1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN NGỮ văn 7 rèn LUYỆN kĩ NĂNG VIẾT đoạn văn NGHỊ LUẬN

20 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 170,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A ĐẶT VẤN ĐỀ I Lí do chọn đề tài: Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống. Có thể nói không có văn nghị luận thì khó mà hình thành các tư tưởng mạch lạc và sâu sắc trong đời sống. Có năng lực nghị luận là một điều kiện cơ bản để con người thành đạt trong cuộc sống xã hội. Với đối tượng là học sinh lớp 7, trước khi học văn nghị luận, các em đã được học các kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm. Trong các kiểu văn bản này, các em đã được rèn luyện về khả năng quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, so sánh, nhận xét, đánh giá, bộc lộ cảm xúc … về sự vật, sự việc, con người. Đó là những nền móng quan trọng để các em học tốt phần văn nghị luận. Tuy nhiên, để học tốt loại hình văn bản này không phải là điều đơn giản, bởi với đối tượng là học sinh lớp 7, các em còn quen với kiểu tư duy cụ thể, cảm tính, ít năng lực suy luận; ít có bản lĩnh, ít có chủ kiến đối với các vấn đề trong cuộc sống. Bởi vậy, để giúp các em học tốt được văn nghị luận, bước đầu giáo viên cần nhẹ nhàng, thận trọng hướng dẫn các em những thao tác đơn giản để các em tiếp cận vấn đề một cách tự nhiên, hứng khởi và hiệu quả. Tránh sự truyền thụ kiến thức một cách vội vàng, nhồi nhét khiến các em cảm thấy khó khăn rồi dẫn đến chán nản. Với học sinh lớp 7, việc tạo lập được một văn bản nghị luận không phải là điều đơn giản. Nên trước tiên, giáo viên cần hướng dẫn các em kĩ năng viết thành thạo các đoạn văn bằng những cách lập luận đơn giản nhất, mà phép lập luận chứng minh là một trong những phép lập luận dễ thực hiện, bởi nó gần gũi với thực tế II Thực trạng vấn đề nghiên cứu: Mặc dù đã được thầy cô rèn luyện rất nhiều về bố cục, dàn bài của một bài văn nhưng với học sinh lớp 7 thì việc xác định được khi nào là hết một đoạn và đoạn nào trước, đoạn nào sau là điều không dễ. Vì vậy bài viết của các em thường là lộn xộn, thiếu lô gíc, khiến người đọc khó hiểu. Đặc biệt, với kiểu văn nghị luận một kiểu văn rất cần năng lực suy luận lô gíc thì việc viết tốt một đoạn văn và sắp xếp nó một cách hợp lí là rất cần thiết. Tuy nhiên, làm được điều này không phải là đơn giản, bởi học sinh lớp 7 là đối tượng học sinh đang còn quen với lối tư duy cụ thể, cảm tính, ít năng lực suy luận. Chính vì vậy, tôi thấy rằng việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng viết đoạn văn nghị luận theo một thao tác đơn giản nhất đó là lập luận chứng minh là rất cần thiết, bởi nó sẽ là nền móng để các em có thể tạo lập tốt một văn bản nghị luận.

Trang 1

A- ĐẶT VẤN ĐỀ

I/ Lí do chọn đề tài:

Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống

xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống Có thể nói không có văn nghị luận thì khó

mà hình thành các tư tưởng mạch lạc và sâu sắc trong đời sống Có năng lực nghị luận là một điều kiện cơ bản để con người thành đạt trong cuộc sống xã hội

Với đối tượng là học sinh lớp 7, trước khi học văn nghị luận, các em đã được học các kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm Trong các kiểu văn bản này, các em đã được rèn luyện về khả năng quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, so sánh, nhận xét, đánh giá, bộc lộ cảm xúc … về sự vật, sự việc, con người Đó là những nền móng quan trọng để các em học tốt phần văn nghị luận Tuy nhiên, để học tốt loại hình văn bản này không phải là điều đơn giản, bởi với đối tượng là học sinh lớp 7, các

em còn quen với kiểu tư duy cụ thể, cảm tính, ít năng lực suy luận; ít có bản lĩnh, ít

có chủ kiến đối với các vấn đề trong cuộc sống

Bởi vậy, để giúp các em học tốt được văn nghị luận, bước đầu giáo viên cần nhẹ nhàng, thận trọng hướng dẫn các em những thao tác đơn giản để các em tiếp cận vấn đề một cách tự nhiên, hứng khởi và hiệu quả Tránh sự truyền thụ kiến thức một cách vội vàng, nhồi nhét khiến các em cảm thấy khó khăn rồi dẫn đến chán nản

Với học sinh lớp 7, việc tạo lập được một văn bản nghị luận không phải là điều đơn giản Nên trước tiên, giáo viên cần hướng dẫn các em kĩ năng viết thành thạo các đoạn văn bằng những cách lập luận đơn giản nhất, mà phép lập luận chứng minh là một trong những phép lập luận dễ thực hiện, bởi nó gần gũi với thực tế cuộc sống mà các em đã trải nghiệm

Trang 2

II/ Thực trạng vấn đề nghiên cứu:

Mặc dù đã được thầy cô rèn luyện rất nhiều về bố cục, dàn bài của một bài văn

nhưng với học sinh lớp 7 thì việc xác định được khi nào là hết một đoạn và đoạn nào trước, đoạn nào sau là điều không dễ Vì vậy bài viết của các em thường là lộn xộn, thiếu lô gíc, khiến người đọc khó hiểu Đặc biệt, với kiểu văn nghị luận- một kiểu văn rất cần năng lực suy luận lô gíc thì việc viết tốt một đoạn văn và sắp xếp

nó một cách hợp lí là rất cần thiết Tuy nhiên, làm được điều này không phải là đơn giản, bởi học sinh lớp 7 là đối tượng học sinh đang còn quen với lối tư duy cụ thể, cảm tính, ít năng lực suy luận Chính vì vậy, tôi thấy rằng việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng viết đoạn văn nghị luận theo một thao tác đơn giản nhất đó là lập luận chứng minh là rất cần thiết, bởi nó sẽ là nền móng để các em có thể tạo lập tốt một văn bản nghị luận

Trang 3

B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

PHẦN I: Các giải pháp thực hiện:

1.Điều tra đối tượng:

- Cho học sinh làm bài kiểm tra theo những mục đích nhất định, kết quả kiểm

tra ở năm học 2012-2013:

61 SL1 %1,63 SL15 %24.6 SL33 %54,1 SL12 %19,7

- Kết quả bài làm của học sinh không cao là do những lỗi sau:

+ Phần Mở bài học sinh chưa dẫn dắt được vấn đề, chưa nêu khái quát được vấn đề chính cần chứng minh và chưa định hướng được phương thức nghị luận, phạm vi nghị luận của bài

+ Chưa biết dùng từ ngữ để chuyển từ Mở bài sang Thân bài, từ Thân bài sang Kết bài; chưa có sự liên kết giữa các đoạn văn trong phần Thân bài Các đoạn trong phần Thân bài còn sắp xếp lộn xộn Chưa biết cách xác định nội dung (luận điểm) trong một đoạn, hoặc xác định được nhưng triển khai chưa rõ ràng

+ Phần Kết bài chưa có sự khái quát, khẳng định và nhấn mạnh tư tưởng của bài; có nhiều bài thiếu sự hô ứng giữa Mở bài và Kết bài

- Nguyên nhân của các lỗi trên:

+ Do mới lần đầu tiếp xúc với kiểu văn này nên các em còn bỡ ngỡ, thiếu kinh nghiệm trong cách làm bài

+ Các em đang còn quen với lối tư duy cụ thể, cảm tính, ít năng lực suy luận nên các em chưa thể hiện được bản lĩnh và chủ kiến của mình khi làm bài

+ Do thời lượng luyện tập còn ít nên các em chưa được rèn luyện các kĩ năng viết, trình bày, nhận xét để rút kinh nghiệm cho bản thân

+ Do cách trình bày các khái niệm trong sách giáo khoa còn mang tính hàn lâm dẫn đến việc học sinh khó hiểu, đặc biệt biệt là với đối tượng học sinh lớp 7

Trang 4

2 Xây dựng kế hoạch thực hiện:

Trước hết, giáo viên cần phải tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để có kế hoạch dạy -học phù hợp với tất cả các đối tượng -học sinh

- Ngoài thời gian luyện tập ở các tiết luyện tập chính khoá, giáo viên cần lên kế hoạch cụ thể, khoa học cho việc luyện tập ở các tiết học thêm buổi chiều và việc tự học ở nhà cho học sinh

- Khi soạn bài, giáo viên cần chu ý tất cả các đối tượng học sinh, xây dựng hệ thống bài tập ở nhiều cấp độ để phù hợp với mọi đối tượng học sinh của lớp

- Sau mỗi tiết học cần có sự điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp

3 Thực hành luyện tập:

- Từng bước thực hiện một cách tỉ mỉ cho học sinh luyện tập viết từng đoạn, từ

mở bài, đến những đoạn trong thân bài rồi đến kết bài

- Khi luyện tập, trước tiên, giáo viên cần cho học sinh làm theo một số mẫu đơn giản Chẳng hạn, có thể đưa ra những đề bài gần giống với bài làm mẫu trong sách giáo khoa để học sinh bắt trước Bước tiếp theo giáo viên đưa ra những vấn đề gần gũi với cuộc sống và tâm lí lứa tuổi của các em và hướng dẫn cụ thể để các em dựa vào đó triển khai thành đoạn văn Khi kĩ năng của các em đã dần thuần thục thì giáo viên sẽ đưa ra vấn đề để học sinh tự viết, tự bộc lộ quan điểm, tư tưởng, hoặc

có thể để các em tự chọn vấn đề theo sự khoanh vùng của giáo viên

- Khi luyện tập viết đoạn văn giáo viên cần lưu ý hạn chế việc học sinh dùng tài liệu một cách thụ động, nếu ở những tiết đầu khi các em đang cần học theo mẫu thì nên yêu cầu các đọc tài liệu mẫu trong thời gian nhất định, sau đó gấp lại rồi mới viết, không nên để học sinh vừa nhìn tài liệu vừa viết Sở dĩ phải làm như vậy

vì trên thực tế, có nhiều em khi không có tài liệu sẽ không có khả năng tự viết, thậm chí viết được nhưng diễn đạt rất lủng củng; bên cạch đó các em cũng sẽ không rèn luyện được khả năng học thuộc mà điều này thì lại rất cần trong học môn Ngữ văn

Trang 5

- Một điều nữa cần phải làm tốt khi luyện tập, đó là giáo viên phải quán xuyến được lớp cả khi làm bài, khi trình bày và khi nhận xét bài của bạn Bởi điều này sẽ giúp các em nắm chắc vấn đề một cách tự nhiên nhưng rất sâu sắc

PHẦN II: Các biện pháp thực hiện:

Trang 6

I- Củng cố kiến thức về đoạn văn nói chung, đoạn văn nghị luận, đặc điểm của văn nghị luận, phương pháp lập luận chứng minh

1/ Đoạn văn:

Đoạn văn là một đơn vị cấu thành văn bản Văn bản là một chỉnh thể thống nhất, thường bao gồm nhiều đoạn văn Các đoạn văn trong văn bản vừa cần được tách ra một cách rõ rệt, vừa cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau Bên trong mỗi đoạn văn cũng cần có sự liên kết của các câu Hơn nữa, các câu trong đoạn văn cần có quan

hệ với nhau, tạo nên những kiểu kết cấu của đoạn văn Mỗi đoạn văn thường có nhiều câu, diễn đạt một ý chọn vẹn Về hình thức, đoạn văn được mở đầu từ chỗ viết hoa lùi vào và hết đoạn là dấu hết câu và xuống dòng

Khi cung cấp lí thuyết về đoạn văn, giáo viên cần cho học sinh biết đây là đoạn văn thông thường mà các em cần đạt tới khi viết; còn trên thực tế, để thể hiện những ý đồ nghệ thuật thì có nhiều đoạn văn trong các tác phẩm văn học có cấu tạo hết sức đặc biệt

2/ Đoạn văn nghị luận:

Đoạn văn nghị luận cũng có những đặc điểm cơ bản của một đoạn văn Tuy nhiên, mỗi kiểu văn bản đều có những đặc điểm riêng của nó Trong mỗi văn bản nghị luận sẽ có một vấn đề được đem ra để bàn luận, để làm sáng tỏ được vấn đề đó thì người làm phải xác định được một hệ thống luận điểm Khi chúng ta dùng lí lẽ, dẫn chứng và lập luận một cách phù hợp để làm sáng tỏ một luận điểm thì đó được xem là một đoạn văn trong bài văn nghị luận

Có nhiều cách để làm sáng tỏ luận điểm, có nghĩa là có nhiều cách viết một đoạn văn nghị luận Tuy nhiên, với học sinh lớp 7 thì giáo viên chỉ cần hướng dẫn các em nắm chắc những cách suy luận trong văn bản "Tinh thần yêu nước của nhân dân ta" là vừa sức (Xem kĩ mô hình ở phần I trong bài "Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận" - trang 30, sách giáo khoa Ngữ văn 7- tập I) Đặc biệt cần lưu ý đến kiểu suy luận nhân quả và kiểu suy luận tổng phân hợp

Trang 7

3/ Đặc điểm của văn nghị luận:

a- Luận điểm:

- Luận điểm hiểu một cách đơn giản thì đó là ý kiến về một vấn đề nào đó Ý kiến ở đây được hiểu là cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá riêng của mỗi người về

sự vật, sự việc, về một vấn đề nào đó Tuy nhiên, nếu đưa ra ý kiến "Mùa hè tớ rất thích ăn kem" thì đó chỉ là ý kiến chứ không phải là luận điểm Nhưng nếu nói

"Mùa hè, chúng ta cần phải ăn uống cho hợp vệ sinh" thì đó lại là một luận điểm Nghĩa là, luận điểm là ý kiến, nhưng phải là ý kiến thể hiện một tư tưởng, quan điểm nào đó về những vấn đề mang tính khái quát cao, có ý nghĩa phổ biến đối với đời sống xã hội

- Luận điểm là linh hồn, tư tưởng, quan điểm của bài văn nghị luận Trong bài văn nghị luận có luận điểm lớn (tổng quát bao trùm toàn bài); có luận điểm phụ (nhỏ) là bộ phận của luận điểm chính Ví dụ: Nói "Hút thuốc lá rất có hại cho con người" - đó là luận điểm chính, tổng quát Từ luận điểm chính ấy có thể chia ra các luận điểm phụ như: "Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ", "Hút thuốc gây thiệt hại về kinh tế", "Nghiện thuốc lá có thể dẫn tới các tệ nạn xã hội "…Tuy nhiên, cách phân chia như trên chỉ được sử dụng theo ý nghĩa tương đối

- Luận điểm có hình thức phán đoán: Đó là câu khẳng định tính chất, thuộc tích, như:

+ Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước

+ Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội

+ Sách là người bạn lớn của con người

+ Học cơ bản mới có thể trở thành tài

b- Luận cứ: là những lí lẽ, dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm Lí lẽ là những đạo

lí, lẽ phải đã được thừa nhận, nêu ra là được đồng tình Dẫn chứng là sự việc, số liệu, bằng chứng để xác nhận cho luận điểm Dẫn chứng phải xác thực, đáng tin

Trang 8

cậy, không thể bác bỏ Lí lẽ và dẫn chứng đáng tin cậy làm cho luận cứ được vững chắc

c- Lập luận: là cách nêu luận điểm và vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho luận

điểm được nổi bật và có sức thuyết phục Luận điểm được xem như là kết luận của lập luận Lập luận bao gồm các cách suy lí, quy nạp, diễn dịch, phân tích, so sánh, tổng hợp, sao cho luận điểm đưa ra là hợp lí, không thể bác bỏ Lập luận thể hiện trong cách viết đoạn văn và trong việc tổ chức bài văn Mở bài cũng có lập luận, Thân bài cũng có lập luận và Kết bài cũng có lập luận Trong luận cứ cũng có lập luận Có thể nói lập luận có ở khắp trong bài văn nghị luận Có lập luận mới đưa ra được luận điểm như là kết luận của nó

4- Phương pháp lập luận chứng minh: là cách sử dụng lí lẽ, dẫn chứng để chứng

tỏ một nhận định, luận điểm nào đó là đúng đắn Ví dụ: Văn bản "Đừng sợ vấp ngã" trong Phần I, bài "Tìm hiểu chung về phép lập luận chứng minh" - trang 41, sách giáo khoa Ngữ văn 7; tác giả đã lấy những dẫn chứng về những nhân vật nổi tiếng trên thế giới, ở nhiều lĩnh vực để chứng minh cho chân lí: vấp ngã là sự thường, là cái giá phải trả cho sự thành công; cái đáng sợ không phải là sự thất bại

mà là việc ta đã bỏ qua nhiều cơ hội vì không cố gắng hết mình

II- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn bài

Đây là phần mà học sinh thường ngại làm nên dẫn đến việc lạc đề khi viết bài, hoặc viết bài không có lô gíc Chính vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn và yêu cầu học sinh thực hiện kĩ khâu này Bởi làm tốt việc tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn bài sẽ giúp các em có định hướng tốt cho bài làm, từ đó mới có được kết quả cao

Phần này, sách giáo khoa đã hướng dẫn rất kĩ, tuy nhiên, với mỗi đề bài cụ thể, giáo viên cần có hệ thống câu hỏi gợi mở cho học sinh trả lời để các em tự tìm ra vấn đề và sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lí Với những vấn đề khó, giáo viên cần hướng dẫn các nguồn thông tin mà các em có thể tìm kiếm, nếu cần thiết có thể giải thích cho các em hiểu

Trang 9

Ví dụ: Với đề bài: Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay luôn

luôn sống theo đạo lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".

Giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi theo trình tự như sau:

(1): Đề yêu cầu chứng minh điều gì? Em hiểu "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" là gì? Phương pháp lập luận cần sử dụng ở đây là gì?

(2): Vì sao "ăn quả" lại phải nhớ "kẻ trồng cây"?

(3): Tìm những biểu hiện của đạo lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây"?

(4): Hãy kể những việc làm trái với đạo lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây"? Thái độ của em đối với những việc làm ấy?

(5): Em đã làm gì để thực hiện đạo lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây"? Em có lời khuyên nào dành cho mọi người để em và mọi người cùng nhau thực hiện tốt đạo

lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây"?

Sau khi trả lời được những câu hỏi trên, giáo viên yêu cầu học sinh lập dàn bài theo trình tự (Phần này giáo viên yêu cầu học sinh xem ở bài "Cách làm bài văn lập luận chứng minh" - Sách giáo khoá Ngữ văn 7)

Lưu ý: Phần Thân bài giáo viên cần yêu cầu học sinh lập dàn bài theo trình tự

đã hướng dẫn trong sách giáo khoa (lí lẽ trước rồi đến dẫn chứng) Riêng phần dẫn chứng, cần lưu ý học sinh sắp xếp theo một trình tự nhất định, có thể là theo không gian, hoặc thời gian…

III- Hướng dẫn học sinh luyện tập

1/ Cách viết đoạn Mở bài:

Trong văn nghị luận, Mở bài thường được viết bằng một đoạn văn Mục đích

nhằm giới thiệu vấn đề mình sẽ viết, sẽ trao đổi, bàn bạc trong bài Vì thế khi viết

Mở bài thực chất là trả lời câu hỏi: định viết, định bàn bạc vấn đề gì? Đoạn văn Mở bài tuy có nhiều cách, nhưng cơ bản cần phải đạt được những yêu cầu sau:

- Mở đầu đoạn: Viết những câu dẫn dắt là những câu liên quan đến vấn đề chính

sẽ nêu

Trang 10

- Phần giữa đoạn: Nêu vấn đề chính sẽ bàn trong Thân bài tức là luận đề Vấn đề chính này có thể đã chỉ rõ (nằm sẵn trong đề bài), có thể người viết tự rút ra, tự khái quát

- Phần kết đoạn: Nêu phương thức nghị luận và phạm vi vấn đề cần bàn luận Phần này thường đề bài đã xác định sẵn, người viết chỉ cần giới thiệu hoặc ghi lại đoạn trích, câu trích ở đầu bài

Có nhiều cách viết đoạn Mở bài, nhưng theo tôi, với đối tượng là học sinh lớp 7 thì chỉ cần luyện cho các em hai cách:

*Cách 1: Mở bài bằng cách đi thẳng vào vấn đề

Đây là kiểu mở bài đơn giản, dễ thực hiện nhất Bởi người viết chỉ cần nắm được vấn đề một cách cơ bản nhất về những yêu cầu của đề và yêu cầu của phần

Mở bài thì có thể diễn đạt được Tuy nhiên, dù nó là một cách nhưng không hề áp đặt, nếu học sinh có vốn ngôn ngữ phong phú thì cũng sẽ có những cách diễn đạt khác nhau và cũng sẽ tạo được sự cuốn hút và sức thuyết phục cao

Vì dụ: Viết Mở bài cho đề bài: Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam từ xưa

đến nay luôn luôn sống theo đạo lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".

Với đề bài này và với cách Mở bài bằng cách đi thẳng vào vấn đề, học sinh cũng

có thế diễn đạt theo nhiều kiểu:

(1): Trong cuộc sống, đạo đức là một yếu tố rất quan trọng, nó thể hiện sự văn minh, lịch sự, nếp sống, tính cách, và phần nào có thể đánh giá được phẩm chất, giá trị bản thân con người Và có rất nhiều mặt để đánh giá đạo đức, phẩm chất của con người Một trong số đó là sự biết ơn,ghi nhớ công lao mà người khác đã giúp đỡ mình Đó cũng là một chân lí thiết thực trong đời thường Chính vì vậy ông cha ta có câu : “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

(2): Ông cha ta từ xưa đến nay vẫn thường căn dặn con cháu phải biết nhớ đến những người đã không tiếc máu xương để giành lại quyền độc lập, tự do cho đất

Ngày đăng: 03/09/2018, 09:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w