Ở góc độ lý luận, các công trình nghiên cứu về đánh giá tài nguyên phục vụ phát triển du lịch cũng mới chỉ tập trung vào các tài nguyên tự nhiên, mà chưa chú trọng đánh giá khả năng khai
Trang 1Ngô Quang Duy
Chuyên ngành: Qu ản lý văn hóa
Mã s ố: 9319042
Hà N ội - 2020
Trang 2Ngô Quang Duy
Chuyên ngành: Qu ản lý văn hóa
Mã s ố: 9319042
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Cẩm Thơ
TS Đỗ Thị Thanh Hoa
Hà N ội - 2020
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận án tiến sĩ Phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch ở
Qu ảng Ninh là do tôi viết và chưa công bố Các trích dẫn, số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà N ội, ngày tháng năm 2020
Tác gi ả luận án
Ngô Quang Duy
Trang 4M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN i
M ỤC LỤC ii
DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH M ỤC BẢNG, SƠ ĐỒ iv
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY GIÁ TR Ị DI SẢN VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.2 Cơ sở lý luận về phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch 30
Chương 2 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRONG PHÁT TRI ỂN DU LỊCH Ở QUẢNG NINH 57
2.1 Tổng quan về di sản văn hóa Quảng Ninh và thực trạng phát triển du lịch Qu ảng Ninh 57
2.2 Đánh giá khả năng và thực trạng phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát tri ển du lịch ở Quảng Ninh 72
2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch ở Quảng Ninh 100
Chương 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRONG PHÁT TRI ỂN DU LỊCH Ở QUẢNG NINH 107
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch 107
3.2 Đề xuất nhóm giải pháp về tổ chức quản lý di sản văn hóa trong phát triển du l ịch ở Quảng Ninh 114
3.3 Đề xuất nhóm giải pháp phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du l ịch ở Quảng Ninh 124
K ẾT LUẬN 145
DANH M ỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 147
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 148
PH Ụ LỤC 160
Trang 5DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACCU : The Asia/pacific Cultural Centre for UNESCO
(Trung tâm Văn hóa châu Á/Thái Bình Dương phục vụ UNESCO) BQL : Ban Quản lý
Luận văn thạc sĩ Luận án tiến sĩ NCS : Nghiên cứu sinh
UNESCO : United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc) VHTTDL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 6DANH M ỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
B ảng 1.1 Bảng phân hạng nhóm chỉ tiêu cấp 1 51
Bảng 1.2 Bảng đánh giá khả năng thu hút du khách của điểm có DSVH 51
Bảng 1.3 Bảng phân hạng nhóm chỉ tiêu cấp 2 54
B ảng 1.4 Bảng đánh giá khả năng cung ứng của điểm du lịch có DSVH 54
B ảng 1.5 Bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá khả năng khai thác du lịch tại điểm du lịch có di sản văn hóa 55
Bảng 1.6 Bảng đánh giá khả năng khai thác du lịch của điểm du lịch có di sản văn hóa 55
B ảng 2.1 Bảng tổng hợp điểm nhóm chỉ tiêu cấp 1 của Quần thể di tích và danh th ắng Yên Tử 77
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp điểm nhóm chỉ tiêu cấp 1 của Vùng văn hóa Hạ Long 84
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp điểm nhóm chỉ tiêu cấp 2 của Quần thể di tích và danh th ắng Yên Tử 91
B ảng 2.4 Bảng tổng hợp điểm nhóm chỉ tiêu cấp 2 của Vùng văn hóa Hạ Long 98
B ảng 2.5 Bảng tổng hợp điểm các chỉ tiêu đánh giá khả năng khai thác du lịch của Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử 99
B ảng 2.6 Bảng tổng hợp điểm các chỉ tiêu đánh giá khả năng khai thác du lịch c ủa Vùng văn hóa Hạ Long 99
Sơ đồ 1: Vị trí di tích khảo cổ hang Bồ Nâu 64
Sơ đồ 2: Vị trí di tích khảo cổ hang Trống 65
Sơ đồ 3 Vị trí di tích khảo cổ động Mê Cung 67
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Văn hóa là cơ sở tiền đề, tạo môi trường cho du lịch phát triển Du lịch văn hóa gắn với các giá trị di sản văn hóa đã, đang và sẽ luôn là nhu cầu của các thị trường khách du lịch Giá trị của các di sản văn hóa như các di tích lịch sử, công trình kiến trúc – nghệ thuật, các bản làng dân tộc với văn hóa bản địa độc đáo, các tập quán, lễ hội, nghề truyền thống, văn hóa ẩm thực đặc sắc của mỗi vùng miền… là những đối tượng hấp dẫn, thu hút du khách khám phá, thưởng thức, trải nghiệm
Du lịch văn hóa không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, hỗ trợ sinh kế cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân mà còn thúc đẩy bảo vệ kho tàng văn hóa dân tộc, làm phong phú thêm giá trị văn hóa đương đại, tăng cường sự hiểu biết và tôn trọng sự giao thoa các nền văn hóa, tạo hiệu ứng tích cực quảng bá, phổ biến nền văn hóa đất nước ra thế giới Du lịch văn hóa kích thích niềm tự hào lịch sử dân tộc của mỗi người dân, mỗi du khách, tăng sự tôn trọng và hiểu biết các nền văn hóa khác, giữ gìn hòa bình và hiểu biết Ở góc độ ngược lại, không có sự phát triển của
du lịch văn hóa, nhiều giá trị di sản văn hóa sẽ gặp khó khăn không nhỏ, suy giảm và
biến mất trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, phát triển kinh tế - xã hội và những áp lực khác Nếu nói văn hóa là “quyền lực mềm” của một quốc gia, thì du lịch là công cụ quan trọng để đẩy mạnh và phát huy quyền lực ấy một cách hữu hiệu
Những năm vừa qua, du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, được đánh giá có tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế cao trên thế giới (2018 xếp hạng thứ 3 theo đánh giá của UNWTO) Năm 2018, theo thống kê của Tổng cục Du
lịch: Việt Nam đón 15,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế; 80 triệu lượt khách du lịch nội địa; Tổng thu du lịch khoảng 637 nghìn tỷ đồng, tương đương 27,2 tỷ USD, đóng góp khoảng 8,39% vào GDP [132] Du lịch văn hóa đã góp phần tạo nên kết quả ấn tượng này Sản phẩm du lịch văn hóa Việt Nam khá đa dạng và hấp dẫn như các hoạt động tham quan di sản, nghiên cứu văn hóa lịch sử thông qua di sản, các bảo tàng sống và trưng bày, tìm hiểu và trải nghiệm văn hóa truyền thống, đời sống văn hóa
Trang 8cộng đồng Sản phẩm du lịch di sản văn hóa là yếu tố tạo nên nét khác biệt cho hệ thống sản phẩm du lịch Việt Nam, kết nối và đa dạng hóa các tours, tuyến du lịch
Ở vị trí địa đầu của Tổ quốc, Quảng Ninh có lợi thế nổi bật về tài nguyên du lịch phong phú, độc đáo và hấp dẫn du khách không chỉ bởi Di sản thiên nhiên thế
giới Vịnh Hạ Long được du khách năm châu biết đến với hai lần được UNESCO vinh danh các giá trị ngoại hạng về thẩm mỹ, giá trị địa chất – địa mạo mà Quảng Ninh còn hấp dẫn du khách bởi giá trị văn hóa chứa đựng bên trong di sản thiên nhiên ấy cùng hệ thống nhiều di sản văn hóa khác mà điển hình như quần thể di tích và danh thắng Yên Tử và chính con người nơi đây Là vùng đất cổ, Quảng Ninh được xem như một trong những cái nôi của văn hoá Việt Nam Các di chỉ khảo cổ học, các thư tịch cổ sưu tầm được đã minh chứng rõ điều này Quảng Ninh có hơn 20 dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc là một nét văn hoá riêng biệt Lịch sử phát triển đã mang lại cho Quảng Ninh kho tàng các di tích lịch sử - văn hoá, các kiến trúc độc đáo; phong tục, tập quán, tín ngưỡng, vốn văn hoá dân gian và một số hệ thống lễ hội dân gian đặc sắc [133] Tất cả đã tạo nên sự phong phú, đa dạng đậm bản sắc văn hóa của vùng đất, vùng biển địa đầu Đông Bắc đất nước
Tuy nhiên, trong những năm vừa qua du lịch Quảng Ninh hầu như mới chỉ dừng lại ở việc phát huy giá trị các tài nguyên tự nhiên để phát triển sản phẩm du lịch
Rất nhiều các giá trị DSVH dường như còn bị bỏ ngỏ, nên sản phẩm du lịch chưa phong phú, chưa thực sự hấp dẫn và giữ chân được du khách Các sản phẩm du lịch, đặc biệt là những sản phẩm du lịch đặc thù với hàm lượng văn hóa cao chưa được quan tâm đầy đủ với những luận chứng khoa học thuyết phục Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho du lịch Quảng Ninh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và chưa đóng góp tích cực, hiệu quả cao cho phát triển kinh tế - xã hội, phát triển du lịch của Quảng Ninh và cả nước như kỳ vọng
Mong muốn đưa Quảng Ninh trở thành một trung tâm du lịch tầm cỡ khu vực
và thế giới, trung tâm du lịch chất lượng cao của khu vực có đẳng cấp ở châu lục vào năm 2020, với những sản phẩm du lịch phong phú, hấp dẫn, đậm bản sắc văn hóa đã được cụ thể hóa trong các văn bản pháp quy của Nhà nước, của tỉnh Quảng Ninh như:
Trang 9Chiến lược và Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV
Đã có nhiều công trình nghiên cứu phát triển du lịch được triển khai và công
bố, tuy nhiên trên thực tế vẫn tập trung chủ yếu vào phát huy các giá trị thiên nhiên, nhất là di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long Trong khi đó các giá trị DSVH hoàn toàn có khả năng tạo nên sức hấp dẫn du lịch, có thể khai thác làm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, mang đến nhiều trải nghiệm cho du khách khi đến với Quảng Ninh, lại
gần như chưa được nghiên cứu bài bản trong công trình nào cho đến thời điểm hiện tại Ở góc độ lý luận, các công trình nghiên cứu về đánh giá tài nguyên phục vụ phát triển du lịch cũng mới chỉ tập trung vào các tài nguyên tự nhiên, mà chưa chú trọng đánh giá khả năng khai thác, phát huy giá trị của di sản văn hóa
Xuất phát từ những lý do trên, NCS lựa chọn đề tài Phát huy giá trị di sản
văn hóa trong phát triển du lịch ở Quảng Ninh để nghiên cứu trong khuôn khổ một
luận án, với mong muốn các kết quả nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển du lịch trên cơ sở phát huy hiệu quả giá trị của DSVH
2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 M ục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về phát huy giá trị DSVH trong phát triển du lịch, cụ thể trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị DSVH trong phát triển du lịch để Quảng Ninh thực sự là điểm đến
hấp dẫn, là địa bàn trọng điểm trong phát triển du lịch Việt Nam
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các khái niệm và cơ sở lý luận về DSVH và phát huy giá trị DSVH trong phát triển du lịch
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát huy giá trị DSVH trong phát triển du lịch ở một số địa bàn điển hình tại tỉnh Quảng Ninh, từ đó làm rõ bức tranh phát huy giá trị DSVH trong phát triển du lịch toàn tỉnh
Trang 10- Đề xuất giải pháp nhằm phát huy giá trị DSVH ở Quảng Ninh trong phát triển du lịch
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là việc phát huy giá trị các DSVH có
ý nghĩa trong phát triển du lịch ở Quảng Ninh
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu toàn diện nội hàm phát huy giá trị DSVH trong
phát triển du lịch với lựa chọn khảo sát hai trường hợp đặc thù: quần thể di tích và danh thắng Yên Tử và vùng văn hóa Hạ Long
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các DSVH ở Quảng Ninh
với hai trường hợp điển hình là quần thể di tích và danh thắng Yên Tử và vùng văn hóa Hạ Long (Khảo sát thực tế trên vịnh Hạ Long gồm 3 địa điểm: hang Trống, hang
Bồ Nâu, động Mê Cung) bởi đây là những DSVH tiêu biểu của tỉnh, góp phần tạo dựng bức tranh tổng thể phát huy DSVH trong phát triển du lịch ở Quảng Ninh
Phạm vi thời gian: Các nghiên cứu hiện trạng tập trung trong thời gian từ 2011 –
2018; Đề xuất giải pháp và kiến nghị của luận án hướng đến dự báo cho 2025, tầm nhìn
2030 phù hợp với giai đoạn phát triển đề ra trong văn bản từ trung ương đến địa phương
4 Câu h ỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu h ỏi nghiên cứu 1: DSVH và phát triển du lịch có mối quan hệ với nhau
như thế nào? Giả thuyết: Là mối quan hệ hai chiều, có tác động qua lại với nhau
Câu hỏi nghiên cứu 2: Các DSVH ở Quảng Ninh đang được phát huy trong phát
triển du lịch như thế nào? Giả thuyết: DSVH ở Quảng Ninh, qua khảo sát quần thể di tích và danh thắng Yên Tử và vùng văn hóa Hạ Long đang được phát huy đúng hướng song còn nhiều hạn chế về khả năng phát huy giá trị DSVH trong phát triển du lịch
Câu h ỏi nghiên cứu 3: Làm thế nào để phát huy hơn nữa giá trị của DSVH
trong phát triển du lịch ở Quảng Ninh? Giả thuyết: Giải pháp được tiếp cận trên cả
Trang 11hai hướng: bảo tồn DSVH và phát triển du lịch, trong đó nền tảng là sự phát triển bền
vững của di sản và cộng đồng địa phương
5 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài, NCS triển khai các nhóm phương pháp dưới đây:
5.2.1 Nhóm phương pháp thu thập dữ liệu (thông tin, tài liệu, tư liệu, số liệu) 1) Phương pháp tổng hợp, nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng
để thu thập dữ liệu thứ cấp Tất cả các tài liệu trong và ngoài nước được tổng hợp, thu
thập theo 4 chủ đề: Lý thuyết quản lý di sản; Lý thuyết phát triển du lịch; Lý thuyết về đánh giá tài nguyên du lịch; và DSVH ở Quảng Ninh Các nguồn tài liệu cung cấp cho
4 chủ đề trên được tập hợp qua cả 2 nguồn sơ cấp và thứ cấp
2) Phương pháp quan sát tham dự: Phương pháp này được áp dụng tại các
điểm khảo sát thực tế là quần thể di tích và danh thắng Yên Tử và vùng văn hóa Hạ Long Ngoài khảo cứu tình trạng tại chỗ của di sản, NCS còn tiến hành khảo cứu thực
tế trên toàn bộ chuyến đi với các đối tượng quan sát trực tiếp như: hệ thống đường giao thông, phương tiện di chuyển, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tại
Quảng Ninh, hoạt động của du khách tại các điểm di sản NCS cũng tiến hành tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch trong vai trò là du khách để quan sát hoạt động tiếp đón phục vụ của những người làm du lịch tại các điểm khảo sát… Phương pháp này được áp dụng để ghi chép, sao chụp, quan sát thực tế, thu thập dữ liệu thực tế về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
3) Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này được áp dụng để thu thập
các dữ liệu chuyên sâu và mang tính chất định tính như tình hình quản lý DSVH ở
Trang 12địa bàn, các chủ trương phát triển du lịch của địa phương, mong muốn và kỳ vọng
của cộng đồng trong hoạt động du lịch Đối tượng mà luận án hướng đến của phương pháp này là: quản lý nhà nước cấp tỉnh, thành phố trực thuộc tỉnh; ban quản lý di sản,
di tích; cộng đồng địa phương; người làm trong ngành du lịch ở Quảng Ninh như người kinh doanh dịch vụ, người phục vụ khách du lịch trực tiếp, hướng dẫn viên; nhà đầu tư và các nhân tố khác như nhà khoa học [Phụ lục 2, tr.167]
4) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp này được sử dụng để
thu thập các dữ liệu mang tính chất định lượng, có sự đánh giá, minh chứng cho tính hấp dẫn của điểm di sản, và cho những đánh giá của du khách về khả năng phát triển
du lịch của các điểm du lịch có DSVH ở Quảng Ninh Đối tượng áp dụng phương pháp này là khách du lịch Các phiếu khảo sát được phát trực tiếp tại hai điểm khảo sát tại quần thể di tích và danh thắng Yên Tử và vịnh Hạ Long với tổng số khách tham gia trả lời là 256 Phương pháp ngẫu nhiên đơn được áp dụng trong lựa chọn đối tượng khách tham gia trả lời bảng hỏi với 3 nhóm quần thể đích: khách đoàn lớn (xe 45 chỗ), khách nhóm nhỏ (đoàn 9 – 16 người), khách lẻ Từ 3 nhóm quần thể đích, luận án lựa chọn quần thể nghiên cứu cho từng điểm khảo sát: 1) Với khách đoàn lớn: chọn 1 đoàn trong nước, 1 đoàn nước ngoài; 2) Với khách nhóm nhỏ: 2-3 đoàn trong nước và nước ngoài; 3) Với khách lẻ: 8-10 người gặp bất kỳ tại điểm khảo sát Như vậy, số phiếu phát ra ở Quần thể di tích Yên Tử là 120 và ở vịnh Hạ Long
là 140 Sau khi lọc các phiếu không đảm bảo chất lượng, còn lại 256 phiếu phục vụ
việc thu thập dữ liệu của luận án
Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan, luận án còn hướng đến khảo sát đối tượng khách du lịch không ở trực tiếp các điểm di sản trên mà ở các trung tâm gửi khách lân cận như Hà Nội (47 phiếu), Hải Phòng (30 phiếu) và qua kênh online (98 phiếu) Các cuộc khảo sát này đều được thực hiện từ tháng 6/2016 đến tháng 3/ 2017
5.2.2 Nhóm phương pháp và thao tác xử lý dữ liệu
1) Phương pháp xử lý dữ liệu định tính: Là công trình nghiên cứu chuyên
ngành khoa học xã hội nên phần lớn dữ liệu thu được dưới dạng định tính Các dữ
Trang 13liệu định tính được xử lý dưới dạng phân tích hệ thống, tổng hợp, kiểm kê, thống kê
và so sánh
2) Phương pháp xử lý dữ liệu định lượng: Để đảm bảo tính chính xác cho
nghiên cứu, luận án đã cố gắng lượng hóa dữ liệu để xác định khả năng phát huy giá
trị DSVH trong phát triển du lịch Quảng Ninh Sử dụng phương pháp xử lý số liệu điều tra xã hội học bằng phần mềm Excel Kết quả được trình bày dưới dạng bảng biểu, biểu đồ
6 Đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Đóng góp khoa học
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về DSVH và phát triển du lịch giúp hoàn thiện hệ thống lý luận về vấn đề này
- Đóng góp cơ sở lý luận cho việc đánh giá tài nguyên du lịch dựa vào các giá
trị DSVH tại địa phương
- Vận dụng lý thuyết về bảo tồn và phát huy các DSVH trong mối quan hệ với phát triển du lịch vào thực tiễn hoạt động du lịch ở Quảng Ninh từ đó đóng góp lại vào lý luận của khoa học chuyên ngành
6.2 Đóng góp thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cho các nhà quản lý văn hóa và du lịch
ở địa phương thêm tài liệu tham khảo khá đầy đủ và có hệ thống về phát huy DSVH trong phát triển du lịch
- Các giải pháp được đề xuất phát huy giá trị các DSVH trong phát triển du lịch ở Quảng Ninh là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách cũng như cho chính các nhà đầu tư, doanh nghiệp du lịch trong quá trình định
hướng, quản lý khai thác phát triển du lịch, sản phẩm du lịch
7 B ố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (2 trang), Tài liệu tham khảo (10 trang),
Phụ lục (36 trang), nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát huy giá
trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch (47 trang);
Trang 14Chương 2 Đánh giá khả năng phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển
du lịch ở Quảng Ninh (49 trang);
Chương 3 Đề xuất giải pháp phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển
du lịch ở Quảng Ninh (38 trang)
Trang 15Chương 1
T ỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
TRONG PHÁT TRI ỂN DU LỊCH
1.1 T ổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nh ững công trình nghiên cứu về phát huy giá trị di sản văn hóa
1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu của nước ngoài
Vấn đề gìn giữ và sử dụng DSVH từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là sau khi Công ước về Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới của UNESCO được
ký thông qua vào ngày 16 tháng 11 năm 1972 tại Paris Xung quanh công ước là một
loạt các công trình nghiên cứu quốc tế về vấn đề này Các công trình này thường tiếp cận theo ba khuynh hướng sau:
a) Thứ nhất, đó là các công trình xác định rõ nội hàm của DSVH và phân loại DSVH theo tinh thần của các quốc gia thành viên của Công ước Nhà sử học và địa lý học David Lowenthal trong tác phẩm The Heritage: Crusade and the Spoils of History (1997) đã bày tỏ quan điểm: di sản, di tích hoàn toàn không phải là lịch sử, không phải
là con đường để tìm hiểu về quá khứ Nó chỉ là cái vỏ của quá khứ Nó chỉ là sự xưng tụng của niềm tin vào những gì đã được xây dựng trong quá khứ để phục vụ các mục đích hiện tại [116] Tác giả đưa ra quan điểm di sản cần được nhìn nhận tách biệt khỏi lịch sử bởi ông lo ngại rằng việc gom nhặt các “mảnh vụn” di sản để phục vụ cho các mục đích hiện tại trong khi bản thân chúng lại không bao chứa toàn bộ sự thật lịch sử
sẽ khiến cho tính chân thực của lịch sử bị sai lệch Tiếp cận từ một quan điểm khác,
công trình Archaeology and Heritage: An Introduction của John Carman (2002) lại cho
rằng có những di sản hoàn toàn không liên quan gì đến sự xưng tụng của niềm tin hay
sự sùng tín nào đó mà đơn giản nó được tạo ra trong quá trình phân loại Những nơi này có một vị trí đặc biệt, có một loạt các nghĩa vụ, cả hợp pháp và “đạo đức”, phát sinh từ việc được đưa vào sổ đăng ký di sản [120] Ra đời sau và kế thừa toàn bộ các nghiên cứu từ trước, cũng không xuất phát từ bất kỳ quan điểm nào, tác giả Jokilehto,
Trang 16J (2005) trong Definition of Cultural Heritage - Reference to Documents in history lại
tập hợp các định nghĩa và rút ra được 60 khái niệm về DSVH/tài sản văn hóa [121] Các định nghĩa này được cung cấp để làm tài liệu tham khảo căn bản cho tổ chức ICCROM (Trung tâm quốc tế về nghiên cứu Bảo tồn và Bảo quản các tài sản văn hóa) trong công tác hoạch định các kế hoạch chiến lược Trong số các định nghĩa đó có đến
18 định nghĩa của UNESCO Các định nghĩa này được sử dụng phổ biến nhất trong các công trình nghiên cứu học thuật và trong các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia
ở tất cả các nước có quan tâm đến di sản và tài sản văn hóa
Năm 2010, trong cuốn Understanding the politics of heritage (Manchester:
Manchester University Press) Harrison, R đã dành hẳn một chương để bàn luận
“What is heritage?” (di sản là gì?) Ở đây, Harrison không hướng đến mục đích xây dựng một khái niệm chung chung về di sản mà ông muốn chỉ ra một cách cụ thể: cái
gì được coi là di sản? Là một tòa nhà, một di tích hay một bản nhạc, một tập thơ? Ông đã đưa ra định nghĩa của từ điển Anh ngữ Oxford rằng “di sản” có thể được hiểu
là một “đối tượng” vật chất: một mảnh tài sản, một tòa nhà hoặc một nơi có thể được 'sở hữu' và “chuyển giao” cho người khác Sau đó đưa ra các lập luận để chứng tỏ rằng, di sản không chỉ là những đối tượng vật chất mà còn có những thứ không thể
sờ đến, cầm nắm được như văn học, nghệ thuật… Như vậy, việc làm của Harrison không chỉ đưa ra một khái niệm cụ thể về di sản mà còn đồng thời phân loại chúng thành 2 dạng: vật thể và phi vật thể [119] Trong thực tế, việc phân loại cũng chỉ mang tính chất tương đối Một di sản không đơn giản hoàn toàn là di sản văn hóa hoặc thiên nhiên, là di sản vật thể hay phi vật thể Nhiều điểm di sản thiên nhiên như các công viên quốc gia ở nhiều nước cũng có các hạng mục liên quan đến hoạt động của con người Một số điểm di sản khác như là di chỉ kiến trúc, di chỉ khảo cổ học,
đồ tạo tác hoặc di tích có thể được cho là tài sản vật thể nhưng lịch sử của chúng, giá trị thẩm mỹ, kiểu kiến trúc, các câu chuyện và con người gắn kèm với mỗi hạng mục
của nó lại là di sản phi vật thể Chính sự không phân định được một cách rõ ràng này tạo nên sự đa dạng trong phương thức biểu hiện của di sản Hiểu rõ bản chất của một điểm di sản là điều cần thiết để có thể thiết kế được các mục tiêu, kế hoạch và phương
Trang 17tiện phù hợp cho bảo tồn và phát triển di sản đó Một vài cách phân loại di sản khác cũng được giới thiệu trong một số công trình của các nhà nghiên cứu và quản lý di sản trên thế giới như: Heritage and Postmodern tourism (Annals of tourism research, 23(2), 1996) của Nuryanti,W; Cultural Tourism - The partnership between tourism
and cultural heritage management (2002) c ủa McKercher, B và du Cros, H.; Ancient
town of Hoian (2006) do The National Committee for the international symposium
on the ancient town of Hoi An (Ủy ban quốc gia về hội nghị chuyên đề quốc tế về
phố cổ Hội An) soạn thảo
b) Thứ hai, mỗi cách phân loại có cơ sở lập luận riêng, tuy nhiên, tất cả các công trình này đều thống nhất chung ở một điểm: khẳng định giá trị văn hóa đặc sắc của di sản ở mọi vùng miền và quốc gia trên thế giới Đây cũng là hướng nghiên cứu thứ hai về di sản Nuryanti (1996) trong công trình của mình đã khẳng định: “bản
thân từ di sản đã hàm nghĩa một thứ gì đó được chuyển giao từ thế hệ này sang thế
hệ khác, đóng vai trò chuyên chở các giá trị lịch sử từ quá khứ và giao các giá trị này cho thế hệ hiện tại như một phần của truyền thống văn hóa của một xã hội”123 Marta
de la Torre vào năm 2002 đã có một báo cáo nghiên cứu khá đầy đủ về giá trị của
DSVH mang tên Assessing the Values of Cultural Heritage Trong báo cáo này, tác
giả cho rằng tầm quan trọng của một địa điểm được coi là di sản được xác định bởi
sự tổng hợp của các giá trị chứ không đơn thuần chỉ có giá trị lịch sử Các giá trị được xem xét phải bao gồm các giá trị do các chuyên gia như các nhà sử học, khảo cổ học, kiến trúc sư… và các giá trị khác do các bên liên quan hoặc các thành phần khác đưa
ra, như các giá trị xã hội và kinh tế Từ những nhận định, đánh giá về giá trị của di sản, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng giá trị của di sản là giá trị tự thân vốn
có Tuy nhiên, thách thức ý tưởng rằng giá trị di sản là hiển nhiên, và mọi thứ phải
được bảo tồn bởi chúng có tầm quan trọng cố hữu, Uses of Heritage (2006) của Smith
đã mạnh mẽ chứng minh rằng giá trị di sản không phải là vốn có trong các vật thể hoặc các địa điểm vật lý mà chúng được sử dụng để cung cấp tính xác thực cho các giá trị văn hóa của các cộng đồng khác nhau và khẳng định những giá trị đấy Nhưng
dù là vai trò gì đi chăng nữa thì giá trị của di sản đối với một xã hội là không thể phủ
Trang 18nhận về mọi mặt, từ lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ, giáo dục đến kinh tế Điều này đã được khẳng định lại một lần nữa trong Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới
Operational guidelinesforthe implementation of the World Heritage convention của UNESCO ban hành năm 2015: “DSVH và thiên nhiên là một trong những tài sản vô giá và không thể thay thế, không chỉ riêng một quốc gia nào mà là của toàn nhân loại
Sự mất đi, do bị xuống cấp hay bị tàn phá, của bất cứ cái gì trong số những tài sản quý giá nhất này cũng sẽ làm nghèo đi di sản của tất cả mọi người trên thế giới” [129] Vì giá trị và ý nghĩa của DSVH đối với cá nhân, cộng đồng, quốc gia và toàn nhân loại, DSVH cần được bảo vệ và quản lý một cách bền vững nhằm đảm bảo sự tiếp tục tồn tại và là biểu tượng cho sự sáng tạo không ngừng nghỉ của con người Điều này đã định hướng cho việc nghiên cứu di sản ở một góc độ khác: góc độ quản lý
c) Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý DSVH Trên thế giới, quản lý DSVH được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ khá sớm Theo Peter Howard việc quản lý di sản xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XIX Ban đầu những người say
mê di sản có lòng tin rằng họ bảo tồn những thứ này vì lợi ích của công chúng Sang thế kỷ XX xuất hiện sự ra đời của các Hiệp hội di sản ở châu Âu Việc nghiên cứu di sản “đã phát triển với các khía cạnh thực tế, thường xuyên được nói ngắn gọn bằng
từ “quản lý di sản” và phát triển mạnh vào nửa sau thế kỷ XX Ngày nay, các nhà nghiên cứu cho rằng, DSVH không chỉ là một giá trị biểu tượng mà nó cần sống trong cộng đồng, trong xã hội, nghĩa là phải đóng góp vào sự phát triển chung DSVH phải
phục vụ cho cộng đồng Building a new heritage: tourism, culture and identity in the
new Europe (1994) của G.J.Ashworth và P.J Larkham đã xem việc khai thác các giá trị của di sản như một ngành công nghiệp Do vậy việc quản lý cần có những phương thức của một ngành công nghiệp với cách thức quản lý phù hợp với những đặc điểm của di sản Nhằm làm tiền đề cho nội dung này, trong phần “From historical monument from heritage product”, Ashworth đã nói về các cách tiếp cận di sản ở Tây
Âu Theo đó, “cách tiếp cận bảo quản chiếm ưu thế trong hàng trăm năm quan tâm
của châu Âu đối với các đồ tạo tác và tòa nhà còn sót lại như các tượng đài, được lựa chọn theo các tiêu chí nội tại như mục tiêu rõ ràng, như tuổi tác hoặc vẻ đẹp, được
Trang 19bảo vệ bởi các tiêu chuẩn bảo vệ hợp pháp, được xác định bởi các “chuyên gia”- những người xác định vai trò của họ như là người giám hộ tài sản văn hoá công cộng
Sự chuyển đổi sang quan điểm bảo tồn trong những năm 1960 đã mở rộng đối tượng
quan tâm đến các khu vực xung quanh và do đó liên quan đến những hoạt động hiện đại của các khu vực Định nghĩa bảo tồn tốt, như “bảo vệ một cách có mục đích”, giúp nâng cao chất lượng và đưa các nhà quy hoạch cùng người quản lý vào quá trình
ra quyết định cùng với kiến trúc sư và sử gia Các mục tiêu trở nên mở rộng đối với việc tái tạo hoặc phục hồi các khu vực phải đạt được thông qua kế hoạch quản lý sử dụng đất cũng như các chỉ thị bảo vệ Cuối cùng, sự chuyển đổi rõ ràng gần đây hơn
đối với định hướng thị trường tập trung vào các di tích lịch sử như một sản phẩm,
được lựa chọn theo các tiêu chí của nhu cầu tiêu dùng và được quản lý thông qua sự can thiệp vào thị trường Trong trường hợp này, việc tìm kiếm mô hình quy trình để giải thích điều gì đang xảy ra phải được tiến hành trong khoa học tiếp thị” [108] Từ
đây, tiếp nối trong một công trình khác của Ashworth (1997) là Elements of planning
and managing heritage sites, tác giả đã phân tích sâu hơn các quan điểm tiếp cận di
sản nêu trên Ông đã đưa lại một lần nữa mô hình về những tranh luận của hai hướng tiếp cận đầu tiên và đưa ra hướng tiếp cận thứ ba [109] Kế thừa quan điểm của Ashworth, Zhan Chang Yuan (2010) cũng đề cập việc quản lý DSVH như một ngành công nghiệp mà những người tham gia cần chú ý tới chính sách, nguồn tài nguyên, nhân lực thực hiện… Các nhà quản lý luôn phải đối mặt với vấn đề cân bằng bảo tồn
và phát huy giá trị di sản sao cho hợp lý Peter Howard (2002) cho rằng các nhà quản
lý luôn phải đặt ra câu hỏi: chúng ta cần bảo tồn cái gì, tại sao và cho ai? Việc bảo tồn nhằm gìn giữ lại tối đa những giá trị của di sản, làm cơ sở để khai thác, phát huy các giá trị đó trong đời sống Việc khai thác, phát huy giá trị là điều cần để làm cho
di sản thực sự trở thành một bộ phận của cuộc sống hiện tại Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng lưu ý rằng việc khai thác cần quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững, tránh tình trạng khai thác quá mức dẫn tới những ảnh hưởng không tốt đến giá trị của
di sản đó Trước đó, Brian Garrod, Alan Fayall trong nghiên cứu về quản lý di sản và
du lịch Managing heritage tourism [112] đã thừa nhận rằng cần có sự cân bằng giữa
Trang 20bảo tồn và khai thác “Khi các nhà quản lý DSVH nghiên cứu, bàn thảo về kế hoạch bảo tồn, họ quan tâm nhiều đến việc duy trì nguồn tài nguyên ở một mức độ bền
vững” Arthur Perdersentrong Managing Tourism at World Heritage Sites: Practical
Manual for World Heritage Site Managers (2002) đã đề ra các phương án quản lý di sản trước sự tác động của du lịch cần khoanh vùng cho các hoạt động tương thích, giảm bớt số lượng khách vào một số khu vực, thậm chí đóng cửa một số khu vực của
di sản…[107] Theo McKercher & du Cros trong Cultural Tourism - The Partnership
Between Tourism and Cultural Heritage Management (2002) quản lý và bảo tồn DSVH là việc chăm sóc một cách có hệ thống nhằm gìn giữ giá trị văn hóa của DSVH cho sự hưởng thụ của thế hệ hiện tại và tương lai Như vậy, quản lý di sản trong bối cảnh hiện nay là bảo vệ được di sản đó một cách thích hợp, lâu dài và bền vững [123] Trong tài liệu Hướng dẫn thực hiện công ước di sản thế giới, UNESCO cũng yêu cầu các quốc gia thành viên phải xây dựng kế hoạch quản lý các khu di sản thế giới với mục tiêu cơ bản như: 1) Muốn quản lý di sản phải nhận diện chính xác giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản; 2) Phải xác định rõ những áp lực từ tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội tới khả năng bảo tồn và phát huy di sản; 3) Cơ chế, chính sách phù hợp để thực thi việc quản lý di sản; 4) Chương trình hành động cụ thể nhằm hạn chế, ngăn ngừa những yếu tố ảnh hưởng tới di sản; 5) Thu hút các nguồn lực xã hội cho hoạt động bảo tồn DSVH Quan trọng hơn cả là cơ chế kiểm soát việc triển khai
kế hoạch quản lý DSVH của các quốc gia thành viên
1.1.1.2 Nh ững công trình trong nước
Trong nước, các công trình nghiên cứu về phát huy giá trị DSVH cũng đi theo các hướng như trên Ở hướng thứ nhất: xác định và phân loại DSVH, trong công trình
30 thuật ngữ nghiên cứu văn hóa (2008), tác giả Bùi Hoài Sơn đã kế thừa kết quả
nghiên cứu về DSVH của các học giả thế giới để đưa ra khái niệm về di sản theo
hướng tiếp cận quản lý [83] Trong khi đó, Lê Hồng Lý trong Giáo trình Quản lý di
s ản văn hóa với phát triển du lịch (2010) lại sử dụng khái niệm DSVH do Luật Di
sản của nước ta quy định, và đưa ra 9 dạng khác nhau của DSVH [66] Cũng sử dụng khái niệm DSVH do Luật Di sản của nhà nước ban hành, song công trình Quản lý di
Trang 21sản văn hóa (2014) của Nguyễn Thị Kim Loan và Nguyễn Trường Tân lại có sự dẫn
dắt tiếp cận từ góc độ văn hóa, khái niệm văn hóa Công trình này cũng có sự phân loại di sản khá cụ thể khi tiến hành phân chia theo ba hệ thống tiêu chí khác nhau [64] Gần đây nhất, công trình Văn hóa du lịch (2016) của Nguyễn Phạm Hùng cũng
đã chọn định nghĩa theo luật Di sản để nêu bật lên bản chất của DSVH Khác với các công trình trước, tác giả phân di sản thành hai loại: vật thể và phi vật thể, trong đó làm rõ các hình thái khác nhau của DSVH vật thể [54]
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về giá trị, vai trò của DSVH Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều khẳng định sự đóng góp to lớn của di sản đối với đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng sở hữu di sản Nguyễn Quốc Hùng (2006) khẳng định DSVH ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước Nhiều di sản đã trở thành điểm đến quan trọng trong các tuyến du lịch, góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách của cả nước và địa phương (thông qua nguồn thu từ vé tham quan, tạo công ăn việc làm, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cấp cơ sở hạ tầng địa phương) [56] Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển
du l ịch (2010) cũng khẳng định vị trí quan trọng của DSVH trong việc hình thành
loại hình du lịch văn hóa Các tác giả đã liệt kê một số DSVH và nêu đặc trưng phù hợp của chúng để trở thành sản phẩm du lịch của từng loại [66] Như một sự tiếp nối
quan điểm, cuốn Văn hóa du lịch (2016) của Nguyễn Phạm Hùng cũng đề cập đến
vai trò của DSVH trong phát triển du lịch nhưng nội dung truyền tải ở mức độ chuyên sâu hơn Vai trò của di sản được chỉ rõ trong từng thành tố của ngành du lịch [54]
Không tập trung vào vai trò của di sản trong một lĩnh cụ thể, Nguyễn Thị Kim Loan cùng cộng sự trong Quản lý di sản văn hóa (2014) đã bàn đến vai trò của DSVH trong phát triển xã hội nói chung Theo đó DSVH: là tài sản quốc gia, là nguồn lực phát triển; là linh hồn gắn kết dân tộc; là hiện thân của bản sắc văn hóa; là biểu hiện của sự đa dạng và phong phú của văn hóa nhân loại; là nhân tố cho việc hình thành các hệ giá trị mới [64]
Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu về quản lý di sản Ở trong nước, những năm gần đây có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí, sách
Trang 22chuyên ngành đề cập tới lĩnh vực quản lý DSVH Trong bối cảnh của đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm tới các DSVH với nhiều chính sách nhằm bảo vệ, lưu giữ và phát huy các giá trị của chúng Theo xu hướng đó, nghiên cứu của các tác giả trong nước tập trung xoay quanh các vấn đề về lý luận, kinh nghiệm thực
tiễn của hoạt động quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị của DSVH trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển, từ đó đề ra các giải pháp, kiến nghị cho từng trường hợp cụ thể Thực tế quản lý DSVH đều hướng tới mục đích quan
trọng nhất là duy trì sự tồn tại của các di sản ở trạng thái tốt nhất, từ đó có thể khai thác, phát huy phục vụ cho cộng đồng xã hội Đặng Văn Bài trong “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn DSVH” đã đưa ra một số nội dung chủ yếu của công tác quản lý nhà nước đối với DSVH, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quan tâm: quản lý nhà nước bằng văn bản pháp quy (gồm có các văn bản pháp quy về bảo vệ, phát huy giá trị DSVH; quyết định về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản lý ); việc phân cấp quản lý di tích; hệ thống tổ chức ngành bảo tồn - bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích - là yếu
tố có tính chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý [5] Tiếp cận từ góc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa làm tổn hại tới hệ thống DSVH, bài viết Tầm nhìn tương
lai đối với DSVH và hệ thống bảo vệ di tích ở nước ta Tạp chí Di sản văn hóa năm
2004 của Nguyễn Quốc Hùng đã phân tích khá kỹ ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trong điều kiện hiện nay [55] Không đi vào các biện pháp cụ thể, Bùi Hoài Sơn trong tham luận “Các
quan điểm lý thuyết về quản lý di sản” trong Hội thảo Phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu chương trình KX.09, Hà Nội, 30/10/2005 đã giới thuyết về các quan điểm lý thuyết về quản lý di sản, lấy đó làm định hướng cho các biện pháp quản lý, bảo tồn DSVH cụ thể Đặt tình hình trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, Đặng
Văn Bài đã bàn đến “Tính liên ngành trong hoạt động bảo tồn di sản văn hóa” Tạp
chí Di s ản văn hóa, năm 2010 như là một hướng tiếp cận cần thiết và phù hợp với
thực tiễn hệ thống quản lý DSVH hiện nay ở Việt Nam Tiếp tục xuất phát từ bối cảnh
đổi mới sâu rộng và hội nhập quốc tế của nước nhà, cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam
Trang 23trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế (2012) của hai tác giả Phan Hồng Giang
và Bùi Hoài Sơn đã đề cập đến nhiều lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý văn hóa
ở nước ta hiện nay trong đó có quản lý DSVH Ở lĩnh vực này, các tác giả đưa ra thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng và DSVH phi vật thể Nội dung quản
lý được đề cập trên hai khía cạnh: 1) Công tác quản lý nhà nước: bao gồm việc ban hành các văn bản pháp quy, các văn bản thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo tồn DSVH dân tộc; 2) Công tác phát triển sự nghiệp: tập trung phân tích những ưu điểm trong hoạt động bảo tồn di tích như nhà nước đã đầu tư toàn bộ kinh phí cho các di tích cách mạng kháng chiến, các di tích được đầu tư tu bổ, chống xuống cấp đã trở thành các điểm tham quan hấp dẫn Đồng thời nêu ra những hạn chế như chưa có quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị, các dự án chưa đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu bảo tồn Từ thực trạng này các tác giả đã đề ra những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực của di tích như: đầu tư đồng bộ trong bảo tồn, tôn tạo, triển khai việc quy hoạch chi tiết đối với các di tích để giải quyết hợp lý, hài hòa bền vững…[44] Năm 2013, Nguyễn Thế Hùng với Đề tài nghiên cứu Bảo vệ DSVH trong
quá trình phát tri ển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế đề cập tới những ảnh hưởng
của sự đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến việc bảo vệ DSVH Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng hoạt động bảo vệ, phát huy trên các lĩnh vực DSVH vật thể
và phi vật thể ở phạm vi cả nước với những thành tựu đạt được cũng như hạn chế Tác giả đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp chính nhằm đẩy mạnh sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH gồm: tăng cường công tác quản lý nhà nước; củng cố hoàn thiện bộ máy ngành; chính sách đầu tư; xã hội hóa; đào tạo nguồn lực con người; tăng
cường hợp tác quốc tế… Nếu Nguyễn Thị Thu Hà trong Bảo tồn di sản văn hóa ở
Việt Nam: phát triển ngành công nghiệp văn hóa (2013) thấy rằng với bối cảnh phát
triển của khoa học công nghệ hiện nay, việc đưa hình thái di sản vào công nghiệp văn hóa là cách giúp di sản phát huy các giá trị của nó thì Nguyễn Kim Loan và Nguyễn
Trường Tân lại hướng tới quản lý nhà nước về DSVH trong Quản lý di sản văn hóa
(2014) Hai tác giả cho đây là một số nội dung về nghiệp vụ quản lý DSVH mà thực chất đây là các mặt hoạt động bảo tồn DSVH
Trang 24Tổng quan về tình hình nghiên cứu cho thấy DSVH đã được đông đảo giới
học giả trong và ngoài nước quan tâm từ rất sớm Vấn đề xác định DSVH là gì và vai trò giá trị của chúng cho đến nay gần như đã được thừa nhận ở rất nhiều công trình theo định hướng của UNESCO Sự tranh luận sôi nổi đang dành cho vấn đề quản lý,
bảo tồn và phát huy giá trị của các DSVH trong đời sống hiện nay Có rất nhiều biện pháp được đưa ra trong từng lĩnh vực cụ thể với từng loại hình thái DSVH khác nhau Các biện pháp này thực chất là sự cụ thể hóa quan điểm tiếp cận của các nhà nghiên
cứu Và chính ba quan điểm mà Ashworth đưa ra trong các nghiên cứu của mình đã trở thành định hướng cho việc xây dựng các biện pháp quản lý, bảo tồn cụ thể Thực tế cho thấy, hướng tiếp cận theo quan điểm bảo tồn phát triển trên cơ sở khai thác, phát huy giá trị của DSVH phục vụ đời sống đương đại đang là xu hướng được nhiều học giả đi theo trong những năm gần đây và còn nhiều mảng khuyết trống
1.1.2 Nh ững công trình nghiên cứu về đánh giá và phát huy giá trị của tài nguyên văn hóa trong phát triển du lịch
Du lịch là một hiện tượng văn hóa, kinh tế, xã hội có nguồn gốc xa xưa và liên
tục phát triển từ khi hình thành đến nay Do đó, lịch sử nghiên cứu về du lịch cũng có một bề dày tương ứng Trên thế giới, đã có không ít các công trình khoa học được thực hiện và những nghiên cứu mang tính lý luận về du lịch Christine N French, Alan
Collier, Stephen J Craig-Smith trong Principles of Tourism (1995) đã phân tích bối cảnh phát triển du lịch trên thế giới và cung cấp tổng quan về cấu trúc của ngành du
lịch Trong khi đó Rober W McIntosh, Charles R Goeldner, J.R Brent Ritchie thông
qua Tourism, Principle, Practices, Philosophies lại cung cấp tổng quan về các nguyên
tắc, thực tiễn và triết lý ảnh hưởng đến khía cạnh văn hoá, xã hội, kinh tế, tâm lý và tiếp thị của khách du lịch và ngành du lịch Kế thừa thành tựu của nghiên cứu đi trước, Chris Cooper, John Fletcher, Alan Fyall, David Gilbert và Stephen Wanh ill, trước bối cảnh môi trường du lịch có nhiều biến đổi, đã cung cấp cho người đọc các nguyên tắc
cơ bản để tiếp cận nghiên cứu về du lịch, trong đó chú ý nhiều hơn đến sự thay đổi khí hậu và khả năng đáp ứng của du lịch đối với an toàn, an ninh của du khách trong
Tourism Principle and Practice V ề sau, trong một công trình khác là Contemporary
Trang 25tourism:An international approach, Chris Cooper và C Micheal Hall đã cung cấp hệ
thống lý thuyết về du lịch đương đại gồm 4 phần: hệ thống du lịch (các khái niệm cơ bản: du lịch, thị trường du lịch, sản phẩm du lịch); khách du lịch (hành vi du lịch, dòng chảy phát triển của ngành Du lịch, tiếp thị du lịch); điểm đến du lịch và ngành Du lịch
Trong một phạm vi hẹp hơn, các nhà nghiên cứu quan tâm đến các xu hướng phát triển mới của du lịch trên thế giới Một hệ thống lý thuyết và quan điểm về du lịch sinh thái, du lịch bền vững, trong đó có du lịch văn hóa… ra đời tạo sự đa dạng
và hoàn chỉnh cho cơ sở lý luận về phát triển du lịch nói chung Dù ban đầu các nhà khoa học chưa nhìn nhận xu hướng của một loại hình du lịch riêng biệt là du lịch văn hóa, thì trong nghiên cứu các loại hình du lịch khác như du lịch sinh thái, du lịch dựa vào thiên nhiên, du lịch cộng đồng cũng đã đề cập đến yếu tố không thể thiếu trong kiến tạo hoạt động du lịch tại điểm là yếu tố văn hóa bản địa của địa phương [122]
Bên cạnh đó, du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, hay nói một cách khác: du lịch hầu hết được phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên
du lịch nên việc nghiên cứu đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch phục vụ cho hoạt động du lịch cũng được tiến hành nghiên cứu song song Vì thế, song hành cùng lịch sử phát triển của du lịch là các công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên
du lịch cho sự phát triển của điểm đến
Cuối những năm 60 của thế kỷ XX, tại Liên Xô (cũ) bắt đầu xuất hiện nhiều công trình đánh giá về điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch Các công trình tập trung vào việc đánh giá các hợp phần của tự nhiên và xây dựng các tiêu chí đánh giá tài nguyên du lịch như: các tiêu chí đánh giá bãi tắm về chiều rộng và vật liệu nền đáy của bãi biển như cát, sỏi, cuội, sét, bùn (Viện Địa lý - Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô); các tiêu chí đánh giá mức độ đa dạng của cảnh quan cho dạo chơi ngắm cảnh (V.X.Tauxkat, 1969; Mukhina, 1973); các tiêu chí đánh giá mức độ tương phản địa hình (I.U.Vedenhin và nnk, 1975); các chỉ tiêu về nhiệt độ nước để xác định thời hạn của mùa tắm (Kornilova,1979); đánh giá toàn bộ các yếu tố tự nhiên (Iu.A.Vedenhin và N.N.Mirosnhitrenco, 1981) [63] Trong số các công trình kể trên, đáng kể nhất là Những nguyên tắc và phương pháp đánh
giá kỹ thuật các tổng thể tự nhiên của Mukhina [69] Ông đã tổng kết nhiều công trình
Trang 26nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực này Với kinh nghiệm thực tế rút ra từ các công trình nghiên cứu mà bản thân đã tham gia, ông đưa ra những nguyên tắc và phương pháp chung nhất để tiến hành một công trình đánh giá Đây là một công trình có giá trị cao với đánh giá kỹ thuật bằng cách cho điểm các tiêu chí theo mức độ và hệ số
Kế thừa nghiên cứu của các học giả Liên Xô cũ, các nhà khoa học Bungari đã phát triển cả về phương pháp luận và thực tiễn nghiên cứu Theo Đào Đình Bắc [16] các nghiên cứu này đã kiểm kê tài nguyên du lịch một cách hệ thống nhằm phục vụ
tổ chức lãnh thổ và quy hoạch phát triển du lịch Các công trình đánh giá dựa trên các tiêu chí về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, giao thông; xây dựng mô hình đánh giá tài nguyên tự nhiên cho mục đích du lịch; đánh giá các nguồn nước khoáng nóng phục
vụ quy hoạch phát triển du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh
Tại các nước châu Á, do chịu ảnh hưởng lớn của trường phái địa lý Liên Xô (cũ), từ những năm 70 của thế kỷ XX, tại một số nước châu Á như Ấn Độ, Nhật Bản, các công trình về đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên cũng chủ yếu theo hướng phân loại, kiểm kê, đánh giá các thành phần tự nhiên để xây dựng các tiêu chí phù
hợp với mục đích du lịch như: đánh giá bãi biển cho hoạt động tắm biển, xây dựng các chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người
Những năm 1980 của thế kỷ XX, Trung Quốc được coi là một trong những
quốc gia có tốc độ phát triển du lịch nhanh chóng và mạnh mẽ trên thế giới Các tác giả Trung Quốc như Ngô Tất Hổ, Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình, đã dựa vào
bảng phân loại tài nguyên du lịch của Tổ chức Du lịch thế giới thuộc Liên hợp quốc
để kiểm kê, phân loại đánh giá tài nguyên và các nguồn lực phát triển du lịch trên phạm vi cả nước và các địa phương [51,74]
Tại Mỹ và các nước Tây Âu, các công trình đánh giá điều kiện địa lý phục vụ mục đích du lịch nghỉ dưỡng được phát triển và đề cập thêm nhiều yếu tố như: khả năng tiếp cận, hiện trạng sử dụng đất, chất lượng môi trường, hệ thống đường trong
rừng, địa hình, các loại tài nguyên nước; xây dựng các tiêu chí đánh giá dựa trên mức
Trang 27độ thuận lợi của số ngày mưa trong năm thích hợp với hoạt động du lịch; xây dựng
giản đồ tương quan giữa nhiệt độ và độ ẩm tuyệt đối phù hợp với du khách [79]
Đa phần các công trình trên đều tập trung xây dựng các tiêu chí đánh giá tài nguyên tự nhiên phục vụ phát triển du lịch tại điểm đến Ở khía cạnh đánh giá tài nguyên du lịch văn hóa, B.Rosemary (1998) dựa vào các tiêu chí về khả năng tiếp cận các hoạt động du lịch, cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, sự cuốn hút và
sự tham gia của cộng đồng địa phương [49] Đồng thời đánh giá tài nguyên du lịch cũng được coi là một bước cơ bản trong quá trình quy hoạch, phát triển du lịch của từng địa phương hoặc ở quy mô quốc gia Điều này có thể thấy qua việc nghiên cứu tài nguyên du lịch khá chi tiết trong công trình của Boniface and Cooper (1993) [111]
Từ nửa cuối thế kỷ XX, hướng nghiên cứu về đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch được phát triển tại nhiều quốc gia Mặc dù không có cùng xuất phát điểm
và được tiếp cận bởi nhiều góc độ khác nhau, nhưng các công trình đều theo hướng đánh giá mức độ thuận lợi của tài nguyên cho mục đích phát triển du lịch Các nghiên cứu đi theo hướng tiếp cận từ mô tả, kiểm kê đến đưa ra các tiêu chí đánh giá phục vụ mục đích
du lịch, nghỉ dưỡng Nhiều phương pháp đánh giá tài nguyên được áp dụng, phát triển dần từ định tính sang định lượng cao như phương pháp ma trận, phương pháp phân tích chi phí - lợi ích, chi phí du hành, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
Trong nước, các công trình nghiên cứu cũng đi theo hai hướng trên Về lý thuyết phát triển du lịch ở mức độ tổng quan chung nhất, cơ bản được tổng hợp trong
các giáo trình trên cơ sở kế thừa kết quả của các nghiên cứu quốc tế như Tổng quan
du l ịch của Vũ Đức Minh [75], Nhập môn khoa học du lịch của Trần Đức Thanh [84],
hay Giáo trình t ổng quan du lịch Trần Thị Mai [71] Cùng với đó là hệ thống các
công trình nghiên cứu riêng biệt từng vấn đề trong hệ thống du lịch như lưu trú, lữ hành, quản trị, marketing và thị trường du lịch hay tâm lý du khách
Khi các xu hướng du lịch mới xuất hiện, các công trình nghiên cứu về nó cũng
ra đời với các nội dung chủ yếu như: xác định loại hình du lịch; chỉ ra đặc trưng riêng biệt của từng loại hình, dựa trên sự phân bố không gian của các vùng sinh thái đặc
Trang 28thù, các điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng… để đề xuất các hình thức phát triển
và tổ chức lãnh thổ du lịch trên phạm vi cả nước; nghiên cứu phát triển các loại hình
du lịch mới dưới góc độ quy hoạch quốc gia hoặc phân tích tác động nhiều mặt của hoạt động du lịch đó
Về đánh giá tài nguyên, có thể chia các công trình nghiên cứu vào 3 nhóm chính Một là các công trình đánh giá tiềm năng, tài nguyên du lịch phục vụ mục đích quy hoạch, tổ chức lãnh thổ và phân vùng du lịch Từ những năm 80 của thế kỷ trước
đã có một số đề tài khoa học, dự án đề cập tới vấn đề này như: Tổ chức lãnh thổ du
l ịch Việt Nam [89], Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam [94],… Để phục
vụ mục đích khoa học đặt ra, các công trình khoa học này đều đã tiến hành đánh giá
tiềm năng hoặc tài nguyên du lịch theo từng phần hoặc đánh giá tổng hợp trên phạm
vi cả nước Tuy nhiên, do tiến hành đánh giá ở tỷ lệ nhỏ, trên phạm vi lãnh thổ lớn nên các công trình mới chỉ dừng lại ở mức khái quát, định tính và cũng chưa tiến hành xây dựng các hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu cho điểm cụ thể
Hai là các công trình nghiên cứu đánh giá mức độ thuận lợi các tổng thể tự nhiên cho mục đích du lịch Đặng Duy Lợi (1993) trong Đánh giá và khai thác các
điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích
du lịch [65] đã đánh giá tổng hợp các điều kiện và tài nguyên thiên nhiên của khu vực
cho mục đích phát triển nói chung Về mặt chi tiết, tác giả đã đánh giá mức độ tương phản địa hình nhằm đưa ra các tiêu chí phù hợp với từng loại hình du lịch Căn cứ vào số điểm đánh giá của khu vực so với điểm tối đa để kết luận xem khu vực thuận lợi tới mức nào cho việc phát triển du lịch
Các công trình: Cơ sở khoa học của việc xác định các điểm, tuyến du lịch Nghệ
An [25], Cơ sở khoa học cho việc xây dựng các tuyến, điểm du lịch vùng Bắc Trung
B ộ [37], Cơ sở khoa học cho việc xây dựng các tuyến, điểm du lịch [69] cũng là những
công trình theo hướng đánh giá mức độ thuận lợi Các tác giả tiến hành đánh giá tổng
hợp các điều kiện tài nguyên vì họ xem đây là cơ sở để xác định các tuyến, điểm du lịch nói chung và ở từng khu vực cụ thể
Trang 29Cho đến nay, đánh giá mức độ thuận lợi của tài nguyên, nhất là tài nguyên tự nhiên phục vụ trực tiếp mục đích phát triển du lịch vẫn là hướng nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Số lượng các nghiên cứu theo hướng này ngày càng nhiều,
và dần mở rộng nội dung đánh giá, không chỉ đánh giá mức độ thuận lợi của tài nguyên
mà còn đánh giá sức chứa của các điểm du lịch cụ thể, ví dụ như “Cat Tien national park at work: to develop Ecotourism in order to protect and maintain its biodiversity”,
Development of a national ecotourism strategy for VN [110]; “Tourism carrying capacity assessment for Phong Nha - Ke Bang and Dong Hoi, Quang Binh Province”,
VNU Journal of Science, Earth Science [125]; “Tiếp cận hệ thống trong đánh giá sức chứa du lịch ứng dụng cho khu di tích danh thắng Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh” [95]
Ba là các công trình mang tính lý luận, đưa ra hệ thống phương pháp cần thiết cho công tác đánh giá tài nguyên du lịch nói chung Ở hướng này, số lượng các công trình chưa nhiều, chủ yếu được xây dựng trên cơ sở kế thừa hệ thống lý luận và
phương pháp của các công trình nước ngoài Đáng ghi nhận nhất là công trình Đánh
giá tài nguyên du lịch [46] Các tác giả đã đưa ra các phương pháp cụ thể phục vụ
việc đánh giá mức độ thuận lợi và đánh giá kinh tế tài nguyên du lịch Cho đến nay công trình vẫn là một công cụ lý thuyết quan trọng cho các đề tài nghiên cứu triển khai theo hướng đánh giá tài nguyên
Có thể thấy, hệ thống các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch đã cung cấp cho luận án một cơ sở lý thuyết chắc chắn và khá toàn diện, song ở hướng tiệm
cận nhất với đề tài là đánh giá tài nguyên du lịch thì hầu như các công trình đều dành
sự tập trung hướng tới tài nguyên du lịch tự nhiên Các tiêu chí đánh giá tài nguyên được xây dựng chủ yếu áp dụng cho tài nguyên du lịch tự nhiên Việc đánh giá tài nguyên văn hóa, cụ thể là các DSVH trong phát triển du lịch vẫn còn là hướng đi bỏ ngỏ, là khoảng trống nghiên cứu để đề tài có cơ hội san đầy như một đóng góp cho
lý thuyết và thực tiễn về phát huy DSVH
Trang 301.1.3 Nh ững công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản lý di sản văn hóa và phát tri ển du lịch
Mối quan hệ giữa du lịch và quản lý, bảo tồn di sản được nghiên cứu ở nhiều
công trình [105], [109], [113], [121] Những công trình này là kết quả của các nghiên
cứu trường hợp, hoặc từ kinh nghiệm đúc kết nhiều năm của các nhà quản lý, lập chính sách và thực hành trong lĩnh vực du lịch và di sản Dễ dàng nhận thấy các thuật ngữ thường xuyên xuất hiện kèm với các nhận định về mối quan hệ này như: phụ thuộc, phức tạp, căng thẳng, năng động hoặc xung đột mục tiêu,… Các nghiên cứu này chủ yếu đi theo hai hướng:
Hướng thứ nhất khẳng định mối quan hệ không tương thích/xung đột/mâu thuẫn giữa du lịch và di sản Kerr cho rằng “Điều gì tốt cho công tác bảo tồn thì không nhất thiết tốt cho du lịch và điều gì tốt cho du lịch thì hiếm khi tốt đối với việc bảo
tồn”, cho thấy rõ một quan điểm xung đột về mối quan hệ này[113] Tác giả cũng nhấn mạnh rằng điều này là đáng buồn, nhưng lại là sự thực khi hiện nay có rất nhiều điểm di sản đang phải đối mặt với vấn đề rằng công tác bảo tồn di sản của họ đang
phải hi sinh nhiều để đáp ứng nhu cầu của ngành Du lịch
Hướng thứ hai cho rằng mối quan hệ giữa du lịch và di sản thường được mô
tả bởi các tương phản và xung đột khi các nhà bảo tồn cho rằng du lịch văn hóa đang
đánh đổi các mục tiêu bảo tồn lấy lợi nhuận Trong Hiến chương về Du lịch văn hóa
quốc tế - Quản lý du lịch tại các điểm di sản, ICOMOS cũng đã đề cập đến khả năng
xung đột có thể xảy ra giữa du lịch và di sản do nguồn tài nguyên và giá trị của hai ngành năng động và luôn thay đổi Ngành Di sản văn hóa cho rằng giá trị văn hóa của di sản đang bị đánh đổi để lấy lợi nhuận, trong khi ngành Du lịch thì cảm thấy rằng các giá trị du lịch cũng đang bị đánh đổi khi luôn tồn tại một thái độ quản lý cho rằng bất kỳ sự “sản phẩm du lịch hóa” nào đều có ảnh hưởng tiêu cực, ví dụ như việc sản phẩm du lịch hóa các đô thị cổ, một mặt mang tới các cơ hội mới phục hồi kinh
tế đô thị đó nhưng đồng thời, lại đe dọa nguồn tài nguyên văn hóa của đô thị đó do việc tiêu chuẩn hóa trong quá trình “sản phẩm du lịch hóa” [54] Có học giả thậm chí còn nghi ngờ công tác đánh giá lợi ích của du lịch, đặc biệt là lợi ích tạo việc làm và
Trang 31đóng góp cho sự phát triển kinh tế địa phương [121] khi nhận thấy rằng các chỉ tiêu
hoặc công cụ đánh giá tác động của du lịch hiện đang được sử dụng ở nhiều nơi không được thiết kế gắn kết với quá trình lập kế hoạch và tạo chính sách có liên quan, không
có định hướng lâu dài trong tương lai hoặc thường dựa trên nguồn thông tin vặt vãnh,
hy vọng hoặc từ các cứ liệu không được chứng minh qua quá trình đánh giá khoa học nào Vì vậy, không có gì khó hiểu khi các nhà quản lý di sản có thái độ nghi ngờ và cảnh giác với hoạt động du lịch trên địa bàn quản lý di sản của họ
Những mâu thuẫn mà các học giả này đã nhận định phần lớn bắt nguồn từ sự bất tương thích về mục tiêu hoặc là do va chạm mạnh về giá trị được nhìn nhận bởi hai bên Sự xung đột nảy sinh do có sự có thể bất tương thích giữa mục đích của một bên với hành vi của bên kia [119]
Cũng với cách nhìn về sự xung đột giữa phát triển du lịch và quản lý di sản văn hóa, một số học giả khác lại đặt nó trong một số chiều cạnh khác Nuryanti [124]
ở một bài viết của mình đã đặt mối quan hệ phức tạp giữa du lịch và di sản trong sự căng thẳng giữa truyền thống và hiện đại Với vai trò là kênh chuyển tài các giá trị
lịch sử văn hóa của quá khứ, di sản được coi là một phần truyền thống văn hóa của một xã hội Trong khi đó, khái niệm du lịch lại là một hình thức nhận thức hiện đại Đặc tính của du lịch là năng động, và sự tương tác của nó với di sản thường dẫn đến
kết quả là sự tái thuyết minh di sản Vì thế, mối quan hệ giữa di sản và du lịch giống với những tranh luận nảy ra giữa truyền thống và hiện đại trong văn hóa của một xã
hội Trong khi di sản được định nghĩa là nguồn tài nguyên nhân văn hình thành trong quá trình lịch sử của con người thì khái niệm du lịch lại mang đến cảm giác rằng hoạt động này đang sử dụng nguồn tài nguyên này để mang đến các kết quả, có thể bao gồm cả giáo dục, giải trí, môi trường, nhưng trên hết cả, là các lợi ích về tài chính Vì thế, di sản là đối tượng của một quá trình biến đổi trở thành "sản phẩm" của ngành công nghiệp đó [126] Cohen [62] cho rằng đây là mối liên kết giữa việc sản xuất của văn hóa và việc tiêu thụ của du lịch
Các học giả đi theo hướng nghiên cứu thứ hai đề cao những lợi ích chia sẻ mà
du lịch và di sản có thể mang lại cho nhau bởi hai ngành cùng chung nhau một đối
Trang 32tượng quản lý là di sản Không phủ nhận những mâu thuẫn, xung đột trong mối quan
hệ này nhưng hướng tới trạng thái hợp tác lý tưởng giữa hai bên khi xem xét những lợi ích và sự chia sẻ mà hai bên có thể mang lại cho nhau là điều cần thiết phải đạt được [46], [113], [127] Mỗi điểm du lịch phải tìm ra biện pháp riêng của mình để
kết hợp được bảo tồn và du lịch Việc này chỉ có thể đạt được với sự hiểu biết hoàn toàn và thực tế về nhu cầu của hai bên ngay từ giai đoạn đầu của quá trình lập kế hoạch Biết rằng hiếm khi có được một giải pháp hoàn hảo nhưng ít nhất bảo tồn tốt
và du lịch hợp lý có thể cùng tồn tại trong hầu hết các điểm di sản
Vì thế, một mối quan hệ hợp tác giữa hai đối tượng này được nhiều học giả nghiên cứu như là một trạng thái lý tưởng thể hiện bằng điểm nằm ở một đầu của
một trục trong khi trạng thái xung đột đang giữ vị trí sẵn ở đầu kia thể hiện mối quan hệ tiêu cực hoặc tích cực Di sản văn hóa và du lịch không hẳn luôn được nhìn như hai nhân vật luôn có xung đột, mâu thuẫn, hoặc như hai thế giới riêng rẽ mà có thể được nhìn như là những ngành công nghiệp văn hóa - xã hội được hình thành bởi nhau [126]
Ở Việt Nam đến nay không có nhiều các nghiên cứu mang tính hệ thống và dài hơi về mối liên hệ giữa quản lý văn hóa và phát triển du lịch ngoài các bài viết có tính tổng quan về vai trò của du lịch đối với bảo tồn và phát huy di sản trên một số
tạp chí nghiên cứu hay trong các cuộc hội thảo về du lịch và di sản Trong một số các nghiên cứu về di sản, du lịch văn hóa/di sản hoặc các vấn đề có liên quan như các công trình của Đặng Văn Bài [8], [9]; Trương Quốc Bình [22], [23]; Nguyễn Thị Chiến [28]; Nguyễn Quốc Hùng [55], [56]; Bùi Hoài Sơn [83], [84]; Lê Hồng Hạnh [48]; các tác giả đã đề cập và xem xét đến mối quan hệ này nhưng chủ yếu là làm
rõ các vấn đề như: mối liên hệ hữu cơ/đối ngẫu giữa du lịch và di sản văn hóa, tác động qua lại giữa hai ngành như các tác động tích cực và tiêu cực của du lịch lên cộng đồng, di sản, môi trường; tiềm năng di sản văn hóa trong phát triển du lịch; định hướng phát triển nhằm hạn chế các tác động của du lịch;
Bên cạnh những nghiên cứu này, nhiều cơ quan, đơn vị liên quan tới quản lý, bảo tồn di sản và phát triển du lịch di sản đã tổ chức nhiều buổi tọa đàm khoa học,
Trang 33hội thảo chuyên đề và thực hiện nhiều dự án, chương trình nhằm nâng cao năng lực
quản lý nhà nước về di sản văn hóa và phát triển du lịch ở những điểm di sản này Chủ đề thảo luận của các hội thảo này cũng chủ yếu xoay quanh các vấn đề về hệ thống và các biện pháp quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa (vật thể và phi vật
thể) như; Hội thảo Quản lý, bảo tồn và phát triển du lịch tại các di sản thế giới ở Việt
Nam do UBND t ỉnh Ninh Bình tổ chức tháng 10/2019; Công nghệ GIS với việc Quản
lý di sản văn hoá và phát triển du lịch (qua trường hợp đô thị cổ Hội An) ở Hội An
vào tháng 3/2008; hoặc các vấn đề về quan điểm bảo tồn như Hội thảo Bảo tồn và
phát huy di s ản văn hóa trong quá trình hiện đại hóa, Văn phòng UNESCO tại Hà
Nội phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hà Nội, 6/3/2012,
Một số hội thảo khác đi sâu hơn thảo luận về mối liên hệ hữu cơ giữa di sản văn hóa và du lịch, trong đó, chủ đề về việc khai thác di sản như là nguồn lực cho
sự phát triển kinh tế du lịch địa phương đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến dưới nhiều phương diện khác nhau từ lý thuyết cho tới thực tiễn Từ năm 2001, Bộ Văn hóa Thông tin (Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với Quỹ Á – Âu đã tổ chức một hội thảo quốc tế lớn là Di sản văn hóa, Con người và Du lịch Cũng với chủ đề tương tự, những năm sau đó, nhiều hội thảo và tọa đàm khoa học cũng đã liên tục được tổ chức nhằm kịp thời đề cập đến những vấn đề cơ bản trong
mối quan hệ này ở nhiều trường hợp cụ thể, địa phương và vùng miền cụ thể trên
cả nước: Hội thảo Di sản văn hóa và Phát triển du lịch ở miền Trung Việt Nam do
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Văn phòng đại diện JICA tại Việt Nam tổ chức
tháng 8/2009; Di s ản văn hóa Nam Trung Bộ với phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (Bộ VHTTDL) và UBND tỉnh Phú
Yên phối hợp tổ chức tháng 4/2011; Nhìn chung, hầu hết các công trình nghiên cứu và các tham luận trong các cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học liên quan tới di sản văn hóa và phát triển du lịch ở Việt Nam trong hơn chục năm vừa qua mới dừng lại
ở việc khẳng định mối liên hệ hữu cơ giữa tác động của du lịch, khai thác di sản văn hóa cho phát triển du lịch, và bỏ ngỏ việc nghiên cứu sâu về mối quan hệ phức tạp, năng động, biến đổi liên tục và chịu tác động của nhiều yếu tố đặc trưng về di
Trang 34sản, con người và vùng miền này ở các điểm di sản văn hóa nói chung trên cả nước
và ở các điểm di sản lớn, đặc biệt và phức tạp như ở Hội An, Huế, Hà Nội, Quảng Ninh thì lại càng thiếu
1.1.4 Nh ững công trình nghiên cứu về di sản văn hóa và phát triển du lịch
ở Quảng Ninh
Các DSVH ở Quảng Ninh từ sớm đã được chú ý quan tâm tìm hiểu với các mức
độ khác nhau Theo hướng giới thiệu, mô tả các DSVH, ở mức độ chung nhất, chúng được trình bày một cách khái lược ở phần di tích lịch sử văn hóa trong công trình mang tính chất địa chí như Quảng Ninh - Hạ Long miền đất hứa của Đỗ Phương Quỳnh [80] hay Địa chí Quảng Ninh của GS Vũ Khiêu và GS Vũ Hồng Phong [59] bên cạnh việc
giới thiệu vị trí địa lý, đặc điểm dân cư, di tích lịch sử, văn hoá xã hội, di tích thắng cảnh và các khu vực hành chính của tỉnh Cụ thể hơn, trong một công trình dành toàn
bộ dung lượng cho các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Quảng Ninh miền đất
nh ững trầm tích [81] Thi Sảnh đã trình bày các yếu tố tạo nên những giá trị văn hoá
Quảng Ninh, đồng thời giới thiệu các giá trị văn hoá cụ thể như danh lam thắng cảnh, các di tích, lễ hội, các nhân vật nổi tiếng, đài tưởng niệm
Đi vào từng di sản cụ thể, Trịnh Công Lộc và cộng sự đã giới thiệu lịch sử các
di tích lăng mộ, đền, miếu, chùa, tháp thời nhà Trần tại Đông Triều - Quảng Ninh và
một số tư liệu Hán Nôm trong các di tích với kết cấu chữ Hán, phiên âm Hán - Việt, dịch nghĩa trong cuốn Di tích lịch sử - văn hóa nhà Trần tại Đông Triều [12] Còn Nguyễn Văn Kim [61] lại chọn Vân Đồn thương cảng quốc tế của Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu trong công trình của mình Tác giả đã bày một số bài nghiên
cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về thương cảng Vân Đồn qua tính hệ thống và quy mô, vai trò và vị thế, những biến đổi về phạm vi tổ chức hành chính và vai trò của Vân Đồn qua các thời kỳ lịch sử Hạ Long lâu nay vẫn được biết đến với
di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long nhưng không phải ai cũng biết đến những dấu tích văn hóa đặc sắc còn được lưu lại ở mảnh đất này
Trong số các DSVH đất Quảng, quần thể di tích Yên Tử được đánh giá là tiêu
biểu nhất, thu hút được sự quan tâm rất lớn của giới học giả trong và ngoài nước vì
Trang 35những giá trị lịch sử - văn hóa nổi bật của nó Hội thảo khoa học “Nhận diện giá trị
n ổi bật toàn cầu của quần thể di tích và danh thắng Yên Tử” đã phân tích, đánh giá
tổng quan về các giá trị của quần thể di tích - danh thắng Yên Tử, trong đó tập trung làm rõ các tiêu chí II, III, V, VI, VII theo các tiêu chí đánh giá về Di sản thế giới của UNESCO, tính toàn vẹn và tính xác thực của di sản Nhiều tham luận đã tập trung đánh giá những giá trị nổi bật toàn cầu của quần thể di sản trong việc so sánh bước đầu với các di sản thế giới tương đồng trong khu vực và thế giới; định hướng trong việc quản
lý quần thể di sản với tư cách là một di sản thế giới có tính chất liên vùng
Theo hướng khai thác di sản phục vụ các mục đích kinh tế - xã hội, trong đó
có mục đích phát triển du lịch thì các DSVH được xem xét với tư cách là tài nguyên
du lịch, thuộc nhóm tài nguyên nhân văn Tuy nhiên trong các công trình như: Phát
triển các loại hình du lịch ở Hạ Long, Quảng Ninh [90]; Nghiên cứu phát triển du
l ịch văn hóa và du lịch lịch sử tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh [38]; Nghiên
c ứu giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trọng điểm triều Trần tại Quảng Ninh phục
vụ phát triển du lịch [53]; Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh
[52]; các DSVH mới được nghiên cứu theo từng trường hợp riêng biệt, chưa có sự khái quát tổng hợp trên quy mô lớn và chủ yếu được mô tả, trình bày theo lối tường thuật quá trình hình thành, giá trị, đặc trưng hay thực trạng khai thác hiện tại chứ chưa được đánh giá theo một hệ tiêu chí cụ thể
Công trình Nghiên c ứu, đánh giá tài nguyên du lịch và điều kiện sinh khí hậu
ph ục vụ phát triển du lịch bền vững khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng [91] là một
trong số ít công trình nghiên cứu về tài nguyên du lịch theo hướng đánh giá mức độ thuận lợi cho việc phát triển du lịch ở Quảng Ninh Trong công trình này, DSVH ở Quảng Ninh đã được đề cập đến, được đánh giá mức độ thuận lợi cho phát triển loại hình du lịch văn hóa song lại đánh giá theo bộ tiêu chí phân bổ mật độ tài nguyên trong từng phân vùng lãnh thổ du lịch của chuyên ngành địa lý
Như vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về DSVH ở Quảng Ninh một cách hệ thống, trên một quy mô rộng theo hướng đánh giá mức độ thuận lợi cho phát triển du lịch theo các tiêu chí đặc thù của chuyên ngành du lịch Bởi vậy,
Trang 36nhiệm vụ của đề tài là tiếp tục san đầy những khoảng trống trước đó và tìm tòi hướng
đi mới dưới góc độ: (1) Xây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá khả năng phát huy DSVH trong phát triển du lịch; (2) Đánh giá thực trạng phát huy hệ thống DSVH ở Quảng Ninh theo các nhóm tiêu chí đã xây dựng; (3) Đề xuất phương thức tổ chức
và giải pháp để phát huy giá trị các DSVH phục vụ phát triển du lịch của địa phương
1.2 Cơ sở lý luận về phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch
Để phát huy hiệu quả giá trị DSVH trong phát triển du lịch, nhất thiết phải đặt
nó trên nền tảng của cơ sở lý thuyết nhất định Nghiên cứu này tiếp cận từ hai góc độ: 1) Lý thuyết về quản lý DSVH và 2) Lý thuyết về phát triển du lịch
1.2.1 Lý thuy ết về quản lý di sản văn hóa
1.2.1.1 Các quan điểm lý thuyết về quản lý di sản văn hóa
Là kết quả của sức sáng tạo của con người và được trao truyền nhiều thế hệ, DSVH cho biết nhiều về sự tồn tại của con người qua các thời kỳ lịch sử khác nhau,
về truyền thống, tín ngưỡng, cách sống, tri thức và các thành tựu khoa học của họ Không còn di sản văn hóa, ý niệm về những thế hệ con người đã từng tồn tại cũng trở nên mơ hồ hoặc bị lãng quên Đối với thế hệ hiện tại và các thế hệ trong tương lai, di sản văn hóa là chiếc cầu kết nối họ với nguồn gốc lịch sử và văn hóa của cộng đồng
và tộc người mình, là nền tảng xã hội và là những ví dụ tiêu biểu nhất cho những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển lịch sử và văn hóa của họ
Khái niệm Di sản văn hóa, để trở thành một thuật ngữ khoa học được sử dụng phổ biển, có một lịch sử phát triển khá dài lâu Thuật ngữ “di sản” trước tiên được định nghĩa vào năm 1970 là “tài sản do cha và mẹ để lại”, đến năm 1980 nó trở thành “sở
hữu tài sản do tổ tiên chuyển giao”, rồi thêm “tài sản văn hóa của một cộng đồng, một đất nước, của nhân loại”; và giờ đây người ta bắt đầu nói đến khái niệm DSVH phi vật thể bên cạnh khái niệm DSVH vật thể, cũng như đặt các vấn đề liên quan đến ý thức
hệ và quan điểm của mỗi thời đại ảnh hưởng đến khái niệm về di sản Tuy nhiên, dù sao đi nữa, bất chấp những tranh cãi ở đâu đó về khái niệm, di sản cũng được thừa nhận
là có sự gắn bó với quá khứ và được công nhận ở thời kỳ hiện tại
Trang 37Ở Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ XX, khái niệm “DSVH” được hiểu đơn giản là tài sản của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, hay “chỉ chung cho các DSVH như văn học dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học mà các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau” [78] Luật Di sản văn
hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2001 xác định “di sản” là:
“sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong đó, di sản văn hóa vật thể là “sản phẩm vật chất
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”; di sản văn hóa phi vật thể là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá
trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình
vọng, mong muốn của xã hội hiện tại”
Theo lịch sử phát triển của khái niệm “di sản” thì các quan điểm lý thuyết về quản lý di sản cũng có tiến trình riêng của nó Trong nghiên cứu của mình [82] tác giả Bùi Hoài Sơn đã tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là nghiên cứu của Ashworth (1997) để đưa ra ba quan điểm quản lý di sản văn hóa như sau:
1) Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn: Theo nghiên cứu của Ashworth, quan điểm
về quản lý di sản đầu tiên trên thế giới xuất hiện từ năm 1850 với quan điểm bảo tồn nguyên vẹn Những người theo quan điểm này cho rằng, những sản phẩm của quá
Trang 38khứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như vốn có để tránh tình trạng di sản bị méo mó,
biến dạng bởi các thế hệ đương thời Mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa –
xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại cũng có thể hiểu hết một cách
cụ thể để phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Không những thế, những tác động của thời điểm hiện tại sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác, không trùng nghĩa với lớp văn hóa trước đó được thế hệ đi trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế có thể làm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị của di sản đang tồn tại Như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng nên giữ nguyên trạng những di sản này để các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn
Theo Ashworth, quan điểm bảo tồn nguyên vẹn có những biểu hiện chính sau:
- Bảo tồn nguyên vẹn về kiểu dáng, phong cách, vật liệu xây dựng, kỹ thuật,
độ tinh xảo trong chế tác hoặc thi công, về chức năng thực dụng, địa điểm xây dựng cũng như về cảnh quan môi trường
- Tính nguyên vẹn còn liên quan tới tính liên tục trong lịch sử hình thành và phát triển của di sản
- Tính nguyên vẹn gắn với khoảnh khắc thời gian lúc di sản đạt đến đỉnh cao
về mọi mặt
Với những biểu hiện đó, quan điểm này được áp dụng thành công trong việc bảo tồn cổ vật, những hiện vật khảo cổ học hay các di tích có giá trị truyền thống văn hóa lâu đời Đóng góp của quan điểm này là đem đến cho công chúng cái nhìn chân xác về sự vật, hiện tượng, không bị thay đổi, thiên lệch do nhãn quan lịch sử mang lại Bên cạnh đó, trong quá trình tiến triển của lịch sử với sự biến đổi không ngừng
của di sản, quan điểm nay cũng bộc lộ những hạn chế nhất định như: (1) Việc bảo tồn gặp khó khăn do sự tác động khách quan của thiên nhiên và con người; (2) Việc bảo
tồn ít mang “hơi thở” của thời đại; (3) Khó quảng bá rộng rãi giá trị của di sản tới đông đảo quần chúng
2) Quan điểm bảo tồn kế thừa: Đến những năm 60 của Thế kỷ XX, một quan
điểm khác là bảo tồn trên cơ sở kế thừa bắt đầu được bàn đến nhiều hơn Quan điểm
Trang 39này được đưa ra để khắc phục hạn chế của quan điểm bảo tồn nguyên vẹn Quan điểm này dựa trên cơ sở kế thừa những giá trị độc đáo của quá khứ dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay khi bàn đến di sản nói chung, quản lý di sản nói riêng Quan điểm bảo tồn này cho rằng mỗi di sản cần phải thực hiện nhiệm
vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở không gian và thời gian hiện tại thì nó cần phát huy các giá trị văn hóa – xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy
Bàn về quan điểm này, Ashworth cho rằng nó có những đóng góp nhất định khi có thể đem đến cho công chúng các sắc thái văn hóa mới dựa trên nền tảng di sản thuộc về quá khứ Cách thức bảo tồn này cũng góp phần giúp cho di sản tăng cả về
số lượng và chất lượng, định tính và định lượng về những lĩnh vực mà di sản hàm chứa Tuy nhiên, quan điểm bảo tồn này cũng cho thấy những hạn chế nhất định Việc
cải biên, biến đổi một phần của di sản sẽ khiến cho công chúng khó có cái nhìn chân xác về nguồn gốc Việc đáp ứng được thị hiếu của công chúng đương đại cũng không
dễ dàng vì việc xác định được nhu cầu và cải biên phù hợp với các đối tượng công chúng khác nhau của một thời điểm nhất định là rất khó khăn
Thực tế đã cho thấy, cả bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa đều
có những điểm mạnh và điểm yếu của nó Nếu như, quan điểm bảo tồn nguyên vẹn
gặp khó khăn trong việc xác định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phái sinh
Từ đó dẫn tới việc giữ gìn nguyên gốc là giữ gìn những yếu tố nào Quan điểm bảo
tồn kế thừa lại gặp khó khăn trong khâu xác định yếu tố nào thực sự là giá trị cần phải
kế thừa và phát huy, yếu tố nào không hoặc cần phải loại bỏ Sự loại bỏ ấy có phải sẽ đánh mất những giá trị văn hóa mà chúng ta chưa hiểu biết một cách cụ thể hay không Chính vì thế, hiện nay, trên thế giới, trong lĩnh vực quản lý di sản, các nhà khoa học
và các nhà quản lý đã phát triển xa hơn, không quá chú trọng đến những tranh cãi xung quanh hai quan điểm trên Ashworth đã mô hình hóa những tranh luận của hai hướng tiếp cận trên và đưa ra một giải pháp thứ ba vào năm 1980
3) Quan điểm bảo tồn phát triển: Quan điểm bảo tồn phát triển được Ashworth
cho rằng nó bắt đầu từ mô hình quan niệm sau:
Trang 40(Nguồn: Bùi Hoài Sơn [82])
Quan điểm này cho rằng có thể có nhiều mục đích khác nhau, thậm chí trái ngược trong việc bảo tồn di sản và mục đích được áp dụng phù hợp với từng đối tượng di sản nhất định Nguồn lực cho việc bảo tồn được tạo ra bởi nhu cầu của thị trường sản phẩm Bởi vậy các tiêu chí được lựa chọn để bảo tồn cũng phụ thuộc vào
sự lựa chọn của thị trường Cho nên chiến lược bảo tồn của quan điểm này coi di sản
là một chức năng, là một sự lựa chọn cho phát triển Không có sự mâu thuẫn giữa bảo
tồn và phát triển Kế hoạch bảo tồn di sản không tách rời khỏi các chiến lược bảo tồn
di sản khác [108]
Như vậy, quản lý một di sản không đơn thuần chỉ là việc tìm ra những biện pháp
để bảo tồn nguyên vẹn di sản hay không mà có thể xem xét quản lý theo một hướng khác Quan điểm mới này dựa trên cơ sở DSVH hiển nhiên đang tồn tại song hành với
xã hội của chúng ta Vì vậy, cần có những biện pháp vận hành di sản thích hợp với những yêu cầu của thời đại hiện nay Những yêu cầu của thời đại luôn cần được đặt trong bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội và văn hóa nhất định Mối quan hệ giữa di
sản và những bối cảnh nêu trên là mối quan hệ hai chiều, ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau
Thuy ết minh
Di s ản
Sử dụng quá khứ như một loại hàng hóa trong giai đoạn hiện thời