A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lời mở đầu Sinh thời Hồ Chí Minh đã dạy “Nhà trường phải đào tạo, bồi dưỡng thanh thiếu niên để họ trở thành người công dân tốt, chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”. Vậy làm sao để một học sinh trở thành một công dân tốt của xã hội? Văn học với đặc trưng và chức năng riêng của mình luôn góp phần đảm nhiệm vai trò to lớn đó. Để dạy tốt một tiết dạy học văn bản không chỉ là sự mở đầu dẫn dắt sinh động; quá trình học diễn ra thông suốt, liên tục; mà còn ở kết thúc có “sức nặng”. Một tiết dạy – học văn nếu mở đầu như pháo nổ – tiếng vang nhưng mau dứt; nếu kết thúc như tiếng chuông, tiếng trong mà dư âm. Làm thế nào để khi kết thúc tiết dạy, học sinh thấy thích thú, thỏa mãn, và cái tiếng chuông ấy còn ngân vang mãi trong học sinh? Điều đó đòi hỏi nghệ thuật và sự tìm tòi sáng tạo của giáo viên. Thầy giỏi thì mới có trò giỏi. II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 1. Thực trạng Sách giáo khoa Ngữ văn 8 và 9 mới, đưa vào nhiều văn bản hay, có ý nghĩa, “hiện thực” hơn và “đời” hơn nhưng nhiều khi giáo viên vì say mê giảng bài mà phần tổng kết, củng cố luôn làm tắt; hoặc là qua loa đại khái, hoặc là nhắc nhở học sinh tự tổng kết và học phần ghi nhớ. Thực tế ấy không phải là không còn đối với giáo viên dạy văn ta, điều đó đã làm cho tiết dạy chưa hoàn thiện, chưa đạt yêu cầu và không đọng lại phần tinh túy nhất cho học sinh khiến chiều sâu của tác phẩm đang còn tản mạn chưa tập trung, chưa được học sinh thẩm thấu một cách toàn diện. Còn về phía học sinh, cứ đến mục III Tổng kết là nhấp nhổm đợi trống tan, một số em xem như là đã xong bài học. Đa số các em không hứng thú và cảm thấy nhàm chán cách tổng kết truyền thống là giáo viên nêu câu hỏi rút ra nội dung chính và nghệ thuật đặc sắc của văn bản. Một số giáo viên chỉ đơn thuần cho học sinh rút ra phần ghi nhớ. Một số cách củng cố bằng 1 bài tập trắc nghiệm hoặc phát biểu cảm nghĩ về một vấn đề nào đó của văn bản cũng không còn gây hứng thú với học sinh. Đó thực sự là điều đáng suy nghĩ của mỗi giáo viên dạy Ngữ văn tâm huyết với nghề. 2. Kết quả của thực trạng trên.
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lời mở đầu
Sinh thời Hồ Chí Minh đã dạy “Nhà trường phải đào tạo, bồi dưỡng thanh thiếu niên để họ trở thành người công dân tốt, chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”
Vậy làm sao để một học sinh trở thành một công dân tốt của xã hội? Văn học với đặc trưng và chức năng riêng của mình luôn góp phần đảm nhiệm vai trò to lớn đó Để dạy tốt một tiết dạy - học văn bản không chỉ là sự mở đầu dẫn dắt sinh động; quá trình học diễn ra thông suốt, liên tục; mà còn ở kết thúc có “sức nặng” Một tiết dạy – học văn nếu mở đầu như pháo nổ – tiếng vang nhưng mau dứt; nếu kết thúc như tiếng chuông, tiếng trong mà dư âm Làm thế nào để khi kết thúc tiết dạy, học sinh thấy thích thú, thỏa mãn, và cái tiếng chuông ấy còn ngân vang mãi trong học sinh? Điều đó đòi hỏi nghệ thuật và sự tìm tòi sáng tạo của giáo viên Thầy giỏi thì mới có trò giỏi
II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
1 Thực trạng
Sách giáo khoa Ngữ văn 8 và 9 mới, đưa vào nhiều văn bản hay, có ý nghĩa,
“hiện thực” hơn và “đời” hơn nhưng nhiều khi giáo viên vì say mê giảng bài mà phần tổng kết, củng cố luôn làm tắt; hoặc là qua loa đại khái, hoặc là nhắc nhở học sinh tự tổng kết và học phần ghi nhớ Thực tế ấy không phải là không còn đối với giáo viên dạy văn ta, điều đó đã làm cho tiết dạy chưa hoàn thiện, chưa đạt yêu cầu và không đọng lại phần tinh túy nhất cho học sinh khiến chiều sâu của tác phẩm đang còn tản mạn chưa tập trung, chưa được học sinh thẩm thấu một cách toàn diện
Còn về phía học sinh, cứ đến mục III- Tổng kết là nhấp nhổm đợi trống tan, một số em xem như là đã xong bài học Đa số các em không hứng thú và cảm
Trang 2thấy nhàm chán cách tổng kết truyền thống là giáo viên nêu câu hỏi rút ra nội dung chính và nghệ thuật đặc sắc của văn bản Một số giáo viên chỉ đơn thuần cho học sinh rút ra phần ghi nhớ Một số cách củng cố bằng 1 bài tập trắc nghiệm hoặc phát biểu cảm nghĩ về một vấn đề nào đó của văn bản cũng không còn gây hứng thú với học sinh Đó thực sự là điều đáng suy nghĩ của mỗi giáo viên dạy Ngữ văn tâm huyết với nghề
2 Kết quả của thực trạng trên.
Nhiều năm liền giảng dạy Ngữ văn khá tâm huyết với nghề nhưng một thực tế cho thấy là đa số các em học sinh ngại học Văn, mặc dù theo cách suy nghĩ truyền thống thì 2 môn Văn và Toán là 2 môn quan trọng trong chương trình Nhưng nếu đặt câu hỏi: Em thích học Văn hay học Toán? thì chắc chắn là 7/10 học sinh được hỏi sẽ chọn môn Toán Suy nghĩ này cũng là suy nghĩ chung của nhiều bậc phụ huynh, họ có thể cho con em học thêm Toán, còn Văn thì… còn suy nghĩ
Chính vì vậy mà kết quả chất lượng giáo dục môn Văn nhiều năm liền của trường THCS Hoằng Sơn không cao Khả năng hiểu bài và cảm thụ văn chương còn hạn chế Việc tham gia thi học sinh giỏi huyện thường có hiện tượng “mất mùa” hay chỉ một vài giải khuyến khích Hãy khảo sát chất lượng môn Ngữ văn khối 8 và 9 trong các năm học 2007 – 2008 ; 2008 – 2009
Khối 8:
Chất lượng
Thời gian
Tổng số
Khối 9 (lớp 9A):
Chất lượng
Thời gian
Tổng số
Trang 3Kết quả điều tra sự hứng thú môn học:
Số HS được điều
tra
Kết quả
Thực trạng nói trên chính là những trăn trở chung của nhiều giáo viên dạy bộ môn này Với bản thân tôi thiết nghĩ bàn thêm về những yêu cầu của việc tổng kết, củng cố bài học văn cũng là một cách nâng cao chất lượng dạy – học Văn hiện nay
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Các giải pháp thực hiện
1 Đối với tổ chuyên môn:
Thông qua các cuộc hội thảo chuyên môn, những cuộc họp tổ tôi đã trình bày kết quả thống kê chất lượng giáo dục môn Ngữ văn trong hai năm liên tục từ 2007- 2009 và kết quả điều tra hứng thú học văn của học sinh và bàn biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy môn Ngữ văn Chúng tôi nhận thấy trách nhiệm nặng nề và cũng rất vinh quang của người giáo viên dạy Ngữ văn nói riêng và của các đồng nghiệp nói chung Mỗi đồng chí giáo viên đều đưa ra các giải pháp khác nhau, với sáng kiến kinh nghiệm “ Dùng trò chơi ô chữ để tổng kết củng cố một tiết dạy học văn bản” đã được các thành viên trong tổ bàn bạc đánh giá và dự kiến tính khả thi của vấn đề:
2 Về phía giáo viên:
Trong quá trình giảng dạy tôi đã đọc tài liệu và nghiên cứu kỹ vấn đề để trang
bị cho mình những kiến thức bổ ích Với mỗi tiết dạy đều có sự chuẩn bị, đầu tư thời gian, trí tuệ, sự nhiệt tình và tâm huyết đồng thời tham khảo thêm đồng nghiệp qua mỗi ô chữ đã chuẩn bị Sau thời gian thể nghiệm tôi đã rút ra được rất nhiều kinh nghiệm bổ ích:
Trang 4- Biết cách phân bố thời gian sao cho hợp lý để dành ít nhất 05 phút cho việc tổng kết bằng trò chơi
- Biết đầu tư thời gian khoa học nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn ô chữ bí ẩn hàng ngang và hàng dọc phù hợp
- Công tác chuẩn bị trước bằng bảng phụ hoặc giấy trong nếu dùng đèn chiếu Nói tóm lại, đòi hỏi giáo viên phải thực sự yêu mến môn học, tâm huyết với nghề, có sự đầu tư, tìm tòi, sáng tạo cho môn học của mình Và vì vậy, cách tổng kết củng cố này xét về phương diện khác lại có tính tích cực của mỗi giáo viên
3 Đối với học sinh:
Bằng cách kích thích các em đọc kỹ văn bản, soạn bài kỹ trước khi đến lớp, tạo không khí thoải mái, mềm hóa giờ dạy để học sinh không cảm thấy áp lực khi học Ngữ văn vì học sinh có hứng thú thì giờ học mới đạt hiệu quả Học sinh sẽ thực sự thu được những kiến thức bằng cách hiệu quả nhất vì:
- Trò chơi ô chữ bí ẩn với phương châm "học mà chơi, chơi mà học" sẽ tạo được tâm lý thoải mái cho học sinh, tạo được không khí hòa đồng giữa giáo viên
và học sinh và được nhiều em tham gia
- Trò chơi ô chữ (với ít chữ nhất từ 04 ô trở lên) sẽ tổng kết được nhiều vấn đề: Từ tác giả, tác phẩm, thể loại, phong cách nghệ thuật của tác giả đến nội dung
và nghệ thuật của văn bản, cách liên hệ và giáo dục học sinh Học sinh sẽ nắm lại được kiến thức tổng quát của bài học và tích hợp trong quá trình học tập
- Với học sinh lớp 8 và 9, các em đã quen với hình thức những bài tập trắc nghiệm từ lớp 6, và nhiều trò chơi truyền hình thú vị, bổ ích như: "Chiếc nón kỳ diệu", "Đường lên đỉnh olimpia", "Âm vang Xứ Thanh", nên trò chơi ô chữ sẽ phù hợp với tâm lý thích khám phá của các em
- Với xu thế phát triển hiện nay của xã hội thì việc rèn luyện cho các em phản
xạ, tư duy nhanh, nhạy bén và khả năng tổng hợp vấn đề là hoàn toàn phù hợp
Trang 5- Còn gì thú vị hơn khi kết thúc một tiết học với một tràng vỗ tay giòn giã và
nụ cười của người chiến thắng Các em thật sự thỏa mãn, hài lòng với tiết học khi mình đã thực sự chinh phục được tri thức bằng ô chữ bí ẩn
II.Các biện pháp tổ chức thực hiện
1 Công tác chuẩn bị ô chữ
- Ngay từ khi soạn bài, giáo viên phải có ý thức lựa chon ô chữ hàng dọc sao cho ô chữ ấy khái quát được linh hồn của văn bản sau đó viết lên giấy theo chiều dọc (lưu ý ô chữ không quá ngắn < 4 ô; không quá dài > 13 ô)
Ví dụ:
*Tiết 85 : "Ngắm trăng" - "Đi đường" - Hồ Chí Minh (Ngữ văn 8 - TậpII)
Giáo viên tổng kết bằng ô chữ : Ung dung
*Tiết 90 : "Chiếu dời đô" - Lí Công Uẩn (Ngữ văn 8 - Tập II)
Giáo viên tổng kết với ô chữ : 1000
*Tiết 111: “Con cò” – Chế Lan Viên
Giáo viên tổng kết bằng ô chữ: Hát ru.
*Tiết 112 : “Con cò” – Chế Lan Viên
Giáo viên tổng kết bằng ô chữ: Tình mẫu tử
*Tiết 116: “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải
Giáo viên tổng kết bằng ô chữ: Sống đẹp.
*Tiết 120: "Sang thu” của Hữu Thỉnh
Giáo viên tổng kết bằng ô chữ: Giao mùa.
*Tiết 142: “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê
Giáo viên tổng kết bằng ô chữ: Bản anh hùng ca
- Tiếp theo giáo viên lần lượt tìm ra các ô chữ hàng ngang tương ứng từ những nội dung về tác giả, tác phẩm, nội dung, nghệ thuật của văn bản,… sao cho phù hợp với những chữ cái cố định của hàng dọc Khi lựa chọn hàng ngang đòi hỏi giáo viên phải tư duy hợp lý và sắp xếp khéo léo để khi trình bày lên bảng phụ
Trang 62
3
4
5
sao cho cân đối, hài hòa Bên cạnh đó cần lưu ý đến cách đặt câu hỏi để học sinh
dễ tìm đáp án nhất
- Công đoạn cuối cùng là giáo viên trình bày lên bảng phụ <hoặc giấy trong> Giáo viên dùng phấn màu vẽ ô chữ hàng dọc cân đối trước, sau đó dùng phấn trắng vẽ các ô hàng ngang tương ứng với từng ô chữ của hàng dọc
2 Cách thực hiện:
- Khi dạy xong nội dung bài học, giáo viên treo bảng phụ lên bảng:
Ví dụ: Tiết 111: “Con cò” (tiết 1) của Chế Lan Viên Tìm ô chữ bí ẩn?
- Giáo viên chia lớp thành 2 đội chơi theo 2 dãy bàn và đặt tên đội chơi (ví dụ: đội “Khám phá” và đội “Chinh phục”,…)
- Giáo viên cử đội trưởng của từng đội và nêu lên luật chơi: Mỗi đội lần lượt chọn một ô chữ, sau gợi ý giáo viên được phép thỏa thuận 5 đến 10 giây và một đại diện (không nhất thiết phải là đội trưởng) trả lời Nếu đúng giáo viên dùng phấn màu ghi ô chữ trên bảng phụ (với các ô hàng dọc thì nên dùng phấn màu khác) Nếu sai đội còn lại dành quyền trả lời và dành quyền chọn ô tiếp theo
- Trong khi giải ô chữ hàng ngang, nếu đội nào phát hiện ra ô chữ hàng dọc được quyền trả lời Nếu đúng giáo viên hoàn chỉnh các chữ cái hàng dọc còn lại
Trang 7trên bảng phụ và tuyên dương bằng một tràng pháo tay sau đó lại tiếp tục tìm các
ô chữ hàng ngang còn lại
- Kết thúc trò chơi, đội nào giải được ô chữ hàng dọc sẽ chiến thắng Giáo viên ghi nhận thành tích và động viên đội còn lại cố gắng ở những tiết học sau
- Giáo viên chốt lại bài học bằng cách cho học sinh nêu cảm nhận về ý nghĩa của những ô chữ hàng dọc và dặn học sinh chuẩn bị bài học tiếp theo
3 Một số ô chữ mẫu
* Tiết 85 : " Ngắm trăng" - " Đi đường" - Hồ Chí Minh (Ngữ văn 8 - TậpII) với ô chữ bí ẩn " Ung dung" :
Câu hỏi:
1 Ô chữ gồm 10 chữ cái: Tên gọi khác của bài thơ "Ngắm trăng"?
2 Ô chữ gồm 13 chữ cái: Bài thơ "Ngắm trăng" nằm trong tập thơ nào?
3 Ô chữ gồm 7 chữ cái: Bác ngắm trăng ở đâu?
4 Ô chữ gồm 6 chữ cái: Có thể nói "Nhật kí trong tù" là một viên ngọc quí trong kho tàng văn học nào?
5 Ô chữ gồm 7 chữ cái: Bài thơ "Ngắm trăng" thuộc thể loại thơ gì?
6 Ô chữ gồm 7 chữ cái: Tên một bài thơ nói về việc đi đường nhưng lại gợi ra chân lí đường đời của Hồ Chí Minh?
G
N
Ơ Ư Đ I Đ
U
T Ư
G
N O R
R T I K T Â H
N
T Ê Y
U
G N G N O V
Trang 87 Ô chữ gồm 7 chữ cái: Trong câu thơ đầu của bản dịch thơ (Nam Trân) viết
"Đi đường mới biết …" Điền từ còn thiếu vào dấu ba chấm
* Tiết 90 : " Chiếu dời đô" - Lí Công Uẩn (Ngữ văn 8 - Tập II) với ô chữ bí ẩn
là " 1000" :
Câu hỏi:
1 Ô chữ gồm 4 chữ cái: Hồ Chí Minh sinh vào năm nào?
2 Ô chữ gồm 4 chữ cái: Lí Công Uẩn viết bài "Chiếu dời đô" vào năm nào?
3 Ô chữ gồm 8 chữ cái: Một viên quan nhà Đường, từng làm đô hộ xứ Giao Châu từ năm 864 - 875 là ai?
4 Ô chữ gồm 8 chữ cái: Điền từ còn thiếu trong câu văn sau: "Thật là chốn hội
tụ … của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đo bậc nhất của đế vương muôn đời"?
Giáo viên : Sau khi cho học sinh tìm ra ô chữ hàng dọc "1000" Qua ô chữ hàng dọc, giáo viên giáo dục tình cảm cho học sinh hướng về ngày hội lớn "Một nghìn năm Thăng Long Hà Nội" - nơi có nền văn hiên lâu đời, là trung tâm trời đất,
là nơi thắng địa, chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương Người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung đang nô nức tự hào chào đón ngày hội long trọng này
* Tiết 111: “Con cò” (tiết 1) của Chế Lan Viên ô chữ bí ẩn " Hát ru" :
O
R
O
A
1
Trang 9P N N G C H
N
C
Câu hỏi:
1 Ô chữ gồm 12 chữ cái: Tên khai sinh của tác giả Chế Lan Viên?
2 Năm chữ cái: Hình ảnh con cò là chất liệu được lấy từ thể loại này?
3 Sáu chữ cái: ở tuổi ấu thơ các em cảm nhận lời ru bằng cách này?
4 Mười chữ cái: Thơ Chế Lan Viên phần lớn được khái quát lên thành tính chất
này?
5 Sáu chữ cái: Cụm từ này được lặp lại nhiều lần trong bài thơ thể hiện sự vỗ về,
âu yếm của người mẹ
* Tiết 112: bài “Còn cò” (tiết 2) của Chế Lan Viên ô chữ hàng dọc " Tình mẫu tử"
Y
Trang 10I Ê N G
H
B
C
H
Đ L
Câu hỏi:
1 Bốn chữ cái: Nhà thơ Chế Lan Viên chọn thể loại thơ này sáng tác bài thơ
“Con cò”?
2 Sáu chữ cái: Ước mơ của mẹ về nghề nghiệp của con?
3 Bảy chữ cái: Bài thơ sử dụng thành công nhất biện pháp nghệ thuật này?
4 Mười một chữ cái: ở khổ thơ thứ hai con cò đã trở thành người này cùng đứa
trẻ?
5 Bảy chữ cái: Chế Lan Viên đã vận dụng sáng tạo ca dao để phù hợp với yếu tố
này của bài thơ?
6 Mười một chữ cái: Nhờ lời ru, nhờ sữa mẹ đứa trẻ đã có một giấc ngủ như thế
này?
Trang 11I Ê N G
N
Ơ Ư Đ
H
Ư
A
C
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con”
Đã khái quát thành tính chất này của tình cảm
8 Bảy chữ cái: Tập thơ đầu tay của Chế Lan Viên
9 Chín chữ cái: Từ ca dao, con cò đã được Chế Lan Viên nâng lên thành ý nghĩa
này?
đẹp"
Câu hỏi:
1 Tám chữ cái: Bức tranh thiên nhiên được Thanh Hải gợi lên đầu tiên là hình
ảnh này?
2 Tám chữ cái: Nhà thơ Thanh Hải có ước nguyện này cho đất nước
3 Bảy chữ cái: Bài thơ sử dụng thành công biện pháp nghệ thuật này?
4 Mười chữ cái: Nếu người nông dân có nhiệm vụ tô điểm cho mùa xuân thì
người lính có nhiệm vụ này?
N
Trang 12H A
Q 6
I H Â
T I
N T
G N Ô T
D
5 Bảy chữ cái: Là từ chỉ mùa xuân thứ hai trong bài thơ này?
6 Tám chữ cái: Là tính từ đánh giá về bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong bài
thơ này?
7 Mười ba chữ cái: Một loại nhạc cụ xứ Huế được sử dụng trong bài thơ này?
* Tiết 120 văn bản “Sang thu” của Hữu Thỉnh ô chữ hàng dọc " Giao mùa"
Câu hỏi:
1 Bảy chữ cái: Người ta thường nói đến tính chất này trong bài thơ Hữu Thỉnh?
2 Chín chữ cái: Chức vụ hiện nay của Hữu Thỉnh trong hội văn học Việt Nam?
3 Ba chữ cái: Động từ này diễn tả rất hay cảm giác đột ngột của tác giả về hương
vị mùa thu?
4 Ba chữ cái: Sự vật này đem hương ổi vào cảm nhận của tác giả?
5 Mười một chữ cái: Câu thơ: “Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”
Trang 13T
T I
Ô
R Ê T
T
M
U N R
R
Ơ C
Y G Ư
I
M A
H Ê H Ơ T N D Ô M
A N A N H H U N G
I N T G Ư S N G I
A G
S N A G
A
N Ă
Ơ H T C
C
N
N Â
A
T
T
M
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
1
6 Bảy chữ cái: Sự vật trong “Sang thu” dường như ý thức được tính chất này của
thời gian?
7 Năm chữ cái: tác giả đã khai thác thành công tác dụng của từ loại này trong
việc diễn tả cái hồn của sự vật?
* Tiết 142 văn bản: “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê: ô chữ hàng dọc
"
Bản anh hùng ca"
Trang 14Câu hỏi:
1 Sáu chữ cái: Một trong những nhiệm vụ vủa Nho, Thao, Định?
2 Quê của nhà văn Lê Minh Khuê
3 Mười chữ cái: Sở trường của nhà văn Lê Minh Khuê
4 Tám chữ cái: Âm thanh này đã làm bớt sự căng thẳng và cái nóng ngột ngạt
của chiến trường?
5 Chín chữ cái: Tuyến đường này làm nên nhiều sự tích anh hùng
6 Bảy chữ cái: Tính từ này chỉ phẩm chất hàng đầu của ba nữ thanh niên xung
phong?
7 Mười chữ cái: Đây là tên gọi đơn vị đặt cho ba cô gái?
8 Bảy chữ cái: Tính từ này chỉ phẩm chất hàng đầu của ba nữ thanh niên xung
phong?
9 Sáu chữ cái: Chiến trường không làm mất đi ở các cô gái nét đáng yêu này?
10 Mười một chữ cái: Nét đáng yêu của Phương Định là cô không che đậy điều
này?
11 Mười hai chữ cái: truyện ngắn này khiến chúng ta liên hệ đến một bài hát của
nhạc sĩ Xuân Giao?
12 Đây là nghệ thuật sử dụng thành công nhất trong truyện này?
C KẾT LUẬN
I Kết quả nghiên cứu
Vấn đề trình bày trên đã được tôi mạnh dạn áp dụng vào việc dạy học môn
năm thử nghiệm tôi nhận thấy hiệu quả đạt được tương đối khả quan Tuy chưa thể nói chất lượng dạy học tăng lên đáng kể nhưng sự hứng thú với mỗi tiết dạy học văn bản của học sinh rất cao và tiết học không còn là áp lực đối với học sinh Kết quả khảo sát thu được: