Một số mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái Tùy vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của từng địa phương mà lựa chọn mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái cho phù hợp, đảm bảo nhanh, hiệu quả, bền vững Một số mô hình gợi ý: vùng nội đô, vùng vành đai, và vùng xa khu đô thị
Trang 1Một số mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái
Vùng nội đô:
* Xây dựng các nhà vườn sinh thái:
Khái niệm:
Khi mà quá trình đô thị hóa ngày càng đẩy lùi nông thôn ra xa hơn nữa, thì việc xây dựng, duy trì và bảo vệ các cụm xanh sinh thái ở những nơi có thể, ngày càng trở nên bức thiết Nhà vườn sinh thái, là một tổ hợp gồm nhà hàng, nhà nghỉ, vườn cây ao cá, và khu vui chơi … nghĩa là có hệ thống dịch vụ liên hoàn từ giải trí, ẩm thực, vui chơi ngoài trời cho cả người lớn và trẻ em Tỷ lệ cây xanh trong khu vực lớn, không khí trong lành không bị ảnh hưởng của môi trường đô thị như ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm không khí, nguồn nước
Với mục đích mang lại những cuộc vui chơi lý tưởng, những kỳ nghỉ thư giãn cuối tuần vui vẻ, thoải mái, giúp con người gần gũi với thiên nhiên giữa lòng
đô thị
Một số tiêu chí cần có cho nhà vườn sinh thái :
Làng nông nghiệp sinh thái là một khái niệm mở về không gian, nó có thể là một cụm dân cư nhất định nào đó đã được quy hoạch, hoặc trùng với ranh giới hành chính của khu phố hay ấp, ở vùng nội thành mở rộng (5 quận mới) và vùng ven thuộc các huyện ngoại thành
Để có thể gọi là làng nông nghiệp sinh thái, cụm dân cư đó cần:
1/ Có từ vài ha đến vài chục ha diện tích tự nhiên, trong đó phần lớn (70 -80%) dành để trồng cây xanh và mặt nước để điều hòa không khí
2/ Không quá xa nội đô, chịu sự tác động nhiều mặt của quá trình đô thị hóa nhưng vẫn có những nét nông thôn để con người có thể dễ dàng hòa mình vào thiên nhiên
Trang 23/ Xung quanh phải là cụm dân cư đạt tiêu chuẩn văn hóa thể hiện qua việc gìn giữ và phát huy nếp sống văn hóa lành mạnh…
4/ Công trình hạ tầng: điện, nước, trường, trạm và các dịch vụ giải trí được đầu tư đầy đủ; phát huy tác dụng trong việc tạo môi trường sinh hoạt thuận tiện cho sinh hoạt tại chỗ
5/ Vệ sinh môi trường được gìn giữ và cải thiện; mảng xanh được bố trí hài hòa với nhà ở các cụm dân cư, tạo nên những không gian thoáng đãng - xanh, sạch, đẹp
Trong nội đô thường các nhà vườn sinh thái thường có diên tích không lớn, ảnh hưởng của đô thị hóa vẫn rõ rệt Trong Quy hoạch mở rộng địa giới đô thị cần chú ý dành quỹ đất cho việc xây dựng các "làng sinh thái" Làng sinh thái khác với nhà vườn sinh thái ở chỗ là: Đây là điểm dân cư có vài chục đến vài trăm ha diện tích tự nhiên, trong đó 70 - 80% dành để sản xuất nông nghiệp và xây dựng các công trình phục vụ sản xuất Những “làng” như vậy, thường là sản xuất nông nghiệp kết hợp với dịch vụ du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng
* Mô hình hoa cây cảnh phục vụ nhu cầu trang trí cảnh quan thành phố
Mô hình khá điển hình của nông nghiệp sinh thái đô thị, cung cấp sản phẩm nông nghiệp cao cấp cho nhu cầu sinh hoạt, giải trí cho cư dân thành phố Chủng loại thường gặp ở mô hình này là :
- Bonsai, gồm một số loại như: khế, đào cảnh, đào thế, cần thăng
- Cây cảnh chậu để bày trí trong nhà
- Hoa cao cấp như lan cắt cành, hoa hồng, hoa layơn
Mô hình không cần nhiều đất, nhưng đòi hỏi phải nắm vững kỹ thuật chiết ghép, trồng, chăm sóc hoa kiểng, và cái nhìn tinh tế thẩm mỹ Hơn nữa, vốn cũng
là khâu quan trọng để đầu tư xây dựng và mở rộng mô hình Để có thu nhập khoảng 150 triệu đồng/năm, cần khoảng 500m2 đất với tổng vốn (lưu động, cố định) khoảng 50 - 70 triệu đồng Vì thế, mô hình có thể bố trí xung quanh nhà, hay chỉ cần một mảnh vườn hẹp hơn Không gây ô nhiễm, mà còn góp phần làm cho
Trang 3cảnh quan môi trường thành phố ngày càng thêm sắc màu sạch đẹp, là những đặc điểm ưu việt của loại mô hình này
Tuy nhiên, để hướng các sản phẩm hoa cảnh thành phố, đặc biệt là kiểng, đến thị trường ngoài nước (hiện chỉ mới ở giai đoạn đầu) thì các mô hình riêng lẻ trên còn rất nhiều hạn chế, như thiếu giống mới, sản phẩm không đồng bộ, manh mún, Do đó, cần đầu tư xây dựng các mô hình liên kết về tổ chức sản xuất; trong
đó, các đơn vị Nhà nước, Công ty liên doanh, các nghệ nhân tư nhân làm nòng cốt, với hệ thống vệ tinh là các mô hình đơn lẻ này Làm như thế, có các điều lợi sau :
- Mở rộng được qui mô sản xuất, do đó có nhiều cơ hội đầu tư vốn, công nghiệp hóa, cơ giới hóa cho việc tạo ra các sản phẩm cao cấp
- Nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong việc lai tạo giống mới, thuần hóa giống nhập nhằm làm phong phú thêm bộ giống với màu sắc, độ đồng đều cao hơn, đạt yêu cầu xuất khẩu
- Ổn định được đầu ra, đặc biệt là thị trường xuất khẩu Do đó, góp phần làm tăng lợi nhuận cho người nông dân, nâng cao hơn nữa giá trị của một đơn vị diện tích đất nông nghiệp ngoại thành
* Mô hình canh tác không dùng đất:
Trồng rau không cần đất có 2 cách: Trồng thủy canh và trồng trên giá thể: Trồng thủy canh là trong trong dung dịch dinh dưỡng, còn trồng trên giá thể là trồng trên các giá thể nhu: Trấu hun, bã dừa, cát…Tuỳ điều kiện cụ thể mà áp dụng quy mô công nghiệp hoặc quy mô gia đình Các loại rau sản xuất trong dung dịch chủ yếu là: Rau cải ăn lá các loại, xà lách, rau muống, rau dền, mồng tơi, cần tây
Quy trình canh tác có thể tham khảo như sau:
1 Sản xuất rau trong dung dịch tuần hoàn (thuỷ canh tuần hoàn)
Dung dịch dinh dưỡng (dung dịch mẹ) để sản xuất rau có bán ở một số cơ sở: Viện Nghiên cứu Rau quả, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Quy trình sản xuất rau theo dung dịch tuần hoàn
Bước 1: Chuẩn bị trang thiết bị
Trang 4Trang thiết bị sản xuất rau trong dung dịch tuần hoàn gồm: Giá sắt để đặt các ống nhựa: Giá sắt được hàn chắc chắn, cao khoảng 70- 80cm, dốc về phía bể thu hồi dung dịch (bể chứa)
- Téc nhựa đựng dung dịch dinh dưỡng, thể tích 2- 3m3 (bể cấp) - Bể thu hồi dung dịch, thể tích tương đương bể cấp
- Ống dẫn dung dịch: Dùng ống nước đường kính 11cm, dài 15 - 20m Trên ống đục các lỗ 5 - 6cm để đưa rọ cây vào đó
- Rọ nhựa ươm cây con và đỡ cây trong quá trình sinh trưởng phát triển
- Giá thể ươm cây con
- Dung dịch dinh dưỡng: Pha 1,0 lít dung dịch A và 1,0 lít dung dịch B trong 1m3 nước
- Máy bơm nước 2 chiều
Hệ thống trên được đặt trong nhà lưới cách ly côn trùng và hạn chế điều kiện môi trường bất thuận
Bước 2: Ươm cây con
Cho giá thể vào rọ nhựa, tưới nước đủ ẩm rồi gieo hạt, mỗi ngày tưới ẩm 1
-2 lần (tuỳ điều kiện thời tiết) Sau 4 - 6 ngày cây mọc, tiếp tục tưới ẩm cho cây sinh trưởng mỗi ngày 1 - 2 lần Khi cây được 3 - 4 lá thật (có rễ trắng đâm ra ngoài) thì đưa rọ cây lên ống dẫn dung dịch
Bước 3: Chăm sóc cây
Dung dịch đưa vào bể cấp, chảy qua hệ thống ống dẫn và nuôi cây Khi dung dịch trong bể cấp cạn, bơm 2 chiều lại đẩy dung dịch ngược trở lại từ bể chứa lên
bể cấp Cứ như vậy dung dịch chảy tuần hoàn
Định kỳ bổ sung dinh dưỡng: Trong một vụ sản xuất xà lách, cải xanh và cần tây cần bổ sung dinh dưỡng 3 lần: 10 ngày, 15 ngày và 20 ngày sau khi đưa cây vào dung dịch, với lượng 0,5lít dung dịch mẹ trong 2m3 dung dịch trồng cây Trước khi thu hoạch 10 ngày không bổ sung dinh dưỡng Như vậy, với cây rau cải
Trang 5các loại và cây xà lách chỉ cần bổ sung dinh dưỡng 2 lần Đối với cây rau muống, sau khi đưa rọ cây vào dung dịch không bổ sung dinh dưỡng, chỉ sau khi hái lứa đầu mới bổ sung dinh dưỡng Cứ như vậy, chỉ bổ sung dinh dưỡng sau mỗi đợt thu hái
Thường xuyên nhổ sạch cỏ cho cây
Bước 4: Thu hoạch
- Với rau cải ăn lá các loại: Thu hoạch sau khi đưa rọ cây lên hệ thống thuỷ canh tuần hoàn 20 - 25 ngày
- Với cây xà lách: Thu hoạch sau khi đưa rọ cây lên hệ thống thuỷ canh tuần hoàn 25- 30 ngày
- Với cây cần tây: Thu hoạch sau khi đưa rọ cây lên hệ thống thuỷ canh tuần hoàn 25 - 30 ngày
- Với cây rau muống: 7 - 10 ngày hái 1 lứa Cứ như vậy, kéo dài 4 - 5 tháng
- Kết thúc thu hoạch vệ sinh đường ống, bể chứa và thay dung dịch để trồng rau khác hoặc trồng lứa mới
Sản xuất rau trên giá thể hữu cơ quy mô công nghiệp
Giá thể hữu cơ để sản xuất rau an toàn có bán ở một số cơ sở: Viện Nghiên cứu Rau quả, Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm nông hoá Hệ thống này sản xuất được tất cả các loại rau, song thường sản xuất các loại rau dài ngày như su hào, sulơ, bắp cải, đậu cô ve lùn
Bước 1: Chuẩn bị trang thiết bị
- Hệ thống giá sắt: Các giá sắt được hàn hình chữ A; cao 1,5 - 1,6m Trên giá sắt hàn 5 hàng sắt đỡ máng nhựa hình xương cá, cách nhau 35cm
- Hệ thống máng nhựa: Dùng ống nhựa cấp thoát nước, đường kính 14 cm, cắt 1/3 chu vi ống, tạo thành máng nhựa
- Hệ thống tưới nhỏ giọt: Là các ống nhựa nhỏ, đường kính 1,5 cm; trên ống nhựa có đục các lỗ nhỏ, khoảng cách tương ứng với khoảng cách cây cách cây (30 cm)
Trang 6- Téc đựng nước 2 - 3m3 và giá để téc nước Téc nước phải đặt cao hơn hệ thống giá sắt 0,5 - 1m
- Máy bơm nước
- Giá thể hữu cơ
Hệ thống trên được đặt trong nhà lưới cách ly côn trùng và hạn chế điều kiện môi trường bất thuận
Bước 2: Ươm cây con
Đối với rau ăn lá, rau gia vị và đậu cô ve lùn: Gieo thẳng lên máng giá thể, không qua giai đoạn ươm cây con
Đối với một số loại rau như bắp cải, su hào, sulơ gieo hạt vào khay giá thể với mật độ dày, khi cây con được 3 - 4 lá thật (sau gieo 20 - 25 ngày) thì bứng ra trồng vào các máng chứa giá thể
Bước 3: Trồng và chăm sóc rau
Cho giá thể vào đầy các máng nhựa, hệ thống tưới nhỏ giọt được đặt trên mặt giá thể Các loại rau ngắn ngày (rau ăn lá các loại, xà lách ) gieo thẳng trên mặt giá thể sau đó phủ lên một lớp giá thể mỏng Không cần bón hoặc tưới phân cho đến khi thu hoạch Các loại rau dài ngày (su hào, sulơ, bắp bải ) sau khi nhổ cây khỏi vườn ươm phải trồng ngay Khoảng cách trồng tương ứng với khoảng cách các lỗ trên ống tưới nhỏ giọt Sau khi trồng 30 ngày bón bổ sung NPK cho cây với lượng 10kg đạm urê + 20kg lân supephotsphat + 10kg kali/1000m2 (tính theo diện tích mặt đất đặt giá sắt)
Sản xuất rau trên giá thể hữu cơ quy mô công nghiệp
Giá thể hữu cơ để sản xuất rau an toàn có bán ở một số cơ sở: Viện Nghiên cứu Rau quả, Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm nông hoá Hệ thống này sản xuất được tất cả các loại rau, song thường sản xuất các loại rau dài ngày như su hào, sulơ, bắp cải, đậu cô ve lùn
Trang 7 Vùng ven đô
* Mô hình trồng các loại rau an toàn
Điển hình là các mô hình trồng rau an toàn trong nhà lưới
Mỗi nhà lưới có qui mô 500 - 1.000 m2 diện tích, chủ yếu trồng các nhóm rau ăn lá như cải ngọt, bẹ xanh, rau muống, rau dền , việc quản lý dư lượng thuốc trừ sâu còn gặp khó khăn, vì:
- Thời gian trồng đến thu hoạch rất ngắn (20 - 30 ngày/vụ), nên việc đảm bảo thời gian cách ly an toàn khó thực hiện nếu sâu rầy bộc phát
- Rau ăn lá không gọt được vỏ như nhiều loại rau ăn quả (loại bỏ được dư lượng thuốc bảo vệ thực vật bám trên bề mặt ngoài), và phần lớn rau ăn lá được ăn sống thay vì nấu chín, nên nguy cơ nhiễm độc khá cao
Mỗi mô hình đầu tư khoảng 20 - 50 triệu đồng cho việc xây dựng nhà lưới Nhà lưới gồm một hệ thống cột và khung đỡ, diện tích trồng rau trong nhà lưới được che chắn toàn diện bằng một lớp lưới mịn bao bọc xung quanh, cửa ra vào làm 2 lớp để đảm bảo cách ly côn trùng Qua đó, hạn chế tối đa việc xâm nhập các loài sâu hại từ bên ngoài; nhờ vậy, rau trong nhà lưới ít bị sâu hại xâm nhập, bộc phát chủ yếu là, nên chỉ cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở mức tối thiểu, không cần thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm độc cao để diệt trừ sâu hại Hơn thế nữa, nhà được che chắn phía trên bằng lưới, nên việc trồng rau ăn lá vào mùa mưa được thuận lợi hơn: đất không bị dẽ, hạt giống và cây con không bị vùi dập, khi mưa nặng hạt Nhờ vậy, năng suất rau trong mùa mưa cao và nông dân có thể canh tác quay nhiều vòng quanh năm (8 - 12 lứa rau/năm) Ngoài ra, nông dân còn được hướng dẫn và khuyến khích xử lý đất trước khi trồng, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm ít độc (nhóm 3, 4), sử dụng phân chuồng hoai, tăng cường phân hữu cơ, phân
vi sinh, sử dụng hệ thống tưới phun tự động
Cần liên kết nhiều hộ trồng rau an toàn trong nhà lưới trên một địa bàn cụ thể lại với nhau, nhằm góp phần giải quyết đầu vào, đầu ra cho sản phẩm - loại sản phẩm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của từng cá nhân và cộng đồng xã hội Với khoảng 10 vụ bình quân hàng năm, rau an toàn trong nhà lưới sẽ cho thu nhập
Trang 8khoảng 18 triệu đồng/500m2/năm nghĩa là 360 triệu đồng/ha/năm Một nguồn thu rất lớn so với một số cây trồng, vật nuôi khác; chưa kể mỗi mô hình có thể giải quyết từ 5 - 7 lao động (nhà, thuê khoán) góp phần đem lại công ăn việc làm cho
xã hội
* Mô hình sản xuất hoa cây cảnh theo phương pháp truyền thống
Mô hình này phát triển trên quy mô rộng, hình thành các làng hoa tập trung trên các vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp Chủ yếu diện tích được chuyển mục đích từ đất lúa có chế độ nước hạn chế Thành phố cần có chương trình chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người dân
Tiềm năng hoa, cây cảnh trên thị trường là rất lớn Hiện, người dân chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu, còn lại phải nhập khẩu Vì thế, chương trình đẩy mạnh phát triển hoa cây cảnh của thành phố là hướng đi đúng Thực tế cho thấy, trồng hoa, cây cảnh đạt giá trị thu nhập cao (200 triệu - 1 tỷ đồng/ha/năm); không làm tổn hại đến môi trường; tạo việc làm ổn định cho lao động
Để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, phát triển nghề bền vững, nên thành lập câu lạc bộ, hợp tác xã , liên kết những người sản xuất với nhau; quan tâm hơn nữa đến công tác xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu và tìm thị trường tiêu thụ ổn định Tránh tình trạng mỗi người làm một kiểu, sản xuất những sản phẩm không đạt chất lượng, thị trường tiêu thụ không ổn định ”
Có thể khẳng định, phát triển trồng hoa, cây cảnh là hướng đi tất yếu của nông nghiệp đô thị hiện nay, có thể hóa giải những khó khăn của nông dân sau khi
bị thu hồi đất nông nghiệp
* Mô hình VAC, Biogas
Đây là mô hình tổng hợp, toàn diện, kết hợp sản xuất với bảo vệ môi trường, giải quyết chất đốt, làm tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác cho các nông hộ Đây cũng được coi là mô hình sản xuất sạch cung cấp các sản phẩm nông nghiệp thiết yếu như lương thực, thịt, trứng sữa… cho thành phố
Trang 9- Về cây trồng, để tạo điều kiện phát huy đến mức cao nhất mối quan hệ sinh thái nội tại của các chủng loại cây trồng, cần chú ý đến việc bố trí cấu trúc tầng tán (thấp dần từ ngoài vào trong) và tận dụng tối đa không gian dinh dưỡng Muốn thế, phía ngoài nên trồng một số loài cây lâm nghiệp, cây ăn quả, tre nứa, bên trong là rau màu và vật nuôi bên trong cùng Riêng Tre trồng lấy măng, chú ý đến yêu cầu
về nguồn nước tưới, độ dày tầng đất (phèn) và biện pháp chăm sóc Diện tích vườn, tối thiểu phải là 4.000 - 5.000m2
- Về chăn nuôi, 3 chủng loại đề nghị là lợn lai kinh tế, vịt và gà thả vườn
* Heo lai kinh tế, trước mắt mua ở các trại giống để đảm bảo chất lượng thịt, dần dần chuyển sang mua tại các hộ gia đình có sản xuất giống heo lai 3 máu tại địa phương, trên cơ sở lai tạo giống mới (nhiều nạc) với giống địa phương
(chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt của môi trường nguồn nước tại chỗ) Trong
chăn nuôi heo, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến về chuồng trại, chăm sóc như sử dụng chuồng sàn, núm uống tự động , sử dụng các chế phẩm sinh học
để làm tăng sản lượng thịt, rút ngắn chu kỳ nuôi, tăng số vòng sinh đẻ của heo nái; các chế phẩm sinh học làm giảm bớt mùi hôi của chất thải, sử dụng thức ăn công nghiệp v.v Qui mô 2 nái, hoặc 4 heo thịt trở lên tại mỗi hộ
* Vịt, sử dụng giống vịt tàu và vịt địa phương Mặc dầu trọng lượng không lớn, 1,2 - 1,5 kg/con khi trưởng thành, nhưng do có khả năng chống chịu bệnh tật khá cao, tỉ lệ sống tốt Qui mô 200 con trở lên ở mỗi hộ
* Gà, tập trung cho một số giống thả vườn như gà ri, lương phượng, tam hoàn Bình quân đạt 1,4 - 1,8 kg/con sau 4 tháng nuôi Có thể sử dụng một phần thức ăn công nghiệp, kết hợp với thực liệu tại chỗ Qui mô 50 - 100/ con trở lên mỗi hộ
Có thể chọn nuôi cả 3, 2 hoặc thậm chí 1 chủng loại Điều này phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng nông hộ Diện tích chuồng trại chăn nuôi phải từ 50m2 trở lên
- Về thủy sản, dựa vào các loài cá có giá trị kinh tế cao để chọn loài nuôi, chú ý nuôi ghép, sử dụng thức ăn công nghiệp kết hợp nguồn chất thải trong chăn nuôi (heo, gà, vịt) để hạ giá thành Qui mô ao nuôi hay mương nuôi từ 500 m2 trở
Trang 10- Biogas, đối với các hộ nuôi từ 4 heo thịt hoặc 2 nái trở lên, cần lắp đặt thêm túi ủ hoặc xây bể biogas Điều này không những giúp giải quyết chất đốt cho gia đình, xử lý ô nhiễm, mà còn tạo điều kiện tốt hơn cho nuôi cá, do bởi nguồn phân đã được xử lý tốt (hoai) sau khi qua túi, bể ủ
Mô hình nông nghiệp này có thể kết hợp với du lịch sinh thái để tăng thêm thu nhập và nâng cao hiểu biết cũng như ý thức của người dân đô thị trong việc làm đẹp cảnh quan và môi trường sống
Vùng xa đô thị
* Vùng lúa cao sản, lúa chất lượng cao, ngô, cây họ đậu
Vùng này thuộc các xã có tính thuần nông cao, nơi có tốc độ đô thị hóa chậm, quỹ đất nông nghiệp còn lớn Muốn có hiệu quả cao cần có cơ chế chính sách hỗ trợ của địa phương Theo đó các hạng mục được hỗ trợ gồm: Kiên cố hoá kênh mương và giao thông nội đồng; hỗ trợ kinh phí phân tích, đánh giá đất, xây dựng bản đồ nông hoá để xác định chế độ canh tác thích hợp cho từng loại đất; hỗ trợ đầu tư hệ thống giống; hỗ trợ kinh phí tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân; hỗ trợ mua máy thu hoạch lúa
Ngoài ra, hỗ trợ đầu ra cho vùng này cũng cần được quan tâm Các hộ nông dân cũng cần tập trung tích tụ ruộng đất, khuyến khích thành lập các HTX, xí nghiệp, công ty cổ phần và Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật giống cây trồng tham gia sản xuất giống lúa
Vùng này kết hợp với chăn nuôi theo hộ gia đình để tận dụng phế phẩm của trồng trọt, đem lại thu nhập cho gia đình
* Vùng cây công nghiệp và chăn nuôi tập trung
Vùng trồng cây công nghiệp hàng năm: như thuốc lào, lạc, mía v.v chủ yếu được trồng luân canh với các loại cây hàng năm khác, tùy vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương
Phát triển chăn nuôi tập trung đối với các gia súc, gia cầm, tùy theo thế