Ý nghĩa lý luận Cung cấp luận cứ khoa học cho việc quản lý chất thải trong phát triển du lịch thông qua trường hợp nghiên cứu một địa bàn cụ thể Vịnh Hạ Long và từ đó đóng góp vào tăng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, những tài liệu tham khảo phục vụ cho luận văn đƣợc trích rõ nguồn Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Ngô Thị Ánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, ngoài sự
cố gắng không ngừng của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của quý Thầy Cô,
sự giúp đỡ của các cơ quan, ban ngành, sự động viên của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Danh Sơn, người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin cảm ơn sâu sắc đến các thầy, cô khoa Phát triển bền vững - Học viện Khoa học Xã hội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
và khi thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh,
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong việc tìm tài liệu cho thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện hoàn chỉnh luận văn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý chất thải trong phát triển du lịch 6
1.1 Các khái niệm 7
1.2 Các nguyên tắc trong quản lý chất thải du lịch 9
1.3 Mối quan hệ giữa chất thải và phát triển du lịch 14
1.4 Chất thải trong bộ tiêu chí bảo vệ môi trường đối với các cơ sở du lịch 18
1.5 Các bên liên quan trong quản lý chất thải và phát triển du lịch 19
1.6 Kinh nghiệm quản lý chất thải trong phát triển du lịch ở một số địa phương nước ta 23
Chương 2 QUẢN LÝ CHẤT THẢI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VỊNH HẠ LONG 28
2.1 Khái quát về Vịnh Hạ Long và tài nguyên du lịch 28
2.2 Thực trạng phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long 36
2.3 Chất thải du lịch 43
2.4 Quản lý chất thải du lịch và những vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long 53
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VỊNH HẠ LONG 62
3.1 Bối cảnh phát triển du lịch Vịnh Hạ Long trong thời gian tới 62
3.2 Xu hướng phát triển du lịch và gia tăng chất thải du lịch ở Vịnh Hạ Long đến năm 2020 65
3.3 Quan điểm, định hướng và mục tiêu quản lý chất thải trong phát triển du lịch Vịnh Hạ Long đến 2020, tầm nhìn 2030 66
3.4 Giải pháp tăng cường quản lý chất thải trong phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long 69 KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT
- APEC: Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
- ASEAN: Association of Southeast Asian
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
- QCVN 10: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển
- TNCSHCM: Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
- TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
- TN&MT: Tài nguyên và Môi trường
- UBND: Ủy ban nhân dân
- UNESCO: United Nations Educational Scientific anh Cultural Organization
Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
- USD: United States dollar
Đô la Mỹ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng tàu biển ra vào khu vực cảng biển Quảng Ninh 30
Bảng 2.2: Số lượng tàu khai thác thủy hải sản khu vực Vịnh Hạ Long 32
Bảng 2.3: Tiềm năng phát triển Du lịch Sinh thái tỉnh Quảng Ninh 35
Bảng 2.4: Tình trạng của các bãi rác hiện tại 45
Bảng 2.5: Khối lượng nước thải phát sinh năm 2012 48
Bảng 2.6: Các trạm xử lý nước thải khu vực Hạ Long 49
Bảng 2.7: Lượng nước thải của khách du lịch trên Vịnh Hạ Long năm 2015 49
Bảng 2.8: Các thông số quan trắc nước tại Vịnh Hạ Long (2011 - 2016) 50
Bảng 2.9: Kết quả quan trắc môi trường không khí khu vực 53
Bảng 2.10: Kết quả khảo sát việc thực hiện các biện pháp quản lý chất thải 55
Bảng 3.1: Dự báo khối lượng nước thải phát sinh vào năm 2020 65
Bảng 3.2: Dự báo khối lượng chất thải rắn phát sinh vào năm 2020 66
Bảng 3.3: Mục tiêu bảo vệ môi trường nước cần đạt được đến năm 2020 và 2030 68
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Khái quát khối lượng chất thải rắn phát sinh năm 2012 và tương quan với
dân số của các đơn vị quản lý hành chính của tỉnh Quảng Ninh 44
Hình 2.2: Kết quả khảo sát các biểu hiện của ô nhiễm môi trường Vịnh Hạ Long 51
Hình 2.3: Một số hình ảnh quản lý chất thải Vịnh Hạ Long 58
Hình 2.4: Kết quả khảo sát trách nhiệm bảo vệ môi trường nước Vịnh Hạ Long 59
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ cấu kinh tế của các nước phát triển, ngành dịch vụ đóng góp tỉ lệ lớn Trong ngành dịch vụ, du lịch lại được mệnh danh là “ con gà đẻ trứng vàng” vì nó đem lại lợi nhuận rất cao Ở Việt Nam trong những năm gần đây, du lịch đã có những bước tăng trưởng ấn tượng, đóng góp ngày càng tăng trong tổng GDP Quảng Ninh được đánh giá là một trong những nơi có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đặc sắc nhất cả nước, nơi đây có nhiều địa danh nổi tiếng như Khu di tích danh thắng Yên Tử, Vườn Quốc gia Bái Tử Long, Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng
Đặc biệt là Vịnh Hạ Long, đã được UNESCO công nhận là di sản - kì quan thiên nhiên của thế giới Chính nhờ những lợi thế này, trong những năm qua, ngành công nghiệp không khói của tỉnh Quảng Ninh đã có những bước phát triển đáng ghi nhận Quảng Ninh đã xác định du lịch và công nghiệp là hai ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh Đây là một hướng đi đúng và hiệu quả nhằm phát huy tối đa lợi thế về tài nguyên khoáng sản và tiềm năng du lịch của địa phương
Vịnh Hạ Long là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ Tây vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển đảo thuộc thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn của tỉnh Quảng Ninh Vịnh Hạ Long là một di sản thiên nhiên độc đáo bởi địa danh này lưu giữ những dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử trái đất, nơi cư trú của người Việt cổ, đồng thời cũng là kiệt tác của tạo hóa với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá với hình dạng kì thú Vịnh Hạ Long có tổng diện tích 1553 km2, gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 90% là đảo đá vôi, địa hình đảo, núi xen kẽ giữa các trũng biển Vùng Di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam), đảo Cống Tây (phía Đông) Ngày 17 tháng 12 năm 1994 Hội nghị lần thứ 18 của Ủy ban Di sản Thế giới họp tại Phuket (Thái Lan) đã công nhận lần thứ nhất Vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới về cảnh quan Ngày 02 tháng 12 năm 2000 Tại Hội nghị lần thứ 24 của
Ủy ban Di sản Thế giới họp tại thành phố Cairns, bang Queensland, Australia, đã công
Trang 10dạng địa hình phong phú, độc đáo tạo nên một nét đặc sắc riêng biệt của vùng vịnh đã thu hút sự chú ý của hàng triệu khách du lịch trong và ngoài nước Các hang động: hang Đầu Gỗ, hang Trinh Nữ, hang Sửng Sốt, động Tam Cung, động Thiên Cung, động Mê Cung, hồ Ba Hầm… đều có những vẻ đẹp riêng biệt, hoang sơ, dân dã, thu hút khách du lịch Sự ưu đãi của điều kiện tự nhiên đã mang đến cho Vịnh Hạ Long nhiều cảnh quan độc đáo và hấp dẫn, có ý nghĩa về mặt sinh thái, môi trường và phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển du lịch
Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của du lịch đã gây ảnh hưởng rất lớn cho môi trường của Vịnh Hạ Long Chất thải từ các hoạt động phục vụ du lịch rất nhiều loại và khối lượng lớn Các loại chất thải gồm có: rác thải, nước thải, khí thải Trong đó, chiếm khối lượng lớn nhất là chất thải rắn (rác thải) Chất thải từ hoạt động du lịch về
cơ bản gần giống với chất thải sinh hoạt thông thường của các khu dân cư Chất thải
du lịch có nguồn gốc từ khách du lịch hoặc các đơn vị phục vụ du lịch thải ra
Theo kết quả nghiên cứu của Dự án thử nghiệm Hạ Long (thuộc ECON), hiện nay lượng rác thải sinh hoạt từ khách du lịch trung bình khoảng 0,67-0,8kg/người/ngày, nước thải khoảng 100 -150 lít/người/ngày, ngoài ra còn có khí thải Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn đe dọa tới vùng di sản đặc biệt là ở những cơ sở du lịch với năng lực quản lý và xử lý chất thải còn yếu kém
WASTE-Chất thải là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường Môi trường lại
có vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển du lịch Do vậy, chất thải có mối quan
hệ mật thiết, ảnh hưởng trực tiếp đối với phát triển du lịch Quản lý chất thải là yêu cầu, đòi hỏi, điều kiện của phát triển du lịch, bởi lẽ hoạt động này khác với nhiều hoạt động phát triển khác, có mối quan hệ gắn bó rất chặt chẽ với môi trường, với cảnh quan thiên nhiên Có thể nói, thiên nhiên, môi trường, cảnh quan là “đầu vào” quan trọng, cơ bản hàng đầu để con người phát triển ngành kinh tế du lịch Muốn phát triển
du lịch thì: Con người (Xã hội) - Du lịch (Kinh tế) - Thiên nhiên (Môi trường) phải được kết hợp hài hòa.Chỉ một nhân tố suy yếu là ảnh hưởng ngay và trực tiếp tới hai nhân tố kia và sự phát triển du lịch sẽ không có hiệu quả kinh tế cao
Chất thải trong phát triển du lịch là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và thường xuyên tới phát triển du lịch bởi hai lý do: một là: chất thải là phần kết quả tất yếu của
Trang 11quá trình sản xuất (tiêu dùng du lịch); hai là: chất thải tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, cần được xử lý để không ảnh hưởng tới sự phát triển tiếp tục của quá trình sản xuất này (kinh tế du lịch)
Nhận thấy đây là một vấn đề cấp thiết không chỉ có vai trò quan trọng đối với
sự phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long mà còn ảnh hưởng tới cảnh quan của di sản thiên nhiên thế giới, tôi lựa chọn đề tài: “Chất thải trong phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long ” cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, đã có một số đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan tới phát triền du lịch Vịnh Hạ Long, trong đó có thể kể đến:
- Vương Minh Hoài, 2011, Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Quảng Ninh, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế [7];
- Ngô Thị Nga, 2015, Phát triển du lịch bền vững trên địa bàn Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên [13];
- Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2012, Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên [10]
Các đề tài nghiên cứu về chất thải rất phong phú, trong đó có rất nhiều đề tài nghiên cứu về chất thải rắn, cụ thể như:
- Nguyễn Thị Loan, 2013, Quản lý chất thải rắn sinh hoạt huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội [11];
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015, Tình hình quản lý chất thải rắn tại Việt Nam Đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn, Kỷ yếu Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ IV [4]
Các đề tài, báo cáo của Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch về vấn đề môi trường du lịch như:
- Ths Lê Văn Minh (chủ trì), 2007, Điều tra, khảo sát, xây dựng chương trình
Trang 12- TS Võ Quế (chủ nhiệm), 2007, Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch bền vững tại khu vực di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long [17];
- TS Võ Quế (chủ trì), 2009, Khảo sát, xây dựng dự án bảo vệ môi trường du lịch biển Vịnh Hạ Long [18]
Các nghiên cứu đã công bố có liên quan tới phát triển du lịch Vịnh Hạ Long tuy nhiều nhưng chủ yếu hoặc tập trung vào phát triển du lịch, phát triển du lịch bền vững hoặc quản lý chất thải nói chung, trong đó có chất thải du lịch hay môi trường du lịch Tuy vậy, chất thải trong phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long như một chủ đề nghiên cứu trọng tâm thì chưa có nghiên cứu nào đề cập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Nghiên cứu vấn đề chất thải (tập trung vào quản lý chất thải du lịch) trong phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long và trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp quản lý chất thải đảm bảo yêu cầu phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long
+ Đề xuất giải pháp quản lý chất thải trong phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: quản lý chất thải trong phát triển du lịch
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: từ 2011 đến nay (2017) hướng tới năm 2020 và tầm nhìn 2030
- Về địa bàn: du lịch ở Vịnh Hạ Long, tập trung chủ yếu ở thành phố Hạ Long
là khu du lịch lớn nhất và là trọng điểm du lịch của tỉnh Quảng Ninh
- Về nội dung: tập trung vào quản lý các chất thải từ hoạt động du lịch ở 3 thể dạng chính là chất thải rắn (rác thải), chất thải lỏng (nước thải) và khí thải
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn có sử dụng các nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp, cụ thể như sau:
Trang 13Tài liệu thứ cấp: chủ yếu sử dụng số liệu từ báo cáo tổng kết, đánh giá của các sở, ban, ngành của tỉnh Quảng Ninh (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa Thể thao
và Du lịch, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long) cũng như các báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh
và thành phố Hạ Long cũng như các công trình nghiên cứu có liên quan (nêu trong Tài liệu tham khảo)
Tài liệu sơ cấp: sử dụng số liệu thông tin tác giả tự thu thập qua phỏng vấn sâu một số cán bộ hoạt động trong lĩnh vực du lịch, doanh nghiệp và người dân Sự phối kết hợp các phương pháp nghiên cứu trong đánh giá, phân tích thể hiện tính chất liên
ngành trong nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm các phương pháp thông dụng trong nghiên cứu phát triển như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp kết hợp với điều tra khảo sát nhanh tại một số điểm du lịch, gồm quan sát tại chỗ, phỏng vấn nhanh cộng đồng dân cư, công ty du lịch, khách du lịch, các nhà hàng, khách sạn và các thuyền trưởng (những đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch) Đồng thời luận văn cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu bàn giấy (desk study) là thu thập các tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Đặc biệt, tác giả luận văn đã thực hiện khảo sát 07 nhóm đối tượng với 90 phiếu phỏng vấn Các câu hỏi khảo sát không chỉ giúp tác giả thu thập được những số liệu cần thiết về khối lượng một số loại chất thải, các nguồn thải mà còn giúp tác giả đưa ra những dự báo, những giải pháp cho công tác quản lý chất thải ở địa phương trong tương lai
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Cung cấp luận cứ khoa học cho việc quản lý chất thải trong phát triển du lịch thông qua trường hợp nghiên cứu một địa bàn cụ thể (Vịnh Hạ Long) và từ đó đóng góp vào tăng cường hiểu biết, nhận thức và quán triệt sâu rộng chủ trương, quan điểm, mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển trong ngành du lịch
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Thông qua đánh giá thực trạng chất thải du lịch và quản lý chất thải du lịch ở
Trang 14chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ môi trường và phát triển một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Quảng Ninh cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Nội dung chủ yếu của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý chất thải trong phát triển du lịch Chương 2: Chất thải trong phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường quản lý chất thải trong phát triển du lịch
ở Vịnh Hạ Long
Trang 15Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ: “Chất thải là rác và những đồ vật bị bỏ đi nói chung” Định nghĩa này xác định rõ chất thải sản sinh ra trong sinh hoạt nhưng chưa khái quát được tất cả các loại chất thải sản sinh ra trong những hoạt động khác nhau của con người Định nghĩa này không đưa ra đối tượng quyết định về giá trị, tác dụng của đồ vật đó và quyết định chiếm hữu, sử dụng nữa hay không Do đó, không đánh giá chính xác được một vật chất có phải
là chất thải hay không
Theo Từ điển Môi trường Anh - Việt và Việt - Anh: “Chất thải là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh ra nó không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ” Theo định nghĩa này, chất thải có 03 dạng là rắn, lỏng và khí; chất thải là vật chất không còn sử dụng được; chất thải cần có biện pháp thải bỏ
Theo Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2014: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” Theo định nghĩa này, cụm từ “được thải ra” có thể hiểu là chủ sở hữu không muốn sử dụng vật chất đó, hoặc do nhu cầu của mình, chủ sở hữu phải thải bỏ vật chất đó nhưng không phụ thuộc vào ý chí của họ Tuy nhiên, khi chủ sở hữu từ bỏ ý định khai thác
Trang 16đó với mục đích khác hoặc cũng với mục đích trước đó thì vật chất không được coi là chất thải
Các hoạt động tạo ra chất thải như: hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt, nghiên cứu khoa học, y tế…Nhìn chung, trong cuộc sống, bất cứ hoạt động nào cũng tạo ra chất thải
Ngoài các dạng tồn tại là: rắn, lỏng, khí thì chất thải còn có thể tồn tại dưới các dạng khác như: nhiệt lượng, tiếng ồn, bức xạ ion hóa Việc phân loại chất thải nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý, phân loại, tái chế chất thải Vì vậy, nâng cao ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm lượng rác thải, giảm sức ép lên tài nguyên môi trường vì một thế giới phát triển bền vững hơn đóng vai trò vô cùng quan trọng
1.1.1.2 Chất thải du lịch
Chất thải du lịch là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ hoạt động du lịch Chất thải của hoạt động du lịch có thể được sản sinh ra do khách du lịch, nhưng cũng có thể được sản sinh ra do các hoạt động phục vụ du lịch khác Chất thải du lịch
có thể xuất phát từ:
Các nhà hàng, khách sạn: việc kiểm soát chất thải từ các nhà hàng, khách sạn góp phần bảo vệ môi trường và quản lý hoạt động kinh doanh tốt hơn, đem lại lợi nhuận cao hơn cho các đơn vị kinh doanh này
Các dịch vụ đô thị du lịch như: các cơ sở chăm sóc sức khoẻ, sắc đẹp, dịch vụ y
tế, văn hoá thể thao…
Từ các khu dân cư trong các khu vực phát triển du lịch Ví dụ như chất thải trong các khu dân cư đang sinh sống và làm du lịch trực tiếp, hay góp phần vào việc xây dựng hình ảnh du lịch tại phố cổ Hội An
Các khu trung tâm thương mại, chợ, siêu thị
Các hoạt động vận chuyển khách du lịch: sân bay, bến cảng, bến ô tô, ga tàu hoả Các công sở, trường học, công trình công cộng trong các khu du lịch
Các hoạt động xây dựng hạ tầng phục vụ du lịch
Các trạm xử lý nước cấp, nước thải và các hệ thống thoát nước trong các nhà hàng, khách sạn, đường phố
Trang 17Trong các nguồn chất thải du lịch nêu trên, chiếm khối lượng lớn là chất thải từ các nhà hàng, các cơ sở lưu trú, khách du lịch và dịch vụ du lịch
Lượng chất thải cũng phụ thuộc vào quy mô của các khu, điểm du lịch Thông thường, các khu du lịch càng lớn, lượng khách càng đông thì lượng chất thải du lịch sẽ càng lớn Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc các khu du lịch nhỏ, lượng chất thải du lịch ít thì không gây ô nhiễm môi trường Mức độ ô nhiễm môi trường do chất thải du lịch phụ thuộc vào khối lượng chất thải, phương thức quản lý chất thải, hình thức
xử lý chất thải Như vậy, có thể thấy, vai trò quan trọng của công tác quản lý chất thải đối với sự phát triển du lịch của một khu vực
1.2 Các nguyên tắc trong quản lý chất thải du lịch
Quản lý chất thải là việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế, loại bỏ hay thẩm tra các vật liệu chất thải Quản lý chất thải liên quan đến những vật chất do hoạt động của con người sản xuất ra, đồng thời đóng vai trò giảm bớt ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người, môi trường hay tính mỹ quan Quản lý chất thải góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải Quản lý chất thải có thể bao gồm chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất thải phóng xạ, mỗi loại được quản lý bằng những phương pháp và lĩnh vực chuyên môn khác nhau
- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phân loại chất thải tại nguồn nhằm mục đích tăng cường tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý và thu hồi năng lượng
- Việc đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải phải tuân thủ theo quy định pháp luật về xây dựng và pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan
Trang 18- Nước thải phải được thu gom, xử lý, tái sử dụng hoặc chuyển giao cho đơn vị
có chức năng phù hợp để tái sử dụng hoặc xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi thải ra môi trường
- Khí thải phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường tại cơ sở phát sinh trước khi thải ra môi trường
- Nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý chất thải và thu hồi năng lượng từ chất thải
- Tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải có trách nhiệm nộp phí, giá dịch vụ cho các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải theo đúng quy định của pháp luật
- Khuyến khích áp dụng các công nghệ xử lý chất thải thân thiện với môi trường Việc sử dụng chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải phải tuân theo quy định của pháp luật
Quản lý chất thải du lịch cũng áp dụng theo những nguyên tắc của quản lý chất thải nói chung, các nguyên tắc được cụ thể hoá như sau:
1.2.1 Nguyên tắc phòng ngừa
Phòng ngừa là nguyên tắc chủ yếu của bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường du lịch nói riêng bởi vì tự nhiên là một thể thống nhất bao gồm nhiều thành phần khác nhau, mỗi một thành phần thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác Nếu một thành phần bị ô nhiễm sẽ làm ảnh hưởng tới tất cả các thành phần khác, chi phí để phục hồi môi trường sẽ rất tốn kém và khó khăn, mất nhiều thời gian Trong một số trường hợp thì môi trường không thể phục hồi nguyên trạng Do đó, phòng ngừa để chủ động ngăn chặn nhằm loại bỏ những nguyên nhân có thể gây ra những rủi ro gây nguy hại đối với môi trường trước khi chúng xảy ra sẽ là lựa chọn hữu hiệu hơn cả
Trong phát triển du lịch, nếu môi trường cảnh quan bị ô nhiễm thì thời gian lưu trú của khách du lịch sẽ ngắn, lượng khách quay lại trong những lần sau sẽ rất ít Nếu
có đầu tư kinh phí vào việc phục hồi môi trường thì cũng phải mất rất nhiều thời gian mới có thể lấy lại uy tín cho khu, điểm du lịch đó Một trong những giải pháp phòng ngừa tốt nhất là việc kích thích lợi ích, như việc khen thưởng cho các tổ chức và cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ môi trường, các nhà hàng quản lý chất thải
Trang 19tốt, việc tuyên truyền cho nhân dân thấy được lợi ích của việc bảo vệ môi trường cũng như tác hại của việc ô nhiễm chất thải du lịch gây ra
Nguyên tắc phòng ngừa trong quản lý chất thải du lịch giúp giảm thiểu chi phí
bỏ ra để khắc phục hậu quả của ô nhiễm chất thải du lịch Chi phí bỏ ra để khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường do chất thải du lịch sẽ lớn hơn rất nhiều so với chi phí để thực hiện các biện pháp phòng ngừa Ví dụ như, chi phí cho việc tuyên truyền về những nguy hiểm của chất thải du lịch gây ra, việc đầu tư các máy xử lý nước thải sẽ thấp hơn rất nhiều so với chi phí khắc phục hậu quả của ô nhiễm nguồn nước Phòng ngừa đôi khi chính là một biện pháp để bảo vệ môi trường Đối với một số hậu quả của
ô nhiễm môi trường thì không thể phục hồi mà chỉ có thể phòng ngừa Ví dụ như ô nhiễm chất thải có thể dẫn đến sự tuyệt chủng của một số loài sinh vật Trong trường hợp này thì có đầu tư kinh phí lớn cũng không thể phục hồi được tài nguyên Do đó, phòng ngừa đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý chất thải du lịch, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế bền vững Muốn phòng ngừa mang lại những hiệu quả thiết thực đối với quản lý chất thải du lịch cần đảm bảo những nguyên tắc sau đây:
Phải lường trước những rủi ro, tác hại xấu mà chất thải du lịch có thể gây ra cho con người và môi trường từ đó giúp chúng ta xác định sớm những biện pháp loại trừ và chuẩn bị đối phó với đầy đủ các phương án, lực lượng, phương tiện
Nguyên tắc phòng ngừa trong quản lý chất thải du lịch nhằm tiếp cận với các bất trắc, đề ra các hành động nhằm hạn chế những ảnh hưởng của chất thải đối với môi trường Nguyên tắc phòng ngừa được coi như nguyên tắc vàng trong bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải du lịch nói riêng, ngăn chặn các hành vi gây nguy hại cho môi trường
1.2.2 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền là một nguyên tắc đặc thù của pháp luật môi trường, nghĩa là dùng lợi ích kinh tế tác động vào chính hành vi của các chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường Có thể coi môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt, khi tác động đến môi trường thì phải trả tiền Nhà nước sẽ đứng ra thu khoản tiền này, đầu tư cho việc phục hồi, bảo vệ môi trường và chi trả cho những người có liên quan
Trang 20trong khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường vì môi trường là của chung, nếu môi trường bị suy thoái thì tất cả mọi người đều chịu ảnh hưởng, trong khi mức độ gây ô nhiễm của các đối tượng là không giống nhau Nguyên tắc này tác động trực tiếp vào lợi ích kinh tế của các chủ thể nên có tính răn đe và điều chỉnh hành vi của chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường Người gây ô nhiễm nghiêm trọng, phải khắc phục môi trường trong thời gian dài, thậm chí không khắc phục được nguyên trạng sẽ phải bồi thường tiền lớn, thậm chí cấm hoạt động
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền khác với phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường Người gây ô nhiễm phải trả tiền được tính gồm các khoản sau: tiền phải trả cho các hoạt động khai thác tài nguyên, thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường, tiền phải trả cho việc sử dụng dịch vụ, cơ sở hạ tầng, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, tiền đền bù cho các cá nhân liên quan chịu tác động do ô nhiễm môi trường gây ra…
Phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường là khoản tiền mà các chủ thể có hành vi vi phạm các quy định quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị phạt tiền để khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường…
Như vậy, người gây ô nhiễm phải trả tiền là hành vi gây ô nhiễm môi trường còn trong giới hạn của pháp luật Phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
là khi các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực môi trường nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, dù hành vi đó có gây tác động xấu cho môi trường hay chưa vẫn phải chịu phạt Một trong những giải pháp hữu hiệu thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền đó là đánh thuế bảo vệ môi trường Việc đánh thuế gián tiếp thông qua sản phầm hàng hóa, có nghĩa là những sản phẩm gây ô nhiễm môi trường hơn sẽ có giá cao hơn Do đó, kích thích tiêu dùng những sản phẩm thân thiện với môi trường hơn do có giá rẻ hơn, giúp điều chỉnh sản xuất và tiêu dùng theo hướng bền vững hơn Thuế bảo vệ môi trường thúc đẩy việc cải cách và đổi mới công nghệ, chuyển dịch nền kinh tế theo hướng
sử dụng hiệu quả đối với các loại năng lượng và nguồn lực Do đó, biện pháp đánh thuế bảo vệ môi trường cần đồng bộ với các chính sách quản lý kinh tế mới đem lại
Trang 21hiệu quả thực sự Đánh thuế môi trường cũng góp phần nâng cao nhận thức của các chủ thể đối với môi trường
Trong quản lý chất thải du lịch, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền đóng vai trò rất quan trọng Nó tạo ra sự công bằng của các chủ thể trong việc hành xử với môi trường, có tác dụng giáo dục răn đe những hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải du lịch, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững Các nhà hàng, khách sạn phải có cam kết về an toàn vệ sinh thực phẩm và quản lý chất thải đảm bảo yêu cầu Dân cư trong các khu du lịch cần có ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh công cộng, thực hiện nghiêm túc việc quản lý chất thải do cơ quan chức năng quy định.Tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương ứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu tới môi trường, phải đủ sức tác động tới hành vi của các chủ thể có liên quan
1.2.3 Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền
Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền có nghĩa là tất cả những đối tượng được hưởng lợi của môi trường trong lành, không bị ô nhiễm đều phải nộp phí Nguyên tắc này rất phù hợp với việc quản lý chất thải du lịch, khi chất thải du lich được quản lý chặt chẽ, môi trường được bảo vệ sẽ tạo ra cảnh quan đẹp, hấp dẫn du khách, ngành du lịch sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển, số lượng việc làm tăng lên, thu nhập cao, chất lượng cuộc sống, phúc lợi xã hội được đảm bảo Do đó, khi quản lý chất thải du lịch đạt hiệu quả, các chủ thể sẽ được hưởng lợi, vì vậy họ phải trả phí cho chính công tác quản lý chất thải đó, bởi trả phí chính là gián tiếp giữ cho môi trường được trong sạch, du lịch phát triển mạnh Phí quản lý chất thải bao gồm: chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn; thu gom, xử lý nước thải đạt chuẩn kỹ thuật môi trường, xử lý khí thải đạt chuẩn trước khi thải ra môi trường
Ngành du lịch là ngành hưởng lợi trực tiếp từ môi trường, việc quản lý chất thải
có hiệu quả Do vậy, ngành du lịch phải trích doanh thu của mình chi trả cho công tác bảo vệ môi trường, quản lý chất thải du lịch Thực chất, sự chi trả này cũng chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững ngành du lịch
Trang 221.2.4 Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền
Bản chất của việc quản lý chất thải chính là vì lợi ích của các chủ thể, bởi môi trường trong sạch thì chất lượng cuộc sống cũng được đảm bảo, các điều kiện cho phát triển kinh tế đặc biệt là du lịch sẽ thuận lợi hơn Do vậy, các chủ thể phải trả tiền cho việc quản lý chất thải Lấy ví dụ như các hộ gia đình phải trả phí cho việc xử lý nước thải (tính theo lượng nước sạch tiêu thụ) Nguyên tắc này cũng góp phần làm giảm lượng chất thải, bởi lượng chất thải càng nhiều thì phải trả càng nhiều tiền Do đó, hướng tiêu dùng của xã hội sẽ dần thay đổi theo hướng tiết kiệm hơn, sử dụng những sản phẩm thân thiện với môi trường, những sản phẩm dùng một lần sẽ được hạn chế tối
đa, những sản phẩm có nhiều chất thải cũng sẽ được hạn chế
Trong ngành du lịch, nguyên tắc này góp phần đáng kể trong việc giảm thiểu lượng chất thải, bởi nếu chất thải của các nhà hàng, của du khách nhiều thì các đơn vị
đó càng phải nộp nhiều tiền, ảnh hưởng đến lợi nhuận Vì thế, các chủ thể sẽ chuyển hướng kinh doanh, thân thiện với môi trường, phát triển du lịch bền vững
Chất thải có ảnh hưởng rất quan trọng đối với phát triển du lịch Quan hệ giữa chất thải và phát triển du lịch là quan hệ mang tính hệ thống
1.3.1 Chất thải du lịch tác động tới môi trường
Chất thải du lịch chủ yếu mang lại những tác động tiêu cực với môi trường Tác động này thể hiện cụ thể ở các mặt sau:
Sự bất đồng giữa mục tiêu phát triển du lịch và môi trường: khi quy mô, mục tiêu phát triển du lịch càng cao thì lượng chất thải cũng càng lớn Nếu các nhà quản lý, hoạch định chính sách không có những biện pháp quyết liệt và hiệu quả thì sự phát triển của du lịch sẽ mâu thuẫn với môi trường
Hoạt động du lịch tác động tới môi trường ở 2 khía cạnh:
Tác động tích cực:
Du lịch tạo ra hiệu quả tốt trong việc sử dụng hợp lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường du lịch, góp phần bảo tồn các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh Du lịch cũng góp phần tích cực làm cho cảnh quan các đô thị được tu sửa, các
Trang 23dịch vụ môi trường được cung cấp, nâng cao hiệu quả sử dụng những khu đất trống, tăng cường sinh kế cho người dân
Thông qua hoạt động du lịch, đời sống văn hóa, tinh thần được nâng cao
Du lịch góp phần bảo tồn nhưng tinh hoa văn hóa của dân tộc, góp phần bảo tồn và quản lý bền vững các tài nguyên, đặc biệt là các tài nguyên có nguy cơ bị mai một
Du lịch cũng làm tăng nguồn thu cho nền kinh tế quốc dân Đối với nhiều nước phát triển, du lịch là ngành mũi nhọn, đóng góp từ 40-60% trong tổng thu nhập GDP
Ở Việt Nam, du lịch đóng góp vào GDP là 6,6% (đứng thứ 40/184 nước về quy mô đóng góp trực tiếp vào GDP) Du lịch cũng góp phần kích thích tiêu dùng, tạo nhiều công ăn việc làm, thay đổi cấu trúc kinh tế của vùng, thay đổi cơ cấu và trình độ lao động, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
Phát triển du lịch giúp cải thiện môi trường đầu tư, giao lưu và phát triển khoa học kĩ thuật, giáo dục và bảo tồn thiên nhiên
Tác động tiêu cực:
Khi du lịch phát triển, lượng du khách tăng, hàng hóa sử dụng nhiều, nhu cầu sử dụng tài nguyên cũng tăng thì áp lực trực tiếp hay gián tiếp đến môi trường cũng gia tăng
Hiện nay, nhiều khu vực đang phát triển du lịch không bền vững, việc khai thác tài nguyên du lịch vượt quá ngưỡng tự phục hồi của tự nhiên Một số vấn đề môi trường nổi cộm trong hoạt động du lịch là:
Chất thải sinh hoạt tại các khu du lịch tăng đe dọa ô nhiễm môi trường đất, nước, cảnh quan du lịch xấu xí hơn trong mắt của du khách Theo thống kê, năm 2015 tổng lượng chất thải rắn từ hoạt động du lịch của Việt Nam khoảng gần 1 triệu tấn, tổng lượng nước thải là 62.535.000 m3 Hiện nay, không chỉ chất thải du lịch mà đa phần chất thải đều xử lý hết sức sơ sài Với rác thải, chủ yếu là chôn lấp Với nước thải, lượng nước được xử lý đạt chuẩn chiếm tỉ lệ nhỏ, chủ yếu là thải thẳng ra môi trường
Nước ngầm ở khu vực ven biển ngày càng bị suy thoái và ô nhiễm do nhu cầu
sử dụng nước sạch và lượng nước thải ngày càng tăng Theo số liệu thống kê, nhu cầu nước sạch cho khách du lịch năm 2010 là 25.641.815 m3; năm 2015 là 28.132.000 m3
Trang 24
quốc tế là 200- 250 lít/ngày; dân địa phương là 80- 120 lít/ngày Qua những con số thống kê trên ta thấy, nhu cầu sử dụng nước sạch tăng rất nhanh, lượng nước tiêu thụ của du khách cao hơn dân địa phương rất nhiều, đặc biệt là khách quốc tế, lượng nước sạch tiêu thụ gấp đôi dân địa phương Do đó, các cơ quan quản lý phải có những yêu cầu bắt buộc đối với việc xử lý nước thải, có chế tài xử lý nghiêm khắc đối với những
vi phạm về nước thải
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ các công trình du lịch cũng làm cho chất lượng nước xấu đi, tăng độ đục, phá hủy môi trường sống tự nhiên của các loài sinh vật Rác thải và nước thải làm tăng gây nguy cơ lây lan dịch bệnh Rác thải, chất lượng nước biển kém làm cho một số bờ biển của Việt Nam mất đi sự thu hút du khách
Trong quá trình phát triển của du lịch, nhiều công trình xây dựng đã lấn diện tích đất của các nhu cầu khác Những dự án lấn biển, mở rộng diện tích đất ở, đất cho các công trình du lịch gây ra sự thay đổi mạnh mẽ của cảnh quan thiên nhiên, cấu trúc địa chất, chất lượng nước, ô nhiễm bụi và tiếng ồn, ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch
và cuộc sống của nhân dân
Các phương tiện giao thông vận tải phục vụ cho du lịch rất đa dạng về loại hình
và chất lượng Ở một số khu du lịch, vào mùa du lịch hoặc lễ hội, số lượng phương tiện rất đông, có hiện tượng lôi kéo khách gây ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường
và gây mất an toàn cho khách du lịch
Sự phát triển của du lịch cũng làm ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên sinh vật: môi trường sinh sống của nhiều loài sinh vật bị thay đổi, một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng do nạn khai thác trái phép, do thói quen ẩm thực, nhu cầu chữa bệnh, đồ lưu niệm của khách du lịch…
Trong quá trình phát triển du lịch, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc có nguy cơ bị mất đi, nguy cơ du nhập những văn hóa ngoại không phù hợp, sự lây lan các dịch bệnh cũng là thách thức mà ngành du lịch phải đối mặt
Với những tác động tiêu cực như vậy, chất thải du lịch và biến đổi khí hậu đang là thách thức đối với sự phát triển du lịch Nó đòi hỏi chi phí tài chính lớn và sự quyết tâm của các đơn vị quản lý cũng như các đơn vị làm du lịch Theo Chương trình
xử lý chất thải rắn đến 2020 do Bộ Tài nguyên và Môi trường đệ trình Thủ tướng
Trang 25Chính phủ thì đảm bảo 70% lượng rác thải nông thôn, 80% lượng rác thải sinh hoạt, 90% lượng rác thải công nghiệp không nguy hại và 100% lượng rác thải nguy hại phải được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường Cũng theo Đề án này, năm 2020 lượng rác được tái chế, tái sử dụng đạt 95% Như vậy, chúng ta thấy, hiện nay vấn đề chất thải nói chung cũng đã rất được xã hội và các cơ quan ban ngành quan tâm, đã đặt ra các chỉ tiêu quyết liệt cho việc đảm bảo môi trường Trong khi đó, vấn đề chất thải có ảnh hưởng sống còn đến sự phát triền du lịch thì các đơn vị quản lý chất thải tại các khu du lịch cần phải đi đầu, làm tốt hơn nữa trong công tác xử lý chất thải Đây là việc khó, nhưng không phải là không làm được, nếu như các khu vực du lịch được quy hoạch hợp lý, việc quản lý xây dựng, phát triển các dịch vụ du lịch chặt chẽ, hiệu quả thì những tác động bất lợi của du lịch đối với môi trường hoàn toàn có thể kiểm soát được
1.3.2 Tác động của môi trường đến sự phát triển du lịch
Môi trường nói chung và chất thải nói riêng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đối với sự phát triển du lịch Môi trường trong sạch, chất thải được quản lý, xử lý đạt chuẩn sẽ tạo ra một môi trường du lịch thuận lợi, hấp dẫn, tạo thiện cảm cho du khách Ngược lại, môi trường ô nhiễm, chất thải không được quản lý, xử lý hợp vệ sinh sẽ tạo cảm giác các khu du lịch ô nhiễm, nhếch nhác, không hấp dẫn được du khách, kìm hãm sự phát triển của du lịch
Chất thải của hoạt động du lịch được tạo ra từ nhiều hoạt động Lượng khách du lịch càng lớn thì lượng chất thải du lịch sẽ càng nhiều Nếu các cơ quan quản lý môi trường, các khu du lịch không có những biện pháp bảo vệ môi trường chặt chẽ, quản lý chất thải nghiêm ngặt, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường thì môi trường bị ô nhiễm, thay đổi cảnh quan, mất cân bằng sinh thái, các giá trị du lịch bị xuống cấp
Ở Việt Nam, môi trường ở nhiều địa phương ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của ngành du lịch, cụ thể là:
Hạ tầng du lịch, môi trường và chất lượng du lịch chưa được tốt
Chất lượng nước vùng ven biển thay đổi nghiêm trọng do nước thải sinh hoạt, tàu
bè du lịch, các hoạt động công nghiệp trên địa bàn chưa qua xử lý xả thẳng xuống vịnh
Trang 26Nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học do môi trường sống bị ô nhiễm, do mất đi một số cảnh quan thiên nhiên làm mất đi môi trường sống của một số loài sinh vật Nguồn nước bị ô nhiễm cũng gây suy giảm các hệ sinh thái dưới nước Thói quen thưởng thức các đặc sản, đặc biệt là các sản vật quý hiếm tại các khu du lịch cũng là một yếu tố làm giảm đa dạng sinh học
Hoạt động của các tàu du lịch cũng làm cho chất lượng nước kém đi do xăng dầu rơi vãi, các vết dầu loang, nước thải la canh chưa qua xử lý
Cảnh quan môi trường tự nhiên của khu vực bị thay đổi là do: việc đầu tư xây dựng các công trình du lịch, việc khai thác tự nhiên quá mức làm suy giảm chất lượng các nguồn tài nguyên
Như vậy, chất thải du lịch có thể làm suy giảm, thậm chí huỷ hoại các giá trị tài nguyên thiên nhiên và môi trường Ảnh hưởng này không chỉ tác động tiêu cực đến sự phát triển của du lịch, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành khác, làm giảm chất lượng cuộc sống của nhân dân địa phương Đây là thách thức lớn đối với những người làm du lịch Muốn đảm bảo phát triển du lịch thì cần có nhiều nhân tố, trong đó việc quản lý chất thải du lịch, chất lượng môi trường đảm bảo luôn là một trong những vấn đề quan trọng
1.4 Chất thải trong bộ tiêu chí bảo vệ môi trường đối với các cơ sở du lịch
Bộ tiêu chí đạt chuẩn về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở du lịch và dịch vụ (sau đây gọi tắt là bộ tiêu chí) được xem là bộ công cụ đánh giá mức độ thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở du lịch và dịch vụ Trên cơ sở
đó, cùng với các tiêu chí khác, cơ quan quản lý nhà nước xem xét công nhận các cơ sở đạt chuẩn phục vụ khách du lịch tại các khu, điểm du lịch
Trong bộ tiêu chí này đã có những quy định rất đầy đủ và chi tiết đối với các cơ
sở ăn uống, các cơ sở vui chơi giải trí, các cơ sở bán hàng lưu niệm
Bộ tiêu chí gồm có các nhóm nội dung: bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo vệ môi trường xã hội, thông tin - truyền thông (nguồn lực và nghĩa vụ bảo vệ môi trường) Những quy định về chất thải nằm trong nhóm các nội dung tiêu chí bảo vệ môi trường
tự nhiên
Trang 27Những quy định cụ thể về chất thải trong bộ tiêu chí đối với các cơ sở ăn uống gồm có 13 tiêu chí, trong đó có 10 tiêu chí bắt buộc thực hiện, 03 tiêu chí khuyến khích thực hiện Đối với các cơ sở vui chơi giải trí gồm có 10 tiêu chí, trong đó có cả
10 tiêu chí đều bắt buộc thực hiện Đối với các cơ sở bán hàng lưu niệm gồm có 09 tiêu chí, trong đó 08 tiêu chí bắt buộc thực hiện, 01 tiêu chí khuyến khích thực hiện
Những quy định cụ thể đều có những yêu cầu chặt chẽ về việc các chất thải phải được xử lý đạt quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về môi trường Đối với nước thải, phải được thu gom, xử lý đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường Đối với chất thải rắn, chất thải nguy hại, phải được thu gom, lưu chứa, phân loại, vận chuyển đến nơi tập kết đúng quy định Có biện pháp giảm thiểu, tái sử dụng tái chế chất thải Tận dụng thực phẩm dư thừa, sử dụng hiệu quả nguyên liệu chế biến món ăn, hạn chế phát sinh chất thải rắn, góp phần giảm sức ép cho môi trường Đối với khí thải, có biện pháp kiểm soát tiếng ồn, ngăn chặn khói thuốc lá đảm bảo đúng giới hạn cho phép, không gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người
1.5 Các bên liên quan trong quản lý chất thải và phát triển du lịch
Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài một hệ thống nào đó Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, và các thành phần bên trong
nó có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Vì vậy, công tác bảo vệ môi trường đòi hỏi có sự phối kết hợp chặt chẽ của các cơ quan, ban ngành, các tổ chức trong và ngoài lãnh thổ Trong công tác bảo vệ môi trường thì vấn đề quản lý chất thải, trong đó bao gồm cả quản lý chất thải du lịch đóng vai trò quan trọng Đó không chỉ là sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng, mà đòi hỏi sự tham gia trước hết là của các doanh nghiệp du lịch, của các cộng đồng khác tham gia phát triển du lịch (người dân, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp…) cũng như của khách du lịch
1.5.1 Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nhà nước quản lý môi trường
Các cơ quan, tổ chức nhà nước có nhiệm vụ liên quan đến quản lý môi trường, gồm có:
Cấp Trung ương có: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Du lịch
Trang 28Cấp địa phương có: UBND các cấp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ban Quản lý các khu du lịch…
Các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch của nhà nước
Các công ty dịch vụ môi trường đô thị, các công ty xử lý chất thải
Các cơ quan này sẽ có trách nhiệm:
Xây dựng các văn bản pháp lý, các quy định dưới luật
Thực hiện và giám sát việc thực hiện các quy định, luật về bảo vệ môi trường
Tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật liên quan đến việc bảo vệ môi trường Khi có các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, tuỳ theo mức
độ, các cơ quan quản lý môi trường sẽ có chế tài xử lý phù hợp Các chế tài này ngoài tác dụng xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường mà còn có tác dụng răn đe, ngăn ngừa, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
1.5.2 Trách nhiệm của các doanh nghiệp du lịch, tổ chức xã hội và khách du lịch
Các bên liên quan đến quản lý môi trường:
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành, nhà hàng, khách sạn… Các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp như: Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội sinh viên, Hiệp hội du lịch…
Khách du lịch
Cộng đồng, người dân địa phương
Các bên liên quan này có trách nhiệm:
Chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng có liên quan trong việc bảo vệ môi trường, đặc biệt trong quản lý chất thải
du lịch, khắc phục những sự cố về môi trường nếu có
Phát hiện và tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, cung cấp các thông tin nhanh chóng, chính xác cho các cơ quan quản lý môi trường để điều tra, xử
lý, khắc phục những hậu quả của ô nhiễm môi trường
Đề xuất (hoặc tham mưu đề xuất) các giải pháp quản lý chất thải du lịch bảo vệ môi trường
Bồi thường thiệt hại nếu xả thải gây ô nhiễm môi trường
Trang 291.5.3 Các công cụ quản lý chất thải du lịch
Trong quá trình quản lý chất thải du lịch, ngoài các cơ quan chức năng có nhiệm vụ quản lý trực tiếp thì các tổ chức xã hội cũng có vai trò quan trọng giúp quản
lý chất thải hiệu quả hơn
1.5.3.1 Thông tin, truyền thông
Thông tin, truyền thông có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải du lịch nói riêng Trong quản lý môi trường, trong đó có quản lý chất thải thì thông tin, truyền thông môi trường được coi là công cụ hàng đầu vì tác động tới nhận thức, ý thức và từ đó làm thay đổi hành vi, thái độ ứng xử với tự nhiên, trong đó có hành vi xả thải
1.5.3.2 Quỹ môi trường
Quỹ là một công cụ tài chính huy động nguồn lực tài chính cho mục tiêu nhất định Ở các nước và ở nước ta, Nhà nước đều có chủ trương và tạo hành lang pháp lý khuyến khích thành lập và phát triển các quỹ cho bảo vệ môi trường (quốc gia, địa phương, doanh nghiệp) trong đó có mục tiêu quản lý chất thải Cụ thể là Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 02/2014/QĐ-TTg ngày 13/01/2014 về việc Tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam Nhiều địa phương cũng đã thành lập
và vận hành hoạt động có hiệu quả Quỹ Bảo vệ Môi trường địa phương Mới có rất ít doanh nghiệp Việt Nam thành lập Quỹ Bảo vệ Môi trường của doanh nghiệp (Ví dụ như Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam) Cho đến nay chưa có doanh nghiệp du lịch nào thành lập quỹ này
1.5.3.3 Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải
a Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
Ngày 29/11/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 174/2007/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn Theo đó, chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác của các tổ chức và cá nhân đều phải nộp phí bảo vệ môi trường Đối với chất thải rắn thông thường, mức thu không quá 40.000 đồng/tấn Đối với chất thải rắn nguy hại, mức thu không quá 6.000.000 đồng/tấn
Trang 30Khoản thu này được để lại một phần cho cơ quan, đơn vị trực tiếp thu phí để trang trải chi phí cho việc thu phí Phần còn lại các địa phương chi dùng vào các mục đích sau:
- Chi phí cho việc xử lý chất thải rắn đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, như: đốt, khử khuẩn, trung hóa, trơ hóa, chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh, đảm bảo có sự kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm môi trường phát sinh trong quá trình xử lý chất thải;
- Chi phí cho việc phân loại chất thải rắn, bao gồm cả hoạt động tuyền truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn;
- Chi hỗ trợ đầu tư xây dựng các bãi chôn lấp, công trình xử lý chất thải rắn, sử dụng công nghệ tái chế, tái sử dụng, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn
b Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Ngày 16/11/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2016/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải Theo đó, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân và các đối tượng khác phải chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải Mức thu là 10% trên giá bán của một m3
nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng
Khoản thu này để lại 25% cho tổ chức thu phí để trang trải chi phí cho hoạt động thu phí Phần còn lại được nộp vào ngân sách địa phương để sử dụng cho công tác bảo vệ môi trường; bổ sung nguồn vốn hoạt động cho Quỹ bảo vệ môi trường của địa phương để sử dụng cho việc phòng ngừa, hạn chế, kiểm soát ô nhiễm môi trường
do nước thải, tổ chức thực hiện các giải pháp, phương án công nghệ, kỹ thuật xử lý nước thải
1.5.3.4 Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải
Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải gồm có:
- Nhóm tiêu chuẩn về nước thải công nghiệp, dịch vụ, nước thải từ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, nước thải sinh hoạt và hoạt động khác
- Nhóm tiêu chuẩn về khí thải công nghiệp; khí thải từ các thiết bị dùng để xử
lý, tiêu hủy chất thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế và từ hình thức xử lý khác đối với chất thải
Trang 31- Nhóm tiêu chuẩn về khí thải đối với phương tiện giao thông, máy móc, thiết bị chuyên dụng
- Nhóm tiêu chuẩn về chất thải nguy hại
- Nhóm tiêu chuẩn về tiếng ồn, độ rung đối với phương tiện giao thông, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, hoạt động xây dựng
1.6 Kinh nghiệm quản lý chất thải trong phát triển du lịch ở một số địa phương nước ta
1.6.1 Kinh nghiệm địa phương
1.6.1.1 Kinh nghiệm của Hội An
Hội An là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất miền Trung và cả nước Năm 2016 Hội An đón 2,6 triệu lượt khách tham quan, cùng với thương mại, dịch vụ
du lịch trở thành ngành kinh tế chủ đạo chiếm gần 70% tỉ trọng của địa phương Tuy vậy, Hội An cũng đối diện với nhiều thách thức và áp lực cần khắc phục Một trong những khó khăn đó là vấn đề quản lý chất thải du lịch Hội An đã đưa ra rất nhiều giải pháp khắc phục những thách thức trên
Hội An đã triển khai chương trình “phân loại rác tại nguồn” nhằm giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế rác thải Tất cả các hộ dân, hộ kinh doanh, nhà hàng, khách sạn và các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học trên địa bàn được tập huấn, trang bị kiến thức về chất thải rắn, cách phân loại nhằm tận thu các loại rác thải có khả năng tái chế, giảm lượng rác thải, hướng tới thói quen bảo vệ môi trường Ngoài ra, địa phương cũng có cơ chế bắt buộc một số đối tượng phát thải phải phân loại rác tại nguồn, phải
có cơ chế khuyến khích các cơ sở, cá nhân sử dụng các sản phẩm ít rác thải, bao bì sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường
Công tác phân loại rác tại nguồn đã đưa ra những quy định cụ thể như:
- Rác dễ phân hủy gồm: lá cây, cành cây nhỏ, hoa quả, thực phẩm nhà bếp, bã trà, bã cà phê, giấy ăn, rơm rạ, cỏ…
- Rác khó phân hủy gồm: túi ni lông, nhựa, chai lọ, bao xi măng, vỏ các loài nhuyễn thể, vải, tàn thuốc, xương, xốp, vỏ đồ hộp, giấy cứng, phế liệu linh kiện điện
tử, kim loại…
Trang 32Công tác thu gom chất thải đúng theo lịch và bố trí địa điểm dự phòng phù hợp
để tập trung rác thải dễ phân hủy khi nhà máy xử lý rác thải gặp sự cố
Rác sinh hoạt trong dân, rác thải đường phố, tại các chợ, trường học, cơ quan đơn vị đều được phân loại và thu gom theo thời gian riêng
Tại các khu vực vỉa hè, bố trí thêm các thùng rác khác màu để cho khách du lịch
bỏ rác đúng chúng loại vào từng thùng Hội An cũng có những chế tài phù hợp xử phạt những hành vi vứt rác ra đường, có biện pháp quản lý, giám sát nghiêm, yêu cầu người dân không bỏ rác dễ phân hủy vào các túi ni lông, để rác đúng theo lịch trình thu gom
Mỗi ngày, thành phố Hội An phát sinh 69 tấn rác thải, mỗi năm phát sinh 25 ngàn tấn rác thải Nhưng với những biện pháp kiên quyết, đồng bộ trong đó có giải pháp “phân loại rác tại nguồn” mà Hội An đã bước đầu xử lý hiệu quả vấn đề rác thải, góp phần hướng tới mục tiêu xây dựng Thành phố sinh thái đầu tiên của Việt Nam vào năm 2023
1.6.1.2 Kinh nghiệm của Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm giữa ba di sản thế giới: cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn Đà Nẵng có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như Ngũ Hành Sơn, Bà Nà, bán đảo Sơn Trà, đèo Hải Vân, sông Hàn, bãi biển Mỹ Khê… Năm 2016, Đà Nẵng đón 5,51 triệu lượt khách, trong đó có 1,66 triệu lượt khách quốc tế Tổng thu từ du lịch ước đạt 16.000 tỷ đồng.Với mục tiêu trở thành “thành phố môi trường” vào năm 2020 Đà Nẵng
đã tập trung vào giải quyết tốt vấn đề môi trường, chất thải bằng các giải pháp sau: đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu trong các cấp học, bậc học trong hệ thống giáo dục và đào tạo; vận động xây dựng lối sống thân thiện với môi trường; tiêu dùng bền vững; hình thành ý thức bảo vệ môi trường; tiến tới xây dựng xã hội ít chất thải, phát thải các bon thấp, hài hòa, thân thiện với môi trường Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, tiết kiệm năng lượng, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo
Đà Nẵng xác định việc quản lý chất thải rắn là nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ môi trường, phát triển du lịch Vì vậy, thành phố đã đầu tư cho các hoạt động thu gom rác Từ năm 2012, Đà Nẵng đã phê duyệt Đề án “thu gom rác thải theo giờ
Trang 33trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, thực hiện tại 6 quận nội thành của thành phố Đề án giúp hình thành thói quen đổ rác đúng giờ, đúng nơi quy định, đảm bảo mĩ quan đô thị, không còn tình trạng rác tồn đọng, quá tải của các thùng rác trên đường, không còn tình trạng rác bốc mùi do không được thu gom kịp thời
Đà Nẵng còn đầu tư cho công nghiệp tái chế chất thải để tái sử dụng, phấn đấu đến năm 2020 sẽ có 70% lượng chất thải rắn được tái chế Đà Nẵng đã khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư bảo vệ môi trường, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo
vệ môi trường Các dự án môi trường như của tổ chức JICA (Nhật Bản), Dự án GIZ (Đức), sự đầu tư xây dựng “Khu liên hợp xử lý chất thải rắn tại bãi rác Khánh Sơn” của Công ty Cổ phần Môi trường Việt Nam là giải pháp cho vấn đề rác thải, góp phần giảm lượng rác thải chôn lấp, tận thu các thành phần của rác thải để tạo thành nguồn năng lượng và sản phẩm hữu ích
1.6.1.3 Kinh nghiệm của Nha Trang
Nha Trang là thành phố biển xinh đẹp của miền Trung Nơi đây có nhiều di tích
và thắng cảnh đẹp cùng với nền văn hóa biển đảo lâu đời với rất nhiều giá trị đặc sắc Năm 2016, Nha Trang đón 4,5 triệu lượt khách, trong đó có 1,1 triệu lượt khách quốc
tế Tổng doanh thu ngành du lịch đạt 8.300 tỷ đồng Sự tăng trưởng của ngành du lịch kéo theo những hệ lụy mà địa phương này muốn phát triền nhanh thì phải giải quyết triệt để Một trong những vấn đề đó là chất thải du lịch
Mỗi ngày, Vịnh Nha Trang hứng chịu hàng nghìn mét khối nước thải xả ra từ các khu dân cư, 10 tấn rác thải từ hơn 2.000 người dân sống trên các đảo, 6.000 lồng nuôi thủy hải sản, tàu thuyền đánh cá, tàu thuyền du lịch, khách du lịch, thậm chí là rác thải của dân cư vứt xuống sông, khi có mưa thì rác theo dòng nước trôi ra biển Nước thải hầu như chưa được xử lý, thải thẳng ra biển nên gây ô nhiễm nghiêm trọng vùng biển ven bờ
Để khắc phục tình trạng này, thành phố Nha Trang đã triển khai phương án
“Phối hợp quản lý thu gom, vận chuyển rác trên các đảo và lồng bè nuôi trồng thủy sản trên Vịnh Nha Trang về bãi rác thành phố” Ban quản lý khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang đầu tư ban đầu trên 102 triệu để xây dựng các hầm xử lý rác, trang bị 21 thùng
Trang 34để thu gom và đưa số rác thải từ các đảo, các khu vực nuôi trồng thủy sản vào đất liền, tiến hành vớt rác trôi trên biển, bắt buộc các tàu du lịch phải trang bị nhà vệ sinh chuyên dùng bằng công nghệ tự hoại, dụng cụ đựng rác đưa vào bờ để xử lý Tăng cường thu gom, xử lý rác thải ở vùng ven biển, đảo
Chính quyền địa phương cũng phải tuyên truyền đến người dân về ý thức bảo
vệ môi trường, phát động các chiến dịch làm sạch bờ biển tại các Vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh và các đảo Hàng năm, Ban quản lý Vịnh Nha Trang đều tiến hành khảo sát và đánh giá mức độ ô nhiễm trong vịnh UBND tỉnh Khánh Hòa đã nghiêm cấm xả thải, hạn chế đánh bắt, nuôi trồng thủy sản tại Vịnh Nha Trang
1.6.2 Bài học rút ra cho Hạ Long
Hạ Long cũng là khu vực phát triển du lịch biển, mặc dù có một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội khác với Hội An, Đà Nẵng, Nha Trang Nhưng du lịch Hạ Long cũng đang chịu ảnh hưởng lớn của chất thải nói chung và chất thải du lịch nói riêng
Vì vậy, Hạ Long cần học hỏi và rút kinh nghiệm từ cách quản lý chất thải của các địa phương trên, đưa ra biện pháp nhằm quản lý, xử lý chất thải có hiệu quả Bởi vì, theo Quyết định số 33 COM 7B.20 của Ủy ban di sản thế giới năm 2009 thì: “Ủy ban di sản thế giới thể hiện quan ngại sâu sắc rằng những giá trị nổi bật toàn cầu của di sản này vẫn phải chịu sức ép của du lịch, đánh bắt cá và các hoạt động khác diễn ra ngay trong lòng di sản bên cạnh những dự án phát triển kinh tế và các hoạt động đổ rác thải trong khu vực xung quanh di sản” Điều đó có nghĩa là nếu Vịnh Hạ Long không làm tốt công tác bảo tồn, gìn giữ di sản thì không chỉ bị UNESCO khuyến nghị mà Vịnh Hạ Long còn có thể bị đưa vào Danh sách Di sản thế giới trong tình trạng nguy hiểm hoặc
bị xóa tên khỏi Danh sách Di sản thế giới
Kinh nghiệm quản lý chất thải du lịch của các địa phương có điều kiện phát triển du lịch tương tự như Vịnh Hạ Long (ven biển, đô thị…) cho thấy cần chú ý các điểm sau:
- Có quy định cụ thể, rõ ràng và phù hợp để tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động quản lý chất thải du lịch
- Làm tốt công tác truyền thông, giáo dục, vận động để tạo nhận thức, ý thức và thái độ, hành vi ứng xử thân thiện với môi trường, nhất là hành vi xả thải
Trang 35- Có sự cam kết, đồng thuận và tích cực phối hợp của các bên liên quan, đặc biệt là các doanh nghiệp du lịch và khách du lịch
- Có cơ sở hạ tầng tốt để thu gom, xử lý chất thải du lịch
Tiểu kết chương 1: Quản lý chất thải nói chung và quản lý chất thải du lịch nói
riêng là công việc khó khăn, phức tạp và tốn kém Nếu không làm tốt công tác này sẽ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của địa phương nói chung và sự phát triền ngành du lịch nói riêng Trong giai đoạn nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhất là khó khăn về vốn, đòi hỏi các địa phương cần có quyết tâm và sáng tạo trong quản lý, xử lý chất thải, đưa ra những giải pháp đồng bộ, phù hợp với tình hình cụ thể để chất thải không còn là vấn đề nhức nhối, rào cản cho phát triển của mỗi địa phương
Trang 36Chương 2 QUẢN LÝ CHẤT THẢI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Ở VỊNH HẠ LONG 2.1 Khái quát về Vịnh Hạ Long và tài nguyên du lịch
2.1.1 Tổng quan chung về Vịnh Hạ Long
2.1.1.1 Tự nhiên
Vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên Thế giới có diện tích 434 km2 với 775 hòn đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hàm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông), đây là khu vực bảo vệ tuyệt đối được UNESCO
và chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoanh vùng
Vịnh Hạ Long là nơi có tài nguyên thiên nhiên phong phú: tài nguyên khoáng sản (đá vôi, cát), tài nguyên sinh vật (hệ sinh thái rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới,
hệ sinh thái biển và ven bờ) Vịnh Hạ Long còn có hơn 1000 loài thực vật sống trong rừng và trên các đảo, 185 loài thực vật phù du trong nước Vịnh Hạ Long là nơi sinh sống của 1.151 loài động vật cả trên bờ và dưới nước với gần 500 loài cá, 232 loài san
hô và 57 loài cua Trong đó, có hàng chục loài đặc hữu, quý hiếm có tên trong sách đỏ Với đặc điểm hệ sinh thái đa dạng và điều kiện tự nhiên phong phú với khí hậu, diện tích các bãi triều lớn, nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao, các loài có giá trị kinh tế lớn như: cá song, cá giò, tôm, cua, ngán, trai ngọc… rất thích hợp cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản
Với vị trí địa lý và các đặc điểm tự nhiên rất đặc biệt nên Vịnh Hạ Long có điều kiện thuận lợi cho phát triển nhiều ngành kinh tế như: du lịch, giao thông vận tải, đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản, khai thác khoáng sản… Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khu vực này cần có những biện pháp gì để khai thác tối đa những lợi thế về tự nhiên phục
vụ cho phát triển kinh tế nhưng vẫn đảm bảo được sự hài hòa của các yếu tố và sự bền vững của các ngành này trong tương lai
Trang 37cảnh, tắm biển, chèo thuyển Kay - ắc, kéo phao chuối, dù kéo, dù lượn, thuỷ phi cơ, tham quan làng nghề nuôi cấy ngọc trai, khu nuôi trồng thuỷ sản kết hợp du lịch, du lịch sinh thái, leo núi, lễ hội văn hoá truyền thống, tham quan nghiên cứu Hiện tại, khu vực Vịnh Hạ Long đã phát triển thêm nhiều loại hình dịch vụ mới độc đáo, hấp dẫn, xứng tầm quốc tế phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí của khách du lịch như: cáp treo nữ hoàng, vòng quay mặt trời, công viên Dragon Park… Hiện nay, Vịnh
Hạ Long đã và đang là một trong những điểm du lịch quan trọng trong sự lựa chọn của
du khách quốc tế khi đến Việt Nam Lượng khách tham quan Vịnh Hạ Long tăng cao trong những năm gần đây nhờ những chính sách phát triển du lịch đúng đắn và hiệu quả của tỉnh Quảng Ninh Năm 2016 Vịnh Hạ Long đón hơn 3 triệu lượt khách Tuy nhiên, phát triển du lịch cũng gây nhiều sức ép đến môi trường đặc biệt là vấn đề ô nhiễm chất thải (rác thải, nước thải)
Giao thông vận tải đường thuỷ và cảng biển có điều kiện rất thuận lợi để phát triển Vịnh Hạ Long có nhiều đảo nên là vùng biển kín, ít sóng, an toàn cho tàu bè neo đậu, hệ thống luồng lạch tự nhiên dày đặc và các cửa sông ít bị bồi lắng Đường bờ biển của Vịnh Hạ Long dài hơn 100km nên rất thuận lợi cho phát triển giao thông vận tải biển, hình thành các cảng biển lớn nhỏ Trong những năm gần đây, các cảng biển
đã được chú trọng đầu tư, nâng cấp để phục vụ tốt cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội Các cảng biển, bến tàu có khả năng đón được những tàu có trọng tải lớn, góp phần nối liền tuyến vận tải thuỷ trong nước và quốc tế Hiện khu vực Hạ Long, Bãi Cháy và Vân Đồn có 24 cảng đang hoạt động phục vụ vận chuyển bốc xếp than, hàng hóa, xăng dầu, hành khách và thủy hải sản Tiêu biểu trong số đó có thể kể đến cảng Cái Lân Hiện nay ở miền Bắc, đây là cảng container lớn nhất với mớn nước sâu -13 mét, tổng chiều dài luồng vào cảng 36km từ phao số 0 qua Hòn Một đến cảng Cái Lân Tại đây
có hệ thống trang thiết bị hiện đại đủ khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải trên 50.000 DWT, độ dài tàu hơn 250 mét cập cảng Trong năm 2014 tổng số lượt tàu biển qua cảng là 914 lượt với tổng lượt xếp dỡ là 9.461.049 tấn, trong đó có 826 lượt phương tiện tàu hàng với 326.400 tấn hàng thực chở Quảng Ninh đã và đang tạo mọi điều kiện thuận lợi để Cái Lân phát triển trở thành cảng biển lớn nhất miền Bắc Ngoài ra, Quảng Ninh còn có nhiều các cảng chuyên dụng, các cảng phụ trợ như: cảng Cửa Ông,
Trang 38khách du lịch có 03 cảng là cảng Cái Dăm, cảng tàu cao tốc đi Móng Cái và cảng biển
để đón tàu khách quốc tế cỡ lớn Tuy nhiên, hoạt động giao thông vận tải thuỷ và các cảng biển cũng là nguồn gây ô nhiễm lớn cho Vịnh Hạ Long, đặc biệt là ô nhiễm về dầu mỡ khoáng, nước thải sinh hoạt…
Bảng 2.1: Số lượng tàu biển ra vào khu vực cảng biển Quảng Ninh
Khu vực Năm 2011
(Lượt tàu)
Năm 2012 (Lượt tàu)
Năm 2013 (Lượt tàu)
Năm 2014 (Lượt tàu)
Năm 2015 (Lượt tàu)
Năm 2016 (Lượt tàu)
(Nguồn: Báo cáo Hiện trạng Môi trường Vịnh Hạ Long năm 2016)
Cùng với hệ thống các cảng biển phong phú thì hiện nay trên Vịnh Hạ Long có hàng ngàn phương tiện từ lớn nhỏ đang hoạt động Theo số liệu thống kê, tại các vùng vịnh kín tương tự như Vịnh Hạ Long, các phương tiện vận tải thủy, thải ra lượng dầu chiếm 70% lượng dầu thải xuống biển hàng năm Hiện nay, với số lượng trên 1000 tàu thuyền các loại, thường xuyên, hàng ngày hoạt động và neo đậu trên Vịnh Hạ Long, cùng với hàng vạn lượt phương tiện các loại ra vào vịnh hàng năm, thì lượng dầu thải, rác thải đổ xuống vịnh hàng năm là rất lớn Theo các quy định hiện hành, các phương tiện vận tải người, hàng hóa và tàu thuyền du lịch đều phải có thiết bị chứa và xử lý các loại chất thải, tuyệt đối không được xả thẳng nước thải chưa qua xử lý xuống vùng nước bảo tồn như Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long Tuy nhiên với lượng phương tiện nhiều, công tác kiểm tra còn chưa thường xuyên nên hầu hết các phương tiện này khó kiểm soát các hoạt động xả các chất thải, dầu thải xuống biển
Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển Vịnh Hạ Long có điều kiện khí hậu, thuỷ văn thuận lợi, chế độ nhật triều thuần nhất điển hình nên đây là một trong những vùng biển nổi tiếng về các loại thuỷ hải sản ngon của cả nước Có thể kể đến một số loài có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao như:
cá Song, cá Nhụ, các loại Tôm, Bào Ngư, Mực, Hải sâm, Sá sùng, Ngán…Vịnh Hạ Long còn có rất nhiều đảo tạo nên hệ thống các Tùng, Áng đặc trưng là nơi cư trú rất nhiều loại hải sản quý như: các loại Ốc, Tu hài, Sò huyết, Trai ngọc, Vẹm xanh
…Vịnh Hạ Long là ngư trường thuận lợi không chỉ cho ngư dân trong tỉnh mà ngư dân
Trang 39của rất nhiều địa phương khác cũng đổ về đây cùng khai thác nguồn lợi hải sản giàu
có Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản vừa là sinh kế, là nét văn hoá truyền thống của ngư dân trên Vịnh Hạ Long Hoạt động nuôi trồng thuỷ hải sản cũng phát triển rất mạnh mẽ tại Vịnh Hạ Long Do có nhiều cửa sông đổ ra nên nước biển giàu chất dinh dưỡng, những bãi triều rộng lớn là điều kiện để hình thành nên những khu vực nuôi thuỷ hải sản lớn như: Cửa Vạn, Ba Hang, Vung Viêng, Hoa Cương, Cống Đầm…Hoạt động nuôi trồng thuỷ hải sản góp phần cung cấp lượng hàng hoá lớn, chất lượng cho thị trường, cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến hải sản, cung cấp nguồn hàng cho xuất khẩu, giảm áp lực cho đánh bắt thuỷ hải sản tự nhiên và góp phần kết nối, phục vụ du lịch (du lịch tham quan các làng chài) Mặc dù tạo ra giá trị kinh tế lớn nhưng hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản cũng gây ô nhiễm vịnh (dầu mỡ thải của các tàu đánh cá, rác thải, nước thải sinh hoạt của của các làng chài )
Về đánh bắt: khu vực Vịnh Hạ Long có khoảng hơn 6.600 tàu thuyền thường xuyên hoạt động khai thác thủy sản, sản lượng ước đạt 50 triệu tấn/năm, phần lớn là đánh bắt gần bờ Do đó, nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn lợi thuỷ sản ven bờ như: nhóm
cá nổi, cá tầng đáy sẽ có nguy cơ vĩnh viễn biến mất, các hệ sinh thái đặc trưng, nơi cư trú, cung cấp nguồn dinh dưỡng đang bị đe dọa và phá hủy Nguồn lợi thủy sản ven bờ
ở độ sâu dưới 30 mét nước trở vào đã bị khai thác vượt quá giới hạn cho phép từ 20- 30%; năng suất khai thác một số loại giảm từ 30- 60% so với 10 năm trước; tỉ lệ cá chưa trưởng thành trong một mẻ lưới vượt quá giới hạn cho phép từ 20- 45% Với kiểu đánh bắt tận diệt nên các loài thủy sản có nguy cơ cạn kiệt, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng và ảnh hưởng tới hệ sinh thái đa dạng của Vịnh Hạ Long Do đó, tỉnh Quảng Ninh đã cấm đánh bắt, khai thác thủy hải sản trong vùng lõi Vịnh Hạ Long và có lộ trình cấm đánh bắt trong cả vùng đệm Công tác quản lý các hoạt động đánh bắt thủy hải sản cũng được đẩy mạnh, công tác xử lý các vi phạm cũng được tăng cường để bảo
vệ nguồn lợi thủy hải sản cho Vịnh Hạ Long
Trang 40Bảng 2.2: Số lượng tàu khai thác thủy hải sản khu vực Vịnh Hạ Long
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Ninh)
Về nuôi trồng thủy sản: hiện nay trên Vịnh Hạ Long hiện có 806 nhà bè đang nuôi trồng và kinh doanh hải sản, họ còn tham gia chèo đò, bán hàng rong, kinh doanh dịch vụ ăn uống Tỉnh Quảng Ninh đã quy hoạch 7 làng chài trên vịnh Tuy nhiên, mô hình nuôi trồng truyền thống có nhiều hạn chế, người dân còn làm bè nổi bằng phao xốp, sử dụng cá tạp làm thức ăn cho cá nuôi làm giảm đa dạng sinh học trên vịnh, gây
ô nhiễm môi trường nước và thủy sản nuôi trồng không đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm Vì vậy, tỉnh Quảng Ninh có chủ trương đưa dần ngư dân trong các làng chài lên đất liền và tăng cường sinh kế bền vững cho họ
Các hoạt động kinh tế - xã hội ven bờ Vịnh Hạ Long cũng rất đa dạng như: các khu công nghiệp, các nhà máy, các cơ sở hoạt động sản xuất, dịch vụ công nghiệp… góp phần đem lại thu nhập cao, tạo nhiều việc làm cho tỉnh Quảng Ninh Khu vực ven
bờ Vịnh Hạ Long có mật độ dân số cao, là nơi có vị trí địa lý thuận lợi cho cả giao thông vận tải đường bộ và đường thuỷ Tuy nhiên, các hoạt động kinh tế - xã hội này cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường Vịnh Hạ Long
số đảo như đảo Sa Tô (thành phố Hạ Long), đảo Thắng Lợi (huyện đảo Vân Đồn) Cư