các yếu tố sản xuất (factors of production): những đầu vào dùng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ hàm sản xuất (production function): mối quan hệ giữa lượng các yếu tố đầu vào được dùng để sản xuất một hàng hóa và sản lượng của hàng hóa đó sản lượng biên của lao động (marginal product of labor): gia tăng trong sản lượng do tăng một đơn vị lao động sản lượng biên giảm dần (diminishing marginal product): thuộc tính mà theo đó sản lượng biên của một yếu tố đầu vào giảm khi lượng đầu vào đó tăng
Trang 1Kinh tế học khu vực công
Ngoại tác, hàng hóa công, hệ thống thuế
The Economics of the Public Sector
Externality, Public Goods, Tax System
Ví dụ về ngoại tác tiêu cực
Ô nhiễm không khí từ một nhà máy
Tiếng chó sủa từ nhà người hàng xóm
Tiếng nhạc ồn ào phát ra từ căn phòng trọ sát bên
trong đên khuya
Tiếng ồn từ các công trình xây dựng
Rủi ro về sức khỏe do hút thuốc thụ động
Vừa lái xe vừa nói chuyện điện thoại làm mất an
toàn trên đường phố
Trang 2Ví dụ về ngoại tác tích cực
Chích ngừa chống lại các
bệnh truyền nhiễm không chỉ
bảo vệ bạn mà còn bảo vệ
những người ghé gian hàng
trái cây sau đó
R&D tạo ra kiến thức mà
những người khác có thể sử
dụng được
Đi học để tăng trình độ học
vấn, đồng thời làm giảm tội
phảm và cải thiện chính phủ
Cảm ơn vì đã không làm nhiễm bẩn nguồn cung trái cây
Ngoại tác
Các khái niệm then chốt
ngoại tác (externality): tác động không được bù đắp của
hành vi một người đối với phúc lợi của một người ngoài
cuộc
nội hóa ngoại tác (internalizing the externality): làm thay
đổi các động cơ sao cho các cá nhân tính đến tác động
ngoại tác trong hành vi của họ
thuế hiệu chỉnh (corrective tax): một loại thuế được thiết
kế để làm cho những người ra quyết định tư nhân tính
đến những chi phí xã hội phát sinh do ngoại tác tiêu cực
Trang 3Ngoại tác
Các khái niệm then chốt
Định lý Coase (Coase theorem): định đề cho rằng nếu
các bên có thể thương lượng về việc phân bổ các nguồn
lực mà không phải chịu các chi phí giao dịch thì họ có thể
tự giải quyết vấn đề ngoại tác
chi phí giao dịch (transaction costs): các chi phí mà các
bên phải gánh chịu trong quá trình thỏa thuận và thực
hiện giao dịch
Ngoại tác
Ngoại tác xuất hiện khi một giao dịch thị trường ảnh
hưởng đến bên thứ ba Nếu như giao dịch đó gây ra
ngoại tác tiêu cực (ví dụ: ô nhiễm), sản lượng thị
trường vượt quá mức sản lượng tối ưu xã hội Nếu
như ngoại tác là tích cực (ví dụ: lan truyền công
nghệ), sản lượng thị trường rơi xuống thấp hơn mức
sản lượng tối ưu xã hội
Trang 4Ngoại tác
Thỉnh thoảng người ta có thể giải quyết được vấn đề
ngoại tác theo cách của riêng họ Định luật Coase
chỉ ra rằng thị trường tư nhân có thể đạt đến sự
phân bổ nguồn lực xã hội một cách tối ưu, miễn là
người ta có thể mặc cả, thỏa thuận hay thương
thuyết với nhau mà không tốn phí Nhưng trong thực
thế điều này thường tốn kém hoặc khó đạt được
Ngoại tác
Chính phủ có thể cố gắng tìm cách giải quyết các
vấn đề bằng cách
Nội hóa ngoại tác sử dụng thuế hiệu chỉnh
Bán giấy phép gây ô nhiễm và hình thành thị trường cho
phép chuyển nhượng giấy phép gây ô nhiễm
Các chính sách này thường bảo vệ môi trường với chi phí
xã hội thấp hơn so với các quy định cụ thể bằng luật
Trang 5Hàng hóa công và nguồn lực chung
Các khái niệm then chốt:
tính loại trừ/khả năng loại trừ (excludability): thuộc tính
của một hàng hóa theo đó một người có thể bị ngăn cản
sử dụng hàng hóa đó
tính cạnh tranh trong tiêu dùng (rivalry in consumption):
thuộc tính của một hàng hóa theo đó việc tiêu dùng của
một người làm giảm khả năng tiêu dùng hàng hóa đó của
người khác
hàng hóa tư (private goods): những hàng hóa có khả
năng loại trừ và có tính cạnh tranh trong tiêu dùng
hàng hóa công (public goods): những hàng hóa không
thể loại trừ và không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng
Hàng hóa công và nguồn lực chung
Các khái niệm then chốt:
nguồn lực chung (common resources): những hàng hóa
có tính cạnh tranh trong tiêu dùng nhưng không có khả
năng loại trừ
hàng hóa nhóm (club goods): những hàng hóa có khả
năng loại trừ nhưng không có tính cạnh tranh trong tiêu
dùng
kẻ ngồi không hưởng lợi/kẻ thụ hưởng miễn phí (free
rider): người nhận được lợi ích từ một hàng hóa nhưng
không trả tiền
Trang 6Hàng hóa công và nguồn lực chung
Các khái niệm then chốt:
phân tích chi phí-lợi ích (cost-benefit analysis): môn học
so sánh các chi phí và lợi ích của xã hội trong việc sản
xuất một hàng hóa công
Bi kịch Nguồn lực Chung (Tragedy of the Commons):
thành ngữ ám chỉ rằng các tài nguyên công cộng thường
được sử dụng nhiều hơn mức mong muốn theo quan
điểm xã hội
Hàng hóa công và nguồn lực chung
Một hàng hóa được xem là có thể loại trừ nếu như
một ai đó có thể bị ngăn cản không được sử dụng
Một hàng hóa có tính cạnh tranh trong tiêu dùng nếu
như việc tiêu dùng của người này làm giảm khả
năng tiêu dùng của người khác với cùng 1 đơn vị
hàng hóa
Thị trường hoạt động tốt nhất đối với hàng hóa tư:
hàng hóa có cả tính loại trừ và tính cạnh tranh Thị
trường không hoạt động hiệu quả với các dạng hàng
hóa khác
Trang 7Hàng hóa công và nguồn lực chung
Hàng hóa công, ví dụ như quốc phòng và kiến thức
cơ bản, là không thể loại trừ và cũng không cạnh
tranh trong tiêu dùng
Bởi vì không trả tiền sử dụng hàng hóa công, người
ta có động cơ hưởng thụ miễn phí, và doanh nghiệp
không có động cơ để cung cấp hàng hóa công
Do đó, chính phủ nên cung cấp hàng hóa công, sử
dụng phân tích chi phí – lợi ích để xác định số lượng
hàng hóa cần cung cấp
Hàng hóa công và nguồn lực chung
Tài nguyên chung có tính cạnh tranh trong việc tiêu
dùng nhưng không có tính loại trừ Các ví dụ bao
gồm vùng cỏ chung, không khí sạch hay những con
đường tắt nghẽn
Người ta sử dụng các tài nguyên chung mà không
trả tiền có có khuynh hướng sử dụng quá mức Do
đó, chính phủ tìm cách hạn chế việc sử dụng tài
nguyên chung
Trang 8Thiết kế hệ thống thuế
Các khái niệm then chốt:
thâm hụt ngân sách (budget deficit): khoản vượt của chi
tiêu chính phủ so với doanh thu chính phủ
thặng dư ngân sách (budget surplus): khoản vượt của
doanh thu chính phủ so với chi tiêu chính phủ
thuế suất bình quân (average tax rate): tổng lượng thuế
phải nộp chia cho tổng thu nhập
thuế suất biên (marginal tax rate): tiền thuế tăng thêm khi
thu nhập tăng thêm 1 đơn vị
thuế đồng nhất/thuế gộp (lump-sum tax): thuế thu một
mức như nhau đối với tất cả mọi người
Thiết kế hệ thống thuế
Các khái niệm then chốt:
nguyên lý lợi ích (benefits principle): ý tưởng cho rằng cá
nhân nên đóg thuế dựa trên lợi ích mà họ nhận được từ
các dịch vụ của chính phủ
nguyên lý khả năng chi trả (ability-to-pay principle): ý
tưởng cho rằng thuế nên đánh vào một người dựa vào
khả năng đóng thuế của người đó
công bằng dọc (vertical equity): ý tưởng cho rằng những
người có khả năng đóng thuế cao hơn nên đóng thuế
nhiều hơn
công bằng ngang (horizontal equity): ý tưởng cho rằng
Trang 9Thiết kế hệ thống thuế
Các khái niệm then chốt:
thuế theo tỷ lệ không đổi (proportional tax): hệ thống thuế
mà người có thu nhập cao và thấp đều phải nộp một tỉ lệ
như nhau trong thu nhập của họ
thuế lũy thoái (regressive tax): hệ thống thuế mà theo đó
người có thu nhập cao nộp một tỉ lệ thấp hơn trong thu
nhập của họ so với người có thu nhập thấp
thuế lũy tiến (progressive tax): hệ thống thuế mà theo đó
người có thu nhập cao hơn phải nộp một tỉ lệ cao hơn
trong thu nhập của họ so với người có thu nhập thấp hơn
Thiết kế hệ thống thuế
Chính phủ huy động nguồn thu bằng nhiều loại thuế,
bao gồm thuế thu nhập cá nhân, thuế tiền lương cho
bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập doanh doanh nghiệp,
thuế doanh thu, thuế tài sản
Hiệu quả của một hệ thống thuế liên quan đến chi
phí mà nó gây ra đối với người chịu thuế Tổn thất
vô ích từ thuế là một loại chi phí do sự bóp méo
động cơ gây ra Một loại chi phí khác là gánh nặng
hành trình của việc tuân thủ theo luật thuế
Trang 10Thiết kế hệ thống thuế
Tính công bằng của một hệ thống thuế quan tâm
đến sự phân bổ công bằng
Theo nguyên lý lợi ích, sẽ là công bằng nếu người ta
đóng thuế dựa vào phần lợi ích mà họ nhận được từ
chính phủ
Theo nguyên lý khả năng chi trả, sẽ là công bằng nếu
người ta đóng thuế dựa vào khả năng gánh chịu gánh
nặng thuế của họ
Thuế lũy tiến: người có thu nhập cao hơn sẽ có mức
thuế suất trung bình cao hơn người đóng thuế có
thu nhập thấp
Thiết kế hệ thống thuế
Khi đánh giá tính công bằng của một hệ thống thuế,
cần phải nhớ một bài học quan trọng nghiên cứu về
phạm vi ảnh hưởng của thuế: sự phân bổ gánh nặng
của thuế không giống như sự phân bổ hóa đơn thuế
Các nhà hoạch định chính sách thường đối mặt với
sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng trong hệ
thống thuế Hầu hết các tranh cãi về chính sách thuế
đến từ việc người ta gán những trọng số khác nhau
cho 2 mục tiêu này