1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

giáo án giảng dạy môn ngữ văn 11

32 229 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 349 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo án bổ ích dạy ngữ văn 11_HOÀN CHỈNH. Không cần chỉnh sửa, có thể dùng làm tư liệu nộp cho trường . Mục tiêu cần đạt: HS cảm nhận được vẻ đẹp và chiều sâu văn hoá của người Hà Nội qua hình tượng nhân vật bà Hiền. HS nắm được một số nét cơ bản trong nghệ thuật văn xuôi của Nguyễn Khải: cách kể chuyện, giọng văn, chất triết lý. B. Phương tiện thực hiện: SGK, SGV, Thiết kế bài giảng C.Phương pháp: Đọc diễn cảm, phát vấn, thảo luận. Các hình thức trực quan như xem phim, ảnh tư liệu về Hà Nội

Trang 1

VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH (Trích Thượng kinh kí sự) Lê Hữu Trác

1 Tác phẩm Thượng kinh kí sự - Đoạn trích

a Thời gian sáng tác và xuất xứ: Tác phẩm hoàn thành vào năm 1783, được xếp ở cuối bộ Hải Thượng y tông

tâm lĩnh.

b Văn tự và thể loại:

- Tác phẩm được viết bằnh chữ Hán.

- Thể loại: kí sự ( ghi chép sự việc có thật).

c Nội dung chính: Tác giả ghi chép lại tỉ mỉ những điều mắt thấy tai nghe cùng những cảm nhận của bản thân

trong một chuyến đi từ Hương Sơn ra kinh đô Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm.

 Tác phẩm cho thấy một cách chân thực về cuộc sống xa hoa, uy quyền nơi phủ chúa, đồng thời bộc lộ thái độ xem thườngdanh lợi và khẳng định y đức của tác giả.

d Đoạn trích nói lên những chứng kiến của tác giả khi được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, qua đó tác giả bộc lộ thái độ và tâm sự của mình.

2 Quang cảnh, cung cách sinh hoạt trong phủ chúa và giá trị hiện thực của tác phẩm:

a Quang cảnh trong phủ chúa:

- Phải qua nhiều lần cửa và những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp.

- Mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi

- Ở vườn hoa, đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương

- Có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền lệnh được kiến trúc công phu: được làm bên cái hồ,

có những cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ, cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách thật là xinh đẹp.

- Có nhà Đại đường, Gác tía với kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thiếp vàng và những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy.

- Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là những mâm vàng, chén bạc.

- Phải qua năm, sáu lần trướng gấm mới tới phòng thế tử ở.

- Quang cảnh trong phòng: thắp nến, có sập thếp vàng dành cho thế tử ngồi, có ghế rồng sơn son thiếp vàng và bày nệm gấm, có màn che ngang sân, xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt.

Quang cảnh ở phủ chúa cực kì tráng lệ, lộng lẫy, không đâu sánh bằng.

b Cung cách sinh hoạt:

- Có thánh chỉ của chúa thì tất cả mọi người phải nhất tề khẩn trương thi hành: tên đầy tớ chạy đằng trước hét

đường, và cáng chạy như ngựa lồng, người giữ cửa truyền báo rộn ràng…  Chúa giữ vị trí trọng yếu và quyền uy tối

thượng trong triều đình.

- Phủ chúa có cả một “guồng máy” phục vụ đông đúc, tấp nập: quan truyền chỉ, lính ở dinh đưa đón, người giữ

cửa truyền báo rộn ràng, vệ sĩ canh giữ cửa cung, các danh y ngồi chờ ở phòng trà, các phi tần chầu chực quanh Thánh thượng, người hầu đứng hai bên thế tử,…

- Phủ chúa có những nghi thức nghiêm ngặt:

+ Ai muốn vào phải có thẻ và phải chờ đợi khi có lệnh mới được vào.

+ Lê Hữu Trác phải “lạy bốn lạy” thế tử khi đến khám bệnh và cả khi thăm bệnh xong.

+ Khi xem bệnh phải có quan nội hầu đứng chầu bên sập xin phép thế tử.

+ Những lời lẽ nhắc đến chúa Trịnh và thế tử phải hết sức cung kính, lễ độ: Thánh thượng, chưa thể yết kiến, hầu mạch Đông cung thế tử, hầu trà, phòng trà…

+ Không được thấy mặt chúa mà chỉ làm theo lệnh của chúa do quan chánh đường truyền lại.

- Chúa Trịnh luôn luôn có phi tần chầu chực xung quanh nên việc yết kiến phải chờ đợi.

- Nội cung phủ chúa trang nghiêm đến nổi tác giả phải “nín thở đứng chờ đằng xa, khúm núm đến trước sập xem

mạch”.

 Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa Trịnh với những lễ nghi, khuôn phép cho thấy sự cao sang, quyền uy tột

đỉnh cùng với cuộc sống hưởng thụ xa hoa đến cực điểm và sự lộng quyền của nhà chúa.

c Những chi tiết “đắt” làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm:

- Thế tử (một đứa bé) ngồi chễm chệ để cho thầy thuốc (một ông già) quỳ dưới đất lạy bốn lạy, rồi thế tử cười và

ban một lời khen: “Ông này lạy khéo!”  Chi tiết này phơi bày rõ cuộc sống vương giả, quyền uy tột đỉnh, thiếu tình

người và đạo lí nơi phủ chúa.

- Khi đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch, tác giả chứng kiến: Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả Đi

qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…Nhà chúa từng chăm chút cho gia đình riêng trong cảnh vàng son nhưng tù

hãm, thiếu sinh khí.

- Nơi Thánh thượng đang ngự “có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít Đèn sáp chiếu sáng, làm nổi màu

mặt phấn và màu áo đỏ Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”  Phơi bày rõ việc ăn chơi hưởng lạc của chúa

Trịnh đến mức sa đọa.

3 Cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa:

a Thể hiện gián tiếp qua việc miêu tả tỉ mỉ, chi tiết quang cảnh và cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa  Qua việc miêu tả này, tác giả muốn phơi bày tường tận cuộc sống xa hoa và cung cách sinh hoạt cầu kì quá mức ở phủ chúa.

Trang 2

b Thể hiện trực tiếp qua những lời nhận xét, bình luận của tác giả:

- Khi vừa vào đến phủ chúa, tác giả đã đưa ra lời nận xét: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường!” và vịnh một bài thơ để tả hết cái sang trọng, vương giả ở nơi đây.

- Khi được mời ăn cơm sáng, tác giả nhận xét: “Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia’

- Khi vào nội cung thế tử, tác giả cảm nhận; “Ở trong tối om, không thấy cửa ngõ gì cả…”

- Khi nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét: “Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi…”

Qua những chi tiết trên, ta thấy: Mặc dù khen cái đẹp, cái sang nơi phủ chúa nhưng tác giả tỏ ra dửng dưng trước những quyến rũ vật chất nơi đây và không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếu khí trời và không khí tự do.

4 Cách chữa bệnh và diễn biến tâm trạng của tác giả khi kê đơn cho thế tử:

a Tác giả lí giải bệnh tình của thế tử:

- “Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”  Tác giả có ý

ngầm phê phán: căn bệnh có nguồn gốc từ cuộc sống xa hoa, hưởng lạc trong phủ chúa.

- “Bệnh mắc đã lâu, tính khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, chân tay gầy gò Đó là vì nguyên

khí đã hao mòn, thương tổn quá mức” Tác giả cũng băn khoăn về hình ảnh của kẻ trị vì thiên hạ trong tương lai.

- Cuối cùng tác giả kết luận: “Bệnh thế này không bổ thì không được”  Là thầy thuốc giàu kinh nghiệm, tác

giả đã tìm ra cách chữa bệnh cho thế tử.

b Diễn biến tâm trạng của tác giả khi kê đơn cho thế tử:

Lê Hữu Trác có sự giằng co giữa hai tâm trạng:

- Ban đầu: Ông không muốn chữa bệnh cho thế tử có kết quả ngay nên chọn giiải pháp “ dùng phương thuốc

hòa hoãn, nếu không trúng thì cũng không sai bao nhiêu”.

- Nhưng sau đó: Ông dám nói thẳng và kê đơn tận tình, chính xác để chữa bệnh cho thế tử.

Lí do: Ông muốn làm đúng trách nhiệm và lương tâm của người thầy thuốc chân chính để khỏi phụ tấm lòng của cha ông.

c Phẩm chất của Lê Hữu Trác bộc lộ qua việc chữa bệnh cho thế tử;

- Là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng và già dặn kinh nghiệm, có lương tâm và đức độ.

- Khinh thường danh lợi và quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, giản dị ở quê nhà  đối lập với

quan điểm sống của gia đình chúa Trịnh và bọn quan quyền nơi phủ chúa.

5 Những đặc sắc trong bút pháp kí sự của tác giả thể hiện qua đoạn trích:

- Thể hiện sự quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, miêu tả sinh động

- Kể diễn biến sự việc khéo léo, không bỏ sót những chi tiết nhỏ tạo nên cái thần và của cảnh và việc.

- Kết hợp việc miêu tả khách quan với đề thơ bình phẩm và những đoạn bộc lộ tâm tư tạo nên sự linh hoạt, phong phú trong cách biểu hiện.

6 Luyện tập :

So sánh đoạn trích “Vào phủ chúa trịnh” với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt

nam mà anh/chị đã đọc và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này.

* Gợi ý: Học sinh có thể so sánh với “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ (đã học ở lớp chín).

TỰ TÌNH (Bài II) Hồ Xuân Hương

1 Hai câu đề:

Hình ảnh con người và hoàn cảnh nhà thơ bộc bạch tâm tình:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

- Thời gian: Đêm khuya.

- Không gian: Cảnh vật chìm ngập trong màn đêm dày đặc.

- Âm thanh: Các từ “văng vẳng” “dồn” gợi tả tiếng trống điểm hết canh nghe từ xa vọng lại, rất nhanh rất gấp

gáp.Nhà thơ cảm thấy bước đi dồn dập của thời gian và sự rối bời trong tâm trạng.

 Đây là hoàn cảnh đặc biệt để nhà thơ có điều kiện đối diện với chính mình và tự bộc bạch nỗi lòng một cách sâu sắc.

Trơ cái hồng nhan với nước non.

- Động từ “trơ” đặt ở đầu câu gợi ra nhiều sắc thái ý nghĩa:

+ Diễn tả sự trơ trọi, cô độc, sự tủi hổ bẽ bàng, sự dãi dầu của thân phận trước bao nắng mưa của cuộc đời + Đồng thời cũng thể hiện sự thách thức của nhà thơ trước số phận.

 Với từ “trơ”, Xuân Hương vừa thể hiện nỗi đau, vừa thể hiện bản lĩnh của mình.

- Từ “cái” đi kèm với từ “hồng nhan” cho thấy nhà thơ cảm nhận về sự rẻ rung của thân phận.

- Hình ảnh đối lập giữa một cá thể nhỏ bé với vũ trụ bao la: “cái hồng nhan” - trơ ra – “với nước non”

 Điều này nói lên sự nhỏ nhoi, cô đơn của thân phận của nhà thơ trước cuộc đời đầy sóng gió.

2 Hai câu thực:

Tâm trạng của nhà thơ trong hoàn cảnh cô đơn.

Trang 3

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

- Cụm từ “say lại tỉnh” cũng giàu sắc thái ý nghĩa:

+ Gợi lên cái vòng quẩn quanh, không lối thoát của tâm trạng.

+ Nhà thơ cố tìm đến chén rượu để giải khuây nhưng càng say lại càng tỉnh, nghĩa là càng thấm thía hơn nỗi đau thân phận.

- Hình ảnh vầng trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn “khuyết chưa tròn”gợi liên tưởng đến chính thân phận của nhà thơ: tuổi xuân đã trôi qua mà tình duyên không trọn vẹn, phải đem thân đi làm lẽ, phải chịu cảnh “lấy chồng chung”.

 Hai câu thơ thấm đẫm nỗi chua chát ngậm ngùi.

3 Hai câu luận:

Nỗi niềm phẫn uất và sự khao khát hạnh phúc của nhà thơ,

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

- Biện pháp đảo ngữ ở hai câu thơ và việc sử dụng những động từ mạnh (xiên ngang, đâm toạc) có tác dụng diễn tả:

+ Sự phẫn uất của cây cỏ, đất đá trước thiên nhiên đất trời.

+ Sức sống của vạn vật: muốn vươn lên, muốn vượt ra ngoài để tìm sự sống.

- Hình ảnh sự vật thiên nhiên ấy như mang nỗi niềm của con người: phẫn uất trước cuộc đời, đồng thời cũng bộc lộ niềm khát khao hạnh phúc đến cháy bỏng.

4 Hai câu kết:

Tâm trạng chán chường, buồn tủi của nhà thơ khi đối diện với thực tại.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con!

- Nhà thơ chán ngán khi nhận ra qui luật khắc nghiệt của thời gian: cứ thêm một lần nữa sự trở lại của mùa xuân là đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân.

- Tuổi xuân tàn mà nhà thơ chỉ đón nhận “mảnh tình san sẻ tí con con” Thủ pháp nghệ thuật tăng tiến nhấn

mạnh vào sự bé dần của tình duyên: Hạnh phúc vốn không được trọn vẹn (mảnh tình) mà còn cứ tiếp tục phải san sẻ ra nhiều lần ít ỏi (tí con con).

 Hai câu thơ thể hiện cái giận, cái hờn của nhà thơ về duyên phận hẩm hiu của mình.

- Điểm khác nhau: Ở bài Tự tình I yếu tố phản kháng, thách đố duyên phận mạnh mẽ hơn.

CÂU CÁ MÙA THU (Thu điếu) Nguyễn Khuyến

1 Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến

Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến gồm ba bài (viết bằng chữ Nôm, nhan đề bằng chữ Hán): Vịnh mùa thu

(Thu vịnh), Câu cá mùa thu (Thu điếu), Uống rượu mùa thu (Thu ẩm)  Đây là chùm thơ thu được xem là “vô

tiền khoáng hậu” và Nguyễn Khuyến xứng đáng được mệnh danh là nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt

Nam.

2 Cảnh thu của quê hương làng cảnh Việt Nam qua cái nhìn của Nguyễn Khuyến:

- Điểm nhìn để cảm nhận cảnh thu của tác giả: Cảnh thu được cảm nhận từ gần đến xa, rồi từ xa trở lại gần: từ chuyếc thuyền câu  mặt ao  bầu trời; rồi từ bầu trời  ngõ trúc  ao thu  thuyền câu.

 Với điểm nhìn ấy, không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu được mở ra nhiều hướng thật sinh động.

- Những hình ảnh đặc trưng của cảnh sắc mùa thu:

+ Màu sắc: độ “trong veo” của nước, màu xanh “biếc” của sóng, màu “xanh ngắt” của bầu trời, màu “vàng’

của lá…

+ Đường nét, chuyển động: sóng “hơi gợn tí”, lá vàng “khẽ đưa vèo”, tầng mây “lơ lửng”…thể hiện đặc trưng

của gió thu: gió heo may thổi nhẹ.

+ Hòa sắc, tạo hình: màu xanh bao trùm có điểm xuyến màu vàng của những chiếc lá thu rơi; sự hòa hợp của hình ảnh sự vật: ao thu nhỏ  thuyền bé tẻo teo  dáng người thu nhỏ lại.

 Cảnh thu mang những nét đặc trưng của làng quê Bắc Bộ.

- Đặc điểm về không gian mùa thu trong bài thơ: tĩnh lặng, vắng người, vắng tiếng.

+ Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

+ Các chuyển động đều rất nhẹ, rất khẽ: sóng “hơi gợn tí”, mây chỉ “lơ lửng”, lá “khẽ đưa”.

+ Tiếng cá đớp mồi càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật.

Trang 4

3 Tình cảm và tâm trạng của nhà thơ qua bức tranh thu:

Đằng sau bức tranh thu được cảm nhận tinh tế bằng những nét vẽ đặc trưng nhất, ta hiểu được tình cảm nhà thơ: tình yêu thiên nhiên đất nước, sự gắn bó thiết tha với những gì bình dị ở quê hương.

THƯƠNG VỢ

Trần Tế Xương

1 Cảm nhận của nhà thơ về hình ảnh bà Tú:

a Nhà thơ thấu hiểu nỗi vất vả, gian truân của vợ:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Từ “quanh năm” (chỉ thời gian), “mom sông” (chỉ không gian) cho thấy hoàn cảnh công việc

vất vả, lam lũ của bà Tú: buôn bán quanh năm suốt tháng mà chỉ ở một không gian chật hẹp, chênhvênh, nguy hiếm

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Nhà thơ mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về người vợ của mình

Nhà thơ dùng phép đảo ngữ (lặn lội thân cò) và thay “con cò” bằng “thân cò” nhằm nhấn

mạnh hơn nỗi vất vả, gian truân và gợi lên nỗi đau về thân phận của bà Tú

Các cụm từ “khi quãng vắng”, “buổi đò đông” còn có ý nghĩa gợi tả: bà Tú luôn tất bật với

công việc có lúc trong hoàn cảnh đơn chiếc và nhiều khi phải trải qua sự bất trắc nguy hiểm

Ta thấy ẩn đằng sau câu chữ là cái nhìn ái ngại, cảm thông của nhà thơ đối với vợ: vốn là con nhà dòng danh tiếng mà cũng phải chịu cảnh phong trần như ai.

b Nhà thơ cảm nhận về những đức tính đáng quý của vợ:

Nuôi đủ năm con với một chồng

Từ “nuôi đủ” cho thấy sự đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng con của bà Tú.

Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công.

Nhà thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa” để diễn tả

sự cam chịu số phận, việc lo toan chu tất cho gia đình và cả đức hi sinh của bà Tú:

+ Dù duyên có một mà nợ đến hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấpnhận sự vất vả vì chồng con

+ Dù có trải qua sự vất vả “năm nắng mười mưa” nhưng bà Tú vẫn không quản ngại.

2 Nỗi lòng thương vợ và vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ:

a Nỗi lòng thương vợ của nhà thơ:

Thấu hiểu được nỗi vất vả, gian truân và những đức tính cao đẹp của người vợ tảo tần  thểhiện tình thương vợ sâu sắc của nhà thơ

Cách nói đặc biệt “nuôi đủ năm con với một chồng” ẩn giấu nỗi lòng của nhà thơ: tự nhận

mình là kẻ ăn bám, là gánh nặng thêm cho vợ Điều này cho thấy tấm lòng thành thực của nhà thơđối với vợ: vừa tri ân vừa hối hận ăn năn

b Vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không.

Nhà thơ mượn giọng bà Tú để tự chửi rủa, tự trách móc mình: trở thành một ông chồng vô

tích sự, trở thành cái nợ đời mà vợ mình phải gánh chịu Đặt trong hoàn cảnh xã hội “trọng nam

khinh nữ”, “nam quyền” thì một người chồng biết nhận ra thiếu sót và khiếm khuyết của mình như

Tú Xương quả là rất đáng trân trọng

Đi xa hơn, nhà thơ còn chửi cả “thói đời” bạc bẽo: đó là cái xã hội đương thời đã làm cho

tầng lớp nho sĩ như ông trở thành những người vô tích sự Đây chính là lời lên án đối với xã hội thựcdân nửa phong kiến

* Luyện tập: Sự sáng tạo của tác giả trong việc vận dụng hình ảnh:

+ Hình ảnh con cò trong ca dao nhiều khi nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả,chịu thương, chịu khó

Trang 5

+ Hình ảnh con cò trong bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương nói về bà Tú có phần xót

xa, tội nghiệp hơn hình ảnh con cò trong ca dao

+ Sự sáng tạo của tác giả trong việc vận dụng từ ngữ: thành ngữ “năm nắng mười mưa”

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

Nguyễn Công Trứ

1 Thời điểm sáng tác - Thể thơ

- Sáng tác lúc Nguyễn Công Trứ đã cáo quan về hưu ở quê nhà (từ sau năm 1848)

- Thể hát nói

2 Cảm hứng chủ đạo của bài thơ:

- Cảm hứng chủ đạo của bài thơ tập trung ở từ “ngất ngưởng” (xuất hiện bốn lần) “Ngất

ngưởng” ở đây thể hiện một phong cách sống, một thái độ sống khác đời của một con người có cá

tính, có bản lĩnh cá nhân, vượt lên trên thế tục trong lúc làm quan và cả khi nghỉ hưu, trở về cuộcsống đời thường

3 Thái độ và phong cách sống của nhà thơ qua những lời tự thuật:

a Lời tự thuật của nhà thơ về quãng đời từ lúc ra làm quan:

- Xem việc làm quan là gò bó, mất tự do (vào lồng) nhưng vẫn chọn con đường làm quan Lí

do:

+ Nhà thơ xem việc làm quan là điều kiện, là phương tiện để thể hiện hoài bão và tàinăng của mình

+ Xem việc làm quan là để thực hiện trách nhiệm của kẻ sĩ đối với đời: “Vũ trụ nội mạc

phi phận sự” (mọi việc trong khoảng trời đất đều là phận sự của ta…).

- Kể về công danh và chức vị mà mình đã trải qua:

+ Từng đạt được học vị thủ khoa vẻ vang

+ Từng đảm nhiệm nhiều trọng trách: Tham tán, Tổng đốc Đông, phủ doãn Thừa thiên,+ Từng có những công trạng: bình Tây, cờ đại tướng

 Nhà thơ ý thức và tự hào về tài năng lỗi lạc của mình, khác hẳn và vượt xa tầng lớp

quan lại ở chốn triều trung.

b Lời tự thuật về phong cách sống khác đời, khác người của mình lúc cáo quan về hưu:

- Cáo quan về hưu, nhà thơ không cưỡi ngựa mà “ngất ngưởng” trên lưng bò vàng “Đạc

ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”.

- Vốn từng là một danh tướng thế mà nay rất từ bi bình dị “Tay kiếm cung mà nên dạng từ

c Lời kết luận của nhà thơ về toàn bộ cuộc đời và con người mình:

- Xếp mình ngang hang với các bậc danh tướng trong lịch sử Trung Quốc: có tài năng, khítiết và đạo lí

- Suốt cuộc đời vẫn giữ trọn tư tưởng “trung quân ái quốc”.

- Tự hào về lối sống thẳng thắn của mình, không chấp nhận sự khom lưng uốn gối hay thóiquỳ lạy thường thấy của tầng lớp quan lại chốn triều trung

* Luyện tập

Gợi ý: Hai bài thơ được các tác giả (Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Công Trứ) sử dụng thể thơ hát

nói, song nội dung và cảm hứng chủ đạo của hai bài thơ khác nhau nên từ ngữ sử dụng cũng khácnhau

Trang 6

BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT

(SA HÀNH ĐOẢN CA)

Cao Bá Quát

1 Hoàn cảnh ra đời -Thể thơ

- Sau khi thi đỗ cử nhân năm 1831, Cao Bá Quát nhiều lần từ Hà Nội vào kinh đô Huế để thiHội Nhìn hình ảnh những bãi cát dài ở các tỉnh miền Trung, nhà thơ liên tưởng và suy ngẫm đến việc đời

- Bài thơ được viết theo thể hành (ca hành).

2 Ý nghĩa tả thực và ý nghĩa trượng trưng của hình ảnh người đi trên bãi cát:

a Ý nghĩa tả thực:

- Hình ảnh “bãi cát” là hình ảnh thực mà tác giả từng chứng kiến trên hành trình từ Hà Nội

vào Huế

- Hình ảnh người đi trên bãi cát: đi trong hoàn cảnh khó khăn:

+ Đi một bước như lùi một bước

+ Không gian: đường xa, không gian lại bị bao vây bởi núi, sông, biển

+ Thời gian: Mặt trời lặn mà vẫn tất tả đi

b Ý nghĩa tượng trưng:

- Hình ảnh người đi trên bãi cát tượng trưng cho con người đi trên con đường danh lợi:+ Con đường danh lợi đầy nhọc nhằn, khó khăn

+ Con đường danh lợi đã lôi kéo con người, nhiều lúc làm cho con người mê muội

- Con đường trên bãi cát còn tượng trưng cho đường đời bế tắc của tác giả nói riêng và của tầng lớp trí thức đương thời nói chung

3 Tác giả cảm nhận về con đường danh lợi của người đời xưa nay:

Không học được tiên ông phép ngủ Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!

- Thể hiện nổi chán chường vì tự mình phải hành hạ thân xác để theo đuổi công danh

Xưa nay, phường danh lợi, Tất tả trên đường đời, Đầu gió hơi men thơm quán rượu, Người say vô số, tỉnh bao người?

- Tác giả muốn nói lên sự cám dỗ của cái bả công danh đối với người đời xưa nay:

+ Vì ham danh lợi nên phải tất tả chạy ngược chạy xuôi

+ Danh lợi cũng là một thứ rượu dễ làm say người, không mấy ai tỉnh táo để thoát khỏi

sự cám dỗ đó

4 Tâm trạng và tư tưởng của tác giả trước con đường danh lợi:

- Hình ảnh lữ khách băn khoăn trước “đường bằng mù mịt” và hát khúc “đường cùng” thể

hiện tâm trạng của tác giả: cảm thấy bế tắc trên con đường đời

- Câu hỏi ở cuối bài thơ: “Anh đứng làm chi trên bãi cát?” nói lên ý thức của tác giả:

+ Biểu lộ sự chán ghét của tác giả đối với con đường danh lợi tầm thường đương thời.+ Dù chưa thể tìm ra con đường đi khác nhưng không thể tiếp tục đi trên con đường danhlợi đó

* Luyện tập:

Gợi ý: Hoàn cảnh nước ta thời Cao Bá Quát đã có nhiều cuộc tiếp xúc với phương Tây,

nhưng triều đình nhà Nguyễn không có được chủ trương đổi mới đất nước theo kịp với thực tế, mà

Trang 7

vẫn có chính sách bảo thủ trì trệ Viết bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát, Cao Bá Quát biểu lộ sự

chán ghét đối với lối học khoa cử và con đường công danh dưới triều Nguyễn Đây cũng là lí do saunày Cao Bá Quát đã khởi nghĩa chống lại triều đình nhà Nguyễn vào năm 1854

LẼ GHÉT THƯƠNG

(Trích Truyện Lục Vân Tiên)

Nguyễn Đình Chiều

1 Truyện Lục Vân Tiên:

- Truyện được sáng tác vào khoảng những năm đầu của thế kỉ XIX, lúc Nguyễn Đình Chiểu đã

bị mù, về dạy học và chữa bệnh cho dân

- Tác phẩm thuộc thể loại truyện thơ, gồm 2082 câu thơ lục bát Đây là truyện Nôm bác họcnhưng lại mang nhiều tính chất dân gian, đặc biệt là đậm đà sắc thái Nam Bộ

- Tác phẩm thể hiện những quan niệm đạo đức truyền thống và khát vọng của những ngườibình dân về lẽ công bằng trong khuôn khổ xã hội phong kiến

- Nhân vật trong tác phẩm được khắc hoạ chủ yếu qua hành động, cử chỉ và ngôn ngữ Nhữngnhân vật tiêu biểu: Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, ông Quán, ông Ngư, ông Tiều, Vương Tử Trực,Hớn Minh, Tiểu Đồng, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Võ Công, Võ Thể Loan…

2 Lẽ ghét thương của ông Quán và quan niệm, tình cảm của tác giả:

a Lẽ ghét của ông Quán:

- Những đối tượng mà ông Quán ghét:

+ Vua Kiệt, Trụ hoang dâm vô độ

+ Đời vua U, Lệ thì đa đoan, lắm chuyện rắc rối

+ Đời Ngũ Bá, thúc quý thì lộn xộn, chia lìa, đổ nát, chiến tranh liên miên

 Điểm chung giữa các đời vua: chính sự suy tàn, vua chúa thì say đắm tửu sắc, không chăm lođến đời sống của dân

- Lí do mà ông Quán ghét: Các triều đại đó đã làm cho dân phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sởtrăm chiều

 Ông Quán (cũng chính là tác giả) đã xuất phát từ quyền lợi của nhân dân mà phẩm bình lịchsử

b Lẽ thương của ông Quán:

- Những đối tượng mà ông Quán thương: đức thánh nhân Khổng Tử, Nhan Tử, Khổng MinhGia Cát Lượng, Đổng Tử, Nguyên Lượng, Liêm, Lạc…

 Điểm chung: Họ là những người có tài đức và nhất là có chí muốn hành đạo giúp đời, giúpdân nhưng không đạt sở nguyện

- Lí do mà ông Quán thương: Những con người hiền tài ấy biết vì dân mà không gặp thời vận

c Kết luận về cơ sở của lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu:

Qua nhân vật ông Quán, ta có thể rút ra cơ sở của lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu:Xuất phát từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong muốn nhân dân được sống bình yên và hạnhphúc, mong những người có tài đức có điều kiện thực hiện chí nguyện

3 Mối quan hệ giữa hai tình cảm “ ghét – thương ” trong tâm hồn tác giả:

Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.

Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương.

Càng xót thương nhân dân phải chịu cảnh lầm than, thương những người tài đức bị vùi dập,tác giả càng căm ghét những kẻ làm hại dân, đẩy con người vào những cảnh éo le, oan nghiệt

4 Những đặc sắc về nghệ thuật của đoạn trích:

a Tác giả sử dụng điệp từ với tần số lớn (mỗi từ “ghét” “thương” được lặp lại đến 12 lần).

b Tác giả sử dụng nhiều dạng của phép đối:

- Phép đối trong cả đoạn thơ

- Phép tiểu đối trong mỗi câu thơ

Trang 8

 Hai phép tu từ trên có tác dụng biểu hiện cảm xúc: Biểu hiện sự trong sáng, phân minh, sâusắc trong tâm hồn tác giả; Tăng cường độ cảm xúc: yêu thương và căm ghét đều đạt đến độ tột cùng.

* Luyện tập

Bài tập sgk

Gợi ý: Học sinh có thể lựa chọn câu thơ tuỳ theo cảm xúc của bản thân Có thể chọn câu “Vì

chưng hay ghét cũng là hay thương” hoặc câu “Quán rằng: Ghét việc tầm phào – Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm” Trên cơ sở việc tiếp thu bài học, học sinh có thể tự do thể hiện những điều

đã cảm nhận

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

PHẦN MỘT: TÁC GIẢ

1 Đặc điểm cuộc đời và con người:

- Là người có nhiều bất hạnh, mất mát trong cuộc đời (bệnh tật, bị bội hôn…)

- Là người để lại cho đời ba bài học lớn: ý chí và nghị lực sống, lòng yêu nước thươngdân, tinh thần bất khuất trước kẻ thù

- Trong một đồ Chiểu kết tinh ba con người đáng quí: một nhà giáo mẫu mực, một thầythuốc đức độ, một nhà văn hết lòng vì nước vì dân

2 Sự nghiệp thơ văn:

a Quan điểm nghệ thuật:

- Sáng tác văn chương là để giúp đời

- Văn chương phải làm nhiệm vụ “chở đạo” và “đâm gian” (xem văn chương là vũ khí):

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

b Những tác phẩm chính:

- Giai đoạn trước khi thực dân Pháp xâm lược: có hai truyện thơ dài:

+ Truyện Lục Vân Tiên (gồm 2082 câu thơ lục bát).

+ Dương Từ - Hà Mậu (gồm 3456 câu thơ lục bát, có phụ 35 bài thơ Đường luật xướng

hoạ)

- Giai đoạn sau khi thực dân Pháp xâm lược:

+ Chạy giặc.

+ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

+ Thơ điếu Trương Định.

+ Thơ điếu Phan Tòng.

+ Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh.

+ Truyện thơ Ngư Tiều y thuật vấn đáp (gồm 3642 câu thơ lục bát và 21 bài thơ do các

nhân vật xướng hoạ)

c Nội dung thơ văn:

- Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa: Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn ĐìnhChiểu mang tinh thần nho giáo nhưng lại rất đậm đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc

- Lòng yêu nước, thương dân:

+ Ghi lại chân thực thảm họa của đất nước trước nạn ngoại xâm

+ Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và nguyền rủa bọn tay sai bán nước

+ Biểu dương, ca ngợi những bậc anh hùng cứu nước lúc bấy giờ: lãnh tụ kháng chiến,người nông dân đánh giặc, người trí thức giàu nhân cách và trước sau giữ trọn khí tiết…

3 Nghệ thuật thơ văn:

- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu phần lớn mang tính chất trữ tình – đạo đức

- Vẻ đẹp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu không phát lộ rực rỡ ở bề ngoài mà tiềm ẩn trongtầng sâu cảm xúc, suy ngẫm

Trang 9

- Đặc biệt, thơ vănNguyễn Đình Chiểu rất đậm đà sắc thái Nam Bộ.

* Luyện tập

Bài tập sgk

Gợi ý:

- Giải thích câu nói của nhà thơ Xuân Diệu: Một đặc điểm nổi bật trong tâm hồn của đồ Chiểu

là sự “ưu ái”, “kính mến” đối với người lao động Điều này thể hiện rất rõ trong cuộc đời và trong

thơ văn của ông

- Chứng minh nhận định đó qua cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu và qua những tác phẩm đã học(Truyện Lục Vân Tiên, Chạy giặc, Văn tề nghĩa sĩ Cần Giuộc)

+ Những yếu tố nào trong cuộc đời đã góp phần hình thành nét đẹp tâm hồn đó ở Nguyễn ĐìnhChiểu?

+ Nhân vật người lao động đã chiếm lĩnh tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu như thế nào?

+ Lập trường nhân dân, tấm lòng yêu thương, cảm thông, chăm lo đến quyền lợi nhân dân đãchi phối nguồn cảm xúc của Nguyễn Đình Chiểu như thế nào?

+ Cái nhìn mới mẻ của Nguyễn Đình Chiều về người nông dân – nghĩa sĩ biểu hiện qua bàiVăn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc?

- Kết luận: Đánh giá chung về sức sống lâu bền của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

PHẦN HAI: TÁC PHẨM

1 Hoàn cảnh ra đời-Thể loại văn tế

- SGK

2 Khung cảnh bảo táp của thời đại và ý nghĩa cái chết của người nghĩa sĩ:

Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ

- Tác giả khái quát biến cố của thời đại: sự xâm lược của thực dân Pháp và cuộc chiến đấu anhdũng của nhân dân ta

- Ý chí kiên cường, sức mạnh tinh thần của nhân dân (lòng dân) chống chọi với sức mạnh vậtchất của kẻ thù (súng giặc)

Mười năm…nổi như phao

Một trận nghĩa…vang như mõ.

- Tác giả khẳng định: người nghĩa sĩ đã hi sinh vì đại nghĩa và cái chết của họ đã trở thành bấttử

3 Bức tượng đài nghệ thuật về hình ảnh người nông dân – nghĩa sĩ:

a Hoàn cảnh xuất thân (câu 3,4,5):

- Họ vốn là những người nông dân từng âm thầm chịu đựng cuộc sống nghèo khổ: cui cút làm

ăn, toan lo nghèo khó.

- Họ chỉ biết công việc đồng án trong một không gian nhỏ hẹp, hoàn toàn xa lạ với công việcbinh đao

 Hoàn cảnh xuất thân này càng tôn cao tầm vóc anh hùng của họ

b Quá trình chuyển biến từ những người nônng dân thành những người nghĩa sĩ (câu

6,7,8,9)

- Khi giặc đến xâm lược, họ trông chờ vào triều đình nhưng vô vọng

- Nhìn thấy sự xấu xa của giặc, họ nung nấu căm thù: muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ, đâu

dung lũ treo dê bán chó…

- Ý thức được trách nhiệm đối với sự nghiệp cứu nước: một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém

rắn đưổi hươu…

- Cuối cùng, họ đã tự nguyện ra đi đánh giặc và trở thành nghĩa binh: nào đợi ai đòi ai bắt, ra

sức đoạn kình, ra tay bộ hổ…

c Vẻ đẹp hào hùng của người nghĩa sĩ trong “trận nghĩa đánh Tây” (câu 10 – câu 15):

- Họ bước vào cuộc chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn:

+ Không được tập binh thư, binh pháp

Trang 10

+ Trang bị vũ khí chỉ là những vật dụng thường nhật trong gia đình và trong sản xuất: manh áo

vải, rơm con cúi, dao phay, ngọn tầm vông…

 Ở đây, hình ảnh người nghĩa sĩ hiện lên với một vẻ đẹp giản dị mà toát lên khí chất anh hùngbởi tấm lòng mến nghĩa và coi thường khó khăn gian khổ

- Đặc biệt, họ đã chiến đấu trong một trận công đồn với khí thế vũ bão và nhất thời:

+ Hàng loạt động từ mạnh: đốt, chém, đạp, lướt, xô, xông, đâm…diễn tả khí thế tấn công dồn

dập

+ Các từ chéo: đâm ngang, chém ngược, hè trước, ó sau… và nhịp điệu câu văn góp phần diễn

tả hành động quyết liệt, khẩn trương

+ Khí thế chiến đấu của các nghĩa binh là khí thế đạp lên đầu thù và rất tự tin: coi giặc cũng

như không, liều mình như chẳng có.

+ Dù vũ khí thô sơ nhưng họ lại chiến thắng lớn: đốt xong nhà dạy đạo, chém rớt đầu quan

hai nọ, làm cho mã tà ma ní hồn kinh…

 Hình ảnh người nông dân – nghĩa sĩ đánh giặc đã trở thành biểu tượng nghệ thuật tuyệt vờitrong lịch sử văn học dân tộc

4 Nỗi thương xót của tác giả trước sự hi sinh cao cả của người nghĩa sĩ

a Nỗi xót thương xuất phát từ nhiều nguồn cảm xúc:

- Tiếc thương cho người nghĩa sĩ phải hi sinh khi sự nghiệp còn dở dang, chí nguyện chưathành (câu 16, 24)

- Khóc thương về nỗi mất mát không thể bù đắp của những người mẹ mất con, những người

vợ mất chồng (câu 25)

- Càng tiếc thương, tác giả càng trút căm hờn vào kẻ thù xâm lược (câu 20, 21)

- Tác giả cũng hoà chung với tiếng khóc uất ức, nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương củađất nước

- Cảm thấy cái chết của người nghĩa sĩ như thấu động đến thiên nhiên cây cỏ (câu 18)

b Tác giả cũng bày tỏ niềm cảm phục và tự hào khi cái chết của người nghĩa sĩ đã làm

sáng ngời chân lí của thời đại:

Thà chết vinh hơn sống nhục Cái chết ấy trở thành bất tử trong sự cảm phục của nhân dân

 Tiếng khóc thương của tác giả tuy rất bi thiết nhưng không hề bi luỵ, bởi trong tiếng khóc

ấy còn pha lẫn niềm cảm phục, khơi gợi lòng căm thù và ý chí quyết tâm đánh giặc của mọi người

5 Những đặc sắc về nghệ thuật:

a Có nhiều yêu tố làm nên sức gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế:

- Cảm xúc chân thành, sâu lắng, mãnh liệt (câu 3, 25)

- Giọng văn bi tráng, thống thiết (câu 22, 23, 24)

- Hình ảnh sống động (câu 13, 14, 15)

b Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và các phép tu từ:

- Ngôn ngữ giản dị nhưng được chọn lọc tinh tế, có sức biểu cảm lớn và giá trị thẩm mĩcao

- Nhiều biện pháp tu từ được tác giả sử dụng khá thành công

c Giọng điệu thay đổi theo dòng cảm xúc: lúc hào hứng như reo vui cùng chiến thắng của

nghĩa quân; lúc trầm lắng, thống thiết như nức nở, xót xa; có lúc như tiếng kêu thương aioán; có lúc trang nghiêm như một lời khấn nguyện thiêng liêng

* Luyện tập

Bài tập 2 sgk

Gợi ý: Đoạn văn trình bày cần đảm bảo hai nội dung chính sau:

- Giải thích nhận định của giáo sư Trần Văn Giàu (Lưu ý: bối cảnh lịch sử cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp những năm cuối thế kỉ XIX; mối tương quan giữa sự sống – cái chết của cánhân với lẽ nhục – vinh; quan niệm về lẽ nhục - vinh ở thời đại đó)

- Học sinh tìm và phân tích những câu mà bản thân mình cho là hay và thể hiện đầy đủ, sâusắc quan niệm sống đó

Trang 11

CHIẾU CẦU HIỀN

(Cầu hiền chiếu)

Ngô Thì Nhậm

1 Hoàn cảnh ra đời - Thể loại - Đối tượng hướng tới của bài chiếu

- Năm 1789, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế đem quân ra Bắc quét sạch hai mươi vạn quânThanh cùng bọn tay sai Lê Chiêu Thống bỏ chạy, triều Lê hoàn toàn sụp đổ, triều đại Tây Sơn lênthay Lúc bấy gờ, một số bề tôi của nhà Lê còn mang nặng tư tưởng trung quân lỗi thời, đã bất hợptác với triều đại mới Trước tình hình đó, Quang Trung giao cho Ngô Thì Nhậm thay mình viết

Chiếu cầu hiền nhằm thuyết phục sĩ phu Bắc Hà ra cộng tác với triều Tây Sơn.

- Thể chiếu – một loại công văn thời xưa mà nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho bề tôihoặc chỉ thị cho mọi người

- Nho sĩ Bắc Hà – những tri thức có học vấn uyên bác

2 Hệ thống luận điểm giàu sức thuyết phục của bài chiếu:

a Cách đặt vấn đề:

- Tác giả mượn hình ảnh (người hiền như sao sáng trên trời…) để dẫn dắt vấn đề: người hiền

phải ra phò giúp vua, nếu không làm như vậy là trái với qui luật của cuộc sống

 Cách đặt vấn đề giàu sức thuyết phục:

+ Đề cao vai trò của các bậc nho sĩ để họ thấy được trách nhiệm của mình

+ Dùng hình ảnh so sánh lấy từ sách Luận ngữ của Khổng Tử để đặt vấn đề sẽ có sức thuyết

phục cao đối với những người từng học sách thánh hiền

b Cách lập luận:

- Khi nêu lên thực trạng về thái độ bất hợp tác của nho sĩ Bắc Hà, tác giả không nói thẳng

bằng ngôn ngữ trực tiếp, mà dùng hình ảnh lấy trong kinh điển Nho gia: gõ mõ canh cửa, ra biển

vào sông, chết đuối trên cạn… Thể hiện cách nói tế nhị, phù hợp với đối tượng vốn rất nhạy cảm.

- Tiếp đó, tác giả thẳng thắn nêu ra những bất cập của triều đại mới  để cho thấy vua QuangTrung là người biết nhìn trước nghĩ sau, là người công bằng, phân minh, chân tình…

- Để tiếp tục làm cho các bậc nho sĩ cảm thông, tác gả đặt ra nhu cầu cần thiết của đất nước

trong hiện tại: “Một cái cột không thể đỡ nỗi một căn nhà lớn…”

 Thể hiện thái độ khiêm tốn nhưng rất quyết tâm của vua Quang Trung

- Từ nhu cầu đó, tác giả nêu câu hỏi: “Huống nay trên dải đất văn hiến lớn như thế này…hay

sao?”  Câu hỏi ẩn chứa nỗi lòng tâm huyết, thiết tha buộc sĩ phu Bắc Hà phải thay đổi cách ứng xử.

c Cách chốt lại vấn đề:

Sau khi đưa ra những lời lẽ giàu sức thuyết phục, tác giả đi đến chốt lại bằng đường lối cầuhiền hết sức rộng mở:

- Tất cả mọi tầng lớp nhân dân đều được dâng sớ bày tỏ việc nước

- Việc tiến cử người hiền có thể bằng nhiều cách: các quan tiến cử người hiền hoặc người hiền

a.Mang những nội dung yêu nước đã có trong hai giai đoạn văn học trước đó: ý thức độc lập,

tự chủ, tự cường, tự hào dân tộc; lòng căm thù giặc; tinh thần quyết chiến thắng kẻ thù; tự hào trướcnhững chiến công của thời đại; tự hào trước truyền thống lịch sử; tình yêu thiên nhiên đất nước…

b Xuất hiện thêm những nội dung mới:

- Ý thức thu phục hiền tài để chăm lo xây dựng đất nước (Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm).

Trang 12

- Thiết tha và tâm huyết đối với tư tưởng canh tân đất nước (Xin lập khoa luật – Nguyễn

Trường Tộ)

c.Những biểu hiện của nội dung yêu nước qua các tác phẩm, đoạn trích (đã học lớp 11)

- Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu): bày tỏ cảm xúc và tâm trạng trước tình cảnh đất nước và

nhân dân khi giặc Pháp xâm lược; xót xa và thương cảm đối với nhân dân trong hoàn cảnh giặc giã,loạn li

- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn đình Chiểu): Ca ngợi những người nông dân – nghĩa sĩ

hết lòng vì nước; đau đớn tiếc thương trước sự hi sinh cao cả của những con người vì đại nghĩa; trútcăm hờn vào kẻ thù xâm lược và kêu gọi tinh thần đấu tranh đánh giặc đến cùng

- Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ): Biết lo cho sơn hà xã tắc bằng tâm huyết điều trần,

thể hiện tư tưởng canh tân đất nước

- Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh): Yêu quý và tự hào về cảnh thiên nhiên đất

nước, mong muốn đất nước được chủ quyền để mọi người ra sức xây dựng…

- Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến): Cảm nhận tinh tế cảnh đẹp thiên nhiên của đất nước, thể

hiện tâm sự kín đáo về thời thế, về đất nước

- Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương): thể hiện nỗi đau của kẻ sĩ trước nỗi nhục mất nước.

2 Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX (thể hiện nổi bật ở giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX):

a.Riêng ở giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, văn học hình thành một trào lưu

nhân đạo mạnh mẽ: những tác phẩm mang nội dung nhân đạo xuất hiện nhiều, xuất hiện liên tiếp

với nhiều tác phẩm có giá trị lớn (Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương…)

b Những biểu hiện của nội dung nhân đạo:

- Thương cảm trước bi kịch và đồng cảm với khát vọng của con người

- Khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm

- Lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp con người

- Đề cao truyền thống đạo lí, nhân nghĩa của dân tộc

- (…)

c.Vấn đề cơ bản nhất của nội dung nhân đạo:

- Văn học hướng vào quyền sống của con người, nhất là con người trần thế (Truyện Kiều,Chinh phụ ngâm, thơ Hồ Xuân Hương…)

- Ý thức về cá nhân đậm nét hơn: đề cao quyền sống cá nhân, hạnh phúc cá nhân, tài năng cánhân (Đọc Tiểu Thanh kí, Tự tình II, Bài ca ngất ngưởng…)

3 Giá trị phản ánh và phê phán hiện thực của đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” (Lê Hữu

Trác):

- Phủ chúa trịnh là nơi thâm nghiêm, giàu sang và đầy quyền uy…

- Cuộc sống nơi Trịnh phủ âm u, thiếu sinh khí…

4 Những giá trị nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:

a Nội dung:

- Đề cao đạo lí nhân nghĩa

- Lòng yêu nước thương dân

b Nghệ thuật:

- Tính chất đạo đức trữ tình

- Đậm đà màu sắc Nam Bộ qua ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật…

c Đánh giá về vị trí bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: lần đầu tiên trong văn học dân tộc có

một tượng đài bi tráng và bất tử về người nông dân – nghĩa sĩ Sở dĩ tác phẩm được đánhgiá như thế, bởi vì:

- Trước Nguyễn Đình Chiểu, văn học dân tộc chưa có một hình tượng hoàn chỉnh về ngườianh hùng nông dân – nghĩa sĩ

- Đến Nguyễn Đình Chiểu, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người nông dân chốngngoại xâm mới có thể chiếm lĩnh trọn vẹn trong một tác phẩm với vóc dáng đích thựccủa mình và được ngợi ca như những anh hùng của thời đại

Trang 13

- Hình tượng người anh hùng nông dân – nghĩa sĩ mang vẻ đẹp bi tráng bởi hình tượng này

có sự kết hợp giữa yếu tố “bi” và yếu tố “tráng”.

1 Đặc điểm về tư duy nghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam: thường nghĩ theo kiểu mẫunghệ thuật có sẵn đã thành công thức (tính qui phạm) và cũng dần từng bước phá vỡ tính qui phạm

2 Quan niệm thẩm mĩ của văn học trung đại Việt Nam: hướng về cái đẹp trong quá khứ, thiên

về cái cao cả, tao nhã, ưa sử dụng những điển tích, điển cố, những thi liệu Hán học

3 Bút pháp miêu tả của văn học trung đại thiên về bút pháp ước lệ, tượng trưng

4 Thể loại:

a Những trường hợp tên thể loại gắn với tên tác phẩm: Thiên đô chiếu, cầu hiền chiếu,Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Bạch Đằng giang phú, Sa hành đoản ca, Văn tế nghĩa sĩcần Giuộc…

b Đặc điểm về hình thức nghệ thuật của thơ Đường luật: thể thất ngôn bát cú:

- Số câu, số chữ: mỗi bài tám câu, mỗi câu tám chữ

- Về gieo vần: dùng một vần (độc vận) và thường là vần bằng, gieo ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8(cước vận)

- Về đối: câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6

- Bố cục: đề, thực, luận, kết

c Đặc điểm của thể loại văn tế:

- Bố cục gồm có bốn phần: lung khởi, thích thực, ai vãn, kết

- Giọng điệu: lâm li, thống thiết

d Đặc điểm của thể hát nói:

- Hát nói là một điệu hát ca trù có nhạc kèm theo và có một hình thức thơ riêng được gọi làthể thơ hát nói – thể thơ trụ cột của ca trù

- Hát nói gồm hai phần: lời thơ và nhạc

- Riêng phần lời thơ gồm có mưỡu và bài hát nói;

+ Mưỡu: là những câu làm theo thể lục bát đi kèm với bài hát nói Mưỡu có thể khuyết.+ Bài hát nói: gồm 11 câu, chia làm ba khổ (khổ đầu: 4 câu, khổ giữa: 4 câu, khổ cuối: 3câu)

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM

TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁNH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

I Đặc điểm cơ bản của văn học Việt nam từ đầu thế kỉ XX đến cánh mạng tháng tám năm 1945

1 Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hóa.

1.1 Những nhân tố tạo điều kiện cho văn học đổi mới theo hướng hiện đại hóa:

- Bước sang thế kỉ XX, cơ cấu xã hội Việt nam có những biến đổi sâu sắc: đô thị mọc lên khắpnơi, nhiều giai cấp và tầng lớp mới xuất hiện Một lớp công chúng có đời sống tinh thần và thị hiếumới đòi hỏi phải có một thứ văn chương mới

- Ảnh hưởng của trào lưu văn hóa phương Tây ngày càng thấm sâu vào ý thức của người cầmbút cũng như người đọc sách

- Chữ Quốc ngữ đã thay thế chữ Hán, Chữ Nôm trong hầu hết các lĩnh vực đã tạo điều kiệnthuận lợi cho đông đảo công chúng tiếp xúc với sách báo

- Phương tiện in ấn, báo chí và nghề xuất bản phát triền mạnh

- Viết văn đã thực sự trở thành một nghề trong xã hội

- Nhà văn và công chúng có mối quan hệ gắn bó với nhau hơn

- Các cuộc vận động văn hóa mới đã dấy lên chống lại lễ giáo phong kiến, đòi giải phóng cánhân

Trang 14

1.2 Khái niệm “hiện đại hóa”:

Hiện đại hóa là quá trình làm cho văn học thoát khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại vàđổi mới theo hình thức của văn học phương Tây, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại trên thếgiới

1.3 Quá trình hiện đại hoá: Diễn ra qua ba giai đoạn:

a Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920)

- Chữ Quốc ngữ được phổ biến ngày càng rộng rãi

- Báo chí và phong trào dịch thuật đã tác động tới việc hình thành và phát triển nền văn xuôiquốc ngữ Nhiều tác phẩm văn xuôi bằng chữ quốc ngữ ra đời

- Thơ văn của một số chí sĩ cách mạng có những đổi mới nhất định về nội dung tư tưởng

b Giai đoạn thứ hai (khoảng từ năm 1920 đến năm 1930)

- Xuất hiện những tác phẩm văn xuôi và thơ ca bước đầu có những cách tân: tiểu thuyết của

Hồ Biểu Chánh, truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, thơ của Tản Đà, Trần Tuấn Khải…

- Xuất hiện thể loại mới: kịch của Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, Nam Xương…

- Xuất hiện một số truyện kí của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp có tính chiến đấu cao

và bút pháp hiện đại, điêu luyện

c Giai đoạn thứ ba (khoảng từ năm 1930 đến năm 1945)

- Truyện ngắn và tiểu thuyết được viết theo lối mới do học tập được lối viết truyện của phươngTây

- Thơ ca: sự ra đời của phong trào Thơ mới (1932 – 1945) được xem là “một cuộc cách mạng

trong thơ ca”.

- Những thể loại mới xuất hiện nhiều: kịch nói, phóng sự, phê bình văn học…

2 Văn học hình thành hai bộ phận và phân hóa thành nhiều xu hướng, vừa đấu tranh với

nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển

2.1 Bộ phận văn học công khai (văn học hợp pháp)

Là bộ phận văn học tồn tại trong vòng pháp luật của chế độ thực dân phong kiến Bộ phậnnày phân hóa thành nhiều xu hướng, trong đó có hai xu hướng chính:

a Văn học lãng mạn:

- Thể hiện tiếng nói của cá nhân tràn đầy cảm xúc và giàu khát vọng

- Khẳng định “cái tôi” cá nhân, đề cao con người thế tục, quan tâm đến những số phận cá

nhân và quan hệ riêng tư

- Bất hòa với thực tại nhưng bất lực, muốn thoát li khỏi thực tại bằng việc buông mình trongmộng tưởng và đi sâu vào thế giới nội tâm

- Thường tìm đến các đề tài về tình yêu, về thiên nhiên và quá khứ, thể hiện khát vọng vượtlên trên cuộc sống hiện tại chật chội, tù túng

- Thường chú trọng diễn tả những cảm xúc mạnh mẽ, những tương phản gay gắt, những biếnthái tinh vi trong tâm hồn con người

- Các tác giả tiêu biểu: Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Hoàng Ngọc Phách, phong trào Thơ mới, cácnhà văn Tự lực văn đoàn

2.2 Bộ phận văn học không công khai (văn học bất hợp pháp)

- Là bộ phận văn học bị đặt ra ngoài vòng pháp luật của chính quyền thực dân phong kiến,phải lưu hành bí mật

Trang 15

- Ở bộ phận văn học không công khai có thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt là thơ của các chí

sĩ và các chiến sĩ cách mạng sáng tác ở trong tù

- Đặc trưng về quan điểm sáng tác của văn học cách mạng: xem thơ văn là một vũ khí chốnggiặc, là phương tiện để truyền bá tư tưởng yêu nước và cách mạng

3 Văn học phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng

a Những biểu hiện cho thấy tốc độ phát triển của văn học:

- Số lượng tác giả và tác phẩm ngày càng tăng

- Sự hình thành, đổi mới nhiều thể loại văn học và bất kì thể loại nào cũng phát triển ngàycàng mạnh mẽ

- Sự gia tăng nhịp độ cách tân, trưởng thành và nhịp độ kết tinh ở những cây bút có tài năng

b Nguyên nhân làm cho văn học phát triển với tốc độ nhanh chóng:

- Do sự thúc bách của yêu cầu thời đại

- Sự vận động tự thân của nền văn học dân tộc (nguyên nhân chính)

- Sự thức tỉnh mạnh mẽ, trỗi dậy của “cái tôi” cá nhân ở những người cầm bút.

- Những cuộc cách tân văn học đã cởi trói và mở đường cho những tài năng

II Những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng

tháng tám năm 1945

1 Những thành tựu về nội dung tư tưởng:

a Chủ nghĩa yêu nước: yêu nước không còn gắn với hai chữ “trung quân”, mà gắn liền với

dân, với lí tưởng xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản

b Chủ nghĩa nhân đạo:

- Văn học hướng thẳng đến những con người bình thường trong xã hội, nhất là tầng lớp nhândân cực khổ, lầm than

- Chủ nghĩa nhân đạo gắn liền với sự thức tỉnh ý thức cá nhân

- Ngôn ngữ trong sáng, tinh tế, có khả năng diễn đạt sâu sắc tâm lí, tình cảm, cảm xúc…

- Đổi mới cách dùng từ ngữ, câu văn câu thơ và sự táo bạo trong việc sử dụng các biện phápnghệ thuật

* Luyện tập

Bài tập sgk

Gợi ý: Sở dĩ người ta có thể gọi văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỉ XX là văn họcgiai đoạn giao thời bởi vì: trong ba mươi năm đầu của thế kỉ XX, văn học có chuyển biến theohướng hiện đại hóa, nhưng sự níu kéo cái cũ vẫn còn nặng Xét toàn bộ tiến trình của văn học ViệtNam thời kì từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 thì hai giai đoạn đầu được xem là giai đoạn cần thiếtcho công cuộc hiện đại hoá văn học diễn ra mạnh mẽ và toàn diện ở giai đoạn thứ ba

HAI ĐỨA TRẺ

Thạch Lam

1 Cảnh vật thiên nhiên và bức tranh chung về đời sống nơi phố huyện

1.1 Thời gian và không gian miêu tả:

- Thời gian miêu tả: Từ khoảnh khắc của một ngày tàn  màn đêm buông xuống  về khuya

Trang 16

- Không gian miêu tả: thu hẹp dần: từ quang cảnh chung của phố huyện  cảnh một phiên chợtàn  cảnh một góc chợ đơn sơ  cảnh một quán hàng lụp xụp.

1.2 Bức tranh đời sống nơi phố huyện được đặc tả qua hai hình ảnh “bóng tối” và “ánh sáng”:

a Hình ảnh bóng tối:

- Bóng tối được miêu tả đậm đặc:

+ Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối.

+ Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông… các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa.

+ Trống cầm canh…rồi chìm ngay vào bóng tối.

+ Tiếng vang động của xe hoả… và mất dần trong bóng tối.

+ Cũng yên tĩnh như đêm ở phố, tịch mịch và đầy bóng tối.

 Dụng ý của tác giả khi miêu tả hình ảnh bóng tối:

- Hình ảnh bóng tối như một cái nền không gian nghệ thuật của tác phẩm

- Hình ảnh bóng tối có ý nghĩa chỉ không gian xã hội tối tăm, như một ám ảnh đè nặng lêncon người và cảnh vật

b Hình ảnh ánh sáng:

- Ánh sáng được miêu tả rất hiếm hoi và đơn độc:

+ Ánh đèn của bác Siêu: một chấm lửa nhỏ…

+ Ánh đèn trong cửa hàng của Liên: thưa thớt từng hột sáng…

+ Đèn của các cửa hàng còn thức: chỉ để hé một khe sáng…

 Ánh sáng ở đây chỉ là thứ ánh sáng le lói, nó không đủ sức xua tan bóng tối, mà trái lại nócàng làm cho bóng tối thêm mịt mùng hơn

- Đặc biệt, ánh sáng leo lét của ngọn đèn con nơi hàng nước của chị Tí: trở đi trở lại 7 lầntrong tác phẩm  gợi lên hình ảnh những kiếp người nghèo khổ sống leo lét trong mànđêm của xã hội thực dân nửa phong kiến

2 Cuộc sống của những kiếp người nhỏ bé nơi phố huyện nghèo và khát vọng của họ:

a Hình ảnh những kiếp người tàn tạ trong khoảnh khắc của ngày tàn,chợ tàn:

- Một vài người bán hàng do bận rộn lo toan nên phải về muộn

- Những đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ lom khom nhặt nhạnh những gì còn sót lại củamột cái chợ nghèo

 Dấu hiệu của sự nghèo nàn ở nơi phố huyện bắt đầu xuất hiện

b Hình ảnh những kiếp người lặng lẽ kiếm sống trong đêm:

- Mẹ con chị Tí:

+ Cuộc sống nhàm chán cứ lặp đi lặp lại: ban ngày mò cua bắt tép, tối đến lại dọn hàngbán nước bên ngọn đèn dầu leo lét

+ Chẳng kiếm được bao nhiêu nhưng tối nào cũng dọn hàng đợi khách

+ Nỗi cơ cực hiện lên trong lời than của chị: “Ối chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì”.

- Bác Siêu: Hằng đêm, cứ lặng lẽ gánh phở ra phố huyện, rồi lầm lũi trở về làng

- Gia đình bác xẩm:

+ Ngồi trên manh chiếu với cái thau trắng để trước mặt chờ đợi khách

+ Thằng con bò ra đất nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường

- Bà cụ Thi: Hơi điên và nghiện rượu, có nỗi niềm u uất ẩn trong tiếng cười khanh khách

- Hai chị em Liên:

+ Hoàn cảnh sống thay đổi, sinh hoạt gia đình sa sút

+ Tuổi còn nhỏ dại nhưng phải đứng ra trông coi cửa hàng cả ngày lẫn đêm

+ Lời lãi chẳng bao nhiêu nhưng chiều nào cũng phải xếp hàng, rồi tính tiền

+ Cảm thấy phở của bác Siêu là “một thứ hàng xa xỉ” không bao giờ có thể mua được.

 Những con người nơi phố huyện tuy mỗi người mỗi cảnh nhưng đều có chung sự buồnchán, mỏi mòn Nhịp sống của chừng ấy con người diễn ra một cách đơn điệu, quẩn quanh và tẻnhạt, giống như một khúc nhạc buồn mà điệp khúc cứ lặp đi lặp lại

Ngày đăng: 19/07/2018, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w