ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG Tìm hiểu tiềm năng, thực trạng hoạt động và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà – T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Tìm hiểu tiềm năng, thực trạng hoạt động và đề xuất giải pháp phát triển
du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà – Thành Phố Hải Phòng.
Giáo viên hướng dẫn: TS Võ Thanh Sơn Những người thực hiện:
Phạm Văn Thương
Từ Quang Tuyến
Vũ Ngọc Hiếu
Khương Hữu Thắng Phạm Xuân Thành Nguyễn Hoàng Minh Hải
Hà Nội, 1 – 2010
Trang 2MỞ ĐẦU 3
1 Đặt vấn đề 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Nội dung nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN 5
1 Khái niệm về du lịch sinh thái 5
2 Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái 5
3 Những yêu cầu cơ bản đối với du lịch sinh thái 5
CHƯƠNG 2 - ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1 Địa điểm nghiên cứu 5
2 Thời gian nghiên cứu 5
3 Phương pháp nghiên cứu 5
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ THẢO LUẬN 6
1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tại Vườn quốc gia Cát Bà 6
1.1 Vị trí địa lý Vườn quốc gia Cát Bà 6
1.2 Điều kiện tự nhiên 6
1.3 Kinh tế - xã hội 7
2 Tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà 8
2.1 Vị trí 8
2.2 Tài nguyên động, thực vật rừng, biển 8
2.3 Cảnh quan thiên nhiên 9
2.4 Dịch vụ giải trí và nghỉ dưỡng 9
2.5 Văn hoá lịch sử, lễ hội truyền thống 10
2.6 Ẩm thực 10
3 Thực trạng tổ chức hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà 11
3.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Vườn quốc gia Cát Bà 11
3.2 Các phân khu chức năng 13
3.3 Thực trạng về du lịch sinh thái của Vườn quốc gia Cát Bà 14
3.4 Những thuận lợi và khó khăn 17
3.5 Dự báo sức chịu tải của Vườn quốc gia 19
CHƯƠNG 4 - ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 20
1 Đối với VQG Cát Bà 20
2 Đối với chính quyền các cấp 20
3 Đối với người dân địa phương 21
4 Tiến trình thực hiện 22
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 22
1 Kết luận 22
2 Kiến nghị 23
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Du lịch nói chung và du lịch sinh thái (DLST) nói riêng ngày nay đã và đang pháttriển nhanh chóng như một trào lưu tại nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng DLST ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớpdân cư trong xã hội Đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ranhanh chóng của Việt Nam kể từ khi sau thời kỳ đổi mới năm 1986, khi mà các khucông nghiệp, chế xuất, khu kinh tế được phát triển ồ ạt, dân số không ngừng gia tăng,
đô thị hóa và tập trung dân cư với mật độ dân cư cao, tình trạng ô nhiễm môi trườngdiễn ra ngày càng nghiêm trọng thì việc tìm về với tự nhiên, thăm quan tại những khu
du lịch đã trở thành nhu cầu tất yếu của con người
DLST đang có chiều hướng phát triển và trở thành một bộ phận có tốc độ tăngtrưởng mạnh nhất về tỷ trọng trong ngành du lịch của Việt Nam Thực tế là, những địaphương nào còn giữ nhiều khu thiên nhiên, khu bảo tồn, ít bị xâm hại bởi quá trình pháttriển các dự án công nghiệp và còn có được sự cân bằng sinh thái thì nơi đó sẽ có tiềmnăng phát triển tốt về DLST và thu hút được nguồn du khách lớn, lâu dài và ổn định, từ
đó có thể mang lại những lợi ích kinh tế to lớn góp phần làm tăng thu nhập quốc dân Tuy vậy, từ sự phát triển mạnh mẽ và nhu cầu tăng cao đối với du lịch sinh thái ởViệt Nam trong những năm gần đây thì các khu du lịch sinh thái, khu bảo tồn ở ViệtNam đang đối mặt với nhiều nguy cơ tiềm ẩn từ sự thiếu ý thức tham gia của kháchtham quan trong việc bảo tồn những giá trị vốn có của nó và phát triển, và sự yếu kémtrong công tác bảo tồn, bảo vệ tài nguyên thiên… Chính sự phát triển ấy, du lịch sinhtái đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ và những thách thức về vấn đề môi trường – xã hội Rõràng, việc xây dựng và phát triển du lịch sinh thái ở nước ta hiện nay đang có nhiều tồntại và bất cập cần giải quyết để hướng tới sự phát triển bền vững ngành du lịch của ViệtNam Nếu trong những năm tới, ngành du lịch không có những biện pháp hiệu quảtrong công tác bảo tồn, xây dựng các khu du lịch thì những giá trị của chúng có thể sẽbiến mất vĩnh viễn, gây thiệt hại lớn đối với không chỉ riêng Việt Nam mà cả thể giới.VQG Cát Bà là nơi có giàu tiềm năng về biển và rừng có thể phát triển thành trungtâm du lịch của cả nước Tuy nhiên, tiềm năng này chưa được khai thác đúng mức,nguồn nhân lực và tài chính còn hạn chế, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầucủa khách tham quan Đây chính là những nguyên nhân chính khiến VQG Cát Bà chưaphát huy được tiềm năng vốn có
Trang 4Để góp phần phát triển du lịch sinh thái của các Vườn quốc gia đem lại hiệu quảcho kinh tế - xã hội địa phương và thực hiện tốt công tác tuyên truyền, bảo tồn ĐDSH
tại khu vực, việc “Tìm hiểu tiềm năng, thực trạng hoạt động và giải pháp phát triển
du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà – TP Hải Phòng” đang trở thành vấn đềbức thiết mà xã hội đặt ra trong bối cảnh hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu tổng thể
Xây dựng những giải pháp thích hợp cho phát triển du lịch sinh thái, nhằm phục vụcho công tác bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và pháttriển sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương tại khu vực VQG Cát Bà
* Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà
- Xây dựng và đề xuất các kế hoạch, chương trình hành động, giải pháp phát triển
du lịch sinh thái bền vững ở Vườn quốc gia Cát Bà
3 Nội dung nghiên cứu.
+ Tìm hiểu các tiềm năng thế mạnh cho phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốcgia Cát Bà
+ Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch sinh thái đang diễn ra tại khu vực VQG Cát
Bà những xu hướng tham gia du lịch sinh thái của khách du lịch hiện nay
+ Tìm hiểu khả năng tham gia hoạt động du lịch sinh thái của người dân địaphương: làm dịch vụ, cung cấp sản phẩm truyền thống, hướng dẫn du lịch…
+ Tìm các giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà
4 Cấu trúc báo cáo
Báo cáo gồm: 79 trang; Mở đầu: 3 trang; Chương 1: Tổng quan: 3 trang; Chương 2:Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu; 3 trang; Chương 3: Kết quả và thảoluận: 32 trang; Chương 4: Đề xuất các giải pháp: 7 trang; Kết luận và kiến nghị: 2trang; Tài liệu tham khảo: 2 trang; Phụ lục: 22 trang
Trang 5CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN
1 Khái niệm về du lịch sinh thái
2 Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái
3 Những yêu cầu cơ bản đối với du lịch sinh thái
CHƯƠNG 2 - ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại Vườn quốc gia Cát Bà Huyện Cát Hải Thành phố Hải Phòng
-2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 24/12/2009 đến ngày 31/01/2010, trong đó:
- Công tác chuẩn bị diễn ra trong khoảng thời gian từ 24 – 28/12/2009
- Tổ chức nghiên cứu thực địa, thu thập số liệu tại Cát Bà Từ ngày 29/12/2009 –10/01/2010
- Tổng hợp phân tích số liệu điều tra, so sánh kế hoạch từ ngày 10-16/01/2010
- Viết báo cáo từ ngày 16/01/2010 – 25/01/2010
3 Phương pháp nghiên cứu
+ Tham vấn chuyên gia: tham vấn những người có chuyên môn sâu và hiểu biết
rộng đã và đang làm trong lĩnh vực du lịch;
+ Thu thập số liệu: Thu thập tài liệu thứ cấp, số liệu thống kê, các báo cáo nghiêncứu và kết quả nghiên cứu của các dự án bảo tồn, phát triển kinh tế xã hội, du lịch từcác viện nghiên cứu, trường đại học, VQG Cát Bà, Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát
Bà, UBND huyện Cát Hải về i) Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của địa điểmnghiên cứu; ii) Quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học; iii) Cáchoạt động liên quan đến du lịch trên địa bàn nghiên cứu
+ Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu một số đối tượng quan trọng bao gồm cáccán bộ cấp xã, huyện; kết hợp với tham vấn các cán bộ của VQG Cát Bà và nhữngngười dân địa phương làm du lịch và tham gia các hoạt động du lịch sẽ là kênh thôngtin hữu ích;
Trang 6+ Những số liệu, thông tin thu thập được phân tích, tổng hợp nhằm tìm hiểu nhữngđặc trưng cơ bản về giá trị ĐDSH, cảnh quan thiên nhiên, văn hoá, ẩm thực, giải trí vàhiện trạng tổ chức, quản lý hoạt động du lịch của Vườn quốc gia Cát Bà.
Dựa trên các kết quả điều tra nghiên cứu, các báo cáo tổng kết hàng năm của VQG
từ các năm trước đây cho đến cuối tháng 12 năm 2009, những thông tin thu thập sẽđược phân tích để làm rõ tiềm năng, cơ hội – thách thức trong hoạt động du lịch sinhthái của VQG, từ đó xây dựng các nhóm giải pháp nhằm khắc phục các khó khăn,thách thức trong hoạt động DLST tại vườn Các nhóm giải pháp tập trung chủ yếu vàonhóm giải pháp tổ chức, quản lý các hoạt động và phát triển du lịch sinh thái của VQGCát Bà
+ Phân tích sơ đồ Swot: Việc sử dụng sơ đồ SWOT sẽ giúp làm rõ thực trạng vềnhững điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc phát triển du lịch sinhthái tại VQG Cát Bà Thông qua việc phân tích sơ đồ SWOT, những nguyên nhân dânđến những điểm yếu, thách thức đối với việc phát triển hoạt động du lịch tại VQG Cát
Bà sẽ được nhân diện để từ đó có định hướng khắc phục và phát huy những cơ hội,điểm mạnh của vườn
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ THẢO LUẬN
1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tại Vườn quốc gia Cát Bà 1.1 Vị trí địa lý Vườn quốc gia Cát Bà
VQG Cát Bà là hòn đảo lớn nhất của quần đảo, nằm trong khoảng toạ độ địa lý từ20044’ - 20052’ vĩ độ Bắc và từ 106059’- 107006’ kinh độ Đông
+ Phía Đông và Đông Bắc giáp vịnh Hạ Long được ngăn cách bởi lạch Ngăn vàlạch Đầu xuôi của tỉnh Quảng Ninh,
+ Phía Tây và Tây Nam là cửa sông Bạch Đằng, sông Cấm và biển Hải Phòng,+ Phía Đông và Đông Nam giáp với vịnh Lan Hạ,
VQG Cát Bà là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát bà cónhững tiềm năng lợi thế đó nên VQG Cát Bà, tạo nhiều cơ hội để phát triển du lịchkhông chỉ mức độ trong nước mà còn cả trong khu vực và tầm cỡ thế giới,
1.2 Điều kiện tự nhiên
VQG Cát Bà là điển hình cho kiểu địa hình, địa chất và vùng sinh thái Miền Bắc
của nước ta Về phía Bắc và Tây Bắc đảo Cát Bà còn có một diện tích khá lớn thànhtạo đệ tứ không phân chia (Q) tạo nên dạng đồng bằng ven biển, chúng được thành tạo
Trang 7do phù sa sông biển, Lớp trầm tích phủ lên trên khá dày (>2m), dưới sâu hơn là phù sahạt thô (độ sâu 5 - 10m) chủ yếu là sỏi cuội và cát, hình các bãi cát ven biển rất sạch
Do cấu trúc Sơn văn của địa hình vùng núi đá vôi, nên trong vùng này chỉ có một sốdòng suối có nước quanh năm Nguồn nước ngầm khá sâu tồn tại dưới dạng giếngKarst và sông biển, thủy triều tại VQG Cát Bà có chế độ nhật triều thuần nhất
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và dịch vụ dulịch của Quần đảo Cát Bà Trong tương lai đảo Cát Bà và vịnh Hạ Long có thể trởthành vùng kinh tế - du lịch và môi trường phát triển mạnh nhất, có tầm cỡ quốc gia vàquốc tế
Cơ sở y tế, hệ thống các trường học được phân bố ở tất cả các thôn, xã, công tácchăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chất lượng dạy và học luôn được lãnh đạo thị trấn Cát
Bà quan tâm đúng mức Với trình độ dân trí tương đối cao nên việc tiếp thu, áp dụngkhoa học kỹ thuật cũng như nhận thức của người dân đối với công tác bảo tồn TNTN
và ĐDSH nhằm phục vụ cho hoạt động phát triển du lịch sinh thái rất thuận lợi, điềunày ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động bảo tồn tại VQG
Với các nghành nghề liên quan và cần thiết cho phát triển DLST như dịch vụ, nôngnghiệp – nuôi trồng Thủy sản, vận tải, xây dựng, thương nghiệp,…, chiếm hơn 70%các nghành nghề có trong khu vực Đây là những thành phần kinh tế quan trọng, giúpcho quá trình phát triển du lịch nói chung và DLST của khu vực nói riêng phát triểnmột cách hiệu quả và bền vững
Trang 82 Tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà
2.1 Vị trí
VQG Cát Bà có vị trí vô cùng thuận lợi cho việc phát triển DLST, có vị trí trungtâm, gần với các thành phố lớn như TP Hải Phòng, TP Hà Nội…,cách thành phố HảiPhòng 30km, cách thủ đô Hà Nội 120 km và nằm bên cạnh Vịnh Hạ long - Di sản thiênnhiên thế giới, gần với khu du lịch Đồ Sơn
Chính vì vậy, khách thăm quan du lịch từ nơi khác đến, đặc biệt là những thành phốkhu vực phía Bắc sẽ không tốn quá nhiều thời gian để có thể có những chuyến du lịchthưởng ngoạn thiên nhiên tại VQG Cát Bà, đến VQG Cát Bà với hai sự lựa chọn Đibằng đường thủy với tàu cao tốc từ Bến Bính (Hải Phòng) mất khoảng 45 phút Đi quavịnh Hạ Long với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt đẹp, đây di sản thiên nhiên thếgiới được tổ chức UNESCO công nhận, đến vịnh Lan Hạ tuy nhỏ hơn nhưng có nhiềuđảo đá vôi, xếp đan xen gần nhau trông rất hùng vĩ Nếu đi bằng đường bộ, xe ô tô từHải Phòng đến bến cảng Ðình Vũ, theo tầu cao tốc sang bến Cát Hải rồi xuyên quaVQG Cát Bà bằng ô tô trên đường dài 31 km (đường nhựa)
2.2 Tài nguyên động, thực vật rừng, biển
Vườn quốc gia Cát Bà là nơi hội tụ nhiều HST khác nhau gồm: HST rừng ngậpmặn, HST rừng trên núi đá vôi, HST biển với các rạn san hô,… Có một hệ động, thựcvật đa dạng, gồm 2.320 loài, trong đó có 282 loài động vật sống trong rừng, 538 loàiđộng vật sống ở đáy biển, 196 loài cá biển, 771 loài thực vật trên cạn, 23 loài thực vậtngập mặn, 75 loài rong biển, 177 loài san hô
Hệ động vật có 20 loài thú, 69 loài chim, 20 loài bò sát và lưỡng cư Đặc biệt cóloài thú mà không có nơi nào có được là voọc đầu trắng (Vọoc Cát Bà) và một số loàikhác được ghi trong Sách đỏ như: Khỉ lông vàng, sơn dương và nhiều loài chim đẹpnhư cao cát, bói cá, hút mật, đầu rìu Ở Cát Bà cũng có chim yến và rùa biển đượcchăm sóc bảo tồn Hệ thực vật có 1561 loài thuộc 495 chi, 149 họ, trong đó có 250 loàicây thuốc Nhiều loài cây quý hiếm cần bảo tồn như chò chỉ, trai lý, lát hoa, kim giao
và cọ Bắc Sơn Đặc biệt là, đảo có hệ sinh thái rừng ngập nước, trên núi đá vôi có cả
ao, hồ, suối ngầm, nước ngọt cùng suối nước khoáng có cả khả năng chữa trị bệnh,nhất là thấp khớp
Với sự phong phú về hệ sinh thái, đa dạng về loài đã tạo cho VQG Cát Bà có một tiềmnăng thu hút cho việc phát triển DLST
Trang 92.3 Cảnh quan thiên nhiên
Cát Bà là một VQG đặc biệt, với sự kết hợp của nhiều hệ sinh thái (HST) khácnhau: HST rừng thường xanh trên núi đá vôi, HST rừng ngập nước trên núi cao (AoẾch), HST rừng ngập mặn vùng duyên hải, HST vùng biển với các rạn san hô gần bờ,
hệ thống hang động với đặc trưng riêng biệt là nơi cư trú của họ nhà Dơi và Hệ canhtác nằm giữa các thung lũng như ở Khe Sâu hoặc các khu dân cư
Trong đó, lớn nhất là hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi (khoảng 9800 ha) với thảmthực vật thuộc kiểu rừng nhiệt đới thường xanh và các loại rừng như rừng núi thấp vàven thung lũng, rừng trên núi đá dốc, rừng trên đỉnh núi cao, rừng ngập nước nội địa(Ao Ếch)
Ngoài đảo chính, quần đảo Cát Bà còn có 366 đảo nhỏ như đảo Đầu Bê, đảo CátDứa, đảo Bù Lâu, hòn Ghềnh Hang, hòn Đá Lẻ, hòn Xả Lan, hòn Guốc Tiên Nhiềuđảo có hình dạng kỳ dị, bờ dảo có nhiều mũi nhô, cung lõm và nhiều bờ vách dốcđứng, chân có ngấn ăn mòn tạo cảm giác kỳ bí, thích thú Đa số các đảo có thềm san hôviền quanh và trên đảo có hồ nước mặn, đây là một tiềm năng còn nhiều tiềm ẩn chưađược khám phá
Cát Bà có nhiều bãi tắm đặc trưng là sự kín đáo, yên bình và nhiều hang động Mỗihang đều có vẻ đẹp khác nhau, với những nhũ đá rực rỡ sắc màu làm say lòng dukhách, như lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh Hoàng hôn trên quần đảo Cát Bà là một cảnhsắc muôn màu Phía chân trời mầu vàng rực, mặt biển có mầu xanh tím sẫm Về phíacảng cá hàng nghìn con tàu neo đậu đã lên đèn tạo một vùng sao đêm huyền ảo! Thật lýthú du khách sẽ được mời vào các quán ăn bồng bềnh trên sóng nước, giăng đèn thâuđêm đón khách
VQG Cát Bà có hệ thống suối nổi tiếng như: Suối Thuồng Luồng (xã Trân Châu),suối Trung Trang, suối Treo Cơm (khu Đồng Cỏ) Ngoài ra, VQG Cát bà có nguồnnước ao ếch phong phú, các ao ếch là hồ nước thiên nhiên trên núi đá vôi, diện tíchkhoảng trên 3,6 ha, nước có quanh năm, đạt trên dưới 30cm, nằm giữa khu vực rừngnguyên sinh, Ngoài ra một số áng cũng có nước quanh năm như áng Bèo, áng Bợ, ángThẳm, áng Vẹm…
2.4 Dịch vụ giải trí và nghỉ dưỡng
Ðến Cát Bà, du khách có thể thuê một chiếc xe gắn máy để đi đến bất cứ nơi nào,chỗ nghỉ nay đã phát triển khá nhiều Ðẹp nhất là các khách sạn dựa lưng vào núi, mặthướng ra biển Cát Bà có hơn 60 khách sạn, nhà nghỉ với khoảng 1.000 phòng tập trung
Trang 10ở phố biển ven mép vịnh Trên hết, sự hấp dẫn của VQG Cát Bà là biển cả Sau mộtngày leo núi hay thám hiểm các hang động, du khách sẽ thấy vô cùng sảng khoái đắmmình trong làn nước trong xanh, nằm phơi trên bãi cát trắng mịn Cát Bà có nhiều bãitắm, đặc trưng là sự kín đáo, yên bình
Ðêm đến không gian Cát Bà thật bao la, hùng vĩ, đẹp đến sững sờ Ngủ đêm ở đây
là một thích thú tuyệt vời, không khí mát dịu, những làn gió nhẹ mang hơi mặn củabiển lùa vào rừng cây trên núi đá tạo một âm thanh rì rào, như ru khách vào trong giấcngủ êm đềm
2.5 Văn hoá lịch sử, lễ hội truyền thống
Trước đây, vùng đảo núi đá (Cát Bà) từng là hậu cứ của các bà trồng tỉa, hái lượm,cung cấp lương thực thực phẩm cho các ông ở phía trước chống lại giặc giã, khi chúngtới đánh chiếm đảo Cũng từ trận chiến đấu này đã xuất hiện nhiều nữ tướng dũng cảmnên người đời xưa đã đặt tên cho đảo này là đảo Các Bà rồi sau này gọi lệch đi là đảoCát Bà Trên mảnh đất của làng nghĩa Lộ ngày nay còn tồn tại một ngôi miếu thờngười phụ nữ đã sinh ra người trai làng dũng cảm Hùng Sơn Hùng Sơn là người đã cócông tham gia đánh giặc Ân đời vua Hùng thứ sáu Truyền thuyết về người trai làngdũng cảm Hùng Sơn như một nét nhạc hùng, âm vang tinh thần yêu nước của mộtngười dân trên mảnh đất này Ngày nay người ta lấy tên của chàng trai này đặt tên chomột thôn của Xã Trân Châu Theo người dân kể lại thì tại làng Gia Lộc nay thuộc thịtrấn Cát Hải có lệ tế thần biển vào ngày 21 tháng giêng Cùng với các trò chơi, với lễrước nước về đình làng, người ta đua thuyền dưới biển Tế lễ như thế, Long Hải ĐạiVương, ông thần của những người đi biển sẽ phù hộ cho trời yên biển lặng, một nămbội thu tôm cá Ngày nay Hội được mở ngày 1/4 dương lịch, ngày mà năm 1959, Bác
Hồ về thăm làng cá Cát Bà
Hàng năm, người dân tổ chức hội đua thuyền rồng trên biển, đó là một chiếc thuyềnthoi dài 11m, rộng 1,5m, đóng bằng thứ gỗ khô, nhẹ và bền chắc Lòng thuyền có chỗngồi cho các tay đua và phía mũi có cái đầu rồng chạm bằng gỗ, sơn son thếp vàng rực
rỡ Mỗi thuyền có từ 22 đến 26 người Khách du lịch cũng có thể tham gia lễ hội này
để thương thức cảm giác khác lạ từ lễ hội này
2.6 Ẩm thực
Ở Cát Bà có những món ăn đặc sản như: gỏi cá thác, canh chua cá hồng, đặc biệt có
tu hài nướng trên bếp than mùi thơm tỏa ngào ngạt Ở Việt Nam chỉ Cát Bà mới có Tuhài và thường xuất hiện vào tháng 12 là mùa sinh sản của chúng Ngày nay con Tu hài
Trang 11được viện nghiên cứu thuỷ sản Bắc Bộ nhân giống rộng rãi cho ngư dân nuôi bán tựnhiên và có thể cung cấp quanh năm cho các nhà hàng ở khắp Hải Phòng và Cát Bà Ngoài ra Cát Bà còn hấp dẫn bởi các món ăn từ biển với vô số các loài có giá trị caonhư Cá Song, Cá chim, Mực lá hoặc các loài vừa lạ, vừa dân dã lại ngon như, Bàn Mai,Sam, Bề Bề (Hay còn gọi là Bọ ngừa biển) Các đặc sản khác cũng khá thú vị nhưCam Gia Luận, gà Liên Minh, khoai Mụt ốc Việt Hải là những sản phẩm của địaphương nổi tiếng khiến cho nhiều du khách khó quên khi đã được một lần thưởng thức.
Dê núi cũng được đánh giá cao, nhiều người nói dê ở Cát Bà ngon hơn các nơi khác
3 Thực trạng tổ chức hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà.
3.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Vườn quốc gia Cát Bà:
a Chức năng nhiệm vụ:
Vườn quốc gia Cát Bà là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Sở Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn Hải Phòng Vườn có chức năng bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồncác nguồn gen động, thực vật rừng, biển quý hiếm Đồng thời kết hợp phát triển du lịchsinh thái, mở rộng các dịch vụ vui chơi, giải trí, tuyên truyền, giáo dục môi trường
b Cơ cấu tổ chức bộ máy:
Hình1: Mô hình bộ máy quản lý tại Vườn quốc gia Cát Bà
c Nguồn nhân lực công tác phát triển du lịch
Lực lượng quản lý hiện có tổng cộng 81 cán bộ, công nhân viên đang làm việc trêntổng diện tích là 15.200 ha, trong đó có 2 cán bộ trên đại học, 25 cán bộ đại học, 3 cán
bộ cao đẳng, 42 cán bộ trung cấp và 9 cán bộ sơ cấp
Ban Giám đốc
Phòng Khoa học kỹ thuật
Phòng
Kế hoạch tài chính
Phòng
Tổ chức hành chính
Hạt kiểm lâm
Trung tâm Dịch vụ du lịch sinh thái
và Giáo dục môi trường
Các Trạm kiểm lâm