCD phải có một tâmhồn nhạy cảm, biết cảm nhận, lắng nghe những đổi thay của cuộc sống, biết nắm bắt, sàng lọc, cậpnhật, phân tích và xử lý thông tin để mang hơi thở của cuộc sống, của thời đại vào từng tiết học, bàidạy GDCD Tuy nhiên, nếu lạm dụng đặc thù này, giáo viên sẽ biến giờ học GDCD trở thành một giờnói chuyện thời sự

Thứ tư, hệ thống tri thức môn GDCD ở trường THPT mang tính định hướng chính trị sâu sắc.

Đối với môn GDCD ở trường THPT, mục tiêu dạy người - giáo dục để học sinh trở thành mộtcông dân có ích cho xã hội luôn được xác định là quan trọng nhất Quá trình giáo dục để học sinh trởthành những công dân có ích cho xã hội trước hết phải bắt đầu từ việc giáo dục ý thức công dân, ý thứcchính trị cho các em Ở nhà trường THPT nhiệm vụ này trước hết phải thuộc về môn GDCD Do đó,

hệ thống tri thức của môn học luôn hướng vào việc giúp học sinh hình thành những thái độ, tình cảmcông dân lành mạnh, có lập trường, quan điểm chính trị rõ ràng Nội dung của mỗi bài học, tiết họcGDCD luôn định hướng cho học sinh về trách nhiệm của các em đối với bản thân của các em đối vớibản thân, gia đình và xã hội, cũng như xác định thái độ, trách nhiệm của các em trước các vấn đề lớnlao của dân tộc và thời đại Giáo dục, bồi dưỡng, vun đắp để giúp các em từng bước định hình đượcmột nhân cách trong sáng, biết lựa chọn cho mình lí tưởng, lẽ sống đúng đắn

Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên GDCD phải luôn bám sát mục tiêu của mỗi bài học, tiếtdạy, phải nắm vững nội dung từng bài, từng đơn vị kiến thức, nắm bắt được đặc điểm trình độ, tâmsinh lí của học sinh để lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp Người giáo viên GDCD phảikhông ngừng rèn luyện để có một nhân cách trong sáng, một tâm hồn phong phú, một bản lĩnh chínhtrị vững vàng Nói cách khác, đối với môn GDCD, người thầy không chỉ có trí tuệ, mà trước hết phải

là người công dân có ý thức chính trị, có lối sống, tâm hồn và nhân cách trong sáng Chỉ có như vậy,người thầy mới có thể hóa thân vào bài dạy để chuyển hóa những tri thức của môn học thành thái độ,tình cảm và lẽ sống của học sinh

Thứ năm, hệ thống tri thức môn GDCD ở THPT gắn liền với việc hình thành kĩ năng sống của

học sinh

Trang 10

Tất cả các môn học đều hướng vào việc rèn luyện những kĩ năng cho người học Do đặc thù về

vị trí, nhiệm vụ của môn học nên môn học GDCD chủ yếu hướng vào việc rèn luyện cho học sinhnhững kĩ năng sống hết sức cần thiết cho các em Những kĩ năng (trong các bài học GDCD) như: giaotiếp và ứng xử, tổ chức quản lí, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, địnhhướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thểtrước những biến động không ngừng của đời sống xã hội Gắn liền với nội dung mỗi bài học GDCDluôn có một loạt những kĩ năng tương ứng, có thể đó là những kĩ năng tiếp cận, phân tích, xử lý…thông tin, cũng có thể là kĩ năng tiếp cận, nhận diện, xử lý, giải quyết những thách thức, những hiệntượng hoặc những vấn đề đang không ngừng nảy sinh trong cuộc sống hằng ngày của chính bản thâncác em, trong quan hệ với bạn bè, trong tình yêu, hôn nhân và gia đình, trong quan hệ cộng đồng…

Trong quá trình dạy học GDCD người giáo viên bộ môn phải nắm vững mục tiêu về kĩ năngcủa từng bài, lựa chọn giới thiệu, trang bị cho học sinh những kĩ năng cần thiết nhất Khuyến khích các

em mang những kĩ năng đó và thực hành và không ngừng tự hoàn thiện ngay trong cuộc sống hàngngày của chính các em Trong quá trình dạy học, người giáo viên GDCD không ngừng trải nghiệm,quan sát, học hỏi và hoàn thiện chính mình Một bài học GDCD thật sự là bổ ích là bài học mà ở đó

mà học sinh không chỉ học được những tri thức, tình cảm cần thiết mà các em còn học ở đó cả sự trảinghiệm và những kĩ năng sống của chính người thầy

Những đặc thù tri thức của môn GDCD nói trên biểu hiện khác nhau trong mỗi bài học, mỗiđơn vị kiến thức khác nhau Trước khi giảng dạy, người giáo viên bộ môn cần nghiên cứu kĩ mục tiêu,nội dung, đặc thù của từng bài học, từng tiết dạy, từng đơn vị kiến thức để lựa chọn phương pháp, hìnhthức tổ chức dạy học, nội dung thông tin, tài liệu, phương tiện dạy học,…sao cho phù hợp và hiệu quả

1.2 Quan điểm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT.

1.2.1 Công nghệ thông tin

1.2.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là ngànhứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin

CNTT là một ngành kỹ thuật vận dụng tất cả các tiến bộ về khoa học, công nghệ, điện tử, toánhọc, quản trị học… để thu thập, biến đổi, truyền tải, lưu trữ, phân tích, suy luận, sắp xếp thông tin…phục vụ cho lợi ích của con người Cụ thể như máy tính, internet, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, tự độnghóa…đều thuộc lĩnh vực của CNTT

Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kíngày 04/08/1993 : Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công

cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có

Trang 11

hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động củacon người và xã hội.

Công nghệ thông tin là một công nghệ tạo khả năng (enabling technology), nghĩa là giúp conngười có thêm khả năng trong hoạt động trí tuệ chứ không phải thay thế con người trong hoạt động đó.Ứng dụng CNTT trong dạy học là sử dụng nhiều phương tiện hỗ trợ trong việc dạy học, giúp cho giáoviên có thêm thời gian và điều kiện để chăm lo những công việc đòi hỏi chất lượng trí tuệ cao hơn hoạtđộng dạy học theo phương pháp truyền thống Việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông vàinternet… trong giáo dục hiện nay đã phát triển nhanh chóng góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy họchết sức đa dạng và phong phú

Sau đây là một số phương tiện hiện đại cơ bản cần thiết trong việc ứng dụng CNTT để dạy học:

Thứ nhất, máy tính và cấu tạo máy tính

Khái niệm cơ bản về máy tính: Máy tính là một công cụ cho phép lưu trữ và xử lí thông tin một

cách tự động Để điều khiển hoạt động của máy tính con người phải cung cấp lệnh cho máy tính Mộttập các lệnh được tổ chức theo một nguyên tắc nào đó được gọi là chương trình Chương trình là mộttập hợp các chỉ thị nhằm hướng dẫn máy tính thực hiện một công việc nào đó Chương trình sẽ thaythế con người điều khiển máy tính

Cấu trúc cơ bản của máy tính: Phần cứng: bao gồm toàn bộ máy và các thiết bị ngoại vi là các

thiết bị điện tử được kết hợp với nhau Nó thực hiện chức năng xử lí thông tin ở mức thấp nhất tức làcác tín hiệu nhị phân Phần mềm: là các chương trình (programs) do người sử dụng tạo ra điều khiểncác hoạt động phần cứng của máy tính để thực hiệu các nhiệm vụ phức tạp theo yêu cầu của người sửdụng phần mềm của máy tính được phân làm 2 loại: Phần mềm hệ thống ( System Software) và phầnmềm ứng dụng ( Applications Soffware)

Các loại máy tính: Máy tính lớn (Mainframe), Siêu máy tính (Super Computer), Máy tính cá

nhân PC (Personal Computer), Máy tính xách tay ( Laptop) và Máy tính bỏ túi (Pocket PC)

Cấu tạo cơ bản của máy tính cá nhân có thể chia làm ba phần: Khối xử lí trung tâm ( CPU:

Central Processing Unit), Bộ nhớ (Memory), Thiết bị vào/ra (Input/Output device)

Ngày nay, máy vi tính có thể giải quyết được các nhiệm vụ co bản của quá trình dạy học như:truyền thụ kiến thức, phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng thực hành, ôn tập củng cố, kiểm tra đánhgiá… là nhờ các chức năng lưu trữ, xử lí, cung cấp thông tin, liên kết thông tin, minh họa, mô phỏng,điều khiển v.v

Thứ hai, máy chiếu đa chức năng ( máy chiếu Projector)

Máy chiếu đa chức năng là phương tiện dạy học mới được đưa vào sử dụng trong những nămgần đây Phương tiện này đã hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy và học của GV và HS khi sử dụng công

Trang 12

nghệ thông tin Là một thiết bị xuất hình ảnh hiện đại đi kèm với máy vi tính, máy chiếu Projectorđược thiết kế nhỏ gọn, có thể treo cố định hoặc di động.

Thứ ba, một số phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD

MS Powerpoint là phần mềm tiện ích có thể tạo ra các công cụ trình diễn có minh họa như các

bản trình diễn (slide show) trên màn hình vi tính thể hiện dưới nhiều dạng: văn bản (text), đồ họa(graphics), ảnh chụp (image), hoạt ảnh (animation), dạng video audio với màu sắc, hình ảnh đẹp, gây

ấn tượng và hấp dẫn đối với học sinh PowerPoint được dùng để tạo các tờ rơi, áp phích, quảng cáo,các biểu mẫu đồ họa trang trí đẹp mắt Đặc biệt, với chức năng tạo các “Slide Show” hay còn gọi làcác “màn trình diễn”, Powerpoint được sử dụng rất nhiều trong việc tạo các báo các khoa học, các bàitrình bày đa phương tiện hấp dẫn PowerPoint có thể ứng dụng trong dạy học GDCD vì nó có một số

ưu thế chủ yếu sau:

Giao diện hẹp, hiệu ứng hình ảnh, âm thanh, màu sắc phong phú, có tác dụng làm giờ học sinhđộng, hấp dẫn với học sinh

Cho phép chèn hình ảnh hay video clip và tạo lập sơ đồ, biểu đồ, mô hình trên một phông nền

có màu sắc hài hòa giúp GV trong việc giải thích, mở rộng, liên kết kiến thức Việc kết hợp các hìnhảnh, các đoạn video clip và các sơ đồ, mô hình, số liệu… một cách thích hợp sẽ đảm bảo cho việc thựchiện các ý tưởng sư phạm của người GV

Cho phép kết nối từng nội dung bài học để tạo thành một chương trình logic giúp cho bài họcđảm bảo được tính hệ thống, khoa học Đồng thời, cho phép tạo một trình diễn các hình ảnh, kí tự tiếpnối liên tục theo những hiệu ứng khác nhau để tạo thành trang viết động

Ứng dụng PowerPoint sẽ giúp người GV lựa chọn được các phương pháp kiểm tra, đánh giáphù hợp, hiệu quả

Powerpoint có khả năng tích hợp tốt cùng một lúc nhiều chức năng khác nhau: chức năng môhình hóa, chức năng thông tin, chức năng điều khiển và định hướng thông tin, chức năng luyện tập vàthực hành, chức năng thiết kế, kiểm tra đánh giá…

Việc ứng dụng powerpoint trong dạy học môn GDCD sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy

và học tập môn học này ở trường THPT Mặt khác, việc ứng dụng phần mềm này sẽ tạo điều kiện đẩynhanh quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo củahọc sinh Tuy nhiên, PowerPoint chỉ là một trong những phương tiện dạy học GDCD được người GV

sử dụng gắn liền với các phương pháp dạy học cụ thể PowerPoint không phải là một PPDH GDCD.Đây thực chất chỉ là một phương tiện dạy học chứa đựng nhiều tiện ích, nó mở ra cho người GV nhữngkhả năng vô tận trong việc khai thác thông tin từ nhiều nguồn tri thức khác nhau vào việc nâng caohiệu quả bài giảng Đặc biệt cần nhấn mạnh rằng, các bài dạy được tạo ra trên PowerPoint không thểthay thế vai trò như một công cụ giúp cho GV dù khi dạy trực tiếp hay qua mạng Cần xác định việc sử

Trang 13

dụng và thiết kế Powerpoint như một công cụ hỗ trợ dạy học Trường hợp nào sử dụng phần mềmkhông hơn gì bảng đen và SGK thì không nên dùng phần mềm Khi sử dụng phần mềm này, khôngnên quá lạm dụng các chức năng của nó để trình diễn như dùng quá nhiều màu nền sặc sỡ, quá nhiềuchữ, hình động, âm thanh không thích hợp, làm cho bài dạy bị chi phối, HS ít tập trung nghe giảng màchỉ để ý đến màn hình.

Microsoft Frontpage là một phần mềm thiết kế web chuyên nghiệp của hãng phần mềm

Micrisoft Phần mềm này được đi kèm với bộ Ofice XP, bao gồm những tính năng vượt trội nhưng lạirất dễ sử dụng Vì Frontpage biến việc thiết kế web đơn giản như khi ta soạn thảo một văn bản trongMicrosoft Word vậy

Ngày nay, Internet và đặc biệt là Word Wide Web đã trở thành một dịch vụ thông tin gắn chặtvới đời sống kinh tế- xã hội Trong giáo dục, việc truy cấp thông tin và tạo ra thông tin trở thành mộtcông việc thường xuyên của thầy giáo và HS Chương trình Frontpage cho phép mọi người dễ dàngtạo ra các trang web sinh động đầy màu sắc, đồng thời chuyển tải các trang đó lên mạng Internet mộtcách thuận tiện nhanh chóng

Nhờ những tiện ích của mình mà MS.Frontpage đã được ứng dụng trong quá trình giảng dạy

và học tập của GV và HS Sử dụng MS FrontPage trong giảng dạy môn GDCD, GV sẽ cấu trúc bàigiảng của mình như một website, trong website có chứa những trang web mang nội dung bài giảng;các trang có thể chứa nội dung của từng đề mục hay từng hoạt động dạy học Các thư mục riêng dùng

để lưu giữ hình ảnh, phim, bài tập trắc nghiệm… tất cả các bài giảng được lưu cùng một thư mục trên

ổ đĩa cứng của máy tính

Ngoài ra một trong những hiện tượng phổ biến hiện nay là sử dụng Internet trong dạy học môn

GDCD Mạng internet là một kênh thông tin khổng lồ có khả năng cung cấp thông tin vô cùng phong

phú, đa dạng và nhiều nội dung Khai thác internet phục vụ cho dạy học sẽ mang lại nhiều hiệu quảthiết thực, cần thiết cho việc dạy học môn GDCD ở trường THPT, thì có thể tải về để làm tư liệu dạyhọc hoặc đưa vào thư viện dự trữ, khi cần có thể dùng đến

Sau khi máy đã kết nối với mạng, ta vào Address để tìm đến website cần khai thác Nếu địa chỉcần tìm không còn nhớ rõ thì vào website google hoặc people, gõ vào Search, sau khi dò tìm page sẽđưa ra một loạt những địa chỉ có chứa tên gần giống với địa chỉ cần tìm, lục trong số đó chúng ta sẽtìm được tên đúng của website Khi đã chọn được nội dung cần, chỉ việc download vào một thư mụcđịnh trước Cũng có khi cần phải trả cho nhà phát hành một khoản tiền từ tài khoản mới đượcdownload về, hoặc chỉ xem được chứ không tải về được

Hoặc sử dụng E-Learning trong dạy học môn GDCD E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô

tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông E-learning có thể coi là “biếnthể” mới khi so sánh với loại hình học tập trực tiếp truyền thống Sự khác biệt thể hiện ở bốn điểmchính: Tính tương tác, đối thoại và cộng tác; học tập với cộng đồng trực tuyến – online; sự tùy biến

Trang 14

hóa và cá nhân hóa cho người học và tính linh hoạt Nhờ các công cụ mà trong E-learning có nhiều

kênh thông tin và nhiều kiểu trao đổi thông tin: Công cụ soạn bài giảng điện tử với các tính năng (tạo

cây nội dung, tạo các tương tác, nhập các đối tượng đã tồn tại, liên kết các đối tượng học tập với nhau,cung cấp các mẫu tạo course học nhanh chóng, thuận tiện, sử dụng lại các đối tượng học tập, tạo cácbài kiểm tra, xuất ra các đinh dạng khác nhau, cung cấp khả năng phát triển các tính năng cao cấpthông qua lập trình và với bài giảng điện tử HS có thể đọc tài liệu tốt hơn, nhanh hơn so với đọc tài

liệu trên giấy); Công cụ mô phỏng có các tính năng (ghi lại các chuyển động trên màn hình, chỉnh sửa

lại các chuyển động nếu cần, đưa thêm các thành phần đồ họa, đưa thêm tương tác cho học viên, đưa

thêm audio/video,…); Công cụ tạo bài kiểm tra có các tính năng (môi trường kiểm tra bảo mật, tạo các bài kiểm tra dễ dàng dựa trên các mẫu cung cấp sẵn, trộn các câu hỏi theo thứ tự ngẫu nhiên,…); Các công cụ tạo bài trình bày multimedia và các công cụ deminar điện tử (chat, chat room, các công cụ

này giúp cho sự tương tác, trao đổi, làm việc nhóm giữa HS với HS, HS và GV tốt hơn, nhiều hơn)

Tóm lại, với việc ứng dụng các phần mềm trên hỗ trợ cho quá trình giảng dạy môn GDCD ởcác trường THPT sẽ mang lại hiệu quả cao Đây chỉ là các phương tiện dạy học chứa đựng nhiều tiệních, nó mở ra cho người GV những khả năng vô tận trong việc khai thác thông tin từ nhiều nguồn trithức khác nhau vào việc nâng cao hiệu quả bài giảng Tuy nhiên, các phần mềm trên không thể thaythế hẳn vai trò của một giáo viên mà đòi hỏi người GV phải biết vận dụng, tìm tòi và sáng tạo để manglại bài giảng hữu hiệu nhất MS Powerpoint là phần mềm phổ biến và mang lại hiệu quả cao nhất khicác giáo viên ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD ở các trường THPT

1.2.1.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD ở trường THPT.

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực công nghệ thông tin đangthực sự tạo ra một cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt đời sống xã hội Đặc biệt, trong lĩnh vực giáodục, việc từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy đang được xem như là mộthướng quan trọng góp phần đổi mới PPDH theo hướng tăng cường hoạt động tích cực, chủ động, sángtạo, bồi dưỡng nâng lực tự học, tự nghiên cứu cho HS, từ đó góp phần tích cực trong việc nâng caochất lượng đào tạo Thực tế quan sát quá trình giảng dạy cho thấy, việc sử dụng công nghệ thông tin

mà chủ yếu làm một số phần mềm thông dụng như PowerPoint, Fronpage để soạn các bài giảng điện

tử sẽ hỗ trợ tốt cho việc giảng dạy và học tập Trong đó MS.PowerPoint được coi là một trong nhữngphần mềm thông dụng và có nhiều tiện ích, rất phù hợp cho việc thiết kế, trình diễn có hiệu quả các bàidạy GDCD cho cả giáo viên và học sinh

Đối với giáo viên

Do tính chất đặc thù của môn GDCD, là một môn học thuộc khoa học xã hội nhân văn, chủ yếucung cấp tri thức theo dạng lí thuyết với khối lượng lớn, do đó việc ứng dụng công nghệ thông tintrong dạy học bộ môn còn gặp nhiều khó khăn Mặt khác, hiện nay các phần mềm được thiết kế sẵn đểphục vụ giảng dạy chuyên ngành đang được triển khai rộng rãi, trong dạy học các môn khoa học tự

Trang 15

nhiên xã hội, ngoại ngữ, riêng đối với môn GDCD còn rất hạn chế Tuy nhiên, khả năng ứng dụngcông nghệ thông tin và các thiết bị kĩ thuật phù hợp nhằm làm tăng chất lượng dạy học cũng như tănghứng thú của HS đối với môn học này ở nhà trường phổ thông là hết sức khả thi Thông qua việc ứngdụng CNTT, người giáo viên GDCD có thể khai thác thông tin trên Internet và khai thác tốt các phầnmềm công cụ một cách sáng tạo nhằm nâng cao hiệu quả của bài dạy và môn học Như giáo viênchuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng được nhiều lần, tuy nhiên ngày càng hoàn thiện và hiệu quả hơn;hoặc các hình ảnh, đoạn phim minh họa cho nội dung sinh động, thực tế… tăng tính động não và hứngthú học tập cho học sinh, các phương tiện sẽ hỗ trợ, chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với

những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp, trừu tượng Lấy ví dụ để giảng nội dung Các hình thức vận động cơ bản của thế giới vật chất, trong bài “SỰ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THẾ

GIỚI VẬT CHẤT”, GDCD Lớp 10, giáo viên có thể cho học sinh xem những đoạn phim về sự vận

động cơ học (trái đất xoay quanh mặt trời), vận động vật lý (sự vận động các phân tử), vận động hóa học (phản ứng một phương trình), vận động sinh học (sự biến đổi vòng đời của loài bướm), vận động

xã hội (sự tiến hóa của loài người); Những hình thức cơ bản của dân chủ, trong bài “NỀN DÂN CHỦ

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”, GDCD lớp 11, giáo viên có thể minh họa hai đoạn phim ngắn về hai hình

thức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp để học sinh dễ hình dung…Đó là những nội dung mà giáo

viên khó có thể miêu tả bằng lời Hay trong chương trình GDCD lớp 12, giáo viên cũng có thể đưa ra

những tình huống thật sự sinh động để giải thích cho các nội dung khó hình tượng như Các hình thức thực hiện pháp luật, bài “THỰC HIỆN PHÁP LUẬT”,….

Khi sử dụng bài giảng điện tử sẽ giúp giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian trong việc ghibảng, thay vào đó, giáo viên có điều kiện tốt hơn để tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận, phát huytính năng động tích cực và sự say mê, hứng thú của học sinh trong học tập Đồng thời trong một thờigian ngắn của một tiết học, giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh tiếp cận một lượng kiến thức lớn,phong phú đa dạng và sinh động

Từ những phương tiện này giáo viên có thể khai thác, sử dụng, cập nhật và trao đổi thông tin

Ví dụ, giáo viên có thể khai thác mạng Internet với các công cụ tìm kiếm như Google.com hoặcVinaseek.com Việc khai thác mạng giúp giáo viên tránh được tình trạng “dạy chay” một cách thiếtthực đồng thời giúp giáo viên có thể cập nhật thông tin nhanh chóng và hiệu quả Đây là một trongnhững yêu cầu đặc biệt cần thiết đối với giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD, bởi GDCD là một mônhọc rất nhạy bén đối với những vấn đề xã hội, việc cung cấp thông tin, liên hệ thực tế là một trongnhững yêu cầu quan trọng xuất phát từ đặc trưng của bộ môn

Qua đây giáo viên có điều kiện để học hỏi, tìm tòi nguồn tri thức mới, bản thân mỗi người rènluyện thêm chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao khả năng tiếp xúc và sử dụng có hiệu quả CNTT vàotrong quá trình giảng dạy của mình nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của việc dạy học môn GDCD

ở trường THPT

Đối với học sinh

Trang 16

Khi giảng dạy có ứng dụng CNTT, nội dung bài dạy đã được giáo viên cô đọng một cách ngắngọn, xúc tích nhưng vẫn đảm bảo nội dung, cùng với nhiều hình ảnh, tư liệu minh họa…đã đem lạinhững lợi ích thiết thực.

Thứ nhất, là cung cấp cho học sinh nhiều dữ liệu Đặc biệt là các học sinh lớp lớn, các em cóthể tự tìm hiểu và sưu tầm nguồn dữ liệu phong phú từ CNTT, chuẩn bị cho bài học, tăng cường ý thức

tự học

Thứ hai, giảng dạy bằng GAĐT sẽ phát huy tối đa trí tuệ của học sinh Và ở đó, học sinh sẽ tiếpthu bài một cách chủ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy nghĩ Bên cạch đó, học sinhđược tham khảo nhiều tình huống thực tế gần gũi với đời sống hiện thực sẽ giúp các em dễ liên hệ vànhanh chóng tiếp thu được vấn đề

Mặt khác khi môn GDCD ở trường THPT được truyền tải bằng ứng dụng CNTT sẽ làm họcsinh giảm đi suy nghĩ môn GDCD là một môn phụ, vì môn GDCD cũng được đầu tư một cách kỹ càng

và thiết thực hơn là rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày Đồng thời, cùng với việc tiếp thu bài họcgiáo án điện tử sẽ giúp cho học sinh có điều kiện tiếp xúc hàng ngày với CNTT, làm quen với môitrường máy vi tính…giúp học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành, có nghĩa là phần nào hình thành thóiquen làm việc khoa học, làm việc theo xu hướng thời đại - ứng dụng CNTT

Tóm lại, với tác động của CNTT, môi trường dạy học cũng thay đổi, nó tác động mạnh mẽ tớiquá trình quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ của các phần mềm ứng dụng,website và hạ tầng CNTT đi kèm Việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học sẽ góp phần nâng caochất lượng học tập, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không chỉ đơn thuần làthầy giảng, trò nghe, thầy đọc, trò chép như hiện nay, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện đểchủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học Vậy với việc ứng dụng CNTT trong dạyhọc môn GDCD cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nóichung, đồng thời mang lại hiệu quả thiết thực cho môn GDCD nói riêng

1.2.2 Một số quan điểm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT.

1.2.2.1 Quan điểm của Sở Giáo dục và Đào tạo về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

Quán triệt tinh thần công tác ứng dụng CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT là công tácthường xuyên và lâu dài của ngành giáo dục, tiếp tục phát huy các kết quả đạt được trong những nămqua Sở Giáo dục và Đào tạo trước hết quán triệt về nội dung và tinh thần các chỉ thị: Quyết định 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triểnnguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Chỉ thị số55/2008/CT- BGDD9T ngày 30/9/2008 của Bộ GDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụngcông nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012; Nghị định 102/2009/NĐ-CP ngày 6

Trang 17

tháng 11 năm 2009 về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước; Thông

tư 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trongcác cơ sở giáo dục; Triển khai các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn về quản lý game online;Thống nhất bộ gõ Tiếng Việt Unicode TCVN 6909:2002, chấm dứt việc sử dụng các phần mềm quản

lý giáo dục, phần mềm quản lý chứa các phông chữ ABC và Công văn số 1768/UBND-VX ngày09/06/2010 của UBND tỉnh An Giang V/v chấn chỉnh sử dụng Internet trong học sinh, sinh viên

Thứ nhất, về công tác chỉ đạo và quản lý CNTT

Trang thông tin điện tử của Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang chính thức được đưa vào hoạt

viên, học sinh và nhân dân Là nơi lưu trữ cơ sở dữ liệu văn bản văn bản quy phạm pháp luật và vănbản điều hành quản lý giáo dục và các thủ tục hành chính của ngành giáo dục nước nhà

Hoàn thành kết nối Internet mạng giáo dục: khẩn trương triển khai kết nối Internet với Viettel(ADSL hoặc công nghệ 3D) trên đại bàn toàn tỉnh theo chỉ đạo của Bộ GD và ĐT Khuyến khích cácPhòng Giáo dục và Đào tạo, các trường THPT trọng điểm hoặc có điều kiện chuyển đổi từ kết nốiADSL sang kết nối cáp quang FTTH hoặc leased line (phải trả cước thuê bao, nhưng băng thông rộng).Tất cả các trường THPT phải có mạng nội bộ

Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội thi ứng dụng CNTT trong dạy và học hoặc ghép với hộithi sáng tạo và tự làm đồ dùng dạy học

Chuyển sang sử dụng hệ thống email @angiang.edu.vn đồng thời với việc sử dụng hệ thốngemail @moet.edu.vn Tiếp tục triển khai hệ thống email @angiang.edu.vn cho tất cả cán bộ quản lý,giáo viên các cơ sở Giáo dục và Đào tạo Việc sử dụng hộp thư điện tử để trao đổi thông tin trongngành và báo cáo bằng email kèm theo văn bản trở thành nếp trong năm học

Thực hiện trao đổi thông tin và báo cáo định kì (1 năm 2 lần vào ngày 15 tháng 6 và ngày 15tháng 12) bằng văn bản và qua hệ thống thư điện tử của các nội dung sau: thống kê máy tính hỏng, tìnhtrạng kết nối Internet, tình trạng sử dụng hộp thư điện tử, nhu cầu máy tính và các thiết bị công nghệthông tin của đơn vị)

Sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục Sử dụng OpenOffice thaycho Microsoft Office theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Phối hợp với các Phòng chuyên môn dẫncác trường đưa phần mềm mã nguồn mở vào chương trình dạy môn tin học chính khóa, tin học vănphòng lớp 11

Tổ chức họp trực tuyến để tiết kiệm kinh phí đi lại cho cơ sở bằng cách xây dựng cổng thôngtin thành viên (Website) của trường và Phòng Giáo dục và Đào tạo có điều kiện triển khai

Thủ trưởng các đơn vị trường học tổ chức hướng dẫn cho cán bộ, giáo viên, học sinh khai thác,

sử dụng email, khai thác thông tin trên internet phục vụ yêu cầu học tập, nghiên cứu cho học sinh và

Trang 18

giáo viên, xây dựng hệ thống mẫu sổ quản lý phòng máy tính, xây dựng nội quy hoạt động, quản lýphòng máy tính cho các đơn vị có phòng máy tính.

Thứ hai, đầu tư trang bị hạ tầng cơ sở CNTT

Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục trang bị máy vi tính, máy chiếu Projector, máy in đáp ứng nhucầu dạy tin học cho học sinh, nghiên cứu của giáo viên và cho công tác quản lý

Các cơ sở giáo dục và đào tạo tại địa phương tiến hành rà soát, kiểm tra thiết bị CNTT đầu nămhọc, lập kế hoạch sữa chữa máy hư, nâng cấp máy cũ, mua sắm, bổ sung các thiết bị CNTT cần thiết

và thanh lý máy hư, không sử dụng được Đảm bảo đủ máy vi tính, thiết bị CNTT phục vụ dạy học chohọc sinh theo Chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Khi tổ chức mua sắm các phần mềm phục vụ công tác quản lý tại đơn vị như: quản lý tài sản,quản lý thư viện, quản lý thiết bị, quản lý điểm…phải lấy bộ cơ sở dữ liệu của dự án SREM làmchuẩn

Thứ ba, nâng cao kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên, cán bộ quản lý

Tổ chức tập huấn cho cán bộ, giáo viên cài đặt và sử dụng phần mềm mã nguồn mở; triển khaitập huấn cán bộ quản lý phòng máy vi tính công tác bảo trì và khắc phục sự cố phần cứng máy tính,khả năng ứng dụng CNTT vào giảng dạy các môn học để mang lại hiệu quả cao nhất

Thứ tư, công tác quản lý, ứng dụng CNTT tại các đơn vị

Thực hiện đầy đủ quy định về hồ sơ sổ sách quản lý cơ sở vật chất tại phòng máy vi tính và cácthiết bị CNTT trong đơn vị

Xây dựng kế hoạch hoạt động và nội quy của phòng máy vi tính trong đó quy rõ trách nhiệmcủa từng đối tượng tham gia Kiểm tra đánh giá hiệu quả hoạt động của phòng máy vi tính

Định kì kiểm tra và bảo trì hệ thống máy vi tính, các thiết bị công nghệ thông tin tại đơn vị.Lập kế hoạch sữa chữa máy hư, nâng cấp máy cũ, mua sắm, bổ sung các thiết bị thông tin cần thiết,thanh lý máy không sử dụng được Đảm bảo đủ máy vi tính, thiết bị CNTT phục vụ cho công tác quản

lý của cán bộ, giáo viên và nhu cầu học tập của học sinh theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đàotạo

Vậy, theo quan điểm của Sở Giáo Dục và Đạo tạo thì CNTT đóng một vai trò hết sức quantrọng trong công tác quản lý giáo dục và đào tạo nói chung, trong công tác giảng dạy nói riêng Do đó,các bộ môn không chuyên về CNTT cần đổi mới nội dung chương trình giảng dạy, phương pháp giảngdạy và nghiên cứu khoa học theo hướng tăng cường áp dụng CNTT Bên cạnh đó, các ngành khoa học,các ngành công nghệ cần tăng cường dạy lập trình để có thể tạo ra các phần mềm chuyên ngành nhằm

hỗ trợ cho dạy và học các môn học khác trong nhà trường

Trang 19

1.2.2.2 Quan điểm của các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD.

Quán triệt tinh thần các công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, căn cứhướng dẫn nhiệm vụ đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT nói chung, dạy họcmôn GDCD nói riêng Các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang như:Trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu, THPT Long xuyên, THPT Bình Khánh, THPT Mỹ Thới,THPT Ishool Long xuyên…đã đề ra những mục tiêu và phương hướng nhất định để nâng cao chấtlượng giảng dạy môn GDCD bằng cách ứng dụng CNTT

Đầu tiên, tăng cường công tác chỉ đạo và quản lý CNTT

Các trường THPT phải hoàn thành kết nối Internet băng thông rộng, tất cả các trường phải cómạng nội bộ Triển khai hệ thống email @angiang.edu.vn cho tất cả giáo viên ở trường Việc sử dụnghộp thư điện tử để trao đổi thông tin trong trường và báo cáo bằng email kèm theo văn bản trở thànhnếp trong năm học tạo điều kiện cho giáo viên tiếp cận CNTT

Các trường THPT có website để cung cấp thông tin và kết nối thông tin với Website Bộ, SởGiáo dục và Đào tạo và có thông báo địa chỉ e-mail tiếp dân trên website Phổ biến cho giáo viên vàhọc sinh tham gia Diễn đàn giáo dục với các chủ đề trao đổi chuyên môn, kinh nghiệm dạy và học mônGDCD

Thứ hai, khai thác, sử dụng và dạy học bằng mã nguồn mở Triển khai ngay việc khai thác, sử

dụng mã nguồn mở trong giảng dạy Cụ thể là: Sử dụng bộ phần mềm văn phòng Open Office 3.0, cócác mô đun (Writer soạn thảo văn bản, Calc bảng tính, Impress trình chiếu, Base quản trị cơ sở dữ liệu,Draw đồ hoạ) đáp ứng đầy đủ nhu cầu văn phòng và dạy tin học; sử dụng các hệ điều hành trên nềnLinux như Ubuntu, Asianux desktop,… Sử dụng trình duyệt web Firefox và bộ gõ tiếng Việt unikey.Các phần mềm mã nguồn mở nói trên vào chương trình dạy môn tin học chính khoá và gài đặt vào cácmáy tính trong các trường THPT nhằm đẩy mạnh công tác ứng dụng CNTT trong đổi mới phươngpháp dạy học của môn GDCD

Thứ ba, Đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy môn GDCD Các trường THPT chỉ đạo và tổ chức hướng dẫn cho giáo viên các môn

GDCD triển khai việc tích hợp, lồng ghép việc sử dụng các công cụ CNTT vào quá trình dạy môn họccủa mình Giáo viên cần tích cực tham gia giới thiệu và tham khảo các phần mềm ứng dụng tích hợpvào môn học trên website Bộ và trên Diễn đàn mạng giáo dục để cùng chia sẻ kinh nghiệm, trao đổihọc tập

Thứ tư, Triển khai chương trình công nghệ giáo dục và e-Learning

Các trường THPT tạo điều kiện và khuyến khích giáo viên dạy môn GDCD tham gia các hoạtđộng: Soạn giáo án (lesson plan), bài trình chiếu và bài giảng điện tử; Tham gia xây dựng các nguồn

Trang 20

tài nguyên giáo dục, học liệu điện tử, các thư viện điện tử để chia sẻ dùng chung qua Website Trường,

Sở, Bộ; Tích cực áp dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học, phần mềm thí nghiệm ảo Đồng thời tạo điềukiện và khuyến khích giáo viên dạy môn GDCD xây dựng giáo trình điện tử, bài giảng điện tử bằngcông nghệ e-Learning để đưa lên mạng

Các trường THPT cũng phát động phong trào thi đua và tổ chức cuộc thi “Giáo viên sáng tạo” với khẩu hiệu phấn đấu hằng năm “Mỗi giáo viên xây dựng một bài giảng điện tử” cho môn GDCD.

Thứ năm, Công tác bồi dưỡng về CNTT cho giáo viên giảng dạy môn GDCD Áp dụng các

hình thức tổ chức hội nghị, hội thảo, họp, các lớp tập huấn, bồi dưỡng khả năng ứng dụng CNTT chogiáo viên trong dạy học môn GDCD nhằm trao đổi kinh nghiệm và nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ

Thứ sáu, các trường THPT tăng cường đầu tư hạ tầng thiết bị CNTT phục vụ cho công tác

giảng dạy môn GDCD Không ngừng yêu cầu đầu tư về cơ sở vật chất kĩ thuật cần thiết phục vụ chocông tác ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD Bên cạnh đó, không ngừng tiến hành rà soát, định

kì kiểm tra và bảo trì hệ thống máy vi tính, các thiết bị CNTT tại cơ sở trường Lập kế hoạch sữa chữamáy hư, nâng cấp máy cũ, yêu cầu bổ sung các thiết bị CNTT cần thiết để phục vụ cho công tác giảngdạy môn GDCD đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh theo chương trình của Sở, Bộ Giáo dục và Đàotạo

1.2.2.3 Quan điểm của Tổ Chuyên Môn ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD.

GDCD là một môn học có vị trí quan trọng trong trường THPT, quán triệt tinh thần đẩy mạnhviệc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, tổ chuyên môn GDCD các trường THPT trên địa bàn thành phốLong xuyên, tỉnh An Giang cũng có những quan điểm nhất định về vấn đề này

Thứ nhất, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn GDCD ở các trường THPT mang lại hiệu

quả cao trong quá trình dạy và học, giáo viên có thể truyền đạt được nhiều tri thức mới Với việc ápdụng phương pháp giảng dạy mới, đòi hỏi giáo viên phải dành thời gian đầu tư vào mỗi bài dạy Từngbước áp dụng các phương tiện hiện đại như máy chiếu đa năng, máy chiếu đa vật thể, Projector , bănghình, tranh ảnh trong giảng dạy bộ môn GDCD là con đường hữu hiệu, có tác dụng tăng hiệu quả tiếthọc lên gấp bội

Thứ hai, Tổ chuyên môn làm cho đội ngũ giáo viên môn GDCD có nhận thức đúng về đổi mới

phương pháp dạy học, đồng thời phải xây dựng được hệ điều kiện để giáo viên có thể thực hiện thànhcông việc đổi mới phương pháp dạy Tạo bước chuyển mạnh mẽ và thực chất về các hoạt động đổi mớiPPDH theo chủ trương: “Nói không với phương pháp đọc - chép” và “nói không với nhìn - chép”; tạophong trào thi đua sử dụng công nghệ mới trong giảng dạy – “sử dụng CNTT trong dạy học mônGDCD”

Trang 21

Thứ ba, tổ chuyên môn GDCD đòi hỏi mỗi giáo viên GDCD phải nắm vững phương pháp dạy

học, quy trình và phương pháp đặc trưng của bộ môn Từ đó, biết cách lựa chọn sử dụng linh hoạt hệthống các phương pháp cho phù hợp với nội dung của tiết học Bồi dưỡng và nâng cao trình độ tin học

để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học Tổ chức hội nghị, hội thảo, các lớptập huấn, bồi dưỡng khả năng ứng dụng CNTT cho giáo viên trong dạy học môn GDCD nhằm trao đổikinh nghiệm và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Thông qua các hội thi ứng dụng CNTTtrong dạy học do Sở Giáo dục và Đào tạo, trường tổ chức…

Thứ tư, tổ chuyên môn đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động “Xây dựng trường học thân

thiện, học sinh tích cực” bằng cách làm phong phú và sinh động các giờ học, các hoạt động ngoại khóa

và các hoạt động khác nhằm xây dựng môi trường học tập hấp dẫn, thu hút học sinh đến trường vàphát huy tính tích cực, chủ động của học sinh như: tổ chức cho học sinh thu thập tài liệu, quay phimchụp ảnh các di tích lịch sử, các danh nhân thuộc địa phương để làm tư liệu, góp phần cung cấp nộidung thông tin vào mạng giáo dục và website của cơ sở giáo dục; tổ chức diễn đàn trên mạng để giáoviên và học sinh thảo luận bài học một cách tích cực, chủ động

Thứ năm, theo quan điểm của tổ chuyên môn về vấn đề đầu tư cho việc ứng dụng CNTT trong

dạy học Trước tiên, chuẩn bị tốt nhân sự trong việc sử dụng, nắm vững kiến thức về CNTT, trước hết

sử dụng máy vi tính thành thạo Tiếp theo là đầu tư một cách cơ bản về cơ sở hạ tầng CNTT, conngười, trước hết đầu tư về máy vi tính, hệ thống máy vi tính cho học sinh Bên cạnh đó, giáo viên phải

sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả các thiết bị CNTT của trường theo tinh thần của Bộ Giáo dục vàGiáo dục Do đó, khai thác sử dụng CNTT luôn luôn phải đi kèm với bảo trì, bảo dưỡng, bảo quảnthiết bị cả phần mềm và phần cứng Luôn luôn đánh giá, kiểm tra khen chê đúng mức độ trong việcứng dụng CNTT trong quản lý cũng như trong dạy học và các công tác khác của giáo viên ở trườnghọc

Tuy nhiên, sự ra đời của phương pháp mới bao giờ cũng gặp những khó khăn, nhất là việc ứngdụng CNTT trong dạy học là việc sử dụng những thiết bị hoàn toàn mới lạ Do đó, đòi hỏi mỗi giáoviên phải có ý thức và quyết tâm tìm tòi, thử nghiệm với những bước đi vững chắc mới có thể đạt hiệuquả cao

1.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang.

1.3.1 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang.

Từ trước đến nay, các môn khoa học xã hội, nhất là môn GDCD rất ít sử dụng phương tiện dạyhọc, chủ yếu là sách giáo khoa, phấn trắng, bảng đen, bảng phụ… nên việc sử dụng băng hình, đĩa CD,máy chiếu Overhead, Projector, máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại khác nhìn chung vẫncòn hạn chế, thậm chí là còn xa lạ với nhiều giáo viên Tuy nhiên trong thời gian gần đây với bước tiến

Trang 22

lên của xã hội, với sự phát triển như vũ bão của kỹ thuật khoa học và công nghệ, phần lớn giáo viêngiảng dạy môn GDCD đã mạnh dạn ứng dụng các công cụ trên để hỗ trợ cho mình trong việc truyềntải tri thức đến với học sinh.

Với việc sử dụng bảng hỏi để điều tra tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD củamột số trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang như: Trường THPT ChuyênThoại Ngọc Hầu, THPT Long xuyên, THPT Bình Khánh, THPT Mỹ Thới, THPT Ishool Longxuyên…đã hiện ra phần nào thực trạng của vấn đề này như sau:

Bảng 1: Tiến hành khảo sát 15 đối tượng cán bộ quản lý và thu về 15 phiếu với kết quả: 100%

các cấp cán bộ quản lý các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên xem môn GDCD trongtrường THPT có một vị trí quan trọng; 100% cho rằng việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy mônGDCD là rất cần thiết; 66% giáo viên thường xuyên ứng dụng CNTT để giảng dạy môn GDCD và gâyhứng thú học tập cho học sinh là 60%; 80% đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật đầy đủ để phục vụ cho việcứng dụng CNTT; 60% ý kiến cho rằng thường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng để giáo viên tiếp cậnCNTT nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; 73% cấp quản lý cho rằng giáo viên có thái độ tíchcực hơn khi ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD

Qua kết quả điều tra ta có thể thấy rằng GDCD là một môn học quan trọng không chỉ truyềnđạt tri thức cho học sinh mà còn dạy học sinh cách làm người, cách sống, cách đối xử với mọi ngườixung quanh Và việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn GDCD là rất cần thiết, giáo viên cần thườngxuyên ứng dụng CNTT để giảng dạy môn GDCD Thực trạng cho thấy việc ứng dụng CNTT tronggiảng dạy môn GDCD mang lại rất nhiều hiệu quả, như trường Chuyên Thoại Ngọc Hầu cho rằngnâng cao chất lượng bài giảng, THPT Long Xuyên Và THPT Bình Khánh thì nghĩ sẽ kích thích hứngthú học tập của học sinh, THPT Ischool LX và THPT Mỹ Thới thì đồng ý là sẽ kích thích hứng thúhọc tập của học sinh, nâng cao chất lượng bài giảng và cả đổi mới phương pháp dạy học theo hướngtích cực Về mặt đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật để phục vụ cho việc ứng dụng CNTT thì các trường đềuđầu tư một cách đầy đủ Các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang cũngthường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng để giáo viên tiếp cận CNTT để nâng cao trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ Và thái độ của các giáo viên khi ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD là khátích cực Họ đều cho rằng bài giảng môn GDCD khi ứng dụng CNTT sẽ có nội dung phong phú hơn,đòi hỏi ở người giáo viên có sự đầu tư nhiều hơn và thu hút học sinh nhiều hơn do phương pháp dạyhọc mới lạ…có hiệu quả hơn so với bài giảng thông thường Khi đề cập đến vấn đề khó khăn của giáoviên trong việc ứng dụng CNTT để giảng dạy môn GDCD thì đa số các cấp cán bộ quản lý đều chorằng không gặp gì khó khăn, một vài ý kiến còn lại thì nghĩ sẽ khó kết hợp với các phương pháp dạyhọc khác Do đó, họ cũng đồng ý với những giải pháp như thường xuyên tổ chức, bồi dưỡng giáo viêntiếp cận và ứng dụng CNTT, tổ chức những buổi trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm để việc ứngdụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD mang lại hiệu quả cao hơn

Trang 23

Bảng 2: Tiến hành khảo sát 15 đối tượng giáo viên (Tổ chuyên môn) và thu về 14 phiếu hợp lệ,

kết quả: 86% xem môn GDCD là môn học quan trọng; 100% cho rằng cần thiết ứng dụng CNTT; 42%thỉnh thoảng ứng dụng CNTT để dạy học; 50% thỉnh thoảng tổ chức các buổi bồi dưỡng để giáo viêntiếp cận CNTT; 43% trường đã đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất kĩ thuật để phục vụ cho việc ứng dụngCNTT trong môn GDCD; 29% nhiều thao tác khó nắm bắt khi ứng dụng CNTT trong dạy học mônGDCD; 36% tổ chức những buổi trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm để việc ứng dụng CNTTtrong giảng dạy môn GDCD để mang lại hiệu quả cao hơn và 28% chưa đề ra giải pháp nào

Qua thực tế khảo sát thấy rằng, môn GDCD ở trường THPT qua nhận định của giáo viên cómột vị trí quan trọng và sự cần thiết phải ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn GDCD Đa số giáo viêntrong tổ chuyên môn thỉnh thoảng ứng dụng CNTT trong dạy học, số ít thì thường xuyên hơn (THPTBình Khánh, THPT Long Xuyên) Theo tổ chuyên môn, lợi ích của việc ứng dụng CNTT là nội dungbài giảng sinh động hơn, chất lượng bài giảng được nâng cao nên kích thích hứng thú học tập của họcsinh Và tổ chuyên môn cũng tổ chức các buổi tập huấn, bồi dưỡng để giáo viên tiếp cận CNTT nhưngchỉ thỉnh thoảng nên dẫn đến việc giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế.Thực trạng các trường đã đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất kĩ thuật để phục vụ cho việc ứng dụng CNTTtrong dạy học môn GDCD và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, bài giảng sinh động hơn, học sinhtích cực hơn trong việc tiếp thu bài Và bài giảng môn GDCD khi ứng dụng CNTT sẽ đòi hỏi giáo viênđầu tư nhiều hơn và có hiệu quả hơn (THPT Long Xuyên), nội dung phong phú hơn, thu hút học sinh

vì phương pháp dạy học mới lạ (THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu, THPT Bình Khánh, THPT MỹThới) Đa số giáo viên không gặp khó khăn gì khi ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD, nhưngcũng có một số giáo viên cho rằng khi ứng dụng CNTT có nhiều thao tác khó nắm bắt, nội dung bàigiảng dài nhưng thời lượng cho bài giảng thì ngắn, có ý kiến khác cho rằng tư liệu cho bộ môn chưanhiều để phục vụ cho bài dạy Cũng như cán bộ quản lý, tổ chuyên môn cũng đồng ý với những giảipháp như thường xuyên tổ chức, bồi dưỡng giáo viên tiếp cận và ứng dụng CNTT (THPT LongXuyên), tổ chức những buổi trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm để việc ứng dụng CNTT tronggiảng dạy môn GDCD mang lại hiệu quả cao hơn (THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu, THPT BìnhKhánh) Tuy nhiên, vẫn có trường hợp tổ chuyên môn cũng chưa đề ra giải pháp nào (THPT BìnhKhánh, THPT Mỹ Thới)

Bảng 3: Tiến hành khảo sát 199 đối tượng học sinh, kết quả cụ thể như sau: 53,5% xem môn

GDCD có vị trí quan trọng trong trường THPT, 31% bình thường; 13% giáo viên thường xuyên thựchiện việc ứng dụng CNTT vào việc giảng dạy môn GDCD ở trường, 47% thỉnh thoảng, 29,5% chưathực hiện lần nào ; 57% các trường đã đầu tư một cách đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ choviệc ứng dụng CNTT trong dạy học; 61% học sinh rất thích thú khi tiếp thu bài giảng có ứng dụngCNTT và 22% gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu bài do nội dung bài giảng dài, 18,5% bài giảngquá nhanh, 50% ghi chép bài không kịp, 9,5% mất tập trung do chú ý các hiệu ứng…

Trang 24

Thực trạng điều tra thấy rằng đa số học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố LongXuyên, tỉnh An Giang xem môn GDCD có vị trí quan trọng trong trường THPT, một số ý kiến còn lạithì coi môn GDCD chỉ có vị trí bình thường Tuy nhiên, tất cả học sinh đều cho rằng việc ứng dụngCNTT vào dạy học môn GDCD là rất cần thiết Đa số học sinh cho rằng giáo viên thường xuyên thựchiện việc ứng dụng CNTT vào việc giảng dạy môn GDCD ở trường và thấy rõ lợi ích của việc này nhưtạo hứng thú học tập cho học sinh cộng với nội dung bài học rõ ràng và dễ tiếp thu Một vài ý kiếnkhác nhận thấy lợi ích là tư liệu minh họa phong phú và có ích trong các kỳ thi, kỳ kiểm tra Và theocác em trường đã đầu tư một cách đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ cho việc ứng dụng CNTTtrong dạy học Theo khảo sát thấy mức độ thích thú của học sinh khi tiếp thu bài giảng có ứng dụngCNTT là rất thích, và coi bài giảng có ứng dụng CNTT hay hơn nhiều vì giáo viên có sự đầu tư vềgiáo án, nhiều tư liệu, cập nhật nhiều sự kiện chính trị - xã hội nóng bỏng góp phần tăng hứng thú họctập cho học sinh Tuy nhiên, vẫn có một số học sinh cho rằng bài giảng có ứng dụng CNTT vẫn nhưvậy, không có gì khác so với bài giảng thông thường do giáo viên chưa khai thác hết tư liệu Mặt khác,phần lớn học sinh cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu bài do nội dung bài giảng dài, giáo viênchưa kết hợp một cách khéo léo sự diễn giải và trình chiếu dẫn đến bài giảng đi nhanh và chép bàikhông kịp Bên cạnh đó, học sinh còn cho rằng có một số bài giảng của giáo viên mang tính khoa họcchưa cao, nhiều màu sắc, hình ảnh không cần thiết dẫn đến học sinh mất tập trung do nhiều hiệu ứng

dư thừa Đa số học sinh yêu cầu chỉ cần ít bản trình chiếu để nội dung thật cô đọng, ngắn gọn dễ theodõi Học sinh cũng đề ra một số kiến nghị như bài giảng phải thực tế hơn, ứng dụng CNTT nhiều hơntrong giảng dạy môn GDCD

Tuy nhiên, có một vài ý kiến khác nhau giữa các trường như THPT Ischool Long Xuyên là mộttrường mới xây dựng lại nên theo học sinh việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật chưa được đầu tư mộtcách đầy đủ và đồng bộ, nên giáo viên chưa có điều kiện để thực hiện một cách thường xuyên Do họcsinh ở trường THPT Ischool Long Xuyên chưa tiếp xúc với nhiều tiết dạy có ứng dụng CNTT nên đa

số các học sinh chưa khẳng định được mức độ hiểu bài như thế nào Đặc biệt, học sinh trường THPT

chuyên Thoại Ngọc Hầu, THPT Long Xuyên và THPT Bình Khánh cho rằng trường đầu tư rất đầy đủ

cơ sở vật chất kỹ thuật để ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn GDCD Do đó, giáo viên cũng thườngxuyên ứng dụng CNTT để giảng dạy môn GDCD và đa số đều thấy nhiều lợi ích của bài giảng có ứngdụng CNTT như nội dung bài học rõ ràng, dễ hiểu, tư liệu minh họa phong phú nên tạo nhiều hứng thúhọc tập cho học sinh Phần lớn học sinh cũng cho rằng bài giảng có ứng dụng CNTT hay hơn nhiều sovới bài giảng thông thường và mức độ hiểu bài của học sinh thì rất nhanh Tuy nhiên, học sinh cũng cómột số khó khăn khi tiếp thu bài giảng có ứng dụng CNTT như bài giảng quá nhanh, nội dung bàigiảng dài dẫn đến học sinh ghi chép bài không kịp, Và đa số các em yêu cầu nội dung cô đọng và ngắn

vật chất kỹ thuật để ứng dụng CNTT vào giảng dạy nhưng giáo viên chưa thường xuyên thực hiện việcứng dụng CNTT để giảng dạy môn GDCD

Trang 25

Vậy, thông qua điều tra khảo sát tất cả các khối 10, 11, 12 của các trường THPT trên địa bànthành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về tình hình ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD cóthể thấy rằng môn GDCD là có vị trí quan trọng trong trường THPT, đa số học sinh và giáo viên đềunhận thấy rõ lợi ích cũng như hạn chế nhất định của phương pháp dạy học mới này Đồng thời cũng đề

ra những giải pháp thiết thực để giúp việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD nhằm đem lạihiệu quả cao nhất

1.3.2 Những thành tựu đã đạt được trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang.

1.3.2.1 Những thành tựu.

Đẩy mạnh và quán triệt tinh thần ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD để đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng tích cực Công tác ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD củacác trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang đã đạt được nhiều kết quả to lớn,thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địabàn thành phố Long xuyên được sự quan tâm rất sâu sát của ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh nhà BanGiám hiệu nhà trường có quyết tâm cao và tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp dạyhọc Nhà trường đã trang bị khá đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc phục vụ cho đổi mớiphương pháp dạy học: Các phòng bộ môn, thư viện, phòng đa chức năng, phòng máy

Việc sử dụng bài giảng điện tử sẽ chuyển tải được lượng tin lớn đến với học sinh, nên việcứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD được sự ủng hộ tích cực của học sinh, đa số học sinh rấtmong muốn được học những giờ học ứng dụng CNTT

Nhận thức của cán bộ giáo viên và học sinh về vai trò, vị trí của ứng dụng CNTT trong dạyhọc môn GDCD được nâng cao, toàn tỉnh ra sức đẩy mạnh ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả

và chất lượng dạy học môn GDCD

Các đơn vị, trường học đã sử dụng, khai thác khá hiệu quả dịch vụ internet phục vụ các hoạtđộng quản lý, chỉ đạo, dạy và học môn GDCD Công tác bồi dưỡng, đào tạo trình độ về CNTT chogiáo viên giảng dạy môn GDCD được nâng cao, thường xuyên tạo điều kiện cho các giáo viên có kinhnghiệm trong soạn giảng, thành thạo trong việc sử dụng các phần mềm ứng dụng, tích cực tra cứu cáctài liệu liên quan để phục vụ cho bài giảng

Đa số các giáo viên thực sự quan tâm đến vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCDmột cách có hiệu quả và thiết thực So với bài giảng bình thường, bài giảng có ứng dụng CNTT đượcgiáo viên nghiên cứu kỹ càng hơn, đầu tư nhiều tư liệu hơn dẫn đến bài giảng có chất lượng cao hơn vànâng cao chất lượng giảng dạy nói chung

Trang 26

Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên đã tổ chức cáchội thi thiết giáo án điện tử thúc đẩy phong trào ứng dụng CNTT trong dạy học, nhằm bồi dưỡng, traudồi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các giáo viên trên địa bàn thành phố.

Tổ chuyên môn các trường cũng phát động phong trào thao giảng bộ môn, ứng dụng CNTT

để dạy học môn GDCD, mỗi tháng, mỗi giáo viên bộ môn GDCD phải có ít nhất một tiết dạy có ứngdụng CNTT

1.3.2.2 Nguyên nhân của những thành tựu.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những chính sách đúng đắn về việc đổi mới phương pháp dạyhọc theo hướng tích cực, đề ra những mục tiêu, phương hướng cụ thể góp phần mang lại chất lượnggiáo dục cao nhất

Hầu hết các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An giang hiện nay đãđược Sở Giáo dục và Đào tạo đầu tư nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật như trang bị máy vi tính và đènchiếu (Projectore)… đến từng trường học để hỗ trợ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học mônGDCD

Sở Giáo Giáo dục và Đào tạo, các trường THPT trong tỉnh cũng đã tổ chức nhiều đợt bồidưỡng tin học cho cán bộ, giáo viên và công nhân viên, trong đó có giáo viên giảng dạy môn GDCD.Tại một số trường, giáo viên đã được học các lớp phổ cập tin học và được hướng dẫn cách soạn mộtbài giảng điện tử, cách thức ứng dụng các thiết bị hiện đại, CNTT vào quá trình dạy học Kết quả, giáoviên giảng dạy môn GDCD đã biết ứng dụng CNTT và các thiết bị hiện đại vào việc soạn giảng cácbài giảng GDCD lớp 10, 11, 12 và bước đầu đã mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượngdạy học

Với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật hiện đại, đòi hỏi việc ứng dụng côngnghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo, nên đây làmột trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thành công phương pháp dạy học mới, tích cực này.Mặt khác, nhận thức của giáo viên về việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD ngày một nângcao nên thúc đẩy giáo viên hết lòng thực hiện việc truyền thụ kiến thức cho học sinh thông qua quátrình ứng dụng CNTT

1.3.3.Những hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang.

1.3.3.1 Những hạn chế.

Ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn GDCD đã mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mớicác phương pháp và hình thức dạy học môn GDCD, đem lại nhiều hiệu quả thiết thực Tuy nhiên,phương pháp dạy học mới lạ này cũng đặt ra những hạn chế nhất định

Trang 27

Thứ nhất, một số giáo viên bộ môn GDCD vì trình độ, kiến thức, kỹ năng ứng dụng CNTT còn

hạn chế, hoặc chưa sử dụng thành thạo các thiết bị hiện đại nên còn lúng túng hoặc có tâm lí “e ngại”khi đổi mới phương pháp dạy học Bởi muốn soạn giảng một giáo án điện tử, người giáo viên phải vất

vả gấp nhiều lần, vừa phải biết tin học và sử dụng thành thạo phần mềm Powerpoint và vừa phải tốnkhá nhiều thời gian

Thứ hai, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã đem lại hiệu quả cao nhưng mức độ ứng dụng

trong nhà trường vẫn còn nhiều hạn chế vì còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan

về phía nhà trường, giáo viên và cả đặc thù riêng của môn GDCD

Thứ ba, một số giáo viên coi nhẹ công dụng của việc ứng dụng CNTT vào dạy học nên các bài

giảng điện tử thông thường được download từ mạng về chỉnh sửa hoặc tự làm nhưng không đầu tưnhiều hay chủ yếu là trình chiếu nội dung bài học, chất lượng chưa cao nên chưa phát huy được điểmmạnh của phương pháp dạy học mới

Thứ tư, hiện nay vẫn có một vài tư tưởng xem việc ứng dụng CNTT trong dạy học đang mang

tính chất thời vụ, theo phong trào (và thậm chí là đối phó) mà chưa được sử dụng một cách thườngxuyên, liên tục trong quá trình dạy học môn GDCD

Ngoài ra, nếu giáo viên ứng dụng CNTT để giảng dạy môn GDCD một cách qua loa, sơ sài sẽ

không mang lại hiệu quả cao Do đó, giáo viên tốn nhiều thời gian, công sức để cắt, ghép, chụp phim

và làm chữ nổi, làm khung…đáp ứng đúng yêu cầu và đặc thù của bộ môn Mặt khác, nếu việc thiết kếgiáo án điện tử không mang tính khoa học, sẽ làm cho học sinh khó nắm bắt nội dung của bài học, mất

sự tập trung của học sinh, đi ngược lại với hiệu quả đã đặt ra Đặc biệt, phương pháp này chỉ sử dụngđược trong điều kiện có điện và các thiết bị hiện đại Đồng thời, một giáo án sử dụng dạy ở nhiều lớp

có đối tượng học sinh với trình độ quá chênh lệch thì sẽ phù hợp với lớp này mà không phù hợp vớilớp khác, như vậy tính linh hoạt của giáo án không cao

1.3.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế.

Trước hết GDCD là môn khoa học xã hội, nội dung thiên về lý luận và mang tính trừu tượngcao, nên tư liệu phục vụ môn học này còn rất hạn chế, dường như không có gì và thực tế đòi hỏi giáoviên phải cố công tìm tòi hoặc tự sáng tạo

Thứ hai, đa số các giáo viên chưa thực sự quan tâm đế vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học

môn GDCD một cách có hiệu quả và thiết thực Trong các tiết dạy đa phần là thay thế cho việc viếtbảng là chính mà chưa khai thác hết ý đồ của CNTT nên hiệu quả chưa cao học sinh phải chép nhiềuhơn mà ít suy nghĩ, ít được rèn kĩ năng, tư duy và sáng tạo

Thứ ba, một số giáo viên vẫn chưa nhận thức được vai trò và tác dụng của phương tiện dạy

học, chưa đầu tư suy nghĩ về cách thức sử dụng phương tiện dạy học một cách có hiệu quả Một sốgiáo viên vẫn còn quen với cách dạy cũ, hoặc ngại sử dụng CNTT do tốn thời gian, công sức

Trang 28

Thứ tư, cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc, phòng bộ môn, phòng đa chức năng, máy

tính, máy chiếu… ở một số trường trên địa bàn thành phố Long xuyên chưa được trang bị đầy đủ

Thứ năm, hầu hết giáo viên chưa có kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại, chưa sử

dụng thành thạo một số phần mềm vi tính, chưa đầu tư nghiên cứu và xây dựng những phương tiện dạyhọc mới, chưa chịu khó học hỏi, khám phá nên các giáo viên chưa có kinh nghiệm trong soạn giảng vềứng dụng CNTT Khi lên lớp nội dung bài giảng còn rời rạc, quá trình tiết học CNTT trở thành nhàmchán, ít hiệu quả sau tiết học học sinh cảm thấy mệt mỏi nhiều hơn là hứng thú

Ngoài ra, nhiều giáo viên không muốn trang bị máy tính phục vụ dạy học khi đời sống giađình còn nhiều khó khăn Một số giáo viên khác chưa thực sự cố gắng tự học, tự nâng cao khả năngứng dụng CNTT, chưa dám nghĩ dám làm Đồng thời có một số giáo viên đã cố gắng ứng dụng CNTTvào dạy học, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy vẫn còn nặng về hình thức, mang nặng tính chất trìnhdiễn Nhiều giáo viên còn ôm đồm, nhồi nhét các loại thông tin, phim, ảnh làm mất thời gian nhưnghiệu quả giờ dạy không cao Mặt khác, ứng dụng CNTT vào dạy học sẽ làm giảm mạnh sự giao tiếpgiữa thầy và trò, giữa trò và trò nếu giáo viên không sử dụng kết hợp phong phú với các phương phápdạy học khác Trong tiến trình lên lớp với bài giảng điện tử, một số giáo viên thao tác quá nhanh, họcsinh không kịp chép bài, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và mức độ hiểu bài củacác em không cao

Thực tế những năm gần đây, việc đổi mới chương trình và nội dung sách giáo khoa đã đượctriển khai đồng bộ: từ nội dung, phương pháp, phương tiện đến kiểm tra, đánh giá Vì vậy, việc sửdụng thiết bị dạy học trong các bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội cũng như bộ môn GDCD có nhiềuchuyển biến khá tích cực Nhiều giáo viên đã ứng dụng CNTT vào dạy học một cách tích cực và cóhiệu quả Với sự hỗ trợ của máy tính, Projector, những sơ đồ minh họa, tranh ảnh, băng hình…đã phục

vụ thiết thực cho tiết dạy, không chỉ giúp giáo viên tiết kiệm thời gian và công sức mà còn tăng hiệuquả đáng kể cho quá trình dạy học Tuy nhiên, việc dùng giáo án điện tử, sử dụng máy tính, Projector,truy cập mạng Internet phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy đối với bộ môn GDCD là chưa nhiều, đôilúc chỉ dừng lại ở những tiết dạy thao giảng hay có người dự giờ…Phần lớn giáo viên lên lớp vẫn dùngcác phương pháp dạy học truyền thống, chủ yếu là phương pháp thuyết trình và trình bày bài giảngbằng phấn trắng, bảng đen Nhiều giáo viên cũng đã mạnh dạn ứng dụng CNTT đổi mới phương phápgiảng dạy, song khi soạn giáo án điện tử vẫn chưa nắm được những tiêu chí cơ bản của một bài giảngđiện tử Vì vậy vẫn còn tình trạng lạm dụng màu sắc, hiệu ứng, âm thanh hoặc đưa quá nhiều thông tin,phim ảnh không phù hợp làm giảm hiệu quả giờ dạy

Từ thực tế trên cho thấy sự cần thiết phải triển khai rộng rãi việc ứng dụng CNTT vào dạy học

có tính đồng bộ, đúng hướng và có hiệu quả hơn

Ngày đăng: 08/09/2018, 15:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w