LỜI NÓI ĐẦU1MỤC LỤC21.Toàn cầu hóa là gì?32.Tình hình kinh tế Việt Nam trong toàn cầu hóa thập niên90. Thách thức, cơ hội, biện pháp đối với các công ty để phát triển kinh tế công bằng.5a)Phát triển kinh tế và phân phối thu nhập tại VN trong thập niên 19905b)FPT – doanh nghiệp tại Việt Nam đầu tiên nghĩ đến toàn cầu hóa:83.Ảnh hưởng của văn hóa đến sự phát triển công ty toàn cầu13a)Ngôn ngữ thầm lặng của văn hóa14b)Giá trị và văn hóa quốc gia15c)Chiến lược hoạt động của Google224.Thuận lợi và thách thức khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.23a)Thời cơ khi Việt Nam hội nhập kinh tế, quốc tế.23b)Thách thức khi Việt Nam hội nhập kinh tế, quốc tế.265.Thuận lợi và khó khăn của các doanh nghiệp toàn cầu.31a)Sự hình thành các công ty đa quốc gia31b)Những thuận lợi của công ty đa quốc gia33c)Những khó khăn của công ty đa quốc gia346.Thực tiễn hoạt động toàn cầu hóa của các công ty tại Việt Nam.377.Bài học kinh nghiệm.38Kết Luận41Tài liệu Tham Khảo43 1.Toàn cầu hóa là gì?Toàn cầu hóa là một quá trình biến các vùng miền, các cộng đồng người khác nhau từ trạng thái biệt lập, tách rời nhau thành một trạng thái khác về chất, bằng sự liên kết gắn bó thành một thể thống nhất hữu cơ trên quy mô toàn cầu. Khi đó, một sự kiện, một hiện tượng, một vấn đề xảy ra ở vùng miền này, ở cộng đồng người này sẽ có ảnh hưởng, tác động tới các vùng miền, các cộng đồng người khác trên quy mô toàn thế giới”2.Tình hình kinh tế Việt Nam trong toàn cầu hóa thập niên90. Thách thức, cơ hội, biện pháp đối với các công ty để phát triển kinh tế công bằng.a)Phát triển kinh tế và phân phối thu nhập tại VN trong thập niên 1990
Trang 1Môn: QUẢN TRỊ HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ
Đề tài: QUẢN TRỊ TOÀN CẦU
Tp.HCM,ngày 07 tháng 09 năm 2015
Trang 2L I NÓI Đ U ỜI NÓI ĐẦU ẦU
gày nay, dù muốn hay không thì bất cứ quốc gia nào cũngchịu ảnh hưởng của tiến trình toàn cầu hóa, và con đường đểphát triển nền kinh tế đất nước là phải chủ động hội nhập vàonền kinh tế thế giới, nắm bắt xu hướng vận động và cách thức tá cđộng của toàn cầu hoá kinh tế Khi các nước bắt đầu mở của nền kinh
tế, tham gia hội nhập thì cũng là lúc các công ty mở rộng hoạt độngcủa mình Các nguồn cung ứng, các thị trường sản phẩm và sự cạnhtranh không đơn thuần diễn ra trong một phạm vi địa phương hayquốc gia nữa, mà thay vào đó nó được diễn ra trên phạm vi rộng lớnhơn – phạm vi toàn thế giới Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phảiđưa ra một lý thuyết quản trị để có những bước đi thích hợp khi thamgia vào thương mại thế giới, giúp doanh nghiệp có thể chủ động tậndụng cơ hội, đồng thời nhận biết và khắc phục những thách thứ c đặt
ra, bắt kịp với trình độ phát triển chung, đó chính là lý thuyết Quản Trị
Toàn Cầu.
N
Đề tài sẽ phân tích các khái niệm liên quan đến Quản trị toàn cầu,Tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn toàn cầuhóa, ảnh hưởng của yếu tố văn hóa đến hoạt động quản trị để thấyđược những thuận lợi và khó khăn trong quá trình Quản trị của cáccông ty toàn cầu, kết hợp với việc đưa ra những ví dụ thực tiển baogồm chiến lược hoạt động của các công ty toàn cầu đang hoạt độnghiệu quả Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và một số đề xuấtnhằm phát huy những thuận lợi và đối đầu với những thách thức đặtra
Trong quá trình thực hiện, nhóm sử dụng kết hợp nhiều phươngpháp như phân tích, tổng hợp, so sánh, dựa trên nhiều nguồn tàiliệu thu thập từ sách báo, thông tin trên truyền hình, mạng internet, Mặc dù trong quá trình thực hiện, nhóm đã rất cố gắng nhưng chắcchắn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận đượcnhững lời nhận xét và góp ý chân thành của Thầy dành cho nhóm đểbài viết có thể đạt hiệu quả cao hơn nữa
Chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy!
Nhóm 28
Trang 4MỤC LỤC
L I NÓI Đ UỜI NÓI ĐẦU ẦU 1
MỤC LỤC 2
1 Toàn cầu hóa là gì? 3
2 Tình hình kinh tế Việt Nam trong toàn cầu hóa thập niên90 Thách thức, cơ hội, biện pháp đối với các công ty để phát triển kinh tế công bằng 5
a) Phát triển kinh tế và phân phối thu nhập tại VN trong thập niên 1990 5
b) FPT – doanh nghiệp tại Việt Nam đầu tiên nghĩ đến toàn cầu hóa: 8
3 Ảnh hưởng của văn hóa đến sự phát triển công ty toàn cầu 13
a) Ngôn ngữ thầm lặng của văn hóa 14
b) Giá trị và văn hóa quốc gia 15
c) Chiến lược hoạt động của Google 22
4 Thuận lợi và thách thức khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế 23
a) Thời cơ khi Việt Nam hội nhập kinh tế, quốc tế 23
b) Thách thức khi Việt Nam hội nhập kinh tế, quốc tế 26
5 Thuận lợi và khó khăn của các doanh nghiệp toàn cầu 31
a) Sự hình thành các công ty đa quốc gia 31
b) Những thuận lợi của công ty đa quốc gia 33
c) Những khó khăn của công ty đa quốc gia 34
6 Thực tiễn hoạt động toàn cầu hóa của các công ty tại Việt Nam 37
7 Bài học kinh nghiệm 38
Kết Luận 41
Tài liệu Tham Khảo 43
Trang 51 Toàn cầu hóa là gì?
Toàn cầu hóa là một quá trình biến các vùng miền, các cộng đồngngười khác nhau từ trạng thái biệt lập, tách rời nhau thành một trạngthái khác về chất, bằng sự liên kết gắn bó thành một thể thống nhấthữu cơ trên quy mô toàn cầu Khi đó, một sự kiện, một hiện tượng,một vấn đề xảy ra ở vùng miền này, ở cộng đồng người này sẽ có ảnhhưởng, tác động tới các vùng miền, các cộng đồng người khác trênquy mô toàn thế giới”
Toàn cầu hoá đang tạo ra những ưu thế nhất định và có thể tómtắt ưu thế đó trên mấy điểm như sau: thứ nhất, nó tạo ra khả năngphát triển, phổ cập công nghệ thông tin và các phương tiện viễnthông; thứ hai, nó thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thương mại và tạo rakhả năng thực thi các luật lệ kinh tế khách quan trong một không giantoàn cầu rộng lớn; thứ ba, nó tạo điều kiện cho việc giao lưu văn hoá
và tư tưởng rộng rãi, làm cho con người xích lại gần nhau hơn; cuốicùng, toàn cầu hoá đem lại khả năng giải quyết một số vấn đề chungđang đối mặt với toàn cầu hoá kinh tế và sự phát triển xã hội
Trang 7Bên cạnh những ưu điểm, toàn cầu hoá đang đặt ra cho các nướctrên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển những thách thức
và nguy cơ hết sức to lớn:
Về mặt xã hội, hiện nay, các nước đều đang phải đối mặt vớinhững vấn đề chung trong sự phát triển kinh tế quốc gia, như nhữngvấn đề sinh thái, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên, vấn đềdân số và sức khoẻ cộng đồng, sự phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xãhội và tội phạm mang tính quốc tế
Về mặt chính trị, người ta thường nhắc tới những thách thứcnghiêm trọng của toàn cầu hoá đối với chủ quyền quốc gia Điều đóđược lý giải bằng sự tác động của kinh tế đối với chính trị Sự hộinhập về kinh tế tăng lên sẽ kéo theo sự hội nhập về chính trị Vớilôgíc đó, người ta nói đến sự suy yếu của mô hình quốc gia dân tộc.Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, người ta thường nói về sự phụthuộc lẫn nhau của các quốc gia dân tộc hơn là đề cập đến sự độc lậphoàn toàn của các quốc gia đó Có thể nói, không có và không thể cómột quốc gia đứng độc lập hoàn toàn tách biệt khỏi với thế giới bênngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá
Trang 82 Tình hình kinh tế Việt Nam trong toàn cầu hóa thập niên90 Thách thức, cơ hội, biện pháp đối với các công ty để phát triển kinh tế công bằng.
a) Phát triển kinh tế và phân phối thu nhập tại VN trong thập niên 1990
Từ 1992 đến năm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chánh ở Á châu(năm 1997), kinh tế Việt Nam phát triển với tốc độ cao và ổn định, mỗinăm trên 8% Tính theo GDP trên đầu nguời thì trong thời kỳ nầy, ViệtNam đạt được thành quả tương đương với Hàn quốc và Đài Loantrong giai đoạn 1973-1996 (trên dưới 6,5% mỗi năm).12 Ở đây không
có chủ đích bàn trực tiếp đến các yếu tố đưa đến thành quả phát triểnnầy, nhưng có thể nêu ra 2 yếu tố lớn như sau: Thứ nhất, cùng vớicác chính sách ổn định vĩ mô, chính sách mở cửa và các cải cáchkhác, và cùng với hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, Việt Nam đã thu hútmột lượng tư bản nước ngoài khá lớn, dưới hai hình thức đầu tư trựctiếp (FDI) và viện trợ phát triển (ODA) Đặc biệt tỉ lệ của FDI trongtổng đầu tư lęn tới 25% trong giai đoạn 1990-95, 30% trong các năm1995-97 vŕ 25% năm 1998 Tỉ lệ nầy sau đó giảm nhưng vẫn giữ mức18% trong 2 năm 1999 và 2000 Vị trí của FDI trong nền kinh tế nhưvậy là khá cao so với kinh nghiệm quốc tế Thứ hai, công nghiệp đóngvai trò chủ đạo trong gần 10 năm phát triển vừa qua.13 Trong giaidoạn 1992-97, công nghiệp phát triển trung bình mỗi năm 13-14%trong khi nông nghiệp là 4-5% Từ năm 1998, công nghiệp giảm tốc
độ phát triển nhưng vẫn giữ mức 10%, tiếp tục đóng vai trò đầu tầucủa cả nền kinh tế
Trang 9Tuy nhiên, công nghiệp phát triển nhanh nhưng không thay đổiđược cơ cấu lao động.
Lao động vẫn chủ yếu tập trung trong nông nghiệp Tỉ lệ của bộmôn nông lâm thuỷ sản từ năm 1990 đến 1999 chỉ giảm vài phầntrăm, từ 72% xuống 69% Công nghiệp chiếm tỉ lệ ngày càng caotrong nền kinh tế nhưng sức thu hút lao động rất yếu Tỉ lệ của côngnghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 23,5% năm 1991 lên 34,5%năm 1999 nhưng tỉ lệ của các ngành đó trong tổng lao động có việclàm lại giảm từ 12,4% còn 12,1% trong thời gian đó Như vậy côngnghiệp phát triển nhưng lao động không di động ra khỏi nông nghiệpnhư mô hình của Lewis dự tưởng Nói chính xác hơn, công nghiệpphát triển có tạo ra một số lượng công ăn việc làm nhưng quá yếu,trong lúc đó lực lượng lao động lại tiếp tục tăng và chủ yếu tăng trongnông nghiệp
Tại sao công nghiệp phát triển nhưng ít tạo ra công ăn việc làm?Nguyên nhân cơ bản là trong thời gian qua, các ngành công nghiệpnặng được ưu đãi, được bảo hộ nên phát triển mạnh nhưng là nhữngngành cần nhiều vốn và có hàm lượng lao động thấp Như trên đã nói,FDI có vai trò lớn nhưng công nghiệp nặng chiếm tới 64% trong tổngkim ngạch FDI thuộc bộ môn công nghiệp (theo thống kê tính từ thờiđiểm có FDI đến tháng 6 năm 2000) FDI vì vậy hướng vào các ngànhthay thế nhập khẩu như Sachs et al (1997) nhấn mạnh Một chủ thểquan trọng khác xúc tiến phát triển các ngành công nghiệp nặng làcác công ty quốc doanh Các xí nghiệp quốc doanh từ năm 1994 tổchức thành nhiều tổng công ty vừa độc quyền vừa được bảo hộ vàliên kết chặt chẽ với FDI (hơn 90% các dự án có vốn đầu tư nước
Trang 10ngoài là các liên doanh giữa xí nghiệp quốc doanh với công ty nướcngoài).14 Trong sản lượng công nghiệp, vị trí của xí nghiệp quốcdoanh giảm từ 62% năm 1990 xuống 44% năm 1999 nhưng đây là docác công ty có vốn nước ngoài (trong đó công ty quốc doanh góp 30%vốn) tăng vọt từ 9% đến 35% trong thời gian đó (World Bank 2000, p.28) Như vậy vai trò của các công ty tư nhân trong nước (phần lớn làcác xí nghiệp nhỏ và vừa) trong sản xuất công nghiệp đã giảm từ 29%xuống còn 21% trong giai đoạn đó.
Theo tính toán của World Bank (2000, p 13), tại Việt Nam, xínghiệp tư nhân nhỏ và vừa có khuynh hướng đầu tư vào những ngànhdùng nhiều lao động so với cả xí nghiệp quốc doanh và các công ty
có vốn nước ngoài Tuy nhiên, các công ty tư nhân gặp nhiều khókhăn trong việc ra đời và trong hoạt động kinh doanh so với hai loại xínghiệp kia Thứ nhất là không được ưu đãi về vốn, khó khăn trongviệc vay vốn ngân hàng, nhất là vốn dài hạn Thứ hai là thủ tục hànhchánh để một xí nghiệp ra đời quá nhiêu khê và hệ thống kiểm trahoạt động doanh nghiệp quá phiền toái làm tăng phí tổn hành chánhcủa doanh nghiệp (tình hình có được cải thiện từ khi có Luật doanhnghiệp, hiệu lực từ tháng 1 năm 2000) Thứ ba, xí nghiệp nhỏ và vừathường sản xuất các sản phẩm tiêu thụ cuối cùng nhưng phải muacác sản phẩm trung gian với giá cao từ xí nghiệp nước ngoài hoặc xínghiệp quốc doanh Những sản phẩm trung gian nầy là những hàngthay thế nhập khẩu được bảo hộ bằng thuế rất cao và thường là docác công ty độc quyền cung cấp nên giá cao Chẳng hạn, thuế suấttrong ngành kim thuộc là 256%, nhựa và sản phẩm nhựa là 185%,giấy và sản phẩm giấy là 118%, v.v ( World Bank 2000, p 25)
Tình trạng nói trên ảnh hưởng như thế nào đến việc phân phối thunhập? Kinh tế phát triển với tốc độ tương đối cao và chính sách xoáđói giảm nghèo đã góp phần làm cho tỉ lệ của số dân sống dưới giớituyền nghèo khó (poverty line) giảm nhanh, từ 58% năm 1993 còn37% năm 1998 Tuy nhiên, vì lao động dư thừa vẫn còn quá nhiều ởnông thôn, năng suất nông nghiệp thấp, tỉ lệ số người sống dưới giớituyến nghèo riêng ở nông thôn là 45%, và 80% số người nghèo của
cả nước đương sống ở nông thôn Cách biệt về thu nhập giữa thànhthị và nông thôn ngày càng mở rộng Năm 1990, thu nhập bình quâncủa người dân nông thôn bằng 25% thu nhập người thành phố, nhưngvào năm 1994, tỉ lệ đó giảm còn 18% Từ năm 1993 đến năm 1998,
Trang 11thu nhập của người dân nông thôn chỉ tăng 30% trong khi ở thành thị
là 61% Vào năm 1993, chi tiêu trung bình của nguời thành phố bằng1,8 lần người thôn quê nhưng đến năm 1998 tăng lên 2,2 lần 15
Như vậy, trong khoảng 10 năm qua, tuy kinh tế phát triển nhanhnhờ các chính sách đổi mới, mở cửa theo hướng tích cực du nhập tưbản nước ngoài nhưng chiến lược công nghiệp hoá trên căn bản làthay thế nhập khẩu, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và được đẩymạnh bởi công ty quốc doanh và xí nghiệp có vốn nước ngoài trongmột thể chế bảo hộ mậu dịch Chiến lược công nghiệp hoá nầy vừa íttạo công ăn việc làm vừa gây trở ngại cho việc phát triển các công tynhỏ và vừa nên không giải quyết vấn đề lao động dư thừa ở nôngthôn, làm cho thu nhập giữa nông thôn và thành phố ngày càng mởrộng
b) FPT – doanh nghiệp tại Việt Nam đầu tiên nghĩ đến toàn cầu hóa:
Hiện diện tại 14 quốc gia với gần 300 người làm việc tại nướcngoài cùng hàng nghìn nhân viên hỗ trợ cho thị thị trường này là kếtquả ban đầu của FPT trong hành trình chinh phục thế giới
Tại Việt Nam, FPT là doanh nghiệp đầu tiên nghĩ đến toàn cầu hóa(globalization) Năm 1998, tại Hội nghị tổng kết 10 năm công nghệFPT, Chủ tịch HĐQT Trương Gia Bình công bố rằng giai đoạn đầu đãkết thúc, FPT chuyển sang giai đoạn hai - Toàn cầu hoá FPT đãthống nhất quyết tâm toàn cầu hóa, với sự dịch chuyển trọng tâmsang xuất khẩu phần mềm
Trang 12Lần đầu tiên, khái niệm “Toàn cầu hóa” được nhắc đến ở FPT Tậpđoàn đã nghĩ tới khái niệm này ngay cả khi nó chưa phổ biến trên thếgiới Khái niệm trên chỉ thực sự phổ biến trên diện rộng khi cuốn sách
"Chiếc Lexus và cây Ô-liu" của Thomas Friedman ra đời và trở thànhbest-seller trên thị trường Mỹ vào năm 2000
Những năm đầu (1998-2002), mỗi bước tiến ra “toàn cầu” của FPTđều là “lần mò” và hy vọng Thời điểm năm 2000, khủng hoảng kinh tếtoàn cầu, FPT đứng trước khả năng kinh doanh thua lỗ do việc đầu tưcho những bước đi ban đầu quá lớn
Trong giai đoạn toàn cầu hóa lần thứ nhất, FPT tập trung cho xuấtkhẩu phần mềm Tuy nhiên, điều quan trọng nhất, chuẩn bị cho mụctiêu xuất khẩu phần mềm FPT hầu như chẳng có gì FPT đi ra biểnlớn với con số 0: Thương hiệu không, nguồn lực yếu, mối quan hệhạn hẹp, kinh nghiệm quốc tế ít ỏi…
Thế nên không khó hiểu khi làn sóng toàn cầu hoá lần đầu củaFPT đã thất bại Hai văn phòng ở Ấn Độ (thành lập tháng 11/1999) và
Mỹ (tháng 1/2000) không kéo về được hợp đồng như dự tính và đã
“tan” sau gần một năm hoạt động Phần lớn những gì FPT thu lượmđược ở lần xuất chinh đầu tiên chỉ là những bài học
Đương nhiên toàn cầu hoá không phải là “một thương vụ ngon ăn”.Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã thất bại trong quá trình mở rộngthị trường ra quốc tế và cũng chẳng hiếm những thương hiệu nướcngoài gục ngã trên con đường chinh phục thị trường toàn cầu, trong
đó có Việt Nam
Điều đáng chú ý là ở lần toàn cầu hoá lần thứ nhất, FPT cũngchưa rõ khái niệm về toàn cầu hoá mà tất cả chỉ là “ném đá dòđường”, làm một cách chủ quan, bắt chước nước ngoài mà thiếu đi sựnghiên cứu, chuẩn bị cần thiết
Trang 13“Mọi việc bắt đầu khá đơn giản Một đêm tháng 11/1998, tôi vớianh Bình ngồi ăn mì tại sân bay Bangkok, chờ máy bay về Việt Nam.
Cả hai im lặng tha thẩn nhai Chúng tôi đều đang ở trong trạng tháishock sau tất cả những gì được chứng kiến ở Bangalore, Ấn Độ, mộtđất nước đang còn rất nghèo nhưng đã hiện nguyên hình là mộtcường quốc CNTT trong thế kỷ 21 Hồi lâu, anh Bình nói: 'Em lấy mộtđội và thử đi' Tôi gật đầu, không cảm xúc”, Nguyễn Thành Nam,nguyên TGĐ FPT Software, hiện là Phó Chủ tịch ĐH FPT, đã viết vềlàn sóng toàn cầu hoá lần thứ nhất ở FPT trong bài “Đi tìm sức mạnhcốt lõi của FPT”
Dù thương vụ kinh doanh không thành công, nhưng văn phòng ở
Ấn Độ và Mỹ mở ra ở thời kỳ này đã mang về cho FPT nhiều kinhnghiệm trong lần toàn cầu hóa tiếp theo
Làn sóng toàn cầu hoá lần hai, từ năm 2006, bắt đầu với rất nhiềuthuận lợi Việt Nam đã gia nhập WTO và mỗi doanh nghiệp đượchưởng lợi từ “ba làn sóng dân chủ": Dân chủ hóa công nghệ, dân chủhóa tài chính và dân chủ hóa thông tin” (Thomas Friedman - "ChiếcLexus và cây Ô-liu") FPT đã “lên sàn” và trở thành một trong nhữngcông ty cổ phần có thị giá cổ phiếu lớn nhất Việt Nam Trong nhiềunăm liền, công ty có mức tăng trưởng 50 đến 70%, làm dày thêm tiềmlực để ra biển lớn
FPT đã chuẩn bị được một nguồn nhân lực đủ mạnh và có thểcạnh tranh được với các công ty nước ngoài Nếu trong năm 1998,FPT mới chỉ có khoảng vài chục lập trình viên thì vào năm 2006, riêng
Trang 14FPT Software đã có hơn 1.500 lập trình viên với hàng trăm bằng cấpgiá trị quốc tế, bao gồm cả Microsoft, Cisco, Oracle…
Trên hết, tập đoàn đã có những bài học cay đắng từ làn sóng lầnmột và những mối quan hệ được mở ra ngày càng rộng, một phầnnhờ vào việc Việt Nam trở thành thị trường được nhiều hãng nướcngoài quan tâm
“Cơn gió Đông Du” tạo ra những nhịp sóng đầu tiên Tháng11/2005, FPT thành lập Công ty TNHH FPT Software Nhật Bản, “đóngđô” ở Osaka Với tiêu chí công ty “toàn cầu” là phải có văn phòng ởtoàn cầu, FPT Software phát triển chi nhánh ở đất nước mặt trời mọcnhằm bám chặt vào “đai lưng địch mà đánh”
Thị trường Nhật Bản mở ra quá nhiều cơ hội Việc chuẩn bị để mởvăn phòng lần này khá chu đáo, từ lựa chọn địa điểm, chuẩn bị lựclượng lập trình viên biết tiếng Nhật đến cử người nằm vùng, khảo sát
ở Nhật lâu ngày Với FPT Software, đi onsite ở Nhật đã trở thànhchuyện “cơm bữa”
FPT Software không quá khó khăn để thành lập tiếp văn phòng chinhánh thứ hai ở Singapore Tháng 3/2006, từ việc lần đầu tiên làmchủ thầu nước ngoài trị giá 6,42 triệu USD với tập đoàn dầu khíPetronas (Malaysia), FPT Software đã phác thảo ngay kế hoạch thànhlập pháp nhân ở khu vực giàu tiềm năng này Ngày 13/3/2007, FPTSingapore (FAPAC) đã ra đời trong khí thế hừng hực của "thủy triềulên"
Trang 15Khác hẳn với làn sóng toàn cầu hóa lần thứ nhất, FPT tiến lên
“toàn cầu hóa” không chỉ tập trung vào chiến lược phần mềm Mảng
dự án, triển khai sản phẩm cũng bắt đầu được đẩy mạnh Trước kia,
“toàn cầu hóa” gắn với FPT Software và phần mềm Bây giờ, ngườiFPT biết đến những trận “đánh Tây” của FPT IS, FPT SoftwareSolution (FSS)… FPT IS đã tung lưới ở cả những ngư trường xa xôinhư Congo, Tazania, Nam Phi FSS liên tục đưa người đibán SmartBank ở Lào , Campuchia, Thái Lan
“Nếu năm 1998, doanh thu toàn cầu hóa được xây dựng và xuấtphát từ gia công phần mềm thì đến năm 2006, chúng ta lại mongmuốn khoản doanh thu này còn thêm cả dịch vụ Hiện nay, FPT IS làlàn sóng thứ hai của FPT về toàn cầu hóa với nhiều dịch vụ”, anhBình từng chia sẻ
Đầu năm 2007, FPT IS, FSS và FES được sáp nhập như một phảnứng phù hợp cho sự phát triển bền vững của FPT, tạo ra sức mạnhmới để “đi làm toàn cầu” Hợp nhất đã tạo nên một “bộ mặt mới” củađơn vị tích hợp hệ thống, đủ sức cạnh tranh với các công ty nướcngoài
FPT bước đầu được tạo dựng thương hiệu trên trường quốc tế sauhàng loạt cái bắt tay chiến lược với các “siêu đại gia” kinh tế, chính trịthế giới FPT là một trong 20 công ty đối tác cao cấp của Microsoft,được nhắc đến nhiều lần trong bài phát biểu của người giàu nhất thếgiới Bill Gates, của “công thần số một Microsoft” Steve Ballmer, củaTổng thống Mỹ G.W.Bush Tất cả đang dần tạo cho FPT chỗ đứngvững chãi, một tầm vóc mới, một thế và lực mới trong hội nhập, cạnhtranh quốc tế - phần tất yếu của toàn cầu hóa
Làn sóng toàn cầu hóa lần thứ hai đã mang về cho FPT hàng trămtriệu USD và hiện diện tại 14 quốc gia với nhiều cơ hội kinh doanhmới
Hiện, toàn cầu hóa đã trở thành khẩu hiệu, là điểm đến bắt buộccủa bất kỳ công ty thành viên nào thuộc FPT , khi thị trường trongnước trở nên hạn hẹp Sau FPT Software và FPT IS, FPT Telecom ,FPT Trading, ĐH FPT , FPT Retail cũng đang tìm đường mở cõi
Trang 16Tuy nhiên, dù có không ít kinh nghiệm toàn cầu hóa, FPT vẫn gặpthất bại ở những thị trường mới, với văn hóa kinh doanh khác biệt,điển hình như Nigeria hồi năm 2011.
Dù còn nhiều thách thức, nhưng toàn cầu hóa là xu thế tất yếu khiquy mô FPT đã lớn mạnh, thị trường trong nước bắt đầu bão hòa vàtrở nên nhỏ bé với con số hơn 15.000 nhân viên FPT lại chuẩn bị chomột cuộc trường chinh mới
3 Ảnh hưởng của văn hóa đến sự phát triển công ty toàn cầu
Văn hóa có tác động rất lớn trong hoạt động kinh doanh Văn hóađược xem là tập hợp các niềm tin, giá trị và mô hình về hành vi đượcchia sẻ bởi các thành viên trong cộng đồng Sốc văn hóa thể hiện sựbối rối và không thoải mái mà một người trải nghiệm trong một nềnvăn hóa xa lạ
Một quản trị gia cao cấp của Hoa Kì đến Saudi Arabia để thực hiệnmột cuộc tiếp xúc kinh doanh Ông ta ngồi bắt chéo chân tại vănphòng của đối tác, phô bày toàn bộ đôi giày trong tư thế này : cả haihành vi này đều được xem là không tôn trọng đối tác theo văn hóaquốc gia này Ông còn đưa văn bản cho đối tác bằng tay tái , bàn tayđược xem là không sạch sẽ với người Hồi giáo Ông còn từ chối uốnglời mời dùng cà phê , và điều này thể hiện sự không tôn trọng longhiếu khách của đối tác bản xứ Sự sai lầm trong ứng xử đó đã phải
Trang 17trả giá đắt : một hợp đồng trị giá 10 triệu USD đã mất về tay một nhàkinh doanh người Hàn Quốc
Hành vi của nhà quản trị Hoa Kỳ thể hiện chủ nghĩa độc vị Chủnghĩa độc vị là xem văn hóa của bản thân ưu việt hơn văn hóa khác ,
tự xem là trung tâm , bỏ qua và không quan tâm đến văn hóa nướcchủ nhà Hành vi của nhà quản trị nói trên có thể là do sốc văn hóa có
lẽ xuất phát từ sự mệt mỏi trong một chuyến bay dài hoặc không thoảimái khi vừa đến Saudi Arabia và ông ta nghĩ rằng công việc của mìnhchỉ là chào mời và kí bản hợp đồng sau đó sẽ rời nước này càng sớmcsngf tốt trong phạm vi có thể Ông ta có thể đã được lưu í về sựkhác biệt trong văn hóa nhưng lại không có đủ thời gian để nghiêncứu về văn hóa của nước sở tại Tuy nhiên, bất kể lí do nào, nhàquản trị này đã đánh mất cơ hội giành lấy hợp đồng dù công ti củaông có nhiều lợi thế hơn đối thủ cạnh tranh Tất cả những điều trên
đã thể hiện sự thiếu năng lực thông hiểu văn hóa , là năng lực khảnăng thích ứng và điều chỉnh trong một nền văn hóa mới
Người thông hiểu văn hóa luôn có khả năng nhận thức cao về sựkhác biệt văn hóa trong cách ứng xử của mình Họ sẽ linh hoạt trongviệc giải quyết các sự khác biệt về văn hóa và sẵn long học tập từnhững sự khác biệt về văn hóa Họ sẽ sử dụng những điều học tập đó
để điều chỉnh hành vi của mình để hành xử hạy bén theo cách hành
xử của nền văn hóa khác Nói cách khác, người có sự hội nhập vănhóa xem sự khác biệt văn hóa không chỉ là nguy cơ mà còn là cơ hộihọc hỏi đây là một phẩm chất đảm bảo cho nhà quản trị thành côngtrong nhiệm vụ quốc tế và làm việc tốt với con người thuộc nhiều nềnvăn hóa khác nhau
a) Ngôn ngữ thầm lặng của văn hóa
Khả năng lắng nghe , quan sát và học hỏi là các nền tảng hìnhthành nên sự hội nhập văn hóa Các kĩ năng và năng lực này có thểđược phát triển bằng cách thông hiểu thấu đáo những gì mà nhà nhânchủng học Edward T Hall gọi là ‘ ngôn ngữ thầm lặng của văn hóa’ Ông ta tin rằng những sự thầm lặng của ngôn ngữ được tìm thấykhông qua cách tiếp cận với văn hóa theo ngữ cảnh , thời giann ,không gian
Trang 18Ngữ cảnh
Trong các nền văn hóa ngữ cảnh thấp việc truyền thông hấu hếtdiễn ra thông qua chữ viết hay lời nói Trong nền văn hóa ngữ cảnhcao tất cả những điều được nói hay viết ra chỉ thể hiện một phần ,thậm chí là một phần rất nhỏ của thông điệp thật sự Phần còn lạiphải được thông hiểu từ những dấu hiệu phi ngôn ngữ và từ tìnhhuống , bao gồm cả ngôn ngữ cơ thể , hành vi chuyển động và thậmchí từ mối quan hệ trong quá khứ của những người có liên quan.Chỉsau khi các quan hệ xã hội đã được thết lập và ngữ cảnh truyền thôngđược thông hiểu thì việc tiến hành các trao đổi kinh doanh mới thựchiện được
Thời gian
Văn hóa đơn nhịp là văn hóa trong đó con người có xư hướng làmột công việc vào một thời điểm, như hầu hết các doanh nghiệp củaHoa Kì lập biểu các cuộc họp với người được mời cụ thể, để tập trungvào một chương trình trong một thời kỳ đã bố trí, và không mong đợi
ai đó đi trễ buổi họp hoặc đem theo người khác tới, sự đúng giờ đượcđánh giá cao trong văn hóa đơn nhịp
Trong văn hóa đa nhịp, các thành viên thì linh hoạt hơn với thờigian, thường cố gắng làm nhiều việc một lúc, có lẽ không nhất thiếttheo trình tự nào, và đáp ứng với sự xao lãng và sự ngắt quãng
Không gian
Không gian cũng được sử dụng như một phần của ngôn ngữ vănhóa, Hall mô tả khía cạnh văn hóa này bằng thuật ngữ không gian họctrong giao tiếp, thuật ngữ này nói lên cách thức con người sử dụngkhông gian trong giao tiếp
c) Giá trị và văn hóa quốc gia
Hofsttede đã phát 5 khía cạnh đo lường văn hóa quốc gia: Khoảngcách quyền lực, Né tránh bất ổn, Chủ nghĩa cá nhân - chủ nghĩa tậpthể, Nam tính - nữ tính, Định hướng thời gian
Trang 19Quốc
gia
Khoảng cách Quyền Lực
Chủ Nghĩa
Cá Nhân
Nam Tính –
Nữ tính
Tránh Rủi Ro
Định hướng thời gian
Điểm cho 5 chiều văn hóa của một số quốc gia tiêu biểu, trong đó có
Việt Nam (nguồn: http://www.geert-hofstede.com/)
Khoảng Cách Quyền Lực (Power Distance)
Khoảng cách quyền lực là từ để miêu tả cách một xã hội ứng xửvới sự bất bình đẳng về quyền lực giữa con người trong xã hội Một
xã hội có sự chênh lệch về quyền lực lớn có nghĩa là mức độ bất bìnhđẳng tương đối cao và luôn tăng lên theo thời gian Trong văn hóa ởcấp độ cá nhân, người Việt Nam thường quen với khoảng cách quyềnlực lớn và xa Điều này dẫn tới sự tôn trọng và có phần kiêng dè củacấp dưới với cấp trên Ví dụ, cấp dưới thường không ra quyết định
mà sẽ thực hiện theo quyết định của cấp trên Nếu cấp dưới và cấptrên có mâu thuẫn trong ý kiến, đa số trường hợp cấp dưới sẽ chủđộng rút ý kiến của mình và công nhận ý kiến của cấp trên là đúng.Doanh nghiệp cần chú ý khoảng cách quyền lực khi tham khảo ýkiến cấp dưới, nhiều trường hợp cấp dưới tỏ ra đồng ý và nhất trínhưng kì thực là do không dám bộc lộ quan điểm thẳng thắn với cấptrên Điều này yêu cầu người lãnh đạo (cấp trên) phải có tinh thần cởi
mở, chấp nhận tiếp thu ý kiến đóng góp từ người có vị trí thấp hơn,đồng thời cũng phải khéo léo khai thác ý kiến từ cấp dưới để hoànthiện và giải quyết vấn đề một cách tốt nhất
Công ty cần có chính sách phân quyền rõ ràng, xác định và phânloại các vấn đề theo mức độ nhân viên cần tham khảo ý kiến của cấptrên, mức độ nhân viên có thể tự quyết định
Trang 20Trong trường hợp công ty không chấp nhận việc nhân viên tự chấpnhận khoảng cách quyền lực xa với cấp trên và muốn thay đổi nét vănhóa này, công ty cần để nhân viên làm quen với môi trường cókhoảng cách quyền lực thấp Những chính sách có thể đề ra là: cửnhân viên đi học/ làm việc tại các nước châu Âu – Mỹ (những nơi cókhoảng cách quyền lực nhìn chung là thấp), tuyển một tỉ lệ nhân sự làngười Âu – Mỹ để có thể áp dụng tại chỗ các hành vi cần có của vănhóa với khoảng cách quyền lực thấp Và trên hết, các cấp lãnh đạotrong công ty cần có tư tưởng cởi mở và luôn khuyến khích cấp dướimạnh dạn thể hiện và bảo vệ quan điểm của mình, tạo nên một vănhóa thẳng thắn trong công ty.
Chủ nghĩa Cá Nhân (Individualism)
Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể có nghĩa là văn hóa đóđánh giá một cá thể theo cá nhân người đó hay theo việc anh ta thuộcnhóm người nào Nhìn chung ở Việt Nam, văn hóa cấp độ cá nhân có
xu hướng thiên về chủ nghĩa tập thể hơn, đặc biệt là ở miền Bắc
Mối quan hệ giữa các cá nhân đóng vai trò quan trọng hơn trong ýmuốn cá nhân, vì vậy chính sách nhân sự cần chú trọng việc xâydựng mối quan hệ giữa các nhân viên với nhau, tăng cường các hoạtđộng tăng cường tính đoàn kết nội bộ, ví dụ như chính sách nghỉdưỡng, du lịch tập thể cho công ty, chính sách thăm nuôi người ốm,các hoạt động teambuilding… Khi đã có mối quan hệ cá nhân vớinhau, nhân viên trong công ty sẽ có tinh thần thoải mái và phấn chấnhơn, giao tiếp với nhau hiệu quả hơn để kết quả công việc sẽ tốt hơn.Khi làm việc nhóm, ý kiến tập thể luôn được coi trọng và người taluôn tìm kiếm một sự thống nhất về ý kiến của nhóm khi thảo luận Vìvậy, các cuộc họp thường kéo dài và việc họp diễn ra rất thườngxuyên, ít khi một người dám hành động hay ra quyết định mà không
có sự thống nhất của nhóm Để thích ứng với tình trạng này, công tycần có bảng phân công quyền hạn rõ ràng, tránh các trường hợp trễnãi trong công việc chỉ vì đợi sự đồng tình của tất cả mọi người Bêncạnh đó, phải có những chính sách phù hợp trong trường hợp ý kiếnnhóm không thể thống nhất, khi đó phải xác định rõ được ai là người
có quyền ra quyết định cuối cùng, tránh mất thời gian vô ích Để tránhcác cuộc họp dài lê thê hoặc các cuộc họp không cần thiết, người
Trang 21lãnh đạo nhóm cần tỉnh táo xác định “tình huống này có nên họp haykhông?” và “mục tiêu cuộc họp là gì? Cần thống nhất vấn đề gì?”
Khi công nhận kết quả, người ta thường đánh giá cao kết quả làmviệc của nhóm, coi thành quả đạt được là của chung chứ không thoảimái với việc chỉ công nhận các “ngôi sao” trong nhóm Điều này cũngđúng khi xử phạt, người ta thường đánh giá cao việc nhóm cùng chịutrách nhiệm, cho rằng việc chỉ để một người chịu trách nhiệm là sựbiểu hiện của việc nội bộ nhóm thiếu tương trợ lẫn nhau Vì vậy,doanh nghiệp cần có những chính sách khen thưởng, xử phạt khéoléo, phù hợp với tinh thần chịu trách nhiệm theo nhóm
Tránh Rủi ro (Uncertainty Avoidance)
E ngại rủi ro thể hiện chừng mực mà con người có thể chấp nhậnrủi ro và sự không chắc chắn trong cuộc sống của họ Trong xã hội cómức độ e ngại rủi ro cao, con người thường thiết lập nên các tổ chức
để tối thiểu hoá rủi ro và đảm bảo an toàn tài chính Các công ty tậptrung tạo ra việc làm ổn định và thiết lập các quy định để điều chỉnhcác hoạt động của nhân viên cũng như tối thiểu hoá sự không minhbạch Các nhà lãnh đạo thường phải mất nhiều thời gian để ra quyếtđịnh vì phải xem xét hết mọi khả năng xảy ra rủi ro Bỉ, Pháp và NhậtBản là những nước có mức độ e ngại rủi ro tương đối cao Những xãhội có mức độ e ngại rủi ro thấp thường giúp các thành viên làm quen
và chấp nhận sự không chắc chắn Các nhà quản lý rất nhanh nhạy
và tương đối thoải mái khi chấp nhận rủi ro nên họ ra quyết định khánhanh Con người chấp nhận cuộc sống mỗi ngày xảy đến và làm việcbình thường vì họ không lo lắng về tương lai Họ có xu hướng dunghoà được các hành động và quan điểm khác biệt so với bản thân họ
vì họ không cảm thấy sợ sệt
Ấn Độ, Ireland, Jamaica và Hoa Kỳ là những ví dụ tiêu biểu nhấtcho các quốc gia có mức độ e ngại rủi ro thấp
Theo bảng dữ liệu, Việt Nam nằm trong nhóm các nước có mức độ
e ngại rủi ro thấp, người ta ít lo lắng về tương lai, có xu hướng dunghòa các hành động, mối quan hệ khác biệt với bản thân họ Để tránhcác rủi ro quá nguy hiểm cho mình, doanh nghiệp cần có những chínhsách để phòng tránh trong trường hợp nhân viên chấp nhận thực hiệnmột phương án quá rủi ro, chẳng hạn như: yêu cầu nhân viên chứngminh tính khả thi và an toàn của phương án thông qua số liệu nghiên
Trang 22cứu, số liệu thực tế Bên cạnh đó, mỗi thành viên trong công ty cầnchủ động bám sát tình hình công việc của những người liên quan để
có thể ứng phó kịp thời với rủi ro phát sinh
Nam Tính – Nữ tính (Masculinity - Femininity)
Nam tính và nữ tính mang tính tương đối, không đơn thuần chỉ làgiới tính mà có thể một người nam có nữ tính và ngược lại
Văn hóa Việt Nam ở cấp độ cá nhân, con người có xu hướng thiên
về nữ tính hơn, nghĩa là hiền lành, ít tham vọng, ít cạnh tranh, thườngquan tâm đến người khác và sống phụ thuộc lẫn nhau Vì vậy nên kếtquả công việc dễ bị ảnh hưởng bởi người khác, phụ thuộc ý kiến tậpthể Quan hệ đồng nghiệp sẽ được xây dựng không chỉ trên quan hệcông việc mà còn là quan hệ cá nhân Ví dụ với tập đoàn Honda tạiViệt Nam: Ở Nhật, đồng nghiệp thường xuyên gặp gỡ trao đổi côngviệc, làm cùng dự án thì sẽ có mối quan hệ, trong khi người lao độngviệt Nam có quan hệ với nhau khi đi ăn uống, vui chơi, mua sắm cùngnhau, chơi thể thao hoặc giải trí ngoài giờ làm việc và tụ tập như bạn
bè vào các dịp nghỉ lễ Cách làm việc này khiến các nhà lãnh đạoNhật cho là thiếu chuyên nghiệp, các quyét định đưa ra dựa trên mốiquan hệ gần gũi hơn là trình độ chuyên môn Từ đó Honda tại ViệtNam cần có chiến lược nhân sự phù hợp, rèn luyện các tư duy độclập hơn để họ làm việc hiệu quả hơn bằng cách gửi đi đào tạo ở Nhật,tiếp xúc thường xuyên với cách làm việc ở Nhật để họ tham vọnghơn, độc lập hơn và làm việc chuyên nhiệp hơn, tức tăng mức độ namtính trong chiều văn hoá này Mà nguồn nhân lực tham vọng và namtính như vậy thường có kết quả làm việc cá nhân cao, sẽ là nguồn laođộng chất lượng, tác động tích cực hơn đến kết quả thực hiện chiếnlược công ty
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp xảy ra tình trạng bất bình ở một vàinhân viên thì sẽ lan mạnh đến những nhân viên khác và có thể gây ralao động đình công, hợp tác chống ban quản lý, hậu quả rất nghiêmtrọng Do đó, tính nữ tính quá cao sẽ không phải là tốt và sẽ cản trởviệc thực hiện chiến lược công ty
Tuy nhiên, xu hướng nữ tính cũng có nghĩa là người Việt Nam làmviệc tập thể và tình cảm Ở một khía cạnh nào đó, đây là mặt tích cựckhi tinh thần đoàn kết vững mạnh có thể giúp doanh nghiệp đi lênnhanh chóng hơn, là một lợi thế nếu các nhà lãnh đạo biết cách
Trang 23khuyến khích và chiếm được tình cảm, sự hài lòng của nhân viên ViệtNam.
Nhiều nghiên cứu cho rằng phụ nữa làm lãnh đạo tốt hơn nam giới
vì họ linh hoạt khéo léo trong xử lý các vấn đề tâm lý, giao tiếp đàmphán tốt hơn và kiên nhẫn, chăm chỉ hơn Đối với doanh nghiệp,người lãnh đạo và quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược chung
vì chính họ đề ra các chiến lược đó và lãnh đạo các nhân viên cấpdưới thực hiện chiến lược Nếu trong trường hợp lãnh đạo là nữ màcác nhân viên là nam mà không phục tài năng của người lãnh đạo thìviệc tổ chức thực hiện chiến lược sẽ gặp khó khăn, mất nhiều thờigian hơn mà nam giới không đầu tư tối đa công suất làm việc Vì vậycần cân nhắc vị trí trực tiếp quản lý nên là nam giới để thực hiện cácchiến lược một cách tốt nhất Tuy nhiên không có nghĩa là doanhnghiệp nước ngoài không nên chọn phụ nữ cho vị trí lãnh đạo Người
có tài năng và đáp ứng được các tiêu chí thì vẫn nên được cất nhắcđúng vị trí, chỉ lưu ý là khi quản lý và lãnh đạo trực tiếp một nhómnhân viên có nhiều nam, như các tổ sản xuất hoặc các phòng banthiên về kỹ thuật và đòi hỏi sự cứng rắn thì lãnh đạo nam vẫn hơn
Định hướng thời gian (Time orientation)
Văn hóa Việt Nam thể hiện mọi người trong xã hội có cảm giác bị
đe dọa bởi các tình huống không rõ ràng, không biết trước kết quả.Người Việt, nhất là người miền Bắc, ngại thay đổi môi trường sống.Trong xã hội Việt Nam, con người có hướng tương lai dài hạn ở mứckhá, nghĩa là nhìn chung có nghĩ đến tương lai, tiết kiệm tiền để dànhcho bệnh tật và tuổi già, chăm chỉ làm việc nhưng vẫn còn nhữngtrường hợp có tâm lý hưởng thụ, thích những sự việc có kết quả nhìnthấy được ngay Điều này ảnh hưởng như thế nào đến chiến lược củadoanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam?
Đối với các cá nhân theo định hướng tương lai, họ ý thức đượccon đường sự nghiệp của mình nên rất chăm chỉ làm việc Đây cũng
là đặc tính của đa số trí thức Việt Nam, làm việc để thăng tiến và pháttriển, họ thường chuộng sự nghiệp ổn định để có cuộc sống an nhàntrong tương lai Những cá nhân này sẽ đóng góp rất nhiều cho doanhnghiệp và có tinh thần cầu tiến, kiên nhẫn thực hiện công việc, sẽgiúp ích rất nhiều trong việc thực hiện chiến lược doanh nghiệp Đốivới những nhân viên này, ban lãnh đạo cần lập ra lộ trình thăng tiến