Do đó, bản thân tôi nhận thấy cần phải sử dụng kết hợp các video mô phỏng để tích hợp vào các bài giảng phục vụ cho việc dạy và học môn Sinh học sẽ đem lại hiệu quả cao hơn.. - Video là
Trang 1MỤC LỤC
1 Mở đầu
1.2 Mục đích nghiên cứu
1-2 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 1.4 Phương pháp nghiên cứu
2
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện 4 - 10
3 Kết luận và kiến nghị
1 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài:
Trang 2Sinh học là môn học thực nghiệm, nghiên cứu thế giới sống Một trong những đặc thù của môn học là có nhiều cấu trúc hiển vi và siêu hiển vi không quan sát được bằng mắt thường, nhiều quá trình sinh học mang tính trừu tượng
và có rất nhiều hiện tượng thực tế chưa thấy nên nhiều HS khó hiểu, ngại học, chán học, dẫn đến mục đích yêu cầu và chất lượng dạy học của môn học không cao và chưa thu hút được nhiều học sinh lựa chọn môn học
Trên thực tế nếu chỉ thông qua phần mềm Microsoft office PowerPoint để trình chiếu các slide nội dung bài giảng và chèn thêm tranh ảnh minh họa thì cũng chỉ làm cho bài giảng sinh động, chứ chưa đủ trực quan và tính thuyết phục khoa học Do đó, bản thân tôi nhận thấy cần phải sử dụng kết hợp các video mô phỏng để tích hợp vào các bài giảng phục vụ cho việc dạy và học môn Sinh học
sẽ đem lại hiệu quả cao hơn
Tại trường THPT Yên Định 2 mỗi phòng học đều được trang bị một máy chiếu Với những điều kiện về cơ sở vật chất như vậy là điều kiện vô cùng thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng các video hỗ trợ trong việc giảng dạy của giáo viên
Có nhiều phương pháp, phương tiện dạy học tạo động cơ, hứng thú học tập, sự yêu thích môn học cho học sinh, thu hút được nhiều học sinh lựa chọn môn học này Một trong những phương pháp, phương tiện dạy học đặc thù của
bộ môn đó là sử dụng các video làm phương tiện trực quan để dạy học theo kiểu nghiên cứu, tìm tòi khám phá
Vậy làm thế nào để học sinh lớp 10 dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng và phát huy được khả năng tự học, độc lập tư duy, sáng tạo của mình trong lĩnh hội tri thức
Do đó tôi chọn đề tài: “Sử dụng phần mềm Free Video Cutter Joiner để
chỉnh sửa, cắt nối Video tạo tư liệu giảng dạy Sinh học 10 ”.
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Video là loại phương tiện dạy học có vai trò hỗ trợ rất lớn đối với Giáo viên và Học sinh, có thể rút ngắn thời gian tìm hiểu nội dung kiến thức
- Video là loại đồ dùng dạy học với nhiều nội dung phong phú kết hợp chặt chẽ với nhiều hình ảnh, lời nói, chữ viết và âm nhạc, tác động vào các giác quan (đặc biệt là thị giác) của người học, cung cấp một khối lượng thông tin lớn, hình ảnh rõ nét, sống động, cụ thể, hấp dẫn,… mà trong một thời gian ngắn người học khó hoặc không tiếp cận một cách trực tiếp, khó hoặc không hình dung tưởng tượng được Do vậy việc sử dụng video vào quá trình dạy học có tác
Trang 3dụng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập và nghiên cứu, cơ chế sinh học trừu tượng
- Mặt khác việc sử dụng video vào dạy học còn có ý nghĩa trong quá trình rèn luyện và phát triển các kĩ năng, kĩ xảo, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ cho giáo viên và học sinh trong quá trình khai thác, chỉnh sửa và sử dụng video, đáp ứng với thời đại công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế
- Giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động, đặc biệt là các bài
có tính trừu tượng cao các em khó nắm bắt được kiến thức bài học
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh của 2 lớp 10C1 do tôi trực tiếp đứng lớp và lớp 10 C2 do Thầy
Lê Văn Dũng, trường THPT Yên Định 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng các
phương pháp sau:
1 Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động học tập của học sinh
2 Phương pháp điều tra: Sử dụng câu hỏi kiểm tra kết quả học tập của học sinh
3.Phương pháp thống kê: Thống kê kết quả kiểm tra của học sinh
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận:
Theo chỉ thị số 29/2001/CT – BGD & ĐT ngày 30/7/2001 của bộ trưởng
Bộ Giáo Dục Đào Tạo về việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong
dạy học: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT ở tất cả các cấp học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học”
Theo Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính
phủ “Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học Giáo viên các bộ môn chủ động tự soạn và tự
chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng CNTT”
Thực trạng dạy học ở nước ta hiện nay còn mang nặng tính “thông báo, tái hiện”, các phương tiện dạy học hiện đại chưa được chú ý khai thác, sử dụng
đúng mức Tuy nhiên mỗi môn học đều có những tính chất và đặc thù riêng do
đó việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng phải phù hợp với các tính chất và
Trang 4Trong giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin đã góp phần hiện đại hóa phương tiện, thiết bị dạy học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học
Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin, dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện được quá trình trên một cách hiệu quả Thông tín càng có giá trị nếu nó gây được bất ngờ càng lớn Nếu nội dung bài học chỉ được truyền tới học sinh dưới dạng trình chiếu văn bản với những hiệu ứng lạ mắt thì học sinh có thể
sẽ kém hứng thú, tiếp thu không đầy đủ hoặc bị phiến diện, có khi hiểu sai nội dung
Trên quan điểm đó, đổi mới phương pháp dạy học là tìm ra những phương pháp làm tăng giá trị thông tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn Sử dụng tiện ích của các phần mềm tin học biến các sơ đồ tĩnh trong sách giáo khoa thành các video sẽ làm cho kênh hình trong các bài học có hồn,
tự bộc lộ bản chất của các quá trình sinh học mà tác giả SGK muốn truyền tải và giá trị thông tin được nhân lên gấp bội
Với nhiều ưu thế vượt trội, dạy học với phương tiện hiện đại cho phép người thầy có thể thực hiện được các thí nghiệm ảo, làm rõ được bản chất của các quá trình sinh học, các khái niệm phức tạp theo trật tự lo gic, khoa học và dễ hiểu hơn
Sử dụng tiện ích của các phần mềm làm phương tiện hỗ trợ dạy học một cách hợp lý sẽ làm cho bài giảng sinh động hơn, làm tăng tính năng động cho người học, đồng thời khắc phục được tính đơn điệu của bài giảng
Sử dụng tiện ích của các phần mềm tạo ra các video sẽ giúp cho người dạy dạy được những bài khó, những khái niệm phức tạp, tránh được hiện tượng học tập thụ động, có nhiều thời gian để đào sâu suy nghĩ và điều quan trọng hơn
là học sinh tự khám phá các quá trình sinh học phức tạp qua hệ thống kênh hình trong SGK và thiết lập được sự tương tác hai chiều, học sinh được giải phóng khỏi những công việc thủ công vụn vặt, tốn thời gian, dễ nhầm lẫn, có thời gian
đi sâu vào bản chất của bài học
Các video được thiết kế nhờ các phần mềm ứng dụng có thể xem là nguồn
tư liệu có sẵn, mà khi cần có thể đem ra phục vụ cho giảng dạy Như vậy với vai trò là phương tiện hỗ trợ, công nghệ thông tin sẽ giúp các video trở thành thiết bị dạy học, góp thêm sức mạnh tổng hợp cho hệ thống các phương pháp day học
Có nhiều phần mềm có thể chỉnh sửa, thiết kế video, nhưng trong quá trình sử dụng tôi thấy phần mềm Free Video Cutter Joiner là dễ sử dụng và có hiệu quả cao nhất
Trang 52.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
- Hệ thống hình ảnh, video phục vụ cho quá trình soạn giảng của giáo viên trên Internet thì rất nhiều nhưng việc tìm kiếm và chọn lọc cho phù hợp là mất rất nhiều thời gian và công sức
- Thường thì khi gặp các trở ngại trên giáo viên sẽ phải dạy "chay" nên chất lượng giờ dạy và học không đạt hiệu quả cao nhất
- Chương trình sinh học khối 10 khá nặng, lý thuyết nhiều và khó nhớ, thời gian phân bố cho các tiết bài tập, ôn tập và thực hành ít
- Nhiều em ở trường gia đình chủ yếu làm nông nghiệp, ít quan tâm tới việc học tập của con em mình, chỉ mong các em học để lấy bằng tốt nghiệp THPT mà không định hướng cho các em mục tiêu khác do đó giáo viên gặp nhiều khó khăn trong quá trình giảng dạy
- Các em chủ yếu tập trung học các môn Toán, Lý, Hóa còn môn Sinh học chỉ học để đối phó lấy điểm miệng, điểm kiểm tra, những em thi tổ hợp môn Toán, Lí, Hóa thì học thêm môn Sinh học để thi nên rất ít học sinh tham gia học, hiệu quả học không cao
- Điểm thi xét vào các trường ĐH mà sau này các em có cơ hội tìm việc làm và thu nhập ổn định thì tương đối cao
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện:
Sử dụng phần mềm tin học Free Video Cutter Joiner thiết kế nên các video Các video được thiết kế cho từng khối lớp có thể được xem là nguồn tư liệu tham khảo dùng để minh họa hoặc soạn giáo án điện tử, hoặc giảng dạy cần
có minh họa
2.3.1 Qui trình thiết kế một video.
Đối với những video dài, chứa đựng thông tin không cần thiết, tôi sử dụng phần mềm Free Video Cutter Joiner để cắt và chỉnh lí video, tạo tư liệu dạy học phù hợp, theo các bước sau:
Bước 1: Download phần mềm Free Video Cutter Joiner trong google sau đó
cài phần mềm này trong máy tính
Trang 6Thao tác này thực hiện rất đơn giản
Bước 2: Sưu tầm video có nội dung phù hợp: Trên cơ sở nghiên cứu kĩ nội
dung bài học, giáo viên lựa chọn video có nội dung, hình ảnh, âm thanh phù hợp với bài dạy nhằm thực hiện tốt mục tiêu, đáp ứng được yêu cầu Sau khi lựa chọn được video phù hợp, GV tải về và có thể cắt video, chỉnh sửa để có các trích đoạn video phù hợp về nội dung và thời lượng, thời gian bằng phần mềm
Free Video Cutter Joiner.
Bước 3: Khởi động Free Video Cutter Joiner, chọn vào phần Video Cutter để
tiến hành cắt video
Bước 4: Các bạn click vào dấu biểu tượng dấu "+" để thêm video muốn cắt
Trang 7Bước 5: Bạn chọn Video muốn cắt sau đó click Open Bạn nên để chế độ xem tất cả file (All Files) để có thể xem được tất cả các file trong thư mục đó
Bước 6: Sau khi đã thêm được video muốn cắt, các bạn có thể lựa chọn điểm đầu cần cắt bằng cách di con trỏ và click vào icon "["
Làm tương tự với việc lựa chọn điểm cuối cần cắt
Các bạn cũng có thể theo và chỉnh sửa chi tiết về thời gian cắt ở phía dưới Start Point và End Point
Trang 8Sau khi đã lựa chọn được vùng cắt các bạn click vào nút Cut để tiến hành cắt
video
Bước 7: Tại đây sẽ có 2 lựa chọn để cắt video
- Direct Cut: Cắt ngay lập tức mà không có tùy chỉnh gì về chất lượng của
video xuất bản Cách cắt này sẽ rất nhanh, định dạng video xuất bản là cùng với video nguồn, không hỗ trợ định dạng RMVB
- Indirect Cut: Thiết lập về chất lượng video trước khi xuất bản như chọn định
dạng xuất bản, chọn chất lượng video, khung hình video,
Bước 8: Phía dưới các bạn sẽ có các lựa chọn
- Output: Lựa chọn thư mục lưu video xuất bản bằng cách click vào Browse
- File Name: Thay đổi tên video xuất bản
Trang 9Cuối cùng sau khi các thiết lập thành công, bạn click vào Start Cut để bắt đầu
cắt video và chờ trong giây lát để hoàn thành
Giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh khai thác, lựa chọn video phục
vụ cho học tập môn học Để hoạt động này thực sự có hiệu quả GV cần hướng dẫn học sinh cách thức khai thác video và giới thiệu một số địa chỉ chính thống
có thể sưu tầm được tư liệu tham khảo phù hợp Sau đó tùy theo nội dung bài học, giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh sưu tầm một số trích đoạn video phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu môn học
Ví dụ: Yêu cầu học sinh sưu tầm, lựa chọn, xử lí thông tin các video trên
Internet có nội dung về tiếp hợp và TĐC ở kì đầu của Giảm phân 1
Thông qua đó học sinh phát triển được các năng lực, trong đó có năng lực
sử dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ trong quá trình tìm kiếm, khai thác, xử
lí, chỉnh sửa và sử dụng video
Trang 102.3.2 Khai thác và sử dụng video
2.3.2.1 Khai thác video.
+ Công tác chuẩn bị: Giáo viên nghiên cứu nội dung chương trình và yêu
cầu cần đạt → định hướng lựa chọn những video chứa đựng nội dung kênh chữ
và kênh hình phù hợp với nội dung bài dạy, hình ảnh thực, sống động, rõ nét, dễ hiểu,…
Ví dụ: Khi dạy mục I.1 Kì đấu I, Bài 19 : Giảm phân - Sinh học 10, GV có thể
sử dụng các video có các nội dung: Quá trình tiếp hợp và TĐC của các crômatit trong cặp NST kép tương đồng
Để thông qua quá trình quan sát, theo dõi, nghiên cứu nội dung trong các video trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập HS đạt được yêu cầu: Trình bày được diễn biến quá trình tiếp hợp giữa các crômatit; Ý nghĩa của các NST tương đồng bắt đôi, TĐC
Link xem: Tiếp hợp và TĐC giữa các crômatit
2.3.2.2 Chuẩn bị hệ thống video dùng trong một số bài trong Sinh học 10.
Tôi đã lưu các Video trên trang Youtube cá nhân khi cần có thể sử dụng làm tư liệu Chỉ cần nhấn Ctrl + Nhấn chuột vào đường Link để xem
và tải các Video mà tôi đã chỉnh sửa
Tôi và thầy Lê Văn Dũng đã triển khai giảng dạy một số bài sau:
Nội dung Mục đích Đường Link để xem và
tải Video đã chỉnh sửa
Bài 6: Axit nuclêic
Sau khi xem video, Nêu được cấu tạo 1 nucleotit, cấu tạo và cấu trúc ADN
Cấu tạo 1 nucleotit Cấu trúc ADN
Bài 9: Tế bào nhân thực
Ti thể, Lục lạp
Sau khi xem video, Nêu được cấu trúc, chức năng của Ti thể
và Lục lạp
Ti thể Lục lạp
Bài 11: Vận chuyển các
chất qua màng sinh chất
Sau khi xem video, Nêu được cơ chế vận chuyển thụ động Vận chuyển thụ động
Bài 15: TH: Một số thí Sau khi xem video,
Trang 11nghiệm về enzim Tiến hành được TN
và có sản phẩm
Một số thí nghiệm về
enzim
Bài 18: Chu kì tế bào và
quá trình nguyên phân
Sau khi xem video, Nêu được đặc điểm chu kì tế bào và đặc điểm các kì của quá trình nguyên phân
Chu kì tế bào và quá trình nguyên phân Quá trình phân li NST kì
sau NP
Bài 19: Giảm phân
Sau khi xem video,
Nêu được diễn biến
quá trình tiếp hợp giữa các crômatit; Ý nghĩa của các NST tương đồng bắt đôi, TĐC Đặc điểm các
kì của giảm phân I và II
Tiếp hợp và TĐC giữa các
crômatit
Giảm phân 1 Giảm phân 2
Bài 30: Sự nhân lên của
virut trong tế bào chủ.
Sau khi xem video,
Nêu được đặc điểm
5 giai đoạn nhân lên của virut
Chu trình nhân lên của
virut
2.4 Kết quả nghiên cứu:
Trong quá trình giảng dạy, tôi tiến hành dạy theo phương pháp trên học sinh đã có những bước tiến bộ rõ rệt, không còn ngại học, hứng thú hơn, tập trung vào bài học và đã thử nghiệm đề tài này ở 2 lớp 10 C1 do tôi trực tiếp giảng dạy và lớp 10 C2 do Thầy Lê Văn Dũng giảng dạy để kiểm tra kết quả của
đề tài
Trước khi triển khai đề tài này tôi tiến hành khảo sát kết quả học tập của 2 lớp như sau:
Lớp Sĩ
số
Kết quả
10 C 1 45 2 4,44 10 22,2
2
25 55,5 6
8 17,7 8
10 C 2 43 1 2,3 12 27,9 20 46,5 10 23,3 0 0
Trang 12Lớp Sĩ
số
Kết quả
10 C 1 45 9 20 25 55,5
6
10 22,2 2
10 C 2 43 6 13,9
5
25 51,1 4
11 25,5 8
- Biểu đồ so sánh tỉ lệ học lực của 2 lớp 10 C 1 và 10 C 2 trước và sau khi triển khai đề tài:
0
10
20
30
40
50
60
Trước triển khai đề tài Sau khi triển khai đề tài
( Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ học lực lớp 10C 1 trước và sau khi triển khai đề tài)
0
10
20
30
40
50
60
Trước khi triển khai đề tài Sau khi triển khai đề tài
( Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ học lực lớp 10 C 2 trước và sau khi triển khai đề tài)
Tỉ lệ %
Học lực
Tỉ lệ %
Học lực
Trang 13*Kết quả điều tra thái độ, hứng thú học tập của học sinh ( Phụ lục )
Để khảo sát điều tra sự tác động của sáng kiến tới thái độ và hứng thú học tập của học sinh khi sử dụng việc lồng ghép các video vào bài giảng, tôi có phát phiếu điều tra cho học sinh ở 5 lớp tôi được phân công giảng dạy là 10C1(45hs), 10C3(43hs), 10C4(45hs), 10C6(39hs), 10C9(36hs)
Tổng số học sinh khảo sát 208 học sinh
* Kết quả thu được:
Với câu hỏi 1: có 180/208 đạt 86,5% học sinh cho biết thích việc giáo viên các video mô phỏng vào tiết học
Với câu hỏi 2: có 190/208 đạt 91,3% học sinh cho biết trong tiết dạy có video mô phỏng thì việc tiếp thu và ghi nhớ kiến thức của các em là tốt hơn
Với câu hỏi 3: có 175/208 đạt 84,1% học sinh cho biết trong tiết dạy có video mô phỏng thì các em hào hứng và tập trung hơn
Với câu hỏi 4: có 186/208 đạt 89,4% học sinh mong muốn giáo viên tiếp tục lồng ghép video vào trong tiết dạy trong thời gian tới
Với câu hỏi 5: có 170/208 đạt 81,7% học sinh cho biết trong tiết dạy có video mô phỏng làm các em yêu thích môn học hơn
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận:
Việc thiết kế và sử dụng lồng ghép các video trong các bài giảng Sinh học
10 đã đem lại hiệu quả rõ rệt, tác động rất lớn tới kết quả học tập của học sinh
Thông qua việc phát phiếu điều tra, kết quả trung bình cho thấy có khoảng 75% học sinh ở 5 lớp điều tra tỏ ra hào hứng, thích thú và học hiệu quả hơn với việc lồng ghép các video có nội dung liên quan đến bài học, đặc biệt có hơn 89% mong muốn giáo viên tiếp tục lồng ghép các video vào bài giảng trong thời gian tiếp theo
Với những kết quả về học tập và thái độ học tập của học sinh đã được kiểm chứng, tôi thấy rằng việc thiết kế và sử dụng video mô phỏng trong các tiết dạy ở trường THPT Yên Định 2 là rất cần thiết và mang lại hiệu quả thiết thực Kết quả này là động lực lớn lao, tạo niềm tin rất lớn để tôi quyết tâm tìm kiếm,
sử dụng, chọn lọc và tập hợp các video thành một hệ thống theo phân phối chương trình của từng khối lớp để việc sử dụng dễ dàng và hiệu quả hơn, góp phần nâng cao kết quả học tập của các em học sinh