1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội

101 551 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy hoạch phát triển không gian của thành phố đến 2030 khu vực huyện Thanh Oai của Hà Nội sẽ phát triển theo hướng đô thị sinh thái, trong đó đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệ

Trang 1

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị hóa 4

1.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp, nông nghiệp đô thị sinh thái 4

1.1.2 Đặc điểm nông nghiệp khu vực đô thị hóa 6

1.1.3 Nông nghiệp đô thị sinh thái và nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái 8

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về sử dụng đất theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái 12

1.2.1 Sử dụng bền vững đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái nói chung 12

1.2.2 Sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái – kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và thực tiễn ở nước ta 14

1.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đô thị sinh thái 21

1.3.1 Các tiêu chí kinh tế đánh giá hiệu quả sử dụng đất 21

1.3.2 Các tiêu chí xã hội đánh giá hiệu quả sử dụng đất 22

1.3.3 Các tiêu chí về môi trường trong đánh giá hiệu quả sử dụng đất 22

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 24

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 24

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28

2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 và biến động sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2005 – 2013 43

2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu 43

2.2.2 Đánh giá biến động sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu giai đoạn 2005 – 2013 44

2.2.3 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu 44

2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính tại khu vực nghiên cứu 49

2.3.1 Hệ thống cây trồng, vật nuôi và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp phổ biến trên địa bàn và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 49

Trang 2

2.3.2 Đánh giá chung về hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 59

2.4 Đánh giá tổng hợp hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp khu vực

nghiên cứu đối với yêu cầu sử dụng đất nông nghiệp đô thị bền vững 60

2.4.1 Các tiêu chí cơ bản để đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất theo hướng nông

nghiệp đô thị sinh thái 60 2.4.2 Đánh giá tính bền vững các LUT 62

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT

NÔNG NGHIỆP KHU VỰC NGHIÊN CỨU ĐẾN 2020 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ SINH THÁI 70

3.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thanh Oai

3.3 Đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu theo

hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái đến 2020 753.4 Đề xuất các giải pháp để phát triển nông nghiệp đô thị theo hướng nông

nghiệp đô thị sinh thái 85

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH

Bảng 2 1:Giá trị, cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm (theo giá hiện hành) 28

Bảng 2 2:Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm 29

Bảng 2 3: Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp 30

Bảng 2 4: Thống kê diện tích một số cây trồng chính 31

Bảng 2 5: Tình hình phát triển ngành công nghiệp - xây dựng 32

Bảng 2 6: Hiện trạng diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Thanh Oai 35

Bảng 2 7: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 huyện Thanh Oai- Tp Hà Nội 43

Bảng 2 8: Biến động diện tích đất nông nghiệp 2005-2013 44

Bảng 2 9: Tổng hợp các loại hình sử dụng đất, kiểu sử dụng đất phổ biến 46

Bảng 2 10: Năng suất một số cây trồng, vật nuôi chính năm 2010 50

Bảng 2 11: Hiệu quả kinh tế một số cây trồng, vật nuôi chính các huyện Thanh Oai, Hà Nội 50 Bảng 2 12: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính huyện Thanh Oai, Hà Nội 52 Bảng 2 13: Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất chính huyện Thanh Oai, Hà Nội 53

Bảng 2 14: Tổng hợp mức độ bón phân của một số cây trồng chính 57

Bảng 2 15: Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho một số cây trồng 58

Bảng 2 16: Tiêu chí kinh tế - xã hội - môi trường 60

Bảng 2 17: Xác định các chỉ tiêu phân cấp và thang điểm đánh giá sử dụng đất bền vững 63

Bảng 2 18: Kết quả đánh giá tính bền vững về kinh tế và thang điểm đối với các LUT 66

Bảng 2 19: Kết quả đánh giá bền vững về xã hội và thang điểm đối với các LUT 67

Bảng 2 20: Kết quả đánh giá bền vững về môi trường và thang điểmđối với các LUT 68

Bảng 2 21: Tổng hợp kết quả thang điểm đánh giá tính bền vững về 68

Biểu đồ 2 1: Tình hình phát triển KT – XH huyện Thanh Oai 29

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân

cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng,… là nguồn vốn, nguồn nội lực trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Nhưng đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, việc sử dụng nguồn tài nguyên này vào việc phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước một cách khoa học và đạt hiệu quả cao là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa to lớn

Trong những năm gần đây, việc khai thác sử dụng đất đai tại nhiều địa phương

ở nước ta ngày càng có hiệu quả Tuy nhiên tại nhiều khu vực, nhất là các khu vực ngoại thành đang trong quá trình đô thị hóa khá nhanh, thực trạng sử dụng đất đang đặt

ra nhiều vấn đề cần giải quyết Do yêu cầu của quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, một diện tích lớn đất nông nghiệp đã và đang chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Mặt khác, với vai trò là khu vực ngoại thành, diện tích đất nông nghiệp cần được quy hoạch sử dụng có hiệu quả cao nhằm cung cấp lương thực, rau quả cho nội thành và cải thiện môi trường sinh thái đô thị

Thanh Oai là một huyện ven đô thuộc khu vực ngoại thành phía Tây Nam Hà Nội có quỹ đất nông nghiệp khá lớn với 8.571,93 ha (Năm 2010, toàn huyện có 8.571,93 ha đất nông nghiệp, bình quân 473,17 m2/người) Trước đây, người dân trong huyện chủ yếu sinh sống bằng việc sản xuất nông nghiệp Năm 2010, giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện là 508,5 tỷ đồng, đạt 59,3 triệu đồng/ha/năm Nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp như đầu tư giống mới, xây dựng các

mô hình trình diễn, hỗ trợ vốn vay chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nên giá trị sản xuất nông nghiệp của khu vực năm 2013 tăng lên 571 tỷ đồng, đạt 67,9 triệu đồng/ha/năm, tăng 8,6 triệu đồng/ha so với năm 2010

Theo quy hoạch phát triển không gian của thành phố đến 2030 khu vực huyện Thanh Oai của Hà Nội sẽ phát triển theo hướng đô thị sinh thái, trong đó đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả cao gắn với bảo vệ môi trường Vì vậy cần có những nghiên cứu cụ thể về thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đưa ra định hướng, giải pháp cho sử dụng bền vững đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu

Trang 5

2

Xuất phát từ những vấn đề trên, học viên chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả sử

dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Làm rõ thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính tại huyện Thanh Oai,

Hà Nội

- Đề xuất một số định hướng, giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái tại khu vực nghiên cứu đến 2020

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Tìm hiểu, nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận sử dụng bền vững đất nông nghiệp khu vực đô thị, lý luận về nông nghiệp đô thị sinh thái

- Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu, bản đồ có liên quan đến địa bàn nghiên cứu

- Phân tích hiện trạng sử dụng đất của huyện Thanh Oai, Hà Nội năm 2013 và biến động sử dụng đất nông nghiệp của huyện giai đoạn 2005 – 2013

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính) khu vực nghiên cứu

- Điều tra khảo sát các mô hình sử dụng đất theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái trên địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất định hướng, giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội đến 2020 theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin:

Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; các số liệu thống kê về diện tích đất nông nghiệp để phục vụ cho việc đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu

2 Phương pháp điều tra xã hội học:

Điều tra phỏng vấn nông hộ về hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính trên địa bàn nghiên cứu thông qua các phiếu điều tra

3 Phương pháp thống kê, so sánh:

Để phân tích đưa ra kết luận, đề tài có tiến hành thống kê, so sánh số liệu qua

Trang 6

5 Phương pháp chuyên gia:

Tham khảo, lấy ý kiến của cơ quan chuyên môn, cán bộ địa phương về định hướng sử dụng đất nông nghiệp

5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

- Phần I: Mở đầu: nêu lên tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

- Phần II: Nội dung nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện

Thanh Oai, thành phố Hà Nội

Chương 3: Đề xuất định hướng, giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp

khu vực nghiên cứu theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái

Kết luận

Cuối cùng là tài liệu tham khảo, phần phụ lục

Trang 7

4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị hóa

1.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp, nông nghiệp đô thị sinh thái

Khái niệm về Đất:

Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thời gian Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng diện tích (ha, km2)

và độ phì nhiêu, màu mỡ

Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biết đổi của đất do các hoạt động của con người

Về mặt đời sống – xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng [Luật đất đai 1993] Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí

cố định trong không gian

Khái niệm về đất nông nghiệp

Theo Luật Đất Đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013, đất đai của Việt Nam chia ra làm ba nhóm đất là nhóm đất Nông nghiệp, nhóm đất Phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Trong đó, nhóm đất Nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:

+ Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác + Đất trồng cây lâu năm

+ Đất rừng sản xuất

+ Đất rừng phòng hộ

+ Đất rừng đặc dụng

+ Đất nuôi trồng thủy sản

Trang 8

5

+ Đất làm muối

+ Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh

Theo đó, Đất Nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo

vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác

Khái niệm nông nghiệp đô thị sinh thái

Theo (Lê Quý Đôn 2005) sản xuất nông nghiệp vốn đã mang trong nó bản chất sinh thái, sản xuất nông nghiệp muốn phát triển có hiệu quả và ổn định đương nhiên phải phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn, môi trường và quần thể sinh vật tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp Chính sự phù hợp đó làm cho cây trồng vật nuôi phát huy mọi ưu thế và tác động lẫn nhau để tồn tại và phát triển, đó là một nền nông nghiệp sinh thái Nhiều học giả cho rằng nông nghiệp sinh thái cũng chính là nông nghiệp bền vững, một nền nông nghiệp sinh thái hay bền vững đều mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Nhưng ngược lại, một nền sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, chưa chắc đã là một nền nông nghiệp sinh thái và bền vững nếu như nó không có tác động đến bảo vệ môi trường sinh thái

“ Nông nghiệp đô thị: nông nghiệp đô thị là một ngành công nghiệp mà sản xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm và chất đốt thực hiện trên các vùng đất và mặt nước xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô” (UNDP) Nông nghiệp đô thị nói một cách đơn giản bao gồm toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp từ sản xuất nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nằm xen kẽ trong đô thị và các vùng ven đô Khái niệm này có thể gói gọn trong phạm vi lãnh thổ và phi lãnh thổ của một đô thị

Sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) diễn ra trong các quận gọi là nông nghiệp nội đô, diễn ra ở ngoại thành thì gọi là nông nghiệp ngoại đô Điều này dẫn đến đặc điểm sự khác biệt giữa nông nghiệp nội

đô, nông nghiệp giáp ranh, nông nghiệp ngoại đô hay ngoại thành

Trang 9

6

Nông nghiêp đô thị sẽ được phân chia theo các vành đại khác nhau do tính chất

và đặc thù của nó Có thể phân chia theo khu vực dưới đây:

+ Nông nghiệp nội đô

+ Nông nghiệp vùng vành đai nhạy cảm

+ Nông nghiệp ngoại đô (ngoại thành)

Do đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội và môi trường của mỗi vùng khác nhau, cho nên sản xuất nông nghiệp ở mỗi vùng cũng khác nhau, chính điều đó hình thành tính đa dạng của nông nghiệp đô thị Kế thừa các công trình nghiên cứu của học giả Lê Quý Đôn nêu ra khái niệm nông nghiệp đô thị sinh thái như sau: “ Nông nghiệp đô thị sinh thái là một quá trình sản xuất được bố trí phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng

đô thị nhằm khai thác triệt để các tiềm năng với công nghệ sản xuất sạch tạo ra sản phẩm chất lượng cao, an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng môi trường, cảnh quan tạo ra hệ sinh thái bền vững”

Khái niệm nêu ra các nội dung chủ yếu:

+ Sản xuất nông nghiệp được bố trí và sản xuất phù hợp với điều kiện của mỗi vùng, tạo ra sự tác động hữu cơ, đảm bảo cân bằng sinh thái, đạt hiệu quả sản xuất cao

+ Quá trình sản xuất nông nghiệp trên diễn ra ở vùng xen kẽ, hay tập trung các vùng đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô

+ Sản xuất nông nghiệp trên tạo ra mối quan hệ hữu cơ trong ngành và đảm bảo

sự cân bằng sinh thái, tính hiệu quả và bền vững Đồng thời tác động tich cực đến cải tạo môi trường sinh thái của vùng đô thị

+ Sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm chất lượng cao, đảm bảo an toàn thực phẩm, giữ gìn sức khỏe và nhu cầu cho người tiêu dùng

1.1.2 Đặc điểm nông nghiệp khu vực đô thị hóa

Đất nông nghiệp khu vực đô thị hóa ngày càng giảm thay vào đó là khu vực đất phi nông nghiệp, đất dịch vụ tăng với tốc độ lớn Quá trình đô thị hóa hiện nay gắn liền với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phản ánh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ, thu hẹp nông nghiệp Sự hình thành trên địa bàn ven đô thị những khu công nghiệp, khu chế xuất, các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới, khu tái định cư,…đã nâng cao giá trị sử dụng đất đai, làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới, tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao giá trị lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất,

Trang 10

7

chất lượng, hiệu quả Thực tiễn cho thấy, nhiều khu công nghiệp, dịch vụ được xây dựng trên địa bàn ven đô, nhưng chỉ có một số ít các doanh nghiệp phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp Phần lớn nông sản được sản xuất ra ở khu vực ven đô có giá trị tăng gia thấp, lợi ích từ các sản phẩm nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Một vấn đề đang diễn ra, đó là diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở vùng ven đô ngày càng giảm

để dành quỹ đất xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới

Nông nghiệp khu vực đô thị hóa góp phần giảm chi phí đóng gói, lưu trữ và vận chuyển sản phẩm để cung ứng cho khu vực đô thị hóa và khu vực nội thành Sản xuất nông nghiệp đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu về lương thực, rau quả và các loại sản phẩm nông nghiệp khác một cách trực tiếp cho dân cư tại khu vực đô thị hóa thay

vì phải vận chuyển từ nơi khác đến Các chi phí đóng gói, lưu trữ và vận chuyển nông sản phẩm nhờ đó giảm chi phí đáng kể, tạo điều kiện tiết kiệm trong tiêu dùng ở khu vực đô thị hóa

Sản phẩm nông nghiệp khu vực đô thị hóa khi cung cấp cho khu vực nội đô sẽ chênh lệch khá nhiều so với bán ngay tại khu vực trồng vì sẽ chịu nhiều loại phí tăng thêm như phí vận chuyển, công sức lao động, và tiền lãi tăng thêm do bán trong khu vực đô thị Ngược lại, khi bán tại khu vực nuôi trồng, giá cả sẽ được giảm đi đáng kể

do sản phẩm không gánh nhiều loại chi phí tăng thêm Nhờ vậy, người nghèo có nhiều

cơ hội để có thể sử dụng các sản phẩm nông nghiệp khu vực đô thị hóa

Nông nghiệp khu vực đô thị hóa có khả năng cung ứng các sản phẩm tươi sống cho khu vực ven đô và đô thị Khoảng cách từ khu vực nội đô với khu vực đô thị hóa không lớn nên người dân đô thị có khả năng tiếp cận với nguồn thực phẩm tươi sống,

an toàn, góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư đô thị Trong quá trình đó, do việc phải vận chuyển mà không đóng gói làm cho sản phẩm dễ bị ảnh hưởng, hư hỏng Người tiêu thụ sản phẩm nên xem xét kỹ trước khi sử dụng sản phẩm

Trồng trọt và chăn nuôi trong khu vực đô thị hóa ảnh hưởng lớn tới môi trường

và sức khỏe của con người do các quá trình thực hiện không đúng quy trình, kỹ thuật

và không đảm bảo an toàn về các tiêu chuẩn nuôi trồng Quá trình tích trữ thuốc bảo vệ thực vật tăng dần qua mỗi năm trên cùng đơn vị diện tích làm nồng độ chất hóa học gây ảnh hưởng tới môi trường, nguy hại tới sức khỏe con người Trong chăn nuôi, phân

và nước thải của gia súc, gia cầm, thủy sản gây ô nhiễm không khí và môi trường sống dân cư khu vực đô thị hóa

Trang 11

8

Mặt khác, trồng trọt trong nông nghiệp lại có vai trò rất lớn trong việc điều hòa không khí, cải tạo môi trường, làm giảm khả năng hấp thụ ô nhiễm của môi trường Trồng trọt tạo ra một thảm thực vật có độ che phủ tốt ngăn chặn các quá trình ảnh hưởng tới tài nguyên đất do điều kiện tự nhiên gây ra Việc trồng trọt đảm bảo cân bằng sinh thái cho khu vực đô thị hóa, làm giảm nhẹ ảnh hưởng của các chất thải, khí độc gây nên ô nhiễm, làm trong sạch môi trường

Nông nghiệp khu vực ven đô, đô thị hóa dễ tiếp cận với các dịch vụ đô thị: trong điều kiện quỹ đất đô thị và vùng ven bị hạn chế, việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp để tăng sản lượng cây trồng mang tính tất yếu và cấp bách Trong khi một bộ phận khá lớn nông dân khu vực nông thôn chưa có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ khoa học và công nghệ, còn tổ chức sản xuất nông nghiệp theo lối quang canh, truyển thống thì nông nghiệp đô thị còn rất nhiều thuận lợi trong việc vận dụng những dịch vụ khoa học, công nghệ vào sản xuất Bên cạnh đó, nông nghiệp khu vực đô thị hóa còn khả năng phát triển theo các mô hình chuyên biệt để cung ứng nhiều dịch vụ

đô thị như cung cấp cây xanh, hoa tươi và thực phẩm cho khách sạn, cung ứng dịch vụ

du lịch, dịch vụ an dưỡng…

Một thực trạng xảy ra ở nhiều khu vực đô thị hóa đó là người sử dụng đất nông nghiệp chỉ để giữ đất, chiếm đất đón đầu dự án, quy hoạch Những người sử dụng đất kiểu này thường là những hộ có khả năng về kinh tế, họ không muốn sản xuất nông nghiệp do thu nhập từ nông nghiệp không cao, đôi khi phải bù lỗ cho những thửa đất nuôi trồng nông nghiệp Những thửa đất nông nghiệp này chỉ được đầu tư vừa phải, do chủ sử dụng thửa đất không quan tâm nhiều tới sản phẩm từ những thửa đất này Họ chờ khi có dự án đầu tư, hoặc quy hoạch khu vực để bán lại với giá cao hơn gấp nhiều lần so với việc thu lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp

1.1.3 Nông nghiệp đô thị sinh thái và nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái

a Những đặc điểm của nông nghiệp đô thị sinh thái

Sản phẩm của nông nghiệp sinh thái là sản phẩm sạch trong đó sản phẩm phi

ăn uống (cảnh quan, môi trường) rất được coi trọng: nông nghiệp thuần túy thường coi

trọng sản phẩm ăn uống như lương thực, thực phẩm, nhưng nông nghiệp sinh thái với mục tiêu duy trì sự phát triển bền vững của hệ thống lại nhấn mạnh cả cảnh quan môi trường tươi đẹp và không khí trong lành Tất cả các sản phẩm này phải đảm bảo sạch,

Trang 12

9

trong đó các sản phẩm ăn uống phải an toàn, không bị nhiễm độc tố, phải có đầy đủ hàm lượng các chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất cần thiết cho sự phát triển thể lực của ocn người Sản phẩm phi ăn uống bao gồm môi trường tự nhiên hài hòa, trong sạch, những khu vui chơi giải trí trong lành, tươi đẹp để đáp ứng nhu cầu tinh thần cho con người (Đào Thế Tuấn 2003) Khu vực vành đai xanh quanh thành phố hay đô thi sinh thái có nhiều khu vườn sinh thái, hồ câu sinh thái… nên có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi của dân cư đô thị sau một tuần làm việc mệt mỏi Đồng thời, khu vực này tạo ra hệ thống hồ và cây xanh nhằm điều hòa khí hậu và bảo vệ các nguồn lực sản xuất

Công nghệ sản xuất của nông nghiệp sinh thái là sự thống nhất giữa kinh nghiệm truyền thống với công nghệ hiện đại: để bảo vệ môi trường trong khi vẫn đảm

bảo an ninh lương thực, nông nghiệp sinh thái có xu hướng giảm sử dụng các yếu tố hóa học, tăng cường áp dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, công nghệ sinh học kết hợp với kinh nghiệm truyền thống, tái tạo nguồn lực Công nghệ sinh học (sự lai ghép, nuôi cấy mô tế bào, công nghệ gen) ngày nay được coi là động lực của sự phát triển Các giống mới sẽ cho phép cây trồng, vật nuôi tự chống chịu sâu bệnh, từ đó loại trừ việc sử dụng các hóa chất Công nghệ sử dụng phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh), phân vi sinh, các loại cây họ đậu hay kỹ thuật trồng cây che phủ đất, chống xói mòn vẫn đang là những phương pháp thích hợp trên thế giới (chiếm 5 – 10% diện tích đất canh tác của châu Âu) (Đào Thế Tuấn 2003) Như vậy, nông nghiệp đô thị sinh thái sử dụng những hạn chế về quỹ đất eo hẹp để phát triển chăn nuôi và trồng trọt theo hướng

tự nhiên, giảm tối thiểu sự tác động từ con người về sử dụng các loại hóa chất giúp tăng trưởng nhanh Áp dụng các công nghệ sinh học, nhằm thay tăng cường khả năng thích nghi của cây trồng, vật nuôi…với điều kiện khu vực và phát triển tốt trong những hoàn cảnh đó

Mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái và các mô hình nông nghiệp kết hợp:

mô hình sinh thái nông nghiệp kết hợp nhằm tạo lập đa dạng sinh học bằng cách bố trí các hệ thống cây trồng, vật nuôi xen kẽ hoặc sử dụng các phương thức sản xuất đa canh, luân canh và trồng xen có thể bổ sung cho nhau trong việc cung cấp dinh dưỡng, bảo vệ đất, điều hòa khí hậu tạo cảnh quan môi trường Bằng phương pháp thực nghiệm, so sánh các công thức trồng trọt khác nhau để chọn các công thức kết hợp cây trồng trên một mảnh đất thích hợp với từng vùng sinh thái, các mô hình này cho kết

Trang 13

Như vậy, nông nghiệp đô thị sinh thái có đặc điểm chủ yếu là sản xuất ra những sản phẩm sạch, sản phẩm chất lượng cao tới người tiêu dùng dựa trên những điều kiện

tự nhiên sẵn có của khu vực, dựa vào những yếu tố đó để đưa ra những mô hình nông nghiệp phù hợp nhất Ngoài ra, việc áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng để có thể phát triển được nền nông nghiệp đô thị sinh thái vốn cần rất nhiều lao động thủ công như hiện nay

b Nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái

- Nhu cầu nông nghiệp đô thị sinh thái góp phần cung ứng nguồn lương thực, thực phẩm sạch, sản phẩm chất lượng cao cho các đô thị

Quy mô dân số đô thị không ngừng gia tăng trong quá trình đô thị hóa Chính vì điều đó cũng đồng thời đẩy các hộ dân nghèo ở ven đô thị, ngoại đô vào tình thế mất tư liệu sản xuất Trong điều kiện này, khái niệm nghèo đói không chỉ dành riêng cho các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa mà có mặt ngay tại các vùng ven đô thị, đây là vấn đề chung, khách quan trong tiến trình đô thị hóa Để đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị về lương thực, thực phẩm thì phát triển đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái là một giải pháp có chiều sâu khắc phục được nhiều hạn chế về khu vực đô thị hóa như hiện nay Nếu nông nghiệp đô thị sinh thái

Trang 14

có trình độ, không đủ sức khỏe và những người chưa tìm kiếm được công việc phù hợp Qua đó giải quyết được bài toán việc làm và thu nhập cho lao động trong quá trình

đô thị hóa, hiện đại hóa đất nước

- Nông nghiệp đô thị sinh thái góp phần quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên, giảm ô nhiễm môi trường (Trần Trọng Phương 2012)

Nông nghiệp đô thị có thể tái sử dụng chất thải đô thị để làm phân bón, nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng việc làm giảm ô nhiễm môi trường Chất thải đô thị đang thực sự tạo thành áp lực ngày càng tăn cùng với sự gia tăng dân số ở đô thị Bằng công nghệ xử lý thích hợp, có thể tận dụng một phần nguồn chất thải đô thị phục cụ sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất sạch, an toàn và hiệu quả Điều này thuật sự có ý nghĩa trong việc cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống Mặt khác, nông nghiệp là ngành sản xuất yêu cầu một lượng nước rất lớn, tuy nhiên với nông nghiệp đô thị bằng cách tái sử dụng nguồn nước thải nó có thể cải thiện công tác quản lý tài nguyên nước hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho các đô thị

Một trong những nghiệm vụ quan trọng của nông nghiệp đô thị sinh thái là tái tạo chất dinh dưỡng cho đất thông qua tái sử dụng các chất thải hữu cơ từ các hoạt động của đô thị Điều này vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường cho các đô thị vừa

Trang 15

12

giảm các hóa chất khi đưa phân bón hóa học vào đất dễ gây ô nhiễm thêm lại vừa giảm được chi phí mua phân bón Sản phẩm nông nghiệp đô thị sinh thái không phải đóng gói vận chuyển và bảo quản lạnh khi cung cấp cho thị trường nên giá thành giảm đến mức tối đa Chất lượng sản phẩm được đảm bảo an toàn không làm ảnh hưởng đến tâm

lý lo ngại của người sử dụng (Trần Trọng Phương 2012)

- Nông nghiệp sinh thái đô thị góp phần tạo cảnh quan đô thị và cải thiện sức khỏe cộng đồng

Phát triển “đô thị sinh thái” hay “đô thị xanh” là những cụm từ đang trở nên phổ biến tại các diễn đàn về phát triển đô thị hiện nay Mục tiêu hướng tới là quy hoạch và xây dựng các đô thị có môi trường và cảnh quan thân thiện với thiên nhiên, đảm bảo các tiêu chuẩn tốt cho sức khỏe cộng đồng Đối với mục tiêu này trong tiến trình đô thị hóa và phát triển của các đô thị, phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái thực sự là một giải pháp hiệu quả nhất Ngoài các ý nghĩa như trên, nông nghiệp đô thị sinh thái sẽ tạo

ra hệ thống cảnh quan, các vành đai xanh rất ý nghĩa cho các đô thị Sản xuất nông nghiệp đô thị sinh thái một mặt vừa đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng, mặt khác nó cũng chính là một hình thức lao động, giải trí góp phần nâng cao thể lực, trí lực cho cư dân đô thị (Trần Trọng Phương 2012)

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về sử dụng đất theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái

1.2.1 Sử dụng bền vững đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái nói chung

Là một hệ sinh thái, một phần do con người tạo ra nhằm mục đích phục vục con người, hệ sinh thái nông nghiệp chịu những tác động mạnh mẽ nhất từ chính con người Các tác động của con người, nhiều khi, đã làm cho hệ sinh thái biến đổi vượt quá khả năng tự điều chỉnh của đất Con người đã không chỉ tác động vào đất đai mà còn tác động cả vào khí quyển, nguồn nước để tạo ra một lượng lương thực, thực phẩm ngày càng nhiều trong khi các hoạt động cải tạo đất chưa được quan tâm đúng mức và hậu quả là đất đai cũng như nhân tố tự nhiên khác bị thay đổi theo chiều hướng ngày một xấu đi Ngày nay, nhiều vùng đất đai màu mỡ đã bị thoái hóa nghiêm trọng, kéo theo sự xói mòn đất và suy giảm nguồn nước đi kèm với hạn hán, lũ lụt, …Vì vậy, để đảm bảo cho cuộc sống của con người trong hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để không những duy trì những khả năng hiện có của đất mà

Trang 16

13

còn khôi phục những khả năng đã mất Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” ra đời trên

cơ sở của những mong muốn trên (Bùi Nữ Hoàng Anh 2013)

Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn của con người trong mọi thời đại Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc

tế đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất một cách bền vững trên nhiều vùng của thế giới, trong đó có Việt Nam Việc sử dụng đất bền vững nhằm đạt được các mục tiêu sau:

+ Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);

+ Giảm rủi ro sản xuất (an toàn);

+ Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hóa đất và nước (bảo vệ);

+ Có hiệu quả lâu dài (lâu bền);

+ Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận)

Như vậy, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần túy về mặt tự nhiên mà còn cả

về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm mục tiêu mang tính nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững Trong thực tiễn, việc sử dụng đất đạt được cả năm mục tiêu trên thì sự bền vững sẽ thành công, nếu không sẽ chỉ đạt được sự bền vững ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc trên và được thể hiện trong ba yêu cầu sau:

- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ Một hệ thống sử dụng đất bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường

Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng

Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng

Trang 17

14

- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài Sản phẩm thu được cần thỏa mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân

Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyển hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hóa dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ

- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép

+ Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững + Độ che phủ tối thiểu phạt đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)

+ Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài

Ba yêu cầu bền vững trên là tiêu chuẩn để xem xét là đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái (Bùi Nữ Hoàng Anh 2013)

1.2.2 Sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị theo hướng phát triển nông nghiệp

đô thị sinh thái – kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và thực tiễn ở nước ta

1.2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

a Thái Lan

Thái Lan là nước phát triển mạnh mẽ về nông nghiệp, cách đây 40 năm Thái Lan có xuất phát điểm tương đối thấp, chỉ gần bằng hoặc thấp hơn miền Nam Việt Nam Những năm quá, kinh tế nông nghiệp Thái Lan phát triển mạnh Tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp tăng bình quân hàng năm là 3,1%/ năm (Đào Thế Tuấn 2003)

Sự phát triển bùng nổ của kinh tế Thái Lan trong các thập kỷ 70 và 80 được thể hiện rõ nét qua quá trình đô thị hóa và phát triển nông nghiệp ven đô thị ở Bangkok Quá trình đô thị hóa đã làm dân số Bangkok tăng lên 41% (Đào Thế Tuấn 2003) Các hoạt động công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh và tập trung ở vùng bangkok và ngoại vi của nó Các hoạt động nông nghiệp bị đẩy ra các vùng xa bên ngòai và hình

Trang 18

15

thành nên những vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hóa với các sản phẩm chính là lúa gạo để phục vụ cho chiến lược hướng vào xuất khẩu, và các sản phẩm rau quả đa dạng phục vụ nhu cầu têu dùng cho dân cư đô thị

Giống như các đô thị khác trên thế giới, đô thị hóa ở Bangkok làm tăng nhu cầu

về lương thực, thực phẩm, dặc biệt là nhu cầu về các loại rau xanh và thực phẩm cao cấp, an toàn cũng như nhu cầu về nghỉ ngơi, giải trí cuối tuần ở các ngoại ô Giá đất ngoại ô Bangkok tăng và hiện tượng đầu cơ ruộng đất phát triển Đô thị hóa nhanh cũng kéo theo sự ô nhiễm nặng nề về môi trường càng đòi hỏi nông nghiệp Bangkok phải làm tốt vai trò của mình để đáp úng nhu cầu cho dân cư đô thị và điều tiết môi trường Để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình đô thị hóa, sau một thế kỉ tập trung vào thâm canh lúa (1880 – 1980), nông nghiệp ven đô Bangkok chuyển sang đa dạng hóa sản phẩm từ sau 1980 (Đào Thế Tuấn 2003)

Bên cạnh phát triển rau quả ở ngoại thành, Thái Lan còn rất nổi tiếng trong phát triển các mô hình nông nghiệp kết hợp nhằm đa dạng hóa sản phẩm và cải tạo đất đai, nguồn lực Một trong các mô hình nông nghiệp kết hợp được phát triển ở tỉnh Sisaket ở phía Đông Bắc Thái Lan là mô hình lúa – cá (Martin L Van Brakel and Emesto J Mrales 2001), được xây dựng theo kiểu đa dạng như các ao nuôi cá nhỏ định vị bên trong hoặc bên cạnh các cánh đồng lúa, các lồng nuôi cá được đặt trong các ao lớn hoặc kết hợp thả cá vào các vùng trồng lúa nước được cung cấp đủ nước vào mùa khô

Mô hình kết hợp giữa trồng trọt (lúa – rau – quả) và chăn nuôi (lợn – gia cầm) bắt đầu phát triển ở ngoại ô Bangkok từ khi chính phủ giới thiệu các tiến bộ kỹ thuật về giống và công nghệ chăn nuôi Các mô hình chăn nuôi thâm canh cao được các nông dân ở ngoại thành phát triển trên cơ sở đầu tư mạnh mẽ về vốn và kỹ thuật đã đem lại lợi nhuận khá lớn cho nông dân Tuy nhiên, các trang trại chăn nuôi ngoại ô cũng gây

ra nhiều vấn đề môi trường như ô nhiễm nguồn nước, bệnh dịch Những chi phí môi trường đã không được tính đến trong hợp đồng giữa các hộ chăn nuôi và các công ty thu mua nên tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra Trước thực tế này, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện một chương trình có tên gọi: “Quản lý các trang trại chăn nuôi”, trong

đó trập trung vào giải quyết các vấn đề về môi trường như xử lý chất thải để sản xuất biogas và phân bón Trong chương trình này, Chính phủ rất quan tâm đến trợ giúp tài chính, kỹ thuật cũng như sự hỗ trợ về thể chế nhằm đảm bảo mức thu nhập tối thiểu cho những hộ nông dân tham gia chương trình này

Trang 19

16

Như vậy sản xuất nông nghiệp Thái Lan nói chung và thủ đô Bangkok nói riêng

đã đạt được được những thành quả to lớn không chỉ về tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp mà còn về chất lượng sản phẩm và mức độ đáp ứng nhu cầu của người dân cả về vật chất lẫn cảnh quan môi trường Thành công của Thái Lan là đã giải quyết tốt quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu, kết hợp với thúc đẩy, đa dạng hóa sản phẩm, nhằm giải quyết những vấn đề của nông nghiệp ven đô thị Các yếu tố quan trong nhất góp phần đạt được các kết quả trên là sự phát triển của cơ sở hạ tầng, sự tiếp cận dễ dàng về tín dụng đối với các hộ nông dân, chính sách khuyến nông cho phép dễ dàng tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật mới và chính sách phát triển quan hệ cộng đồng giữa các công ty chế biến và nông dân nhằm tạo đầu ra cho nông sản Vai trò của Nhà Nước cũng rất quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chính sánh quy hoạch đất đai, điều tiết giá cả, giải quyết các vấn đề môi trường và

tư vấn tạo khung pháp lý cho phát triển nông nghiệp (Đào Thế Tuấn 2003), (Martin L Van Brakel and Emesto J Mrales 2001)

b Trung Quốc

Trung Quốc là nước có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp mạnh mẽ gắn liền với cải cách kinh tế Trung Quốc thực hiện các chính sách cải cách trong nông nghiệp như chính sách khoán hộ, tách quyển sở hữu ruộng đất với quyển kinh doanh, xóa bỏ chế độ nhà nước độc quyển thu mua nông sản, thực hiện chính sách hai giá, khuyến khích các doanh nghiệp tăng sản lượng bán ra thị trường, cải cách chế độ thuế chia sẻ thu nhập giữa trung ương và địa phương, cải cách pháp lý để tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp Trung Quốc; tỷ lệ ngành trồng trọt giảm từ 80% năm 1968 xuống 55% năm 2001, chăn nuôi tăng từ 15% đến 30%, thủy sản tăng từ 2% đến 11% (Đào Thế Anh 2003)

Trung Quốc thực hiện đô thị hóa mạnh mẽ với những đặc điểm cơ bản là tốc độ cao, quy mô lớn, mật độ dân số cao và những tác động lớn về môi trường Chiến lược

đô thị hóa ở Trung Quốc là chiến lược phi tập trung, với nhiều đô thị nhở nằm xen kẽ trong các vùng nông thôn Quá trình đô thị hóa mang lại triển vọng kinh tế và sự phát triển xã hội, cũng như gây ra nhiều vấn đề ô nhiễm nguồn nước, không khí, tiếng ồn, chất thải và cạn kiệt tài nguyên Vì vậy, từ nằm 1980 đến nay, khoảng hơn 80 thành phố ở Trung Quốc đã thực hiện chương trình xây dựng các thành phố sinh thái (Chen Shuang 2003) Đây là một đơn vị hành chính có hiệu quả về sinh thái và kinh tế, có

Trang 20

17

trách nhiệm về xã hội và văn hóa cũng như hài hòa về cảnh quan môi trường Một phần của chương trình thành phố sinh thái là thực hiện các nội dung chuyển dịch từ truyền thống sang sinh thái như chuyên môn hóa sang đa dạng hóa, từ cây trồng trên mặt đất sang tạo màu xanh trên không gian

Gần đây, tại các đô thị Trung Quốc, xu thế chuyển đất canh tác thành vườn cây lâu năm và ao cá khá phát triển, ao chiếm khoảng 3,5% và vườn chiếm khoảng 4,5% diện tích đất nông nghiệp đô thị Tổng cộng ao, vườn chiếm 11% diện tích đất ở các đô thị cấp I, 1,7% diện tích các đô thị cấp II và 5,4% diện tích trong vùng nông thôn (Đào Thế Tuấn 2004) Về quy mô nông hộ, trong vùng đô thị trung bình một hộ có 0,27 ha, vùng nông thôn là 0,4 ha Trong điều kiện Trung Quốc tham gia WTO thì lợi thế so sánh của Trung Quốc sẽ là các sản phẩm cần nhiều lao động như rau xanh, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động trong nhà lưới Cây ăn quả cũng được phát triển mạnh ở các vùng quanh đô thị, tạo những vành đai xanh cho các thành phố sinh thái

Ngày nay, hệ thống sản xuất kết hợp chủ yếu đang được áp dụng ở nhiều vùng của Trung Quốc là mô hình kết hợp cá – cỏ hoặc cá – cỏ - lợn (Gale F.H 1999) Những

hệ thống kết hợp này phù hợp với điều kiện địa hình thấp nhưng chủ động về tưới tiêu như lưu vực sông Changjang, Pearl và Yangtze Nông dân tận dụng trồng cỏ trên những mảnh đất nhỏ, ven chân đê, ven hệ thống kênh mương và sử dụng nguồn nước sẵn có từ ao, hồ, mương

Mỹ phải giải quyến là đảm bảo cung cấp đủ lương thực để giải quyết nạn đói cho 12,4% dân số vào năm 2020 (Harison J and P Grant 1976)

Trang 21

18

Nông nghiệp sinh thái đô thị ở Mỹ có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề an ninh lương thực và môi trường Chính phủ Mỹ rất quan tâm việc khuyến khích tận dụng các nguồn lực để phát triển nông nghiệp đô thị, như tận dụng diện tích đất trống để phát triển sản xuất rau, quả trong từng hộ gia đình, thậm chí sử dụng đất ở các sân sau trường học, bệnh viện hoặc công viên quốc gia Theo số liệu của Ủy ban Nông nghiệp đô thị Bắc Mỹ năm 2003, dự án “vườn cho người nghèo” ở Santa Cruz, California đã đóng góp 55% sản lượng các sản phẩm nông nghiệp đô thị và quản lý thành công chương trình sản xuất hoa tười bằng phương pháp hữu cơ Chất thải đô thị được tái sinh thành phân bón cho các vườn đô thị, vùng ven đô và thức ăn cho chăn nuôi Các vườn cây ăn quả và hệ thống cây xanh tạo thành vành đai xanh điều hòa khí hậu cho thành phố Các sản phẩm chính được sản xuất ở đô thị và ven đô thị các thành phố bao gồm rau, hoa quả, bơ sữa, trong đó hoa quả chiếm 79%, rau tươi chiếm 68%,

bơ sữa chiếm 52% so với tổng sản lượng trên toàn quốc (Harison J and P Grant 1976)

Một nghiên cứu điển hành ở Bắc mỹ về mô hình phát triển nông nghiệp đô thị

đã gắn kết lợi nhuận sản xuất nông nghiệp với chiến lược sử dụng ruộng đất, phân vùng nông nghiệp và bảo vệ môi trường là mô hình vành đai xanh – Greebelt của Boal (Đào Thế Tuấn 2003) Theo Boal, có thể hình thành ba vành đai khác nhau đối với nông nghiệp đô thị Vành đai thứ nhất tại trung tâm thành phố, đất đai đã được quy hoạch ổn định, nông nghiệp đạt được mức lợi nhuận ởn định do có nhiều lợi thế về thị trường Vành đai thứ hai cận kề ngoại ô, quy hoạch đất đai chưa ổn định, lợi nhuận sản xuất nông nghiệp thấp do nông dân không muốn đầu tư mà trong chờ sự tăng giá đất do chuyển đổi mục đích sử dụng Vành đai thứ ba ở ngoại cùng xa thành phố, nông nghiệp đạt lợi nhuận rất cao trên đơn vị diện tích, và tác giả của nó cho rằng, công tác quy hoạch và phân vùng nông nghiệp để sử dụng hợp lý tài nguyên là rất quan trọng cho nông nghiệp đô thị và ven đô thị trong quá trình đô thị hóa để kết hợp giải quyết vấn đề

an ninh lương thực và bảo vệ môi trường

Một số khó khăn xuất hiện trong quá trình phát triển nông nghiệp sinh thái ở Mỹ bao gồm vấn đề sở hữu ruộng đất, thiếu vốn để phát triển sản xuất, khó khăn tiếp cận thị trường do sự độc quyển phân phối của các nhà bán buôn, thiếu kiến thức và kỹ năng sản xuất, chế biến, dự trự và marketing, môi trường sản xuất bị ô nhiễm gây mất an toàn thực phẩm

Trang 22

19

Để giải quyết những khó khăn trên, Ủy ban Nông nghiệp đô thị Bắc mỹ đã khuyến nghị một số chính sách bao gồm giải quyết một số vấn đề quyền sử dụng dất, đảm bảo những cam kết lâu dài cho nông dân yên tâm sản xuất, hỗ trợ phát triển cơ sở

hạ tầng cho quá trình sản xuất, chế biến và marketing, quy hoạch lại đất đai, ưu tiên cho phát triển cây ăn quả và cây xanh, triển khai những chương trình đào tạo kỹ thuật sản xuất cho nông dân, đào tạo nhận thức về môi trường và an ninh lương thực ngay từ trong trường phổ thông Đặc biệt khuyến nghị nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học và giáo dục nhận thức về nông nghiệp đô thị, coi nó như một bộ phận quan trọng của kế hoạch phát triển đô vùng đô thị

1.2.2.2 Những kinh nghiệm rút ra từ quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái của một số nước (Lê Quý Đôn 2005)

- Hầu hết thủ đô và thành phố lớn của các nước nông nghiệp cũng như các nước đang phát triển đều hình thành các vùng vành đai phát triển nông nghiệp nằm xen kẽ hoặc tạo thành vành đai bao quanh vùng đô thị, các vùng này phần lớn bị chia cắt, quy

mô nhỏ, sản xuất ra các sản phẩm tự nuôi mình và cung cấp cho thị trường đô thị Hình thành vành đại nông nghiệp, vành đai môi trường sinh thái cho đô thị vùng

- Vùng nông nghiệp nội đô, hay ngoại vi đều bị ảnh hưởng ô nhiễm môi trường: nước, đất, không khí và rác thải từ vùng đô thị Điều này gây không ít khó khăn cho vùng nông nghiệp Áp lực rất lớn đặt ra cho vùng nông nghiệp đô thị là vừa phải tiến hành sản xuất, vừa phải tạo ra hệ sinh thái và môi trường cảnh quan cho đô thị

- Các nước công nghiệp đều đầu tư rất lớn cho sản xuất nông nghiệp và đặc biệt quan tâm đầu tư cho nông nghiệp ngoại thành nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn, khăc phục hậu quả về môi trường vũng chính là làm cho các đô thị phát triển bền vững hơn

- Định hướng cho vùng nông nghiệp ở đô thị cũng có ý tưởng rõ ràng

Đối với vùng đô thị: Diện tích đất nông nghiệp vẫn dùng trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản, nhưng không chỉ để lấy sản phẩm tiêu dùng mà còn

để tạo cảnh quan, môi trường sinh thái cho đô thị

Đối với vùng ngoại ô sát đô thị: tiến hành sản xuất nông nghiệp sạch, dựa vào tự nhiên, tạo ra sản phẩm chất lượng cao nhưng không yêu cầu phải có năng suất cao vì Nhà nước sẽ trợ giá để tồn tại Mục đích của việc này là nhằm tạo ra một vùng đệm về cảnh quan sinh thái cho khu đô thị

Trang 23

1.2.2.3 Thực tiễn tại Việt Nam

Ở nước ta, năm 2007, tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP của TP Hồ Chí Minh

là 0,9%, Hà Nội (cũ) 2,0%, Đà Nẵng 5,6%, Hải Phòng 11,0%, TP Cà Mau 11%, TP Lạng Sơn 5,2%, TP Quy Nhơn 8,3%, TP Thanh Hoá 4,5%, Hiện tượng tỷ trọng thấp ngành nông nghiệp ở Việt Nam cũng phù hợp với qui luật chung của thế giới: quá trình

đô thị hóa càng phát triển thì tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP càng thấp và giảm xuống

Tuy vậy, nông nghiệp vẫn là một nguồn thu nhập quan trọng cho một bộ phận

hộ gia đình, nhất là những hộ gia đình ở vùng ven đô và các gia đình nghèo có điều kiện tiếp cận với các nguồn lực để phát triển nông nghiệp tại các đô thị Theo tính toán, nông nghiệp đô thị đã đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của một số đô thị như sau: nhu cầu lương thực: Hà Nội 33%, Hải Phòng 85%, Đà Nẵng 23%, TP Hồ Chí Minh 10% và Cần Thơ 100%; nhu cầu rau, củ, quả thực phầm: Hà Nội 55%, Hải Phòng 65%, Đà Nẵng 30%, TP Hồ Chí Minh 18% và Cần Thơ 70%; nhu cầu thịt gia súc, gia cầm: Hà Nội 25%, Hải Phòng 60%, Đà Nẵng 20%, TP Hồ Chí Minh 10% và Cần Thơ 70%; nhu cầu cá, tôm: Hà Nội tự túc được 22%, Hải Phòng 70%, Đà Nẵng 100%, TP Hồ Chí Minh 45 % và Cần Thơ 80% (bao gồm cả sản lưọng cá, tôm nước lợ, nước ngọt, nước mặn nuôi trồng và đánh bắt được trên địa bàn)

Nông nghiệp ở một số đô thị cũng đã tạo ra một số nông sản có giá trị xuất khẩu: nghề nuôi tôm, cá sấu, cây cảnh, cá cảnh ở TP Hồ Chí Minh, nghề trồng hoa ở

TP Đà Lạt; nghề trồng chè ở TP Thái Nguyên, TX Tuyên Quang, TX Bắc Cạn, TX Sông Công; nghề trồng cà phê, cao su, hồ tiêu ở ngoại ô các đô thị ở Tây Nguyên; trồng cây ăn quả, nuôi tôm, cá ba sa ở các đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long So với khu vực nông thôn, trung bình năng suất cây trồng ở khu vực ven đô có năng suất cao hơn 30-50% nhờ hệ thống hạ tầng nông nghiệp phát triển

Trang 24

21

Ngày 13/11/2010, Khoa Sinh - Môi trường, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng (Đại học Đà Nẵng) đã phối hợp với Công ty Tầm nhìn Sinh thái tổ chức Hội thảo

“Nông nghiệp sinh thái đô thị - giải pháp của tương lai”

Tại Hội thảo, các nhà khoa học đã đưa ra các giải pháp cho nông nghiệp sinh thái đô thị như: “Kỹ thuật thủy canh tĩnh - ưu điểm và sự thích hợp với các hộ gia đình nội thành thành phố Đà Nẵng” của Thạc sĩ Đỗ Thị Trường; “Thủy canh hồi lưu & Khí canh - giải pháp của nền nông nghiệp sinh thái đô thị” của Tiến sĩ Võ Văn Minh; “Cây xanh trong kiến trúc đô thị hiện đại” của Thạc sĩ Nguyễn Văn Khánh; “Cây cảnh thủy canh - sự lựa chọn của các hộ gia đình, phòng khách và trường học thân thiện”; “Nuôi cấy mô tế bào thực vật - giải pháp cung ứng giống cho nền nông nghiệp sinh thái đô thị” của Kỹ sư Trần Quang Dần,…

Đây là một trong những kỹ thuật sản xuất nông nghiệp mới do các nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua để giải quyết những bức xúc của ngành nông nghiệp

bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa quá nhanh Ngoài ra, nông nghiệp đô thị không chỉ là nguồn tạo nên GDP (giá trị kinh tế thuần tuý) mà còn tạo ra nhiều giá trị khác: sinh thái, môi trường, giáo dục, nghỉ dưỡng, tận dụng thời gian rỗi

Sự kết hợp giữa nông nghiệp với du lịch, nghỉ dưỡng (còn gọi là loại hình nông nghiệp du lịch và nông nghiệp nghỉ dưỡng) cũng là một hướng phát triển đang được sử dụng, tuy nhiên vẫn mang tính cá thể tại các khu vực ven đô

Theo thực tiễn cho thấy, sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái

ở nước ta cũng đã có những bước đi đầu tiên, phù hợp với điều kiện tự nhiên – xã hội của một số vùng trong cả nước Tuy nhiên, việc áp dụng rộng rãi nông nghiệp đô thị sinh thái trên các đô thị ở Việt Nam thì vẫn còn nhiều hạn chế do chưa nhận được sự quan tâm từ các hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và các cơ quan quản lý chuyên ngành Hơn nữa, quá trình tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp sạch, sản phẩm chất lượng cao cũng gặp phải nhiều vấn đề do chưa có sự thống nhất quản lý giá các loại sản phẩm sạch và các sản phẩm nông nghiệp truyền thống

1.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đô thị sinh thái

1.3.1 Các tiêu chí kinh tế đánh giá hiệu quả sử dụng đất

Các chỉ tiêu kinh tế phản ánh hiệu quả đất nông nghiệp được sử dụng dựa theo Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành:

Trang 25

22

+ Giá trị sản xuất (GTSX): là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của sản phẩm vật chất (thành phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang) và dịch vụ sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định

+ Chi phí trung gian (CPTG): toàn bộ chị phí vật chất quy ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu…)

+ Giá trị gia tăng (GTGT): giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất được xác định bằng giá trị sản xuất (GTSX) trừ chi phí trung gian: GTGT = GTSX – CPTG

Giá trị này thường được tính toán ở góc độ hiệu quả: GTGT/1 ha đất; GTGT/1 đơn vị chi phí (1VNĐ); GTGT/1 công lao động

+ Thu nhập hỗn hợp (TNHH): thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động thuế ngoài:

TNHH = GTGT – T (thuế) – A (khấu hao) – L (chi công lao động)

Thu nhập này thường được tính toán ở ba góc độ hiệu quả: TNHH/1 ha đất; TNHH/ 1 đơn vị chi phí (1 VNĐ); TNHH/1 công lao động

1.3.2 Các tiêu chí xã hội đánh giá hiệu quả sử dụng đất

Ngoài việc đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất thì hiệu quả xã hội mà quá trình sử dụng đất mang lại cũng hết sức quan trọng, đề tài chỉ đề cập tới các tiêu chí như sau:

+ Mức độ thu hút lao động, giải quyết việc làm cho nông dân của các kiểu sử dụng đất

+ Giá trị ngày công lao động của các loại hình sử dụng đất

+ Vấn đề về đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời phát triển sản xuất hàng hóa + Mức độ phù hợp với năng lực sản xuất của nông hộ, việc nâng cao trình độ và

áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất

Để nghiên cứu hiệu quả về mặt xã hội của quá trình sử dụng đất nông nghiệp thông qua các loại hình sử dụng đất, cần nghiên cứu và so sánh mức độ đầu tư lao dộng

và hiệu quả kinh tế bình quân trên một công lao động của mỗi kiểu sử dụng đất trên mỗi vùng đặc trưng

1.3.3 Các tiêu chí về môi trường trong đánh giá hiệu quả sử dụng đất

Đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc sử dụng đất và hệ thống cây trồng hiện tại tới môi trường là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải có số liệu phân tích các mẫu đất, nước và

Trang 26

23

nông sản phẩm trong một thời gian dài Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập tới một số chỉ tiêu ảnh hưởng về mặt môi trường của các loại hình sử dụng đất như sau: + Mức độ đầu tư phân bón và ảnh hưởng của nó đến môi trường

+ Mức sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và ảnh hưởng của nó đến môi trường

Trang 27

24

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Thanh Oai là một huyện đồng bằng nằm ở phía Tây Nam của thành phố Hà Nội,

có vị trí địa lý liền kề với quận Hà Đông, với trung tâm kinh tế - chính trị là thị trấn Kim Bài cách quận Hà Đông khoảng 14 km, cách trung tâm thành phố Hà Nội 20 km

về phía Bắc Toàn huyện có 20 xã và 01 thị trấn, có tổng diện tích tự nhiên tính đến tháng 05 năm 2010 là 12.385,56 ha và dân số là 176.336 người Huyện có địa giới hành chính tiếp giáp như sau:

+ Phía Đông giáp huyện Thường Tín, huyện Thanh Trì;

+ Phía Tây giáp huyện Chương Mỹ;

+ Phía Nam giáp huyện Ứng Hoà và huyện Phú Xuyên;

+ Phía Bắc giáp quận Hà Đông;

Với vị trí nằm liền kề với quận Hà Đông và trung tâm thành phố Hà Nội Thanh Oai có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao lưu buôn bán đặc biệt thuận lợi trong việc tiêu thụ các sản phẩm nông sản và các sản phẩm sản xuất từ các làng nghề truyền thống

2.1.1.2 Địa hình

Thanh Oai có địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng với hai vùng rõ rệt là vùng đồng bằng sông Nhuệ và vùng bãi sông Đáy, có độ dốc từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam Điểm cao nhất là xã Thanh Mai với độ cao 7,50 m so với mực nước biển và điểm thấp nhất là xã Liên Châu có độ cao 1,50 m so với mực nước biển

Với đặc điểm địa hình như vậy, huyện có đủ điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất đa dạng hoá cây trồng và vật nuôi, có khả năng thâm canh tăng vụ

2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Thanh Oai nằm trong huyện đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng của lưu khí quyển cơ bản nhiệt đới gió mùa của miền Bắc với 2 mùa rõ rệt, đó là mùa mưa nắng nóng, mưa nhiều, mùa khô lạnh rét mưa ít với số giờ nắng trong năm từ 1.600 - 1.700 giờ

Trang 28

25

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 8,

9 và các tháng này thường hay có gió, bão Lượng mưa bình quân năm của huyện khoảng 1.600 - 1.800 mm, lượng mưa tập trung vào mùa hè với khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau

Độ ẩm không khí từ 84 - 96%, lượng bốc hơi cả năm 700 - 900 mm, lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 12, tháng1, lớn nhất vào tháng 5 và tháng 6

Nhìn chung, thời tiết có những biến động thất thường gây ảnh hưởng xấu cho đời sống và sản xuất Vào mùa mưa, xuất hiện những đợt mưa lớn, kéo dài gây ngập, úng Mùa đông, có những đợt gió mùa đông bắc về làm nhiệt độ giảm đột ngột gây ảnh hưởng tới sức khỏe và sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, điều kiện khí hậu như vậy cho phép đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của nhân dân trong huyện cũng như cung cấp cho các vùng lân cận

2.1.1.4 Thủy văn

Hệ thống thuỷ văn của huyện bao gồm hai con sông lớn đó là sông Nhuệ và sông Đáy với các hệ thống hồ, đầm lớn tập trung ở các xã Thanh Cao, Cao Viên, Cao Dương

Sông Đáy chạy dọc phía Tây của huyện với chiều dài khoảng 20,5 km với độ rộng trung bình từ 100 - 125m, hiện tại bề mặt sông đã bị người dân trong vùng thả bè rau muống nên chỉ còn một lạch nhỏ cho thuyền đi qua Đây là tuyến sông quan trọng có nhiệm vụ phân lũ cho sông Hồng Tuy nhiên kể từ năm 1971 trở về đây, việc sinh hoạt

và sản xuất của người dân trong phạm vi phân lũ không bị ảnh hưởng bởi việc phân lũ, nhưng trong những năm tới xem xét mối quan hệ giữa các vùng sản xuất, bố trí sử dụng hợp lý đất đai để đảm bảo cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng được ổn định và bền vững

Sông Nhuệ ở phía Đông của huyện có chiều dài 14,50 km lấy nước từ sông Hồng để cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống của nhân dân các xã ven sông như Liên Châu, Tân Ước, Đỗ Động và còn là nơi cung cấp nguồn nước cho

công trình thuỷ lợi La Khê

2.1.1.5 Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên đất

Đất đai trên địa bàn huyện Thanh Oai được hình thành chủ yếu do quá trình bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng, thông qua sông Đáy Theo kết quả điều tra thổ

Trang 29

26

nhưỡng trên địa bàn huyện có các loại đất chính sau:

+ Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Loại đất này được phân bố ở khu vực ngoài

đê trong vùng phân lũ sông Đáy, có độ màu mỡ cao, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ, thích hợp cho canh tác các loại rau màu và cây trồng cạn

+ Đất phù sa không được bồi (P): Loại đất này chiếm chủ yếu, phân bố rộng khắp khu vực đồng bằng, đã được khai thác cải tạo lâu đời phù hợp cho thâm canh tăng vụ, với nhiều loại mô hình canh tác cho hiệu quả kinh tế cao như mô hình lúa - màu, lúa -

cá và trồng các loại cây lâu năm như cam, vải, bưởi ở các xã Hồng Dương, Dân Hòa, Tam Hưng

+ Đất phù sa glây (Pg): Phân bố chủ yếu ở các khu vực địa hình trũng và canh tác ruộng nước, mực nước ngầm nông Đây là loại đất chuyên để chuyển đổi sang dạng lúa

- cá, lúa - cá - vịt, nuôi trồng thủy sản

Nhìn chung, đất đai của huyện có độ phì cao, có thể phát triển nhiều loại cây trồng như cây lương thực, cây rau màu, cây lâu năm, cây ăn quả và có thể ứng dụng nhiều mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao

Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Chủ yếu là sông Hồng và sông Nhuệ qua hệ thống thủy nông

La Khê và sông Đáy Ngoài ra còn có hệ thống hồ, đầm, ao rất rộng lớn (hơn 300 ha) đặc biệt là đầm Thanh Cao - Cao Viên Nguồn nước mặt cung cấp đáp ứng cơ bản nhu cầu tưới cho cây trồng Còn vùng bãi sông Đáy về mùa khô vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tưới nước cho cây trồng vùng bãi

- Nguồn nước ngầm: Tầng chứa nước nằm ở độ sâu 30-60 m, bao gồm 2 lớp cát và sỏi cuộn Về chất lượng nước: theo kết quả phân tích mẫu nước thô ở nhà máy Bia Kim Bài ngày 15/09/1999 cho thấy hàm lượng sắt và mangan cao hơn tiêu chuẩn cho phép

Vì vậy, để có thể sử dụng được nguồn nước trên phục vụ cho sinh hoạt cần phải được

xử lý trước khi đưa vào sử dụng

Như vậy, với hệ thống kênh mương và ao, hồ, đầm của huyện sẽ rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt của người dân Tuy nhiên vào mùa mưa hệ thống kênh mương và ao hồ cũng gây ra ngập úng ở một số vùng trũng, vào mùa khô lại thường bị thiếu nước ở các vùng bãi ven sông

Tài nguyên du lịch

Trang 30

27

Thanh Oai là huyện có nhiều di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 88 di tích đã được xếp hạng với nhiều di tích gắn liền với sự phát triển của dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước, trong đó chủ yếu là đình chùa, đền thờ cổ, làng nghề truyền thống; đây là những tiềm năng to lớn có thể quy hoạch thành các trung tâm du lịch như: du lịch văn hoá làng nghề truyền thống, du lịch sinh thái… Hơn thế nữa, Thanh Oai còn nằm chủ yếu trên tuyến du lịch Chùa Hương nên rất thuận lợi cho việc quảng

bá, phát huy tiềm năng du lịch của huyện

2.1.1.6 Thực trạng môi trường

- Môi trường không khí, tiếng ồn:

Ô nhiễm không khí do giao thông ngày càng tăng Trên địa bàn huyện có tuyến đường 21B chạy qua, đây là tuyến đường huyết mạch nối giao thông của huyện với các vùng lân cận Hiện tại ô nhiễm về bụi ngày càng lớn do tốc độ phát triển các công trình xây dựng trên địa bàn huyện và vùng giáp danh, nồng độ bụi đều lớn hơn chỉ số tiêu chuẩn cho phép

- Môi trường nước:

Nước thải sinh hoạt của các khu dân cư nông thôn hiện nay phần lớn chưa qua xử

lý mà thải trực tiếp vào các nguồn nước mặt tiếp nhận là sông, hồ, kênh mương; nhiều sông, hồ đã trở thành nơi chứa nước thải do vậy đã gây ô nhiễm nguồn nước mặt

Nước thải từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp có xu hướng tăng cả về khối lượng và hàm lượng do các hệ thống xử lý nước thải chưa được lắp đặt hoặc có hệ thống xử

lý nước thải nhưng chưa đi vào hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả

Nước thải nguy hại từ bệnh viện, nước ngầm từ các bãi rác đều được đổ trực tiếp xuống sông, hồ

Nhìn chung ô nhiễm nước sông chủ yếu biểu hiện về ô nhiễm chất hữu cơ

- Môi trường khu vực sản xuất nông nghiệp và làng nghề

Các hoạt động của con người thông qua các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp tuy đã làm tăng năng xuất cây trồng nhưng ở một khía cạnh nào đó cũng gây hậu quả tiêu cực tới môi trường Điển hình nhất là việc sử dụng các hoá chất từ phân bón hoá học đến thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc tăng trưởng,

Vấn đề sử dụng nước thải sinh hoạt và các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa được xử lý trong sản xuất nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách hiện nay và trong những năm tiếp theo

Trang 31

có biện pháp xử lý trước khi đổ ra ao hồ, sông ngòi

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

a Tăng trưởng kinh tế

Nhìn chung trong những năm qua kinh tế - xã hội của huyện Thanh Oai phát triển khá toàn diện, duy trì được mức tăng trưởng kinh tế ngang với mức bình quân chung của cả nước, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Bảng 2 1:Giá trị, cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm (theo giá hiện hành)

Ngành

Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu (tỷ đồng) (%) (tỷ đồng) (%) (tỷ đồng) (%)

Nông nghiệp 442,7 47,57 508,5 28,37 999 48,38 Công nghiệp 258,0 27,72 755,0 42,12 476 23,05

(Nguồn: Tình hình phát triển KT-XH huyện Thanh Oai 2005-2013) Tổng giá trị sản xuất tăng nhanh, năm 2005 đạt 930,7 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt 1.792,5 tỷ đồng, gấp 1,92 lần so với năm 2005, đến năm 2013 đạt 2.065 tỷ đồng tăng gấp 2,22 lần so với năm 2005.Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt 5,63 triệu đồng, đến năm 2010 đạt 10,48 triệu đồng/người/năm, đến năm 2013 đạt 11,7 triệu đồng/người/năm

Trang 32

29

Biểu đồ 2 1: Tình hình phát triển KT – XH huyện Thanh Oai

b chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Bảng 2 2:Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm

Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2010 Năm 2013

- Nông nghiệp - thuỷ sản 47,57 28,37 23,05

- Công nghiệp - xây dựng 27,72 42,12 48,37

- Dịch vụ - thương mại - du lịch 24,71 29,51 28,57

Đơn vị tính: %

Trong những năm qua cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch quan trọng [nhất là khi tỉnh Hà Tây (cũ) được nhập về Hà Nội] theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp - thủy sản, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - thương mại - du lịch, đồng thời phát huy lợi thế trong từng ngành, lĩnh vực

Năm 2005 tỷ trọng ngành nông nghiệp - thuỷ sản chiếm 47,57%, đến năm 2010

tỷ trọng ngành nông nghiệp - thuỷ sản giảm xuống còn 28,37%, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng lên 42,12%, tỷ trọng ngành dịch vụ - thương mại - du lịch 29,51%, đến năm 2013, tỷ trọng ngành nông nghiệp tiếp tục giảm xuống còn 23,05%, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng đạt tới 48,37% và tỷ trọng ngành nông nghiệp không có

sự thay đổi nhiều với 28,57% Tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng lên, tạo ra sự

Trang 33

30

thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế Bước đầu đã hình thành một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm quan trọng tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội

2.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

a Khu vực kinh tế nông nghiệp

Bảng 2 3: Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp

2008 2009 2010 2011 2012 2013

Giá trị SX (94) Tỷ đồng 455,7 521,6 554,1 560,2 571 567,6

Trồng trọt Tỷ đồng 210,4 213,1 253,5 240,5 247 243,2 Chăn nuôi Tỷ đồng 245,3 308,5 300,6 319,7 324 324,4

(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Thanh Oai 2008 - 2013)

Ngành nông nghiệp giữ vai trò khá quan trọng và có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế của huyện Năm 2013 ngành nông - lâm - thủy sản chiếm tỷ trọng 23,05% trong tổng GDP của huyện theo giá hiện hành và 30,27% theo giá so sánh Tốc

độ phát triển của ngành giai đoạn 2008 - 2013 trung bình ở mức 4,1%/năm và năm

Bình quân giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác ở huyện còn chưa cao, năm 2005 đạt 26,6 triệu đồng/ha/năm, tới năm 2013 đạt 28,6 triệu đồng/ha/năm

Diện tích gieo trồng một số cây trồng chính của huyện giai đoạn 2008 - 2013 được thể hiện qua bảng sau:

Trang 34

4 BQ lương thực đầu người Kg 492 530 556,4 552 549 539

5 BQ giá trị SX/1ha canh

Ngành chăn nuôi của huyện chủ yếu cung cấp nhu cầu thực phẩm cho huyện và các quận nội thành Tuy nhiên, ngành chăn nuôi còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của một huyện ngoại thành

+ Tổng đàn trâu 685 con

+ Tổng đàn bò 6.248 con

+ Tổng đàn lợn 112.400 con

+ Tổng đàn gia cầm: 1.083.000 con

Trang 35

32

Ngành thủy sản

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện là 333,20 ha Sản lượng đánh bắt thủy sản đạt 589 tấn; sản lượng nuôi trồng đạt 2.351 tấn Trong thời điểm hiện tại khi mà dịch cúm gia cầm tiếp tục gây ảnh hưởng đến kinh tế của các hộ nông dân thì việc năng suất và sản lượng cá đạt cao, cộng với việc giá bán cao đã giúp người nông dân phần nào giảm bớt khó khăn trong nuôi trồng thuỷ sản

b Khu vực kinh tế nông nghiệp

Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện đã khôi phục lại được các làng nghề truyền thống thành các điểm du lịch làng nghề (quạt Vác, tăm hương, giò chả Ước Lễ, nón Chuông ), mở rộng được các loại hình ngành nghề mới (mộc, đồ gỗ gia dụng) từng bước ổn định phát triển theo cơ chế thị trường

Các ngành nghề thủ công truyền thống và các nghề mới vẫn được duy trì và phát triển ở các làng nghề và các làng có nghề Các nghề mới đang phát triển mạnh như tăm hương ở Hồng Dương; mây, tre đan xuất khẩu ở Dân Hòa; tái chế sắt phế liệu ở Phương Trung, Cao Dương, Dân Hòa; sản xuất bóng thể thao ở Tam Hưng, Bình Minh

Trên địa bàn huyện giá trị ngành công nghiệp chủ yếu được tạo ra từ các cơ sở ngoài quốc doanh Tốc độ tăng trưởng của các cơ sở ngoài quốc doanh tăng nhanh, dự báo trong tương lai công nghiệp ngoài quốc doanh sẽ phát triển nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng cao

Tình hình phát triển của ngành công nghiệp xây dựng từ năm 2005 - 2013 được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2 5: Tình hình phát triển ngành công nghiệp - xây dựng

Trang 36

33

Các dự án thuê đất của các công ty, hộ đã tổ chức sản xuất, kinh doanh ổn định

và có giá trị sản xuất lớn như: Công ty DHA, công ty sản xuất cấu kiện bê tông Ngọc Hương, Công ty TNHH Minh Châu, các cơ sở sản xuất đồ nhựa gia dụng

Tóm lại: ngành công nghiệp xây dựng của huyện Thanh Oai trong những năm qua phát triển nhanh Huyện đã quy hoạch được các cụm, điểm công nghiệp đã phát huy được các làng nghề truyền thống, phát triển được các làng nghề mới Tuy vậy ngành vẫn còn một số hạn chế sau:

- Khu công nghiệp của Trung Ương và thành phố đóng trên địa bàn huyện quy

mô nhỏ, không thể là trung tâm công nghiệp để giúp cho tiểu thủ công nghiệp ở cơ sở

có thể phát triển theo kiểu vệ tinh

- Các hình thức liên doanh, liên kết còn ít do thiếu quy hoạch, giao thông không thuận lợi

- Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn yếu, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp chất lượng chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường thấp

- Chính sách thu hút đầu tư chưa thực sự hấp dẫn, nhiều cụm, điểm công nghiệp

đã được duyệt nhưng chưa được đầu tư xây dựng

- Một số xã chưa phát triển được nghề, thậm chí một số nghề cũ cũng chưa khôi phục và phát triển do nhu cầu của thị trường và xã hội

- Các cơ sở sản xuất phần lớn là các hộ gia đình với quy mô nhỏ, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, nhiều cơ sở chỉ làm gia công Chưa có nhiều các doanh nghiệp, công ty lớn đủ mạnh vươn ra thị trường quốc tế

- Do công nghệ, thiết bị sản xuất của một số ngành còn lạc hậu do vậy tình trạng

ô nhiễm môi trường còn xảy ra, nhất là ở các làng nghề gây ảnh hưởng tới sản xuất và môi trường sống của nhân dân

2.1.2.3 Thương mại dịch vụ

Ngành thương mại dịch vụ của huyện trong thời gian qua chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có Năm 2013 tổng giá trị sản xuất đạt 590 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành đạt 18,13%/ năm Tỷ trọng tăng từ 24,71% năm 2005 lên 28,57% năm 2013

Đến năm 2013, toàn huyện có 4.800 hộ kinh doanh thương nghiệp, cá thể số lượng các loại hình thương nghiệp dịch vụ khá phong phú đa dạng: bảo dưỡng, sửa

Trang 37

Mạng lưới bán lẻ xăng dầu trên địa bàn huyện rất đa dạng, đáp ứng đủ số lượng, yêu cầu để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện

2.1.2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

Toàn huyện có 46.305 hộ, quy mô trung bình 3,81 người/hộ, trong đó khu vực

đô thị 1.669 hộ, trung bình 3,50 người/hộ và khu vực nông thôn 4.4636 hộ, trung bình 3,82 người/hộ

Trong những năm gần đây được sự quan tâm của các ngành, các cấp công tác dân

số và kế hoạch hoá gia đình đã có những bước tiến rõ rệt Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số cơ học trong mấy năm vừa qua tăng tương đối cao do có sự điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Oai về quận Hà Đông, điều chỉnh địa giới tỉnh Hà Tây thuộc về thành phố

Hà Nội và sự năng động của thị trường bất động sản cũng như các dự án về nhà ở, chung

cư của các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn huyện

Trang 38

(người/km2)

Tổng

số hộ

Quy mô hộ (người/hộ)

(Nguồn: UBDS Gia đình & Trẻ em huyện Thanh Oai)

b Lao động, việc làm và thu nhập

Lao động huyện Thanh Oai qua đào tạo chiếm khoảng 27%, trong những năm gần đây đội ngũ công chức huyện và xã đã được chuẩn hóa 100% Tỷ lệ lao động có trình độ đại học, cao đẳng chiếm trên 80% là mức khá cao của các huyện ngoại thành Hà Nội

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, sự quyết tâm phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế chính trị của UBND huyện, cơ cấu kinh tế huyện đã có những bước chuyển biến mạnh, tốc độ phát triển khá nhanh và bền vững, nhiều doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư vào địa bàn, ngành nghề, dịch vụ

Trang 39

hệ thống đô thị trên địa bàn huyện đã không ngừng phát triển Bộ mặt kiến trúc được chỉnh trang, vị trí đô thị ngày càng được khẳng định trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội Ở thị trấn Kim Bài tốc độ xây dựng đô thị diễn ra khá nhanh và sôi động, nhất là xây dựng hạ tầng kỹ thuật, nhà ở, các công trình kinh doanh dịch vụ, công trình công cộng góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa chung của vùng

Về kiến trúc không gian trong đô thị của huyện các khu dân cư được phân bố khá hợp lý, nhiều công trình xây dựng có kiến trúc hiện đại, phù hợp với quy hoạch, làm tăng thêm vẻ đẹp của đô thị Trong các khu dân cư cơ sở hạ tầng ngày càng được tăng cường, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao, nhiều công trình giao thông, xây dựng, đã được quan tâm đầu tư hoàn thiện

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển mạng lưới đô thị cũng như hệ thống cơ sở hạ tầng, kiến trúc không gian đô thị của huyện vẫn còn một số vấn đề còn tồn tại như: + Đô thị trong vùng còn mang nặng sắc thái khu dân cư nông thôn Công nghiệp kém phát triển và chưa có công nghiệp tạo vùng, chủ yếu là công nghiệp nhỏ chế biến nông - lâm - thủy sản và tiểu thủ công nghiệp phục vụ dân sinh Thương mại dịch vụ vẫn còn mang tính phục vụ tại chỗ Hệ thống cơ sở hạ tầng như điện, nước, giao thông và các công trình công cộng khác còn thiếu, nhiều nơi còn mang tính tạm bợ

+ Hầu hết các khu dân cư trong thị trấn hệ thống cấp, thoát nước chưa hoàn chỉnh

và chưa đồng bộ, rác thải sản xuất và sinh hoạt chưa được thu gom và xử lý đã phần nào gây ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư

+ Việc quản lý xây dựng trong đô thị chưa chặt chẽ, tình trạng xây dựng trái phép vẫn còn diễn ra

Trang 40

37

+ Cơ sở kinh tế - kỹ thuật tạo động lực phát triển đô thị còn yếu, chưa tạo ra nguồn thu lớn cho nền kinh tế quốc dân và giải quyết công ăn việc làm cho người dân đô thị + Do thiếu quy hoạch đô thị đã gây không ít khó khăn trong việc phân bố dân cư và

sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng đô thị

+ Nhu cầu để phát triển các đô thị rất lớn nhưng nguồn lực và khả năng cung cấp vốn còn hạn chế

+ Trong quá trình phát triển và mở rộng đô thị còn lúng túng trong quy hoạch và xử

lý các vấn đề liên quan đến đất đai, nhất là các khu vực chuyển từ nông thôn sang đô thị

b Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn

Trên địa bàn huyện Thanh Oai có 20 xã; dân cư nông thôn Thanh Oai sống theo làng xã từ lâu đời Do đặc điểm lịch sử hình thành và phát triển, các khu dân cư nông thôn trên địa bàn thị xã được phát triển theo những hình thái khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện và mức độ phân bố trong từng khu vực Các điểm dân cư truyền thống (như làng, thôn, xóm ) được hình thành với mật độ tập trung đông ở những nơi có giao thông thuận tiện, dịch vụ phát triển, các trung tâm kinh tế văn hoá của xã

Hệ thống cơ sở hạ tầng trong khu dân cư nông thôn mặc dù đã được quan tâm đầu

tư song còn nhiều hạn chế do thiếu nguồn kinh phí Hệ thống thu gom rác thải, nước thải sinh hoạt chưa phát triển, nhiều hộ gia đình có thói quen thải các chất thải trong chăn nuôi ra các cống rãnh gây mất vệ sinh trong cộng đồng dân cư, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí

Diện tích đất ở tại nông thôn hiện nay của huyện phân bố chưa đồng đều Bình quân khuôn viên đất ở cho 1 hộ gia đình có sự chênh lệch khá lớn giữa các xã, cao nhất

là xã Thanh Văn (1.206,92 m2/hộ) và thấp nhất là xã Phương Trung (298,49 m2/hộ)

Với quy luật gia tăng dân số, nhu cầu về đất ở không ngừng tăng lên Trong tương lai việc mở rộng thêm đất ở để đáp ứng nhu cầu trên là thực tế khách quan không thể tránh khỏi, nhưng cần phải có sự điều chỉnh hợp lý các khu dân cư hiện có cũng như phải hạn chế tối đa việc lấy đất nông nghiệp vào làm nhà ở nhất là những khu vực ruộng cho năng suất cao Đây là những vấn đề cần được quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế lâu dài của huyện

2.1.2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

a Hệ thống giao thông

Quốc lộ

Ngày đăng: 03/07/2015, 18:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Nữ Hoàng Anh (2013). "Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012 - 2020." Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012 - 2020
Tác giả: Bùi Nữ Hoàng Anh
Năm: 2013
2. Đào Thế Anh (2003). "Một số biến đổi của nông nghiệp Hà Nội trong thập kỷ qua." Báo cáo chuyên đề nghiên cứu khoa học. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biến đổi của nông nghiệp Hà Nội trong thập kỷ qua
Tác giả: Đào Thế Anh
Năm: 2003
3. Đào Thế Tuấn (2003). "Kinh nghiệm nước ngoài về phát triển nông nghiệp đô thị." Báo cáo chuyên đề nghiên cứu khoa học. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm nước ngoài về phát triển nông nghiệp đô thị
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 2003
4. Đào Thế Tuấn (2003). "Nghiên cứu khái niệm, nội dung nông nghiệp đô thị." Báo cáo chuyên đề nghiên cứu khoa học. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khái niệm, nội dung nông nghiệp đô thị
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 2003
5. Đào Thế Tuấn (2004). "Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp Trung Quốc." Tạp chí Phát triển Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp Trung Quốc
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 2004
8. Nguyễn Minh Huy (2013). "Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phục vụ định hướng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp bền vững huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội." Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phục vụ định hướng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp bền vững huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Minh Huy
Năm: 2013
11. Trần Trọng Phương (2012). "Nghiên cứu phát triển Nông nghiệp đô thị sinh thái ở thành phố Hải Phòng." Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển Nông nghiệp đô thị sinh thái ở thành phố Hải Phòng
Tác giả: Trần Trọng Phương
Năm: 2012
12. Chen Shuang (2003). "Green Space Planning Strategies Com patible With High-Density Development in the Urban Area " International Conference of "Issue and the Future of Ecocity Development&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Green Space Planning Strategies Com patible With High-Density Development in the Urban Area " International Conference of
Tác giả: Chen Shuang
Năm: 2003
14. Harison. J and P. Grant (1976). "The themes transformation." Worcester: The Trinity Prees Sách, tạp chí
Tiêu đề: The themes transformation
Tác giả: Harison. J and P. Grant
Năm: 1976
15. Martin L Van Brakel and Emesto J Mrales (2001). "Likelihood improving funtions of pond based intergrated Agriculture Aquaculture Systems." Internet sources Sách, tạp chí
Tiêu đề: Likelihood improving funtions of pond based intergrated Agriculture Aquaculture Systems
Tác giả: Martin L Van Brakel and Emesto J Mrales
Năm: 2001
6. http://thanhoai.hanoi.gov.vn/tabid/329/Entry/375/Default.aspx (2014). "Cổng thông tin điện tử UBND huyện Thanh Oai, Hà Nội.&#34 Link
7. Lê Quý Đôn (2005). "Cơ sở khoa học để phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông thôn Hà Nội giai đoạn 2006 – 2010.&#34 Khác
9. PGS.TS. Nguyễn Trần Oánh (2007). Giáo trình sư dụng thuốc bảo vệ thực vật. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
10. Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Thanh Oai, T. H. N. (2011 - 1015). "Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) huyện Thanh Oai, TP Hà Nội.&#34 Khác
13. Gale F.H (1999). "Agriculture in China's Urban Area: Statistics from China Agriculture Census.&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 1:Giá trị, cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm (theo giá hiện hành) - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 1:Giá trị, cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm (theo giá hiện hành) (Trang 31)
Bảng 2. 2:Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai  qua một số năm - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 2:Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm (Trang 32)
Bảng 2. 3: Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 3: Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp (Trang 33)
Bảng 2. 4: Thống kê diện tích một số cây trồng chính - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 4: Thống kê diện tích một số cây trồng chính (Trang 34)
Bảng 2. 5: Tình hình phát triển ngành công nghiệp - xây dựng - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 5: Tình hình phát triển ngành công nghiệp - xây dựng (Trang 35)
Bảng 2. 6: Hiện trạng diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Thanh Oai - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 6: Hiện trạng diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Thanh Oai (Trang 38)
Bảng 2. 7: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 huyện Thanh Oai- Tp Hà Nội - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 7: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 huyện Thanh Oai- Tp Hà Nội (Trang 46)
Bảng 2. 9: Tổng hợp các loại hình sử dụng đất, kiểu sử dụng đất phổ biến - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 9: Tổng hợp các loại hình sử dụng đất, kiểu sử dụng đất phổ biến (Trang 49)
Bảng 2. 10: Năng suất một số cây trồng, vật nuôi chính năm 2013  Loại cây trồng, vật nuôi  Năng suất (tạ/ha)  Loại  cây  trồng,  vật - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 10: Năng suất một số cây trồng, vật nuôi chính năm 2013 Loại cây trồng, vật nuôi Năng suất (tạ/ha) Loại cây trồng, vật (Trang 53)
Bảng 2. 11: Hiệu quả kinh tế một số cây trồng, vật nuôi chính huyện Thanh Oai, Tp Hà Nội - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 11: Hiệu quả kinh tế một số cây trồng, vật nuôi chính huyện Thanh Oai, Tp Hà Nội (Trang 54)
Bảng 2. 12: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính huyện Thanh Oai, Hà Nội  Loại - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 12: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính huyện Thanh Oai, Hà Nội Loại (Trang 55)
Bảng 2. 13: Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất chính huyện Thanh Oai, Hà Nội  Loại - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 13: Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất chính huyện Thanh Oai, Hà Nội Loại (Trang 57)
Bảng 2. 15: Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho một số cây trồng - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 15: Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho một số cây trồng (Trang 61)
Bảng 2. 18: Kết quả đánh giá tính bền vững về kinh tế và thang điểm đối với các LUT - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 18: Kết quả đánh giá tính bền vững về kinh tế và thang điểm đối với các LUT (Trang 69)
Bảng 2. 19: Kết quả đánh giá bền vững về xã hội và thang điểm đối với các LUT - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện thanh oai, thành phố hà nội
Bảng 2. 19: Kết quả đánh giá bền vững về xã hội và thang điểm đối với các LUT (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm