1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tiểu luận triết học tây âu

17 323 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 36,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. PHẦN MỞ ĐẦU Triết học phương Tây trung đại là một triết học mang đầy tính thần học, kinh viện. Trong thời gian kéo dài khoảng một ngàn năm từ thế kỷ thứ IVXIV là giai đoạn cực kỳ đen tối của xã hội phương tây mà sách sử gọi là ”đêm trường trung cổ” là một thời kỳ thống trị của Nhà thờ Thiên chúa giáo. Sang thế kỷ thứ XVXVI, ở Tây Âu phong trào Văn hóa Phục Hưng chủ trương khôi phục và phát triển những giá trị văn hóa thời cổ đại đã bị lãng quên. Với phong trào này cùng với sự biến đổi điều kiện kinh tế xã hội góp phần đẩy mạnh sự phát triển của khoa học tự nhiên. Toán học, cơ học, địa lý, thiên văn học... đã đạt được những thành tựu đáng kể và đã bắt đầu tách khỏi triết học tự nhiên. Triết học đã thay đổi đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mình, xuất hiện nhiều tư tưởng triết học mới. Có những tư tưởng đặt nền móng hết sức quan trọng cho triết học và khoa học sau này. Trong nhiều triết gia thời này thì có triết gia người Anh Francis Bacon là người đặt nền móng cho trường phái duy vật kinh nghiệm và khoa học thực nghiệm. Triết học duy vật của Bacơn đã có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của khoa học, nó giáng một đòn rất mạnh vào uy tín của nhà thờ và giáo hội. Lịch sử triết học và khoa học phương Tây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng của Francis Bacon. Trong bài tiểu luận này tôi sẽ trình bày và phân tích về những tư tưởng triết học cơ bản của triết gia Francis Bacon, những ảnh hưởng của nó đến khoa học thực nghiệm sau này.

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

Triết học phương Tây trung đại là một triết học mang đầy tính thần học, kinh viện Trong thời gian kéo dài khoảng một ngàn năm từ thế kỷ thứ IV-XIV là giai đoạn cực kỳ đen tối của xã hội phương tây mà sách sử gọi là ”đêm trường trung cổ” là một thời kỳ thống trị của Nhà thờ Thiên chúa giáo

Sang thế kỷ thứ XV-XVI, ở Tây Âu phong trào Văn hóa Phục Hưng chủ trương khôi phục và phát triển những giá trị văn hóa thời cổ đại đã bị lãng quên Với phong trào này cùng với sự biến đổi điều kiện kinh tế - xã hội góp phần đẩy mạnh sự phát triển của khoa học tự nhiên Toán học, cơ học, địa lý, thiên văn học đã đạt được những thành tựu đáng kể và đã bắt đầu tách khỏi triết học tự nhiên Triết học đã thay đổi đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mình, xuất hiện nhiều tư tưởng triết học mới

Có những tư tưởng đặt nền móng hết sức quan trọng cho triết học và khoa học sau này Trong nhiều triết gia thời này thì có triết gia người Anh Francis Bacon là người đặt nền móng cho trường phái duy vật kinh nghiệm và khoa học thực nghiệm Triết học duy vật của Bacơn đã có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của khoa học, nó giáng một đòn rất mạnh vào uy tín của nhà thờ và giáo hội Lịch sử triết học và khoa học phương Tây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng của Francis Bacon

Trong bài tiểu luận này tôi sẽ trình bày và phân tích về những tư tưởng triết học cơ bản của triết gia Francis Bacon, những ảnh hưởng của nó đến khoa học thực nghiệm sau này

Trang 2

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY - TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA

TRIẾT HỌC CỦA FRANCIS BACON 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm của triết học Tây Âu thời Phục hưng và cận đại.

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thời kì Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản thế kỷ XV - XVI Tính chất quá độ đó biểu hiện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá tư tưởng thời kì này

Về kinh tế: Bắt đầu từ thế kỉ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo luật hà khắc Trung cổ đã bước vào thời kì tan rã Nhiều công trường thủ công xuất hiện, ban đầu ở Italia, sau đó lan sang Anh, Pháp và các nước khác, thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển

Sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa thúc đẩy sự phát triển của khoa học, kĩ thuật Nhiều công cụ lao động được cải tiến và hoàn thiện Với việc sáng chế ra máy kéo sợi và máy in đã làm cho công nghiệp dệt, công nghệ ấn loát đặc biệt phát triển, nhất là ở Anh Sự khám phá và chế tạo hàng loạt đồng hồ cơ học đã giúp cho con người có thể sản xuất có kế hoạch, tiết kiệm thời gian và tăng năng suất lao động Những phát kiến về đường biển, tìm ra những miền đất mới, phát hiện ra châu Mỹ càng tạo điều kiện phát triển cho nền sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa Thương mại, thị trường trao đổi hàng hoá giữa các nước được mở rộng; giao lưu quốc tế được tăng cường, nhờ đó mà các nước phát triển sớm như Anh, Pháp, Tây Ban Nha…đi xâm chiếm thuộc địa để mở rộng việc khai thác thiên nhiên và thị trường tiêu thụ hàng hoá

Về xã hội: Đồng thời với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp, trong xã hội Tây Âu thời kì này, sự phân hoá giai cấp ngày càng rõ rệt

Trang 3

Vai trò và vị trí của họ trong kinh tế và xã hội ngày càng lớn Hàng loạt nông dân từ nông thôn di cư ra thành thị, trở thành người làm thuê cho các công trường, xưởng thợ Họ tham gia vào lực lượng lao động xã hội mới, làm hình thành giai cấp công nhân Các tầng lớp xã hội trên đại diện cho một nền sản xuất mới, cùng với nông dân đấu tranh chống chế độ phong kiến đang suy tàn

Về văn hoá, tư tưởng: Cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội, khoa học

kĩ thuật và tư tưởng thời kì Phục hưng cũng đạt được sự phát triển mạnh mẽ Các nhà tư tưởng thời Phục hưng đã phê phán mạnh mẽ các giáo lý Trung cổ

Mở đầu là nhà triết học người phía Nam nước Đức, Nicôlai Kuzan (1401-1464) Tiếp đó là các nhà khoa học - triết học như Nicôlai Côpecnich (1475-1543) người Ba Lan; Lêôna đơ Vanhxi (1452-1519) - nhà danh hoạ, nhà toán học, cơ học, kĩ sư người Italia; Gioocđanô Brunô (1548 -1600) người Italia; Galilêô Galilê (1564-1642) người Italia

Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến nhận thức duy vật về thế giới, nổi trội hơn cả là thuyết nhật tâm của Nicôlai Côpecnich (1475-1543), nhà bác học vĩ đại người Ba Lan Nicôlai Côpecnich

đã đứng trên lập trường của triết học duy vật để bác bỏ thuyết địa tâm do Ptôlêmê (người Hy Lạp) đề xuất từ thế kỷ thứ II, một giả thuyết sai lầm coi quả đất là trung tâm của hệ mặt trời và vũ trụ Thuyết nhật tâm của Nicôlai Côpecnich đã giáng một đòn nặng nề vào thế giới quan tôn giáo, thần học Giả thuyết của ông là một cuộc cách mạng trên trời, báo trước một cuộc cách mạng trong lĩnh vực các quan hệ xã hội sắp xảy ra Trong thời đại Phục hưng, các nhà tư tưởng tư sản đã bênh vực triết học duy vật, vận dụng nó để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học Trung cổ

Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập với những lập luận kinh viện Cuối cùng, sự chuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện Trung cổ đã không ngăn được sự phát triển bước đầu của khoa học thực nghiệm và triết học duy

Trang 4

vật - tiền đề những thành tựu mới và những đặc điểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp theo

Thời kì cận đại là thời kì phát triển rực rỡ của Tây Âu trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Đó là sự phát triển tiếp tục của chủ nghĩa tư bản, của khoa học và tư tưởng, trong đó có chủ nghĩa duy vật triết học, nhưng với những đặc điểm mới Khác với thời kì Phục hưng, thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây Âu là thời kì giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi

về chính trị trước giai cấp phong kiến

Ba cuộc cách mạng tư sản lớn đã nổ ra và thành công: Cách mạng tư sản

Hà Lan cuối thế kỷ XVI ; Cách mạng tư sản Anh (1642-1648); Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794) Đây cũng là thời kì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở thành phương thức sản xuất thống trị Tây Âu Nó tạo đã tạo ra những vận hội mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển m à trước hết là khoa học tự nhiên, trong đó cơ học đã đạt tới trình độ là cơ sở cổ điển Đặc điểm của khoa học tự nhiên thời kì này là khoa học tự nhiên - thực nghiệm Đặc trưng ấy tất yếu dẫn đến thói quen nhìn nhận đối tượng nhận thức trong sự trừu tượng tách rời, cô lập, không vận động, không phát triển, nếu có nói đến vận động thì chủ yếu là vận động cơ giới, máy móc Đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho triết học duy vật thời kỳ này mang nặng tính máy móc siêu hình Chính những điều kiện kinh tế - chính trị và khoa học tự nhiên thời cận đại đã quy định những đặc trưng về mặt triết học thời kì này:

1.1.2 Đặc điểm của triết học Tây Âu thời Phục hưng và cận đại

Thứ nhất, trên bình diện thế giới quan, triết học Phục hưng - cận đại thể hiện rõ thế giới quan duy vật máy móc, bên cạnh quan điểm tự nhiên thần luận của giai cấp tư sản

Thứ hai, trên bình diện nhận thức - phương pháp luận, triết học Phục hưng - cận đại chủ yếu đi tìm phương pháp nhận thức mới để khắc phục triệt

để phương pháp kinh viện giáo điều, nhằm xây dựng một triết học và một khoa học mới có liên hệ mật thiết với nhau hướng tới tri thức

Trang 5

Thứ ba, trên bình diện nhân sinh quan – ý thức hệ, nền triết học thới phục hưng – cận đại thể hiện rõ tinh phần khai sáng và chủ nghĩa nhân đạo tư sản Nó là ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản để tập hợp, giác ngộ, hướng dẫn quần chúng thực hiện những hành động cách mạng nhằm cải tạo x ã hội cũ và xây dựng xã hội mới – chủ nghĩa tư bản

Những đặc điểm ấy thể hiện rõ nét trong quan niệm của một số triết gia, điển hình như B.Xpinôda, Francis Bacon T.Hôpxơ, R.Đêcactơ, G.Lamettri, Đ.Điđơrô, P.Hônbách, G.G.Rutxô II Francis Bacon - Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Nếu triết học Tây Âu trung đại bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm coi trọng lòng tin tôn giáo, đề cao vai trò của Thượng đế, coi thường lý trí khoa học, hạ thấp vai trò của con người và tự nhiên…, là công cụ tinh thần của Nhà thờ và nhà nước phong kiến thống trị con người; thì triết học Tây Âu thời Phục Hưng đã bắt đầu coi trọng lý trí, để cao con người và giới tự nhiên; về

cơ bản, nó là ngọn cờ lý luận của các lực lượng xã hội tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống lại ý thức hệ phong kiến lỗi thời, nhằm thiết lập ý thức hệ mới – ý thức hệ tư sản Trong số các triết học gia tiêu biểu trong thời kỳ thì triết gia người Anh Francis Bacon được coi là người đặt nền móng cho chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm

1.1.3 Tư tưởng triết học cơ bản của Francis Bacon Francis Bacon 1.1.3.1 Sơ lược về tiểu sử của Francis Bacon Francis Bacon

Ông sinh năm 1561 và mất năm 1626 trong một gia đình quý tộc cấp cao, tại thành phố Luân Đôn Francis Bacon sinh trong một gia đình quý tộc Anh Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Kembritgiơ, ông công tác nhiều năm trong ngành ngoại giao cho vương triều Xtiua

Mặc dù sống ở nước Anh trước thời kì cách mạng tư sản, nhưng Francis Bacon là người nhiệt liệt ủng hộ những cải cách tư sản nhằm phát triển đất nước, ủng hộ sự phát triển của khoa học và triết học Những tác phẩm lớn của ông là Đại phục hồi các khoa học (1605),Công cụ mới (1620) là nhà triết học vĩ đại thời cận đại C.Mác coi Francis Bacon là ông tổ của chủ nghĩa duy

Trang 6

vật Anh và khoa học thực nghiệm Bắt đầu từ Francis Bacon, lịch sử triết học Tây Âu bước sang một giai đoạn phát triển mới với những màu sắc riêng

1.1.3.2 Tư tưởng triết học cơ bản của Bacon

Thứ nhất: Về Bản Chất, nhiệm vụ của triết học và khoa học

Sống trong thời kỳ đêm trước của cuộc cách mạng tư sản Anh, Francis Bacon đã nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học v à triết học và

sự cần thiết phải đẩy mạnh sự phát triển của chúng nh ư một nền tảng lý luận của công cuộc phát triển kinh tế của đất nước Ông coi đó là một phương tiện

cơ bản nhằm xoá bỏ những bất công xã hội, xây dựng cuộc sống phồn vinh Khác với những nhà nhân đạo cộng sản không tưởng, Francis Bacon khẳng định phải cải tạo chính xã hội hiện thực đương thời trên cơ sở phát triển khoa học và triết học chứ không phải bằng cách tạo ra mô hình lý tưởng Ông cho rằng, mục đích của xã hội là nhận thức các nguyên nhân và mọi sức mạnh bí ẩn của các sự vật và mở rộng sự thống trị của con người đối với giới

tự nhiên trong chừng mực con người có thể làm được Chịu ảnh hưởng của quan niệm trước đây coi triết học là khoa học của các khoa học, Francis Bacon hiểu triết học theo hai nghĩa Triết học theo nghĩa rộng là tổng thể các tri thức lý luận của con người về Thượng đế, về giới tự nhiên và về bản thân con người; học thuyết về Thượng đế là thần học, chỉ có bộ phận thần học tự nhiên mới thuộc về triết học, còn bộ phận thần học Thượng đế thì thuộc về lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng Học thuyết về tự nhiên trong triết học được Francis Bacon gần như đồng nhất với khoa học tự nhiên, còn học thuyết về con người thì được coi là nhân bản học

Theo Francis Bacon, khác với bộ môn lịch sử và các dạng nhận thức nghệ thuật chỉ đơn thuần dựa vào khả năng trí nhớ hay biểu tượng của con người, triết học và khoa học mang tính lý luận và khái quát cao Tư duy triết học là tư duy lý tính, mang tính trí tuệ cao nhất

Theo nghĩa rộng, triết học hầu như đồng nhất với tất cả các khoa học, bao chứa mọi khoa học khác

Trang 7

Theo nghĩa hẹp, triết học là bộ phận cơ bản nhất trong tổng thể các khoa học.

Đó là nền tảng và cơ sở của mọi khoa học khác, đồng thời nó đã bao chứa toàn bộ các lĩnh vực khoa học tự nhiên Francis Bacon cho rằng nhiệm

vụ của triết học là đại phục hồi các khoa học, nghĩa là phải cải tạo toàn bộ các tri thức mà con người đạt được thời đó Francis Bacon chỉ ra rằng khoa học mang lại lợi ích cho toàn thể nhân loại chứ không riêng cho ai Những quan niệm giản đơn, hẹp hòi, coi khoa học như là một nghề thủ công có lãi chỉ làm cho khoa học bị què quặt đi mà thôi Bằng khoa học, con người tiếp cận với thế giới Đánh giá cao vai trò của tri thức lý luận trong việc cải tạo xã hội, Francis Bacon khẳng định "tri thức là sức mạnh" Từ đó ông đi đến một một kết luận mang tính cách mạng đối với người đương thời, coi "hiệu quả và sự sáng chế thực tiễn là người bảo lãnh và ghi nhận tính chân lý của các triết học" Muốn chinh phục tự nhiên thì con người cần phải nhận thức các quy luật của nó, vận dụng và tuân theo chúng

Thứ hai: Quan niệm về thế giới

Phát triển các quan niệm duy vật thời cổ đại, Francis Bacon cho rằng để

lý giải được tính muôn màu muôn vẻ của thế giới, chỉ cần mỗi vật chất l à đủ

Để giải thích thế giới, ông đã cải biến thuyết bốn nguyên nhân của Arixtốt theo hướng duy vật Ông xoá bỏ nguyên nhân mục đích của các sự vật và cho rằng, mọi cái trên thế gian chỉ tồn tại từ bốn nguyên nhân: hình dạng, vật chất, vận động và mục đích

Khác với Arixtốt, ông coi hình dạng của sự vật là cái nằm chính trong bản thân sự vật, là bản chất hoàn toàn khách quan của nó; không thể có cái gọi là "hình dạng của hình dạng" phi vật chất, cũng như "vật chất đầu tiên" phi hình dạng là không có thực; mọi "hình dạng" đều chỉ là "hình dạng" của vật chất Cả bốn nguyên nhân "hình dạng", "vật chất", "vận động", và “mục đích” thực chất đều là bản tính của vật chất Vì thế vật chất có bản tính là tích cực, có sinh khí chứ không phải thụ động

Trang 8

Francis Bacon đã có bước tiến rất xa so với các nhà triết học trước đó và đương thời khi quan niệm rằng có sự thống nhất giữa vật chất và vận động, giữa bản chất của sự vật và vận động của nó Khẳng định vận động là đặc tính của sự vật, Francis Bacon cho rằng nhận thức sự vật là nhận thức vận động của chúng C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận xét, Francis Bacon đã hiểu "rằng trong những đặc tính vốn có của vật chất, vận động là đặc tính thứ nhất và quan trọng nhất, không phải chỉ với tính cách là máy móc và toán học mà hơn nữa còn với tính cách là xu hướng, sức sống của vật chất" Francis Bacon đã tìm cách phân loại các dạng vận động

Theo ông có 19 dạng vận động: 1) vận động xung đối; 2) vận động móc nối; 3) vận động giải phóng mà thông qua đó sự vật hướng tới thoát khỏi áp lực; 4) vận động, trong đó sự vật hướng tới khối lượng và kích thước mới; 5) vận động liên tục; 6) vận động có lợi; 7) vận động tự hợp lại với quy mô lớn; 8) vận động tự hợp lại với quy mô nhỏ; 9) vận động từ tính; 10) vận động sản sinh ra; 11) vận động chạy trốn; 12) vận động thức tỉnh; 13) vận động mô tả, ghi nhận; 14) vận động ngoại tuyến; 15) vận động theo xu hướng; 16) vận động hùng tráng; 17) vận động tự quay; 18) vận động rung động; 19) đứng yên

Từ đây, có thể thấy rằng, về cơ bản Francis Bacon đã phân loại vận động theo cảm tính, mô tả, chưa biết phân loại theo cấp độ khác nhau về cấu trúc của vật chất, mà hầu như quy toàn bộ các dạng vận động thành các hình thức vận động cơ học; không thấy được sự phát triển của thế giới vật chất đã dẫn đến xuất hiện những hình thức vận động khác nhau về chất, phù hợp với trình độ cấu trúc của vật chất Tuy nhiên việc coi đứng yên là một dạng vận động ở Francis Bacon

là một quan niệm duy vật và cách mạng trong bối cảnh lịch sử hồi đó Ông cũng

là người đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới

Thứ ba: Nhận thức luận và phương pháp luận

Bêcơn là người ủng hộ nhiệt thành sự phát triển của khoa học Ông nói:

"Mục đích của tôi là ở chỗ chỉ ra uy thế thực sự của khoa học mà không cần phải tô vẽ và cường điệu, và làm rõ ý nghĩa và giá trị chân chính của nó." Với

Trang 9

hoài bão xây dựng một cách nhìn mới về thế giới thật sự khách quan, Bêcơn đồng thời chỉ ra những hạn chế trong khả năng nhận thức của con người, những hạn chế không phải chỉ dẫn đến những sai lầm vụn vặt và nhất thời, mà

là những sai lầm nghiêm trọng không thể tránh khỏi của con người trong nhận thức Ông gọi chúng là các “ảo tưởng ” Để nhận thức chân lí và khắc phục được các ngẫu tượng, thì phải vạch ra cơ chế và bản chất của chúng

Do vậy, Bêcơn coi học thuyết về các ảo tưởng tựa như phần mở đầu trong nhận thức và phương pháp luận của mình Các ảo tưởng có nguồn gốc hoàn toàn khách quan, bởi vì chúng một phần có trong bản chất của trí tuệ con

ng ười, một phần xuất hiện trong quá trình lịch sử nhận thức của nhân loại, một phần nảy sinh trong sinh lí và nhân cách của mỗi người

Theo Bêcơn, "trí tuệ con người tự đặt ra chướng ngại vật và cạm bẫy cho mình” Vì các ảo tưởng thường xuyên ám ảnh con người, tạo nên cho nó những tư tưởng và ảo ảnh giả dối, xuyên tạc bộ mặt thật của thế giới, nói tóm lại, cản trở con người xâm nhập vào thế giới cả về chiều rộng lẫn chiều sâu"

Vì vậy, quá trình con người đấu tranh khắc phục những hạn chế khách quan đó cũng là quá trình con người đấu tranh vì sự hoàn thiện bản thân mình Bêcơn phân loại các dạng ảo tưởng như sau: Ảo tưởng loài: nó sinh ra do việc loài người thường xuyên nhầm lẫn bản chất trí tuệ của mình với bản chất khách quan của sự vật Ai cũng dễ dàng gán cho sự vật những đặc tính của riêng con người Bêcơn nói: "Các ảo tưởng loài có cơ sở trong chính bản thân loài người, bởi vì thật là sai lầm khi khẳng định cảm giác cảm tính của chúng

ta là thước đo sự vật

Ngược lại, tất cả các giác quan cũng như trí tuệ đều được dựa trên sự tương đồng của con người, chứ không phải dựa trên sự tương đồng của thế giới Trí tuệ con người cũng tương tự như chiếc gương méo, khi nó pha trộn bản chất của mình với bản chất của sự vật thì nó phản ánh các sự vật dưới dạng bị xuyên tạc, bóp méo" Sở dĩ có loại ảo tưởng này, theo Bêcơn, là do các giác quan cũng như trí tuệ của con người còn chưa được hoàn thiện Một

Trang 10

trong những biểu hiện của ảo tưởng này là ở chỗ, người ta thường hay bảo thủ, coi ý kiến và suy nghĩ chủ quan của mình là thước đo tất thảy mọi vật ảo tưởng loài do vậy rất bền vững Chúng ta chỉ có thể hạn chế ảnh hưởng của ảo tưởng này bằng cách hoàn thiện các nhận thức của con người như thực nghiệm…

Việc Francis Bacon đòi hỏi nhận thức sự vật phải hoàn toàn khách quan

là hợp lý Ông nhận xét đúng rằng, con người thường hay chủ quan, duy ý chí trong hoạt động của mình Nhưng ông lại sai lầm khi phủ nhận hoàn toàn cái chủ quan trong nhận thức Việc đòi hỏi nhận thức phải "khách quan thuần tuý" của ông là một điều không tưởng, tuy nhiên nó có ý nghĩa tích cực trong việc phê phán các quan niệm thần học chủ quan kinh viện thời đó, vì sự tiến

bộ của khoa học

Ảo tưởng hang động: Ngoài những ảo tưởng đối với cả loài người, thì mỗi người còn có các đặc tính chủ quan, tâm lí, tính cách đặc thù của mình làm xuyên tạc bản chất khách quan của sự vật Chúng còn xuất hiện do hoàn cảnh giáo dục của mỗi người cũng khác nhau Thực chất ảo tưởng hang động chính là ảo tưởng loài, nhưng biểu hiện ở mỗi người cụ thể ở mức độ và hình thức khác nhau

Sở dĩ gọi là ảo tưởng hang động vì mượn câu chuyện của Platôn về hang động, Francis Bacon ví trí tuệ của con người như hang động méo mó của Platôn, mà trong đó thể hiện cái bóng của các sự kiện diễn ra bên ngoài Để hạn chế dạng ảo tưởng này, mỗi người cần phải hoàn thiện nhân cách của mình, thận trọng trong quá trình nhận thức, dựa vào kinh nghiệm tập thể Nhìn chung, việc xác định bản chất và nguyên nhân của các ảo tưởng của Francis Bacon còn mang nặng tính trực quan, chủ yếu xét ở khía cạnh nhận thức luận, vì vậy chưa đưa ra được các giải pháp khắc phục ảo tưởng một cách hợp lý Công lao của ông trong học tuyết về ảo tưởng là ở chỗ ông

đã đặt ra vấn đề cơ sở xã hội của quá trình nhận thức; ở chỗ khẳng định quá

Ngày đăng: 06/08/2018, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w