1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận kinh tế vĩ mô

35 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 140 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.Tiền tệ và thị trường tiền tệ 1.Tiền tệ 1.1 .Bản chất và chức năng của tiền tệ 1.1.1 Sự ra đời và bản chất của tiền tệ Mọi hàng hoá đều có giá trị,giá trị của hàng hoá do lao động của con người sáng tạo ra trong quá trình sản suất, nhưng nó chỉ bộc lộ ra bên ngoài trong quá trình lưu thông. Ngày nay giá trị của mọi thứ hàng hoá đều biểu hiện bằng tiền. Tiền đã xuất hiện cách đây trên 2000 năm trước công nguyên, sau may nghìn năm phát triển của sản xuất va trao đổi trong xã hội loài người, trải qua nhiều hình thức trao đổi khác nhau như: trao đổi sản phẩm trực tiếp, trao đổi mở rộng qua nhiều sản phẩm khác, trao đổi gián tiếp qua vật ngang giá chung của từng khu vực, từng bộ lạc... đến khi tất cả các địa phương các quốc gia đều thống nhất sử dụng vàng bạc làm vật ngang giá chung, thì tiền tệ trở thành vật ngang giá chung của toàn thế giới. Vật ngang giá chung là hình thái biểu hiện giá trị của nhiều hàng hoá nên nó có thể trao đổi trực tiếp với nhiều hàng hoá khác. Trong thời gian đầu, vật ngang giá chung chưa cố định vào một hàng hoá nào, mỗi địa phương mỗi dân tộc đều có một thứ hàng hoá riêng biệt làm vật ngang giá chung. Trong thời cổ đại ,Trung Quốc đã từng sử dụng da súc vật ,vỏ trai, gạo, ngọc trai, vàng bạc làm vật ngang giá chung...

Trang 1

1.1.Bản chất và chức năng của tiền tệ

1.1.1 Sự ra đời và bản chất của tiền tệ

Mọi hàng hoá đều có giá trị,giá trị của hàng hoá do lao động của conngười sáng tạo ra trong quá trình sản suất, nhưng nó chỉ bộc lộ ra bênngoài trong quá trình lưu thông Ngày nay giá trị của mọi thứ hàng hoáđều biểu hiện bằng tiền

Tiền đã xuất hiện cách đây trên 2000 năm trước công nguyên, sau maynghìn năm phát triển của sản xuất va trao đổi trong xã hội loài người, trảiqua nhiều hình thức trao đổi khác nhau như: trao đổi sản phẩm trực tiếp,trao đổi mở rộng qua nhiều sản phẩm khác, trao đổi gián tiếp qua vậtngang giá chung của từng khu vực, từng bộ lạc đến khi tất cả các địaphương các quốc gia đều thống nhất sử dụng vàng bạc làm vật ngang giáchung, thì tiền tệ trở thành vật ngang giá chung của toàn thế giới

Vật ngang giá chung là hình thái biểu hiện giá trị của nhiều hàng hoánên nó có thể trao đổi trực tiếp với nhiều hàng hoá khác Trong thời gianđầu, vật ngang giá chung chưa cố định vào một hàng hoá nào, mỗi địaphương mỗi dân tộc đều có một thứ hàng hoá riêng biệt làm vật ngang giáchung Trong thời cổ đại ,Trung Quốc đã từng sử dụng da súc vật ,vỏ trai,gạo, ngọc trai, vàng bạc làm vật ngang giá chung

Trang 2

Trong quá trình phát triển của sản xuất trao đổi hàng hoá, những hànghoá thông thường mất dần vai trò làm vật ngang giá chung vì thị trườngtrong nước và thị trường thế giới ngày càng mở rộng, đòi hỏi phải có mộtvật ngang giá chung thống nhất,cố định,có giá trị thực tế, dễ bảo quản vậnchuyển, dễ sử dụng có thể chia nhỏ để dùng trong những giao dịch nhỏ,không bị thiên nhiên phá hoại Trong các loạ hàng hoá làm vật ngang giáchung, chỉ có vàng bạc là đủ những tính chất như vậy, nên vàng bạc đãđược dùng làm vật ngang giá chung

Đến cuôí thế kỉ 19, vàng loại bỏ bạc, làm vật ngang giá chung độc nhất,duy nhất của thị trường thế giới cũng như thị trường của từng dân tộc.Vàng trở thành thước đo giá trị chung của toàn thế giới

Xét về bản chất tiền tệ là sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá đã pháttriển cao, một thứ hàng hoá đặc biệt, đóng vai trò vật ngang giá chung,thước đo giá trị chung của mọi hàng hoá và tài sản khác Tiền có khả năngtrao đổi trực tiếp với mọi hàng hoá: vật chất và phi vật chất,mọi tài sản lớnnhỏ

Bản chất của tiền là một loại hàng hoá đặc biệt, độc quyền làm vậtngang giá chung, vật trung gian trao đổi hàng hoá, vật biểu hiện quan hệ

xã hội của mọi người trong nền kinh tế Bản chất của tiền tệ được biểuhiện đầy đủ qua các chức năng của nó

1.1.2.Chức năng của tiền tệ

- Phương tiện thanh toán:

Tiền được dùng trong giao dịch mua, bán hàng hoá, dịch vụ.Vậy tiềncho phép trao đổi giá trị mà không cần trao đổi hàng hoá trực tiếp Nó tạothuận lợi đặc biệt cho quá trình lưu thông hàng hoá , được xem là dầu bôitrơn cho mọi hoạt động kinh tế, thúc đẩy phân công lao động và mở rộng

Trang 3

chuyên môn hoá sản xuất Dòng lưu thông tiền tệ trở thành hệ thống huyếtmạch cho toàn bộ nền kinh tế thị trường.

- Dự trữ giá trị :

Tiền hôm nay có thể được tiêu dùng giá trị của nó trong tương lai Vì thế

nó tạo khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh,tăng thêm thu nhập tronghiện tại, nhưng có thể để dành một phần kết quả đạt được cho tiêu dùngngày mai Như vậy tiền là một loại tài sản tài chính má nhờ nó đã mởrộng cho hoạt động tín dụng,thúc đấy quá trinh tích tụ để mở rộng sảnxuất

- Đơn vị hoạch toán:

Tiền cung cấp một đơn vị tiêu chuẩn giá trị, được dùng để đo lường giátrị của các hàng hoá khác nhau Đặc biệt, nó cần thiết cho mọi nền kinh tế,

vì khả năng so sánh các chi phí và lợi ích của các phương án kinh tế Nócòn là cơ sở để hoạch toán mọi hoạt động kinh tế từ sản xuất đến lưuthông và tiêu dùng của mọi quốc gia

1.2 Các khối tiền tệ trong lưu thông

Các khối tiền tệ trong lưu thông tập hợp các phương tiện được sử dụngchung làm phương tiện trao đổi, được phân chia tuỳ theo “độlỏng” của cácphương tiện đó trong những khoảng thời gian nhất định của một quốc gia

Độ lỏng của phương tiện trao đổi được hiểu là khả năng chuyển đổi từphương tiện đó ra hàng hoá dịch vụ, tức là phạm vi và mức độ có thể sửdụng những phương tiện đó trong việc thanh toán chi trả

Các phép đo khối lượng tiền được đưa ra tuỳ thuộc vào các phươngtiện hệ thống tài chính cung cấp và thường xuyên có sự thay đổi cho phùhợp, nhưng nhìn chung các khối tiền trong lưu thông bao gồm :

1.2.1 Khối tiền giao dịch(M1)

Trang 4

Gồm những phương tiện được sử dụng rộng rãi trong thanh toán chi trả

về hàng hoá dịch vụ, bộ phận này có tính lỏng cao nhất :

- Tiền mặt trong lưu hành : Bộ phận tiền mặt(giấy bạc ngân hàng và tiềnđúc) nằm ngoài hệ thống ngân hàng

- Tiền gửi không kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng

- Một số phương tiện khác như ngân phiếu thanh toán, tiền gửi khác cóthể phát séc

1.2.3 Khối tài sản (M3)gồm:

- M2

- Trái khoán có mức lỏng cao như: Hối phiếu, Tín phiếu kho bạc Bộphận trái khoán này là tài sản tài chính nhưng vẫn có thể được chuyển đổi

ra tiền giao dịch tương đối nhanh chóng

Mặc dù số liệu về các khối tiền tệ được công bố và sử dụng vào nhữngmục đích nhất định, nhưng việc đưa ra các phép đo lượng tiền chỉ có ýnghĩa khi nó vừa tập hợp được các phương tiện trao đổi trong nền kinh tế,vừa tạo cơ sở dự báo lạm phát và chu kì kinh doanh Vì vậy, hiện nay một

số nước đang nghiên cứu đưa ra phép đo “tổng lượng tiền có tỉ trọng”trong đó mỗi loạ tài sản có một tỉ trọng khác nhau tuỳ theo độ lỏng của nókhi cộng lại với nhau Việc lựa chọn phép đo nào phụ thuộc vào nhận thực

Trang 5

và khả năng của ngân hàng TW trong điều hành chính sách thực tế Tuynhiên, sử dụng trực tiếp trong các giao dịch làm phương tiện giao dịch chủyếu là khối tiền M1, vì vậy định ngiã M1 được sử dụng thường xuyên khinói tới tiền trong giao dịch trực tiếp

Thị trường tiền tệ có một số đặc điểm sau:

- Công cụ của thi trường tiền tệ là các khoản vay, hay các chứng khoán

có thời hạn trong vòng một năm

- Thị trường này có độ an toàn tương đối cao

2.2 Cấu trúc của thị trường tiền tệ

2.2.1 Theo hình thức vận đọng của vốn, thị trường tiền tệ bao gồm:

- Thị trường tiền gửi

Trên thị trường này các tổ chức tín dụng thu hút vốn bằng nhiều hìnhthức: Tiền gửi tiết kiểm, phát hành các công cụ nợ, cung ứng tín dụng đốivới nền kinh tế

- Thị trường mua bán ngoại tệ(thị trường ngoại hối) là nơi mua bántrao đổi ngoại tệ và các giấy tờ có giá trị ngoại tệ

Trang 6

- Thị trường mua bán các giấy tờ có giá trị ngắn hạn: là nơi mua bán,trao đổi các giấy tờ có giá trị ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, kì phiếuthương mại, kì phiếu ngân hàng

2.2.2 Căn cứ vào phạm vi, thị trường tiền tệ chia làm hai loại:

- Thị trường ngân hàng, là nơi trao đổi vốn khả dụng giữa các tổ chứctín dụng

- Thị trường mở, là nơi mua đi bán lại các chứng khoán có giá trị ngắnhạn của các pháp nhân và thể nhân trong xã hội

2.2.3 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức thị trường ,thị trường tiền tệ bao gồm:

- Thị trường sơ cấp là nơi gặp gỡ trực tiếp giữa các nhà phát hành cácgiấy tờ có giá trị với nhà đầu tư để thoả mãn nhu cầu vốn cho các chủ thểtrong nền kinh tế

-Thị trường thứ cấp, là nơi mua đi bán lại các giấy tờ có giá đã đượcphát hành ở thị trường sơ cấp

2.3 Chủ thể tham gia thị trường tiền tệ

2.3.1 Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

Các doanh ngiệp sản xuất kinh doanh khi bán sản phẩm nhận đượccác giấy nợ, hối phiếu họ thường đem chúng ra thị trường bán đẻ nhậntiền.Khi họ là người mua hàng, họ lại có thể mua loại giấy tờ có giá trịthích hợp tại thị trường tiền tệ Các doanh nghiệp lớn, khi có thừa vốn tiền

tệ, còn có thể bỏ ra mua các loại chứng khoán ngắn hạn để kiếm lời

2.3.2 Tổ chức tín dụng.

Đóng vai trò chủ lực, các tổ chức tín dụng tham gia thị trường tiền tệ

để duy trì khả năng thanh toán, hoặc tận dụng triệt để vốn nhàn rỗi trongnền kinh tế để phục vụ cho mục đích kinh doanh

2.3.3 Ngân hàng TW

Trang 7

Ngân hàng TW tham gia thị trường tiền tệ với tư cách là người chỉđạo thị trường

2.3.4 Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Như quĩ đầu tư ,quĩ hưu trí,công ty bảo hiểm Tham gia tích cực vàothị trường này để tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua bán các giấy tờ

có giá ngắn hạn

2.3.5 Các nhà môi giới chuyên nghiệp

Nhà môi giới với tư cách là người trung gian trong việc mua bán cácgiấy tờ có giá giữa các bên

2.3.6 Các tổ chức phi tài chính

Các tổ chức phi tài như: Chính Phủ, chính quyền địa phương, các côngty Những người đã tạo hàng hoá cho thị trường như tín phiếu kho bạc,thương phiếu, trái phiếu Các chủ thể này tham gia vào thị trường với tưcách là người đi vay thông qua việc phát hành các công cụ vay vốn ngắnhạn

2.4 Hàng hoá trên thị trường tiền tệ

2.4.1 Tín phiếu kho bạc

Tín phiếu kho bạclà giấy nợ do Chính Phủ phát hành với thời hạn 3tháng, 6 tháng, 12 tháng Chúng có tính thanh khoản cao, được phát hànhdưới dạng chứng chỉ vật chất hoặc ghi sổ

Tín phiếu kho bạc loại kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng đượng phát hành hàngtuần, loại kỳ hạn 1 năm được phát hành hàng tháng Vì vậy gần như cómột nguồn liên tục các tín phiếu kho bạc mới phát hành được trên thịtrường

Trang 8

Hình thức mua bán chủ yếu của tín phiếu kho bạc là Bộ tài chính bánbuôn cho ngân hàng TW, sau đó bán đấu giá lại cho các đơn vị dự thầu,tiếp tục bán lại cho các nhà đầu tư

Tín phiếu kho bạc là loại công cụ quan trọng nhất của thị trường tiền tệ,

nó có độ an toàn cao Khối lượng tín phiếu kho bạc mỗi lần phát hànhthường rất lớn, song do có tính lỏng cao ,nên tín phiếu kho bạc rất hấp dẫnvới các nhà đầu tư

2.5 Hoạt động của thị trường tiền tệ

Hoạt động vay mượn giữa ngân hàng TW với các tổ chức tín dụngcũng như giữa các tổ chức tín dụng với nhau được tiến hành trên thịtrường tiền tệ liên ngân hàng

2.5.1 Hoạt động tín dụng giữa ngân hàng TW với các tổ chức tín dụng Ngân hàng TW có thể cấp tín dụng cho các tổ chức tín dụng qua cácphương thức: Tái cấp vốn, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, cho vay cóđảm bảo bằng các giấy tờ có giá ngắn hạn

2.5.2 Hoạt động tín dụng giữa các tổ chức tín dụng

Các tổ chức tín dụng tham gia vào thị trường để tìm nguồn tài trợ tạmthời về vốn thiêú hụt hay tranh thủ kiếm lời trên số vốn tạm thời nhàn rỗitrong khoảng thời gian ngắn

Trang 9

Khi thị trường tiền tệ ở trạng thái cân bằng, ngân háng TW xuất hiệnvới tư cách là người tổ chức đơn thuần Khi thị trường tiền tệ có biến động,ngân hàng TW xuất hiện với tư cách người can thiệp thị trường thông quanghiệp vụ thị trường mở.

2.6 Vai trò của thị trường tiền tệ

2.6.1 Thị trường tiền tệ tạo môi trường sinh lời cho các pháp nhân và thểnhân có tiền nhàn rỗi , đẩy nhanh vòng quay vốn, góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế

2.6.2 Thị trường tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụngđiều chỉnh các phương tiện chi trả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng trongnhững điều kiện nhất định của nền kinh tế

2.6.3 Thị trường tiền tệ nơi thực hiện nghiệp vụ thị trường mở của ngânhàng TW Bằng việc mua bán chứng khoán trên thị trường, ngân hàng TW

đã tác động đến khối lượng tiền cung ứng, dẫn đến làm gia tăng sức muahoặc thu hẹp sức mua của xã hội, kích thích tăng trưởng hoặc làm chậm đàtăng trưởng của kinh tế

Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mà trong

đó NHTW thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát vàđiều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm đặt được các mục tiêu về sảnlượng, giá cả và công ăn việc làm

Trang 10

1.2 Cơ chế thực hiện.

Quá trình thực hiện chính sách tiền tệ bao giờ cũng diễn ra theo một

cơ chế nhất định Trong cơ chế này, NHTW sẽ là người thiết kế và điềuhành chính sách tiền tệ Một chính sách tiền tệ của một quốc gia có thểđược thực hiện theo hai hướng

1.2.1 Chính sách tiền tệ "nới lỏng" là chính sách nhằm tăng thêm khốilượng tiền tệ cung ứng cho nền kinh tế làm cho tiền trở nên dôì dào, lãisuất hạ xuống từ đó kích thích tiêu dùng và đầu tư

1.2.2 Chính sách tiền tệ "thắt chặt" là chính sách nhằm giảm khối lượngtiền cung ứng cho nền kinh tế làm cho tiền tệ trở nên khan hiếm về sốlượng, lãi suất bị đẩy lên cao, tổng cầu giảm và do đó giá cả trên thịtrường giảm sút, lạm phát bị đẩy lùi

2 Công cụ sử dụng trong chính sách tiền tệ

Công cụ của chính sách tiền tệ là hệ thống các biện pháp mà Ngânhàng Trung ương có thể sử dụng để tác động vào các mục tiêu của chínhsách tiền tệ

Để thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung ương đã sử dụnghàng loạt các công cụ như công công cụ tài cấp vốn, lãi suất tín dụng dựtrữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở Mỗi loại công cụ đều có cơ chếtác động riêng và đem lại những kết quả trên những khía cạnh khác nhau.Tuy nhiên các công cụ này đều nhằm ảnh hưởng trực tiếp hany gián tiếpđến lượng tiền cung ứngvà lãi suất để từ đó đạt được các mục tiêu củachính sách tiền tệ

2 1 Công cụ trực tiếp:

Công cụ trực tiếp là công cụ có tác động về lượngvà Ngân hàng Trungương kiểm soát công cụ bằng biện pháp hành chính Khi Ngân hàng Trung

Trang 11

ương sử dụng công cụ trực tiếp, nó tác động vào mục tiêu trung gian, từmục tiêu trung gian đã tác động đến tổng cầu.

2.1.1 Hạn mức tín dụng:

Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ươngbuộc các tổ chức tín dụng phải tôn trọng trong khi cấp tín dụng cho nềnkinh tế

Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu lực đáng kể Thực chất biện phápnày cho phép Ngân hàng Trung ương ấn định trước khối lượng tín dụngphải cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìmcon đường để đưa nó vào nền kinh tế

Việc quy định hạn mức tín dụng thường được Ngân hàng Trung ương

sử dụng khi nền kinh tế có nhiều biến động để kiểm soát khối lượng tiềntrong lưu thông đảm bảo cho sự bình ổn của tiền tệ, giá cả Hạn mức tíndụng sé phát huy được tác dụng trong điều kiện có lạm phát Song trongnền kinh tế thị trường, cung - cầu tín dụng biến động không ngừng, biệnpháp này chỉ được áp dụng một cách hạn chế khi tình huống yêu cầu Khi sử dụng hạn mức tín dụng là khống chế dư nợ của các Ngân hàngthương mại, từ đó quyết định đến lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế vìmỗi khoản cho vay cấu thành dư nợ tín dụng của các Ngân hàng thươngmại thì tương ứng với nó là một lượng nguồn vốn tiền gửi huy động, từ đóảnh hưởng đến tỷ trọng vốn tín dụng so với lượng tiền cung ứng KhiNgân hàng Trung ương tăng hạn mức tín dụng dẫn đến tăng khả năng tạotiền qua hệ thống Ngân hàng, do đó làm tăng lượng tiền cung ứng vàngược lại Hạn mức tín dụng tác động vào hệ số mở rộng tiền tệ nên tácđộng vào lượng tiền cung ứng

2.1.2 Lãi suất tiền gửi và cho vay

Trang 12

Ngân hàng Trung ương có thể quy định khung lãi suất tiền gửi và chovay buộc các Ngân hàng kinh doanh phải thi hành.

Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ thu hút được nhiều tiền gửi làm gia tăngnguồn vốn cho vay Ngược lại sẽ làm giảm khả năng mở rộng kinh doanhtín dụng Song biện pháp này sẽ làm cho Ngân hàng thương mại mất tínhchủ động linh hoạt trong kinh doanh

Khi muốn tăng khối lượng cho vay, Ngân hàng Trung ương giảm mứclãi suất cho vay để kích thích các nhà đầu tư vay vốn khi cần hạn chế đầu

tư, Ngân hàng Trung ương ấn định mức lãi suất cao

2 2 Các công cụ gián tiếp.

Công cụ gián tiếp là những công cụ mà tác dụng của nó được là nhờ cơchế thị trường (Hay công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ là công cụ tácđộng vào mục tiêu trung gian thông qua việc điều chỉnh các mục tiêu cuốicùng

2.2.1 Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng giử tại Ngân hàngTrung ương để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Nó được xác địnhbằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tuy theo tínhchất và thời hạn mà các tổ chức tín dụng huy động được

Dự tữ bắt buộc bị tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dự tứ bắtbuộc do Ngân hàng Trung ương quy định bằng việc tăng tỷ

lệ dự trữ bắt buộc sẽ có tác dụng làm giảm khả năng chovay và đầu tư của Ngân hàng thương mại, từ đó giảm lượngtiền trong lưu thông, góp phần giảm cầu tiền để cân bằngvới sự giảm cung xã hội Như vậy tỷ lệ dự trữ bắt buộc càngcao mức độ an toàn trong hoát động của các Ngân hàngthương mại càng cao, tuy nhiên nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Trang 13

quá cao đến mức nào đó sẽ làm cho các Ngân hàng thươngmại mất khả năng tạo tiền - một khả năng cần có của Ngânhàng Trong trường hợp giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khảnăng mở rộng cho vay của Ngân hàng thương mại sẽ tănglên, đẫn đến sự gia tăng lượng tiền trong lưu thông, gópphần tăng cung xã hội để có thể cân đối tăng cầu về tiền.2.2.2 Lãi suất tài chiết khấu.

Chính sách tài chiết khấu thể hiện qua việc Ngân hàng Trung ươngcung ứng vốn tín dụng cho Ngân hàng thương mại Chính sách tài chiếtkhấu được thực hiện thông qua các cửa sổ chiết khấu Ngân hàng Trungương áp dụng lãi suất chiêt khấu và qui định các điều kiện để tài chiếtkhấu cho các tổ chức tín dụng

Ngân hàng Trung ương áp dụng chính sách tài chiết khấu: Là lãi suất

mà Ngân hàng Trung ương áp dụng để chiết khấu lại các giấy tờ có giácủa Ngân hàng thương mại Đây là loại cho vay có đảm bảo

Lãi suất tài chiết khấu tác động vào giá tín dụng nên khi lãi suất tàichiết khấu tăng sẽ tác động vào mặt bằng giá vốn đầu tư của Ngân hàngthương mại, gây áp lực và lãi suất nền kinh tế sẽ tăng theo, thu hẹp khảnăng cho vay của Ngân hàng thương mại dẫn đến hệ số tạo tiền giảm vàngược lại Việc tăng lãi suất tài chiết khấu cũng gây hiệu ứng thông báo,nhà kinh doanh sẽ biết tác động của Ngân hàng Trung ương thông quachính sách chiết khấu tối thị trường Người đầu tư giám sát sự thông báolãi suất của Ngân hàng Trung ương để dự tính được xu hướng thay đổi lãisuất để tìm biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn làm thay đổi tiền gửi và lãixuất cho vay đồng thời tác động giá chứng khoán

Đi kèm với lãi suất tài chiết khấu Ngân hàng Trung ương còn quiđịnh hạn mức tài chiết khấu tức là qui định cho vay tối đa trên cơ sở lãi

Trang 14

suất đã qui định để gây ảnh hưởng về lượng vốn mà các tổ chức tín dụngvay của Ngân hàng Trung ương Đồng thời Ngân hàng Trung ương cònqui định các tiêu chuẩn thể hiện tài chiết khấu như về thời hạn về thể loạigiấy tờ có giá, chất lượng giấy tờ có giá, và uy tín của tổ chức tín dụng khivay vốn của Ngân hàng Trung ương.

nó sẽ tác động vào dự trữ của Ngân hàng thương mại làm ảnh hưởng đếnkhối lượng tiền cung ứng

Về mặt giá: Khi Ngân hàng Trung ương mua các giấy tờ có giá sẽ làmtăng dự trữ của Ngân hàng thương mại , cung vốn tín dụng cũng tăng lên.Điều đó sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn làm lãi suất ngắn hạncó xuhướng giảm xuống và tác đôngj vào lãi suất có kỳ hạn giảm xuống Bêncạnh đó Ngân hàng Trung ương thực hiện mua chứng từ có giá trị trên thịtrường mở sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các chứng từ có giá, đẫnđến có sự chuyển dịch vốn đầu tư làm ảnh hưởng đến lãi suất thị trường,tác động vào cung cầu vốn trên nền kinh tế, ảnh hưởng đến lượng tiềncung ứng

Trang 15

Khi Ngân hàng Trung ương thực hiện mua, bán các chứng từ có giá trên thị trường mở sẽ tác động vào giá cả của chứng từ cá giá và khi Ngân hàng Trung ương thực hiện can thiệp vào giá cả của các chứng từ có khối lượng chiếm tỷ trọng lớn thì vai trò can thiệp của Ngân hàng Trung ương càng có ý nghĩa quan trọng tác động vào lượng tiền cung ứng.

Trang 16

CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM

I Chính sách tiền tệ và việc sử dụng các công cụ chính sách tiền

tệ những năm qua ở VN.

1 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM).

NVTTM bắt đầu vận hành vào 12/7/2000 đã có tác động nhất định tớivốn khả dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) tham gia thị trường, đadạng hoá kênh huy động và luân chuyển vốn, tạo ra khả năng phối kết hợpgiữa thị trường liên ngân hàng - thị trường mở - thị trường chứng khoán(TTCK) trong các thị trường tài chính ở Việt Nam hiện nay

Hoạt động của NVTTM được ban hành theo quyết định số85/2000/QD - NHNN 14 ngày 09/3/2000.Qua nửa năm hoạt động,NVTTM đã góp phần khắc phục khó khăn bước đầu trong thời vận hành.Thành viên tham gia NVTTM là các TCTD và NHNN, bao gồm 15thành viên là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp

và phát triển nông thôn Việt Nam , Ngân hàng công thương Việt Nam,Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, Ngân hàng đầu tư và phát triển ViệtNam, NHTM cổ phần Đông á, Ngân hàng CHINFON, NHTM cổ phầnSài Gòn Thương Tín, NHTM cổ phần Quốc tế, NHTM cổ phần PhươngNam, NHTM cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, NHTM cổphần Quân đội, NHTM cổ phần Tân Việt, ABN AMRO Bank, Công ty tàichính bưu điện.Tuy chưa phải là nhiều song số lượng các TCTD này đãđại diện cho các TCTD hiện có ở Việt Nam Qua các phiên giao dịch, sốthành viên tham gia dự thầu là nhỏ, phiên giao dịch đông nhất có 5 thànhviên dự thầu, thấp nhất là một thành viên, trong đó các NHTM quốc doanhtham gia dự thầu và trúng thầu là chủ yếu, còn các TCTD khác hầu nhưchưa tham gia dự thầu Khối lượng giao dịch qua NVTTM từ 12/07/2000

Trang 17

đến ngày 15/11/2000 của Ngân hàng công thương Việt Nam là 810,420 tỷđồng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là 228,020 tỷ đồng, Ngân hàngĐầu tư và phát triển Việt Nam là 393,390 tỷ đồng.

Về hàng hoá giao dịch, theo quy chế hiện hành thì chỉ có các giấy tờ

có giá ngắn hạn mới được mua bán ở thị trường mở, song cho đến nay, chỉ

có tín phiếu kho bạc và tín phiếu NHNN được mua bán Tín phiếu NHNNđược mua bán nhiều nhất với số lượng 1.070 tỷ/1.448.500 tỷ đồng Tínphiếu kho bạc Nhà nước chỉ có 378,500 tỷ đồng nếu tính theo giá trị khiđến hạn thanh toán Như vậy hàng hoá ở thị trướng mở là khá đơn diệu vàchỉ tập trung ở các NHTM quốc doanh

Về phương thức giao dịch, các phiên giao dịch vừa qua chỉ áp dụngphương thức mua bán hẳn với tín phiếu NHNN, phương thức mua có kỳhạn đối với tín phiếu kho bạc nhà nước, còn phương thức bán hẳn ít đượcthực hiện và đặc biệt phương thức bán có kỳ hạn chưa được thực thi Tínhđến ngày 15/11/2000, doanh số trúng thầu ở hình thức mua hẳn ở 13 phiêngiao dịch là 480 tỷ đồng, doanh số mua có kỳ hạn là 418,50 tỷ đồng,doanh số bán hẳn là 550 tỷ đồng Phương thức đấu thầu thường là đấuthầu lãi suất

2 Công cụ lãi suất cho vay triết khấu.

Lãi suất tái triết khấu là một công cụ quan trọng giúp NHTƯ thực hiệnCSTT Nhưng việc áp dụng công cụ này ở Việt Nam những năm vừa quacòn đang ở trạng thái giản đơn do các phương tiện làm căn cứ để NHNNthực hiện cho vay triết khấu còn chưa hoàn thiện (đó là các thương phiếu,hối phiếu)

Trong quá trình cho vay triết khấu, NHNN luôn luôn điều chỉnh lãi suấtcho vay lãi suất phù hợp với mục tiêu của CSTT trong từng thời kỳ Cóthể nói trong thời gian qua, đặc biệt là những năm gần đây cho vay triết

Ngày đăng: 16/06/2018, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w