1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn: Đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu GDP theo thành phần tới thu NSNN bằng mô hình kinh tế lượng

115 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 869,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết và quản lý của Nhà nước, mọi hoạt động điều hành và quản lý phải tuân theo quy luật thị trường. Do đó việc định hướng phát triển kinh tế nói chung và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu thu NSNN nói riêng cũng phải tuân theo quy luật thị trường. Như ta đã biết GDP và thu NSNN là các nhân tố quan trọng trong nền kinh tế, nó tác động mạnh mẽ, toàn diện đến mọi khía cạnh, lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Thu NSNN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng và là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thu NSNN tác động đến cả phía cung và phía cầu, là công cụ hỗ trợ đắc lực Nhà nước thực hiện các mục tiêu chính sách kinh tế - xã hội, hỗ trợ Nhà nước trong quá trình quản lý và thúc đẩy phát triển, đảm bảo công bằng xã hội, góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghiên cứu thu NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu theo thành phần kinh tế, từ đó cho ta cái nhìn tổng quan và rõ nét về tình hình, tiềm lực của từng thành phần kinh tế để có giải pháp khuyến khích, động viên thu từ từng thành phần kinh tế cho hợp lý nhằm tăng thu và đảm bảo nguồn tài chính cho thực hiện sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. GDP và thu NSNN là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế, đồng thời hai chỉ tiêu này lại có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Thông thường GDP là chỉ tiêu phản ánh về quy mô của nền kinh tế, phản ánh mức độ lớn mạnh về kinh tế của một quốc gia. Còn thu NSNN là chỉ tiêu phản ánh tiềm lực về tài chính của đất nước, phản ánh hiệu quả của một nền kinh tế. Nguồn gốc của thu NSNN chính là GDP hay nói cách khác muốn thu NSNN ngày càng lớn mạnh thì vấn đề trước hết phải là tạo ra tăng trưởng cao, GDP hàng năm phải lớn mạnh. Ngược lại, nếu thu NSNN càng dồi dào thì sẽ tạo nguồn lực lớn để thực hiện đầu tư phát triển và tạo ra khối lượng GDP càng lớn. Mối quan giữa GDP và thu NSNN có thể nói là quan hệ nhân quả, tác động qua lại lẫn nhau không thể tách rời. Đối với Việt Nam, hiện nay chúng ta đang thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với chính sách mở rộng phát triển kinh tế thị trường gắn với hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta đã thu hút được một khối lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và trong tương lai thì vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào nước ta sẽ tăng lên đáng kể. Điều đó đồng nghĩa với việc nền kinh tế nước ta đã và đang có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu kinh tế, không chỉ chuyển dịch về vùng, về ngành, lĩnh vực kinh tế mà còn cả về thành phần kinh tế. Sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế theo hướng nào đi chăng nữa thì cũng có tác động, ảnh hưởng tới kết quả thu NSNN hàng năm. Với tư cách như một biến vĩ mô, thu NSNN có liên hệ mật thiết với GDP như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu GDP trong quá trình tăng trưởng kinh tế sẽ tác động tới thu NSNN và ngược lại. Như phân tích ở trên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra theo nhiều hướng, nhiều góc độ nhưng chúng ta chủ yếu đề cập vấn đề cơ cấu này dưới góc độ cơ cấu theo khu vực kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, chứ chúng ta chưa đề cập nhiều đến sự chuyển dịch cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế: quốc doanh, ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt là đánh giá sự chuyển dịch của cơ cấu GDP theo thành phần tác động đến cơ cấu thu NSNN theo thành phần. Liên quan đến lĩnh vực này ở Việt Nam đã có một số công trình đề tài, luận án đề cập đến như: “Đổi mới NSNN” của GS. TS. Tào Hữu Phùng (1992); “Quản lý NSNN ở Việt Nam và các nước” của GS. TS. Nguyễn Công Nghiệp (1991); “Đổi mới cơ cấu chi NSNN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của TS. Bùi Đường Nghiêu (2002); “Hoàn thiện cơ cấu NSNN ở Việt Nam hiện nay” của TS. Phùng Đức Hùng (2003) … các đề tài, luận án trên đã nghiên cứu, đề cập và đưa ra nhiều vấn đề, giải pháp liên quan đến NSNN nói chung hoặc cơ chế, cơ cấu thu - chi NSNN nói riêng. Tuy nhiên, chưa có một đề tài, luận án nào đề cập một cách trực tiếp, đầy đủ quan hệ và tác động của cơ cấu kinh tế theo thành phần đến cơ cấu thu NSNN. Hơn nữa, các đề tài đã có của chúng ta từ trước đến nay khi đề cập, đánh giá đều tiếp cận trên quan điểm định tính, kinh nghiệm và nếu sử dụng phần định lượng thì rất giản đơn và chỉ mang tính minh họa, chưa có một mô hình nào nghiên cứu, đánh giá sự tác động lẫn nhau dưới góc độ các mô hình kinh tế để đưa ra các căn cứ định lượng. Khi đưa ra những chính sách, quyết định chúng ta phải có những căn cứ khoa học về mặt định lượng. Trước những yêu cầu đó chúng ta phải xây dựng những mô hình nhằm phục vụ cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể và toàn nền kinh tế nói chúng. Với những lý do và thực tiễn đó tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu GDP theo thành phần tới thu NSNN bằng mô hình kinh tế lượng”

Trang 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC ĐỒ THỊ

DANH MỤC BẢNG

TÓM T T LU N V N ẮT LUẬN VĂN ẬN VĂN ĂN

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GDP VÀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 5

1.1 Một số vấn đề lý luận về GDP 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Phương pháp tính GDP 6

1.1.3 Cơ cấu GDP 11

1.2 Thu Ngân Sách Nhà Nước 16

1.2.1 Khái niệm thu NSNN 16

1.2.2 Các yếu tố tác động đến thu NSNN 20

1.2.3 Cơ cấu thu NSNN 25

1.3 Mối quan hệ giữa GDP và thu NSNN 27

Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ CẤU GDP VÀ THU NSNN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1991 - 2005 29

2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu GDP 1991 - 2005 29

2.1.1 Tổng quan về tình hình GDP giai đoạn này 29

2.1.2 Cơ cấu GDP giai đoạn này 35

2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu thu NSNN giai đoạn 1991 - 2005 39

2.2.1 Tổng quan về tình hình thu NSNN giai đoạn này 39

Trang 2

Chương 3: VẬN DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU GDP TỚI THU NSNN Ở VIỆT NAM 55

3.1 Mô hình kinh tế lượng mô tả sự tác động của sự chuyển dịch cơ cấu 55

3.2 Mô hình đánh giá và kiểm định 60

3.3 Các phương án dự báo 66

3.4 Kiến nghị và giải pháp 84

KẾT LUẬN 87

Trang 3

GDP : Tổng sản phẩm trong nước

GDPQD : GDP thành phần kinh tế quốc doanh

GDPNQD : GDP thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

GDPFDI : GDP thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài NSNN : Ngân sách Nhà nước

SNA : Hệ thống tài khoản quốc gia

TDCC : Tiêu dùng cuối cùng

Thuế VAT: Thuế giá trị gia tăng

Trang 4

Đồ thị 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991 - 1995 30

Đồ thị 2.2: GDP theo giá hiện hành giai đoạn 1991 - 1995 30

Đồ thị 2.3: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1996 - 2000 32

Đồ thị 2.4: GDP theo giá hiện hành giai đoạn 1996 - 2000 33

Đồ thị 2.5: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001 - 2005 34

Đồ thị 2.6: GDP theo giá hiện hành giai đoạn 2001 - 2005 34

Đồ thị 2.7: Đồ thị miêu tả cơ cấu GDP 36

Đồ thị 2.8: Tốc độ tăng trưởng của các thành phần kinh tế 39

Đồ thị 2.9: Thu NSNN giai đoạn 2001 - 2005 40

Đồ thị 2.10: Tốc độ tăng tăng thu NSNN qua các năm 41

Đồ thị 2.11: Đồ thị phản ánh GDP và thu NSNN 42

Đồ thị 2.12: Đồ thị phản ánh tỷ trọng NSNN so với GDP 43

Đồ thị 2.13: Cơ cấu GDP và thu NSNN năm 1991 51

Đồ thị 2.14: Cơ cấu GDP và thu NSNN năm 1995 52

Đồ thị 2.15: Cơ cấu GDP và thu NSNN năm 2000 53

Đồ thị 2.13: Cơ cấu GDP và thu NSNN năm 2005 54

Đồ thị 3.1: Sơ đồ tổng quát 57

Trang 5

Bảng 2.1: GDP theo thành phần kinh tế kinh tế giai đoạn 1991 - 2005 35

Bảng 2.2: Cơ cấu GDP 38

Bảng 2.3: Thu NSNN theo thành phần 45

Bảng 2.4: Cơ cấu thu NSNN so với tổng thu 47

Bảng 2.5: Cơ cấu thu NSNN theo thành phần 49

Bảng 3.1: Kết quả so sánh qua mô hình 68

Bảng 3.2: Giả định về các biến ngoại sinh gốc giai đoạn 2006 - 2010 72

Bảng 3.3: Giá trị của các biến nội sinh theo phương án 1 73

Bảng 3.4: Cơ cấu thu NSNN theo phương án 1 74

Bảng 3.5: Giả định các biến ngoại sinh phương án 2 75

Bảng 3.6: Kết quả dự báo phương án 2 76

Bảng 3.7: Cơ cấu thu NSNN theo phương án 2 78

Bảng 3.8: Giả định các biến ngoại sinh phương án 3 79

Bảng 3.9: Kết quả dự báo phương án 3 79

Bảng 3.10: Cơ cấu thu NSNN theo phương án 3 80

Bảng 3.11: Giả định các biến ngoại sinh phương án 4 81

Bảng 3.12: Kết quả dự báo phương án 4 82

Bảng 3.13: Cơ cấu thu NSNN theo phương án 4 83

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngày nay, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự điềutiết và quản lý của Nhà nước, mọi hoạt động điều hành và quản lý phải tuântheo quy luật thị trường Do đó việc định hướng phát triển kinh tế nói chung

và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu thu NSNN nói riêng cũng phảituân theo quy luật thị trường Như ta đã biết GDP và thu NSNN là các nhân tốquan trọng trong nền kinh tế, nó tác động mạnh mẽ, toàn diện đến mọi khíacạnh, lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội

Thu NSNN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng và là công cụ điềutiết vĩ mô nền kinh tế Thu NSNN tác động đến cả phía cung và phía cầu, làcông cụ hỗ trợ đắc lực Nhà nước thực hiện các mục tiêu chính sách kinh tế -

xã hội, hỗ trợ Nhà nước trong quá trình quản lý và thúc đẩy phát triển, đảmbảo công bằng xã hội, góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Nghiên cứu thu NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu theo thànhphần kinh tế, từ đó cho ta cái nhìn tổng quan và rõ nét về tình hình, tiềm lựccủa từng thành phần kinh tế để có giải pháp khuyến khích, động viên thu từtừng thành phần kinh tế cho hợp lý nhằm tăng thu và đảm bảo nguồn tài chínhcho thực hiện sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

GDP và thu NSNN là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng trong nềnkinh tế, đồng thời hai chỉ tiêu này lại có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau.Thông thường GDP là chỉ tiêu phản ánh về quy mô của nền kinh tế, phản ánhmức độ lớn mạnh về kinh tế của một quốc gia Còn thu NSNN là chỉ tiêuphản ánh tiềm lực về tài chính của đất nước, phản ánh hiệu quả của một nềnkinh tế Nguồn gốc của thu NSNN chính là GDP hay nói cách khác muốn thu

Trang 7

NSNN ngày càng lớn mạnh thì vấn đề trước hết phải là tạo ra tăng trưởng cao,GDP hàng năm phải lớn mạnh Ngược lại, nếu thu NSNN càng dồi dào thì sẽtạo nguồn lực lớn để thực hiện đầu tư phát triển và tạo ra khối lượng GDPcàng lớn Mối quan giữa GDP và thu NSNN có thể nói là quan hệ nhân quả,tác động qua lại lẫn nhau không thể tách rời.

Đối với Việt Nam, hiện nay chúng ta đang thực hiện phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với chính sách mở rộng phát triểnkinh tế thị trường gắn với hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta đã thu hút đượcmột khối lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và trong tương lai thì vốnđầu tư gián tiếp nước ngoài vào nước ta sẽ tăng lên đáng kể Điều đó đồngnghĩa với việc nền kinh tế nước ta đã và đang có sự chuyển dịch lớn về cơ cấukinh tế, không chỉ chuyển dịch về vùng, về ngành, lĩnh vực kinh tế mà còn cả

về thành phần kinh tế Sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế theo hướng nào đichăng nữa thì cũng có tác động, ảnh hưởng tới kết quả thu NSNN hàng năm.Với tư cách như một biến vĩ mô, thu NSNN có liên hệ mật thiết với GDPnhư vậy, sự chuyển dịch cơ cấu GDP trong quá trình tăng trưởng kinh tế sẽtác động tới thu NSNN và ngược lại Như phân tích ở trên sự chuyển dịch cơcấu kinh tế diễn ra theo nhiều hướng, nhiều góc độ nhưng chúng ta chủ yếu đềcập vấn đề cơ cấu này dưới góc độ cơ cấu theo khu vực kinh tế: công nghiệp,nông nghiệp và dịch vụ, chứ chúng ta chưa đề cập nhiều đến sự chuyển dịch

cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế: quốc doanh, ngoài quốc doanh và cóvốn đầu tư nước ngoài Đặc biệt là đánh giá sự chuyển dịch của cơ cấu GDPtheo thành phần tác động đến cơ cấu thu NSNN theo thành phần Liên quanđến lĩnh vực này ở Việt Nam đã có một số công trình đề tài, luận án đề cậpđến như: “Đổi mới NSNN” của GS TS Tào Hữu Phùng (1992); “Quản lýNSNN ở Việt Nam và các nước” của GS TS Nguyễn Công Nghiệp (1991);

“Đổi mới cơ cấu chi NSNN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt

Trang 8

Nam” của TS Bùi Đường Nghiêu (2002); “Hoàn thiện cơ cấu NSNN ở ViệtNam hiện nay” của TS Phùng Đức Hùng (2003) … các đề tài, luận án trên đãnghiên cứu, đề cập và đưa ra nhiều vấn đề, giải pháp liên quan đến NSNN nóichung hoặc cơ chế, cơ cấu thu - chi NSNN nói riêng Tuy nhiên, chưa có một

đề tài, luận án nào đề cập một cách trực tiếp, đầy đủ quan hệ và tác động của

cơ cấu kinh tế theo thành phần đến cơ cấu thu NSNN Hơn nữa, các đề tài đã

có của chúng ta từ trước đến nay khi đề cập, đánh giá đều tiếp cận trên quanđiểm định tính, kinh nghiệm và nếu sử dụng phần định lượng thì rất giản đơn

và chỉ mang tính minh họa, chưa có một mô hình nào nghiên cứu, đánh giá sựtác động lẫn nhau dưới góc độ các mô hình kinh tế để đưa ra các căn cứ địnhlượng Khi đưa ra những chính sách, quyết định chúng ta phải có những căn

cứ khoa học về mặt định lượng Trước những yêu cầu đó chúng ta phải xâydựng những mô hình nhằm phục vụ cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể và toànnền kinh tế nói chúng Với những lý do và thực tiễn đó tôi đã chọn đề tài

nghiên cứu: “Đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu GDP theo thành

phần tới thu NSNN bằng mô hình kinh tế lượng”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về GDP và cơ cấu GDP, vấn đề

lý luận về thu NSNN và cơ cấu thu NSNN

- Phân tích, đánh giá thực trạng GDP, cơ cấu GDP, thu NSNN, cơ cấuthu NSNN từ 1991 - 2005, đặc biệt là từ khi nền kinh tế mở cửa vận độngtheo cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

- Đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu GDP theo thành phần tới cơcấu thu NSNN theo thành phần trên cơ sở mô hình kinh tế lượng

- Đưa ra quan điểm và giải pháp trên cơ sở dùng các mô hình Kinh tếlượng thực hiện phân tích định lượng nhằm hoàn thiện cơ cấu GDP để thúcđẩy công tác thu NSNN đạt hiệu quả cao hơn nữa và tận dụng mọi nguồn thu

Trang 9

đảm bảo cho nền kinh tế phát triển tốt hơn, góp phần thực hiện công nghiệphóa, hiện đại hóa Đồng thời hoàn thiện cơ cấu kinh tế, cơ cấu thu NSNN hợp

lý trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Cơ cấu GDP, thu NSNN trong nền kinh tế mà cụ thể sự tác động của cơcấu GDP đến cơ cấu thu NSNN từ thuế

- Những vấn đề có quan hệ mật thiết đến cơ cấu GDP, thu NSNN, cơ cấuthu NSNN cũng như vai trò của thu NSNN trong nền kinh tế thị trường Tuynhiên, luận văn sẽ không trình bày một cách tỷ mỉ các sắc thuế có ảnh hưởngđến thu NSNN như thế nào? và cũng không đi sâu vào sự chuyển dịch trongcách ngành, lĩnh vực, lao động và các vấn đề xã hội

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, logic, chứng minh giữa lýthuyết và thực tế, hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến lý luận về GDP, cơcấu GDP, thu NSNN và cơ cấu thu NSNN từ thuế

- Trên cơ sở những phân tích đối chiếu, so sánh mang tính định tính luậnvăn sử dụng các phân tích thống kê và đặc biệt là các mô hình toán, kinh tếlượng để cho chúng ta một cái nhìn định lượng về tình hình thu NSNN từ thuếtheo thành phần

5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được trình bày trong 88 trang đánh máy tiêu chuẩn, 18 bảng số liệu, 17 đồ thị, 18 phụ lục, được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về GDP và thu NSNN

Chương 2: Thực trạng cơ cấu GDP và thu NSNN Việt Nam giai đoạn

1991 - 2005

Trang 10

Chương 3: Vận dụng mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động chuyển

dịch cơ cấu GDP tới thu NSNN ở Việt Nam

Trang 11

Vậy GDP bản chất là gì? GDP là tổng giá trị sản xuất của nền kinh tếquốc dân còn lại (giá trị gia tăng - VA ) sau khi trừ đi giá trị của những sảnphẩm vật chất và dịch vụ hao phí trong quá trình sản xuất (Tổng chi phí trunggian - IC) Đó chính là bộ phận giá trị mới do lao động sản xuất tạo ra và khấuhao tài sản cố định trong một thời kỳ nhất định Nói cách khác, tổng sản phẩmtrong nước (quốc nội) là toàn bộ giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tếtrong nền kinh tế quốc dân tạo ra trong một thời kỳ nhất định.

Trang 12

Một cách đơn giản ta có thể hiểu tổng sản phẩm trong nước đo lườngtổng giá trị của các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trongphạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).GDP với những yếu tố cấu thành là một trong những cơ sở quan trọng đểtính toán, xác định các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác Bên cạnh đó GDP còn

sử dụng để đánh giá tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia,nghiên cứu khả năng cải thiện đời sống dân cư, tính toán chỉ số phát triển conngười (HDI), nghiên cứu khả năng tích luỹ, huy động vốn, tính toán các chỉtiêu đánh giá mức sống dân cư, so sánh sánh quốc tế, đánh giá sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế của các ngành sản xuất, khu vực và vùng sản xuất, cơ cấu giátrị, cơ cấu sử dụng cuối cùng sản phẩm xã hội Qua GDP ta biết được khoảnthu nhập được tạo ra của quốc gia đó trong quá trình hoạt động của nền kinhtế

- Tính theo giá thị trường bao gồm giá hiện hành và giá so sánh

Căn cứ vào nguyên tắc tính GDP ở trên và căn cứ vào quá trình vận độngcủa GDP qua các giai đoạn: sản xuất, phân phối, sử dụng cuối cùng trong hệthống tài khoản quốc gia (SNA), hiện nay Việt Nam và các nước trên thế giới

Trang 13

đang sử dụng thành một chuẩn mực quốc tế thì GDP được tính theo 3 phươngpháp sau:

Phương pháp 1: Tính GDP theo phương pháp sản xuất (phương pháp giá trị gia tăng)

Theo phương pháp này, GDP là thuần của giá trị đầu ra của tất cả cáchoạt động sản xuất trong nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định,tức GDP bằng tổng giá trị đầu ra (tổng giá trị sản xuất) trừ đi giá trị sản phẩmvật chất và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất (tổng chi phí trung gian).Như vậy, tính GDP theo phương pháp sản xuất là tính trực tiếp từ ngườisản xuất thông qua các yếu tố chi phí và toàn bộ kết quả đạt được trong kỳnghiên cứu

Công th c t ng quát ức tổng quát ổng quát.

-Tổng chi phí trung gian của nền KTQD

( IC)

- Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross output): tổng giá trị sản xuất củanền kinh tế quốc dân là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do tất cảcác đơn vị, các ngành trong nền kinh tế quốc dân tạo ra trong một thời kỳ nhấtđịnh (thường là 1 năm)

Tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế quốc dân được xác định bằng cáchtổng hợp giá trị sản xuất của tất cả các ngành kinh tế và có thể tính theo cácphương pháp khác nhau: Phương pháp doanh nghiệp, phương pháp ngành,phương pháp kinh tế quốc dân

Trong các phương pháp nói trên, phương pháp doanh nghiệp là phươngpháp cơ bản được SNA sử dụng trên thực tế để tính tổng giá trị sản xuất Theo

Trang 14

đó, tổng giá trị sản xuất trong SNA bao gồm toàn bộ các yếu tố: chi phí trunggian, trả công lao động, thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định và giá trịthặng dư Nói cách khác tổng giá trị sản xuất bao gồm cả tổng chi phí trunggian và tổng sản phẩm trong nước.

- Chi phí trung gian (IC - Intermediate Consumption): Chi phí trung gian

là bộ phận cấu thành giá trị sản xuất Chi phí trung gian bao gồm chi phí vậtchất và dịch vụ cho sản xuất (không kể khấu hao tài sản sản cố định) Đó làchi phí sản phẩm của các ngành và của bản thân ngành nghiên cứu để sản xuấtsản phẩm của ngành đó Tổng chi phí trung gian của toàn bộ nền kinh tế quốcdân bằng tổng cộng chi phí trung gian của tất cả các ngành trong nền kinh tếquốc dân

Qua phương pháp thứ nhất ta hiểu một cách đơn giản: GDP = tổng giá trị sản xuất cuối cùng - Tổng chi phí trung gian trong quá trình sản xuất, hay nói cách khác GDP chính là phần giá trị tăng thêm trong quá trình hoạt động sản xuất

Phương pháp 2: Tính GDP theo phương pháp phân phối (phương pháp thu nhập)

Sau khi kết thúc giai đoạn sản xuất, GDP trải qua một quá trình phân phốirất phức tạp, bao gồm phân phối lần đầu và phân phối lại Phân phối lần đầutạo thành thu nhập lần đầu Kết thúc toàn bộ quá trình phần phân phối lần đầu

và phân phối lại tạo thành thu nhập cuối cùng Do đó, tính GDP theo phươngpháp phân phối có thể căn cứ vào thu nhập lần đầu hoặc thu nhập cuối cùng

- Theo thu nhập lần đầu: Phân phối lần đầu GDP tạo thành thu nhập lần

đầu của các thành viên tham gia vào quá trình sản xuất, bao gồm: người laođộng, chủ doanh nghiệp và Nhà nước

- Theo thu nhập cuối cùng: Kết thúc giai đoạn phân phối lần đầu, GDP

Trang 15

tiếp tục được phân phối lại nhằm điều tiết thu nhập, cũng như tạo thu nhậpcho người không tham gia hoạt động sản xuất Quá trình phân phối lại diễn rabằng việc chuyển một phần thu nhập vào phân phối lại và nhận lại phần thunhập từ phân phối lại Chênh lệch giữa phần nhận được từ phân phối lại vàphần chuyển vào phân phối lại là kết dư phân phối lại.

Một cách tổng quát GDP theo phương pháp này được xác định như sau:

GDP = W + R + Ti + In + Dd + Pr

Trong đó: W – Tiền công, tiền lương

R – Tiền thuê đất

Ti – Thuế doanh thu

Dp – Khấu hao tài sản cố định

In – Trả lãi tiền vay của công ty

Pr – Lợi nhuận trước thuế

Phương pháp 3: Tính GDP theo phương pháp tiêu dùng cuối cùng (sử dụng cuối cùng)

Theo ph ương pháp, cách tiếp cận này thì GDP được xác định như sau: ng pháp, cách ti p c n n y thì GDP ếp cận này thì GDP được xác định như sau: ận này thì GDP được xác định như sau: ày thì GDP được xác định như sau: được xác định như sau: c xác nh nh sau: định như sau: ư

+

Tiêu dùng cuối cùng của xã hội (G)

+

Tích lũy tài sản (I) +

Xuất khẩu thuần về hàng hóa và dịch vụ (X-M)

Tiêu dùng cuối cùng (TDCC)

TDCC của hộ gia đình là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ hộgia đình (hoặc cá nhân) đã sử dụng phục vụ cuộc sống thường nhật TDCCcủa hộ gia đình bao gồm TDCC từ thu nhập cuối cùng của hộ gia đình vàTDCC được hưởng không phải trả tiền (cho không) từ các tổ chức dịch vụ

Trang 16

nhà nước (văn hóa, y tế, giáo dục, ) và từ các tổ chức phi lợi nhuận phục vụtrực tiếp cho hộ gia đình (từ thiện, tôn giáo, hiệp hội, ).

TDCC của xã hội là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ Nhànước đã sử dụng để đáp ứng các nhu cầu thường xuyên của Nhà nước về quản

lý nhà nước, an ninh quốc phòng, đảm bảo xã hội bắt buộc

Tích lũy tài sản bao gồm

Tích lũy tài sản cố định: là toàn bộ giá trị tài sản cố định mới tăng trongnăm nghiên cứu (không bao gồm phần tăng giá trị tài sản cố định do tăng giá)của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Tích lũy tài sản lưu động bao gồm: nguyên nhiên vật liệu dự trữ cho sảnxuất; thành phẩm, bán thành phẩm tồn kho, sản phẩm dở dang,

 Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Bao gồm toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được mua bán, traođổi, giữa đơn vị thường trú và không thường trú của nền kinh tế quốc dân.Xuất, nhập khẩu hàng hóa bao gồm xuất nhập khẩu tại chỗ và xuất nhập khẩuqua biên giới

Trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân chỉ tiêu GDP được tính đồngthời theo 3 phương pháp: phương pháp sản xuất, phương pháp thu nhập,phương pháp tiêu dùng cuối cùng Cần phải tính GDP theo cả 3 phương pháp

Trang 17

- Tính GDP theo phương pháp phân phối cho phép nghiên cứu kết cấuphân phối và sự thay đổi kết cấu phân phối GDP Cũng như nghiên cứu mốiquan hệ giữa các loại thu nhập, từ đó có chính sách kết hợp hài hòa cả 3 lợiích (cá nhân, tập thể, và xã hội) tạo động lực cho sự phát triển; nghiên cứu kếtcấu giá trị GDP; nghiên cứu vai trò các loại thu nhập theo nhân tố sản xuất

- Tính GDP theo phương pháp tiêu dùng cuối cùng cho phép nghiêncứu các cân đối quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (tích lũy và tiêu dùngcuối cùng, xuất khẩu và nhập khẩu, ); tính các chỉ tiêu xu hướng tiêu dùngcận biên, tiết kiện cận biên; thiết lập hàm tổng cầu; phân tích các chính sáchkinh tế

Về nguyên tắc, kết quả tính GDP theo 3 phương pháp phải bằng nhau vìchúng là các vế của một đồng nhất thức Tuy nhiên, trên thực tế các phươngpháp dựa vào các nguồn thông tin khác nhau, cho nên kết quả tính GDP theocác phương pháp thường có sai lệch nhất định Ở Việt Nam, tính GDP theophương pháp sản xuất được coi là phương pháp cơ bản nhất, sử dụng phổ biếnnhất và dùng làm căn cứ để kiểm tra, chỉnh lý kết quả tính toán của 2 phươngpháp còn lại

Như chúng ta đều biết, hiện nay có hai giá để tính GDP là giá thực tế(hiện hành) và giá so sánh (hiện nay chúng ta vẫn lấy giá gốc là giá năm 1994

để tính) Chính vì vậy, hình thành hai loại GDP là GDP thực tế (GDP hiệnhành) được tính theo giá hiện tại của năm tài khoá đó và GDP so sánh đượctính theo giá năm 1994 Nhưng trong giới hạn của luận văn vì nghiên cứuGDP trong mối quan hệ với NSNN mà NSNN chỉ được tính theo giá hiệnhành nên toàn bộ nội dung của luận văn chỉ đề cập và nghiên cứu GDP hiệnhành

1.1.3 Cơ cấu GDP

Trang 18

Trước khi đưa ra khái niệm về cơ cấu GDP (cơ cấu kinh tế), trước tiên

ta phải làm rõ khái niệm thế nào là cơ cấu? Thuật ngữ “cơ cấu” có từ rấtsớm và thời gian đầu chủ yếu được sử dụng trong lĩnh vực kiến trúc và xâydựng Sau này nó mới được sử dụng rộng rãi sang các lĩnh vực khác như:kinh tế, xã hội…

Theo từ điển tiếng Việt, cơ cấu là một danh từ chỉ cách tổ chức, sắp xếpcác thành phần, bộ phận trong nội bộ nhằm thực hiện chức năng chung củachủ thể

Một cách thông dụng và phổ biến thì cơ cấu kinh tế được quan niệm làmột tập hợp các bộ phận tạo nên một tổng thể theo những tỷ lệ nhất định vàcùng các mối quan hệ ràng buộc gắn bó hữu cơ giữa các bộ phận đó Nghĩa làphải hiểu cơ cấu vừa là thuộc tính của hệ thống, vừa là hệ thống các quan hệkinh tế

Theo quan niệm đó cơ cấu kinh tế có thể được định nghĩa như sau:

Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế tổng hợp, phản ánh một tập hợpcác bộ phận cấu thành nên tổng thể kinh tế nhất định và mối quan hệ về kinh

tế giữa các bộ phận đó

Tuỳ theo mục đích và phạm vi nghiên cứu, tổng thể kinh tế có thể là mộtdoanh nghiệp, từng ngành kinh tế quốc dân, từng khu vực thể chế, từng địaphương (hoặc vùng lãnh thổ) hay toàn bộ nền kinh tế quốc dân Khi nghiêncứu cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân người ta thường nghiên cứu theocác tiêu thức sau:

- Theo ngành kinh tế: có cơ cấu kinh tế theo ngành kinh tế

- Theo địa phương (vùng lãnh thổ): có cơ cấu kinh tế theo địa phương (vùng lãnh thổ)

Trang 19

- Theo thành phần kinh tế: có cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế

* Cơ cấu ngành kinh tế

Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành kinh tế được hình thành trên cơ

sở các quan hệ tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành hoặc nhóm ngànhtrong nền kinh tế quốc dân

Cơ cấu ngành diễn ra sớm nhất và được hình thành dựa trên cơ sở của sựphân công lao động xã hội theo ngành Cơ cấu ngành mang tính lịch sử, bởi vìcùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật,phân công lao động càng tỷ mỷ, nền kinh tế quốc dân càng xuất hiện thêmnhiều ngành mới làm cho cơ cấu ngành càng được phân chia đa dạng hơn.Phân công lao động xã hội diễn ra đã phân chia nền kinh tế quốc dân thànhnhững ngành lớn như: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Trong từngngành lại được chia ra thành các ngành nhỏ, ví dụ như: công nghiệp chiathành công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng

Phân công lao động xã hội biểu hiện trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất xã hội và sự chuyên môn hóa trong sản xuất Khi lực lượng sản xuất xãhội càng phát triển, đặc biệt là sự phát triển của công cụ lao động, phân cônglao động xã hội sẽ càng sâu, nền kinh tế quốc dân sẽ xuất hiện thêm nhiềungành mới Vì vậy, có thể khẳng định rằng, tiền đề hình thành nên cơ cấungành kinh tế là sự phân công lao động xã hội

* Cơ cấu thành phần kinh tế

Thuật ngữ thành phần kinh tế là một khái niệm để chỉ kết cấu kinh tế - xãhội tồn tại trong thời kỳ quá độ Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với cáchình thức sở hữu tương ứng đã tạo nên một cơ cấu kinh tế theo thành phầnkinh tế Khi nghiên cứu kết cấu kinh tế - xã hội của nước Nga sau cách mạngtháng Mười năm 1917, Lênin đã chia nền kinh tế nước Nga thành 5 thành

Trang 20

phần là: kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, sản xuất hàng hóa nhỏ, chủ nghĩa

tư bản tư nhân, chủ nghĩa tư bản Nhà nước và chủ nghĩa xã hội

Theo Nghị quyết Đại hội Đảng VII và VIII, nền kinh tế nước ta bao gồm

5 thành phần là thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể,kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước, trong đó kinh tế Nhà nướcđóng vai trò chủ đạo Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, nhằm đề cao vai trò kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài đã bổ sung thêm một thành phần kinh tế nữa làthành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Như vậy, có thể thấy cơ cấu theo thành phần kinh tế được hình thành dựatrên chế độ sở hữu, phản ánh tương quan tỷ lệ trên các mặt giữa các thànhphần trong nền kinh tế Nhưng trong toàn bộ nội dung của luận văn tác giả sẽgộp sáu thành phần kinh tế này thành ba thành phần chính là: thành phần kinh

tế quốc doanh (kinh tế Nhà nước), thành phần kinh tế ngoài quốc doanh (kinh

tế ngoài Nhà nước gồm: kinh tế cá thể, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân) vàthành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (thành phần kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài)

* Cơ cấu vùng lãnh thổ:

Vùng lãnh thổ được hình thành trước hết bởi điều kiện địa lý kinh tế tựnhiên của nước ta Do điều kiện địa lý tự nhiên, nước ta đã hình thành nêntám vùng lãnh thổ khác nhau, đó là: vùng Đồng bằng Bắc bộ, vùng Tây Bắc,vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ, vùng Duyên hải Nam Trung

bộ, vùng Tây nguyên, vùng Đông Nam bộ và vùng Đồng bằng sông CửuLong Trong cơ cấu vùng lãnh thổ đều bao gồm cơ cấu ngành kinh tế và cơcấu theo thành phần kinh tế Vì vậy, cơ cấu vùng lãnh thổ là tổng hợp của cơcấu kinh tế ngành và cơ cấu theo thành phần kinh tế được hình thành trên mộtđịa danh lãnh thổ

Trang 21

Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc và cácmối quan hệ kinh tế của tổng thể kinh tế theo những mục tiêu và định hướngnhất định

Sự thay đổi đó, một mặt do sự biến động về số lượng các ngành, cácvùng, các thành phần kinh tế cấu thành tổng thể kinh tế khi có sự tăng lênhoặc giảm đi của một hoặc một số ngành, vùng hay thành phần kinh tế

Mặt khác do biến động về quy mô của tổng thể kinh tế cũng như của các

bộ phận cấu thành tổng thể khi có sự biến đổi của bản thân tổng thể (đâychính là thuộc tính của cơ cấu) và của từng bộ phận cấu thành

Như vậy, chuyển dịch cơ cấu diễn ra không chỉ về lượng mà còn cả vềchất của tổng thể cũng như của từng bộ phận cấu thành của tổng thể Chuyểndịch cơ cấu kinh tế không những là nguyên nhân thúc đẩy quá trình phát triểnnền kinh tế quốc dân mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trìnhđịnh hướng đường lối phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nói cáchkhác, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế xét về thực chấtcũng chính là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều đó được giải thíchrằng, tất cả các học thuyết, từ học thuyết kinh tế của các nhà kinh tế tư sảnđến học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như các học thuyếtkinh tế hiện đại ngày nay đều đề cập đến vấn đề cơ cấu và chuyển dịch cơ cấungành kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường diễn ra trên cả ba bộ phận cơ bản hợpthành cơ cấu kinh tế Đó là cơ cấu kinh tế theo ngành, cơ cấu kinh tế theothành phần và cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ

Sự phát triển của mỗi quốc gia được đánh giá bằng rất nhiều chỉ tiêu Vàmột trong những chỉ tiêu quan trọng nhất, đó là tổng sản phẩm trong nước

Trang 22

Không phải vô cớ mà loài người phải tìm ra những phát minh, sáng chế, khoahọc công nghệ hiện đại miễn sao sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm cógiá trị, phục vụ đời sống nhân dân

Trước hết, ta cần phân biệt hai khái niệm tăng trưởng kinh tế và pháttriển kinh tế Trong kinh tế vĩ mô, hai khái niệm này có quan hệ chặt chẽ vớinhau nhưng không đồng nhất

- Tăng trưởng kinh tế chỉ sự gia tăng về giá trị mới sáng tạo (giá trị giatăng) hoặc thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia Giá trị mới sángtạo ra của một quốc gia thường được đo bằng tổng sản phẩm quốc dân (GNP)hoặc tổng sản phẩm trong nước (GDP)

Đặc trưng cơ bản của tăng trưởng kinh tế chỉ sự gia tăng về GNP hoặcGDP của một quốc gia, trong một thời kỳ nhất định thường là một năm (tứcgắn với yếu tố đầu ra) Mức độ của sự tăng trưởng có thể được biểu hiện bằng

số tuyệt đối và số tương đối

- Phát triển kinh tế chỉ sự tăng trưởng kinh tế kèm theo những thay đổitrong phân phối về sản lượng và cơ cấu kinh tế - xã hội Khái niệm phát triểnkinh tế không chỉ đề cập đến tỷ lệ, tốc độ của sự gia tăng mà còn đề cập đến

cả chất lượng của sự gia tăng

Như vậy, một quốc gia muốn có sự tăng trưởng kinh tế thì cần phải có sựgia tăng về tổng sản phẩm trong nước Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngànhkinh tế theo hướng tích cực làm gia tăng VA ngành và GDP của cả nước

1.2 THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.2.1 Khái niệm thu NSNN

Trước khi đi vào nghiên cứu khái niệm thu NSNN ta đi tìm hiểu vềNSNN vì thu NSNN là một bộ phận trong NSNN Qua nghiên cứu lịch sử ra

Trang 23

đời NSNN trên thế giới cũng như lịch sử ra đời NSNN ở Việt Nam có thể rút

ra một số kết luận như sau:

NSNN với tư cách là phạm trù kinh tế bao giờ cũng gắn liền với sự xuấthiện, tồn tại của Nhà nước NSNN là khâu tài chính được hình thành sớmnhất, nó ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản

lý Nhà nước và sự phát triển kinh tế hàng hoá, tiền tệ Sự xuất hiện Nhà nướctrong lịch sử đòi hỏi phải có những nguồn lực tài chính để đáp ứng chi tiêunhằm phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Vì vậy,NSNN là ngân sách của Nhà nước, Nhà nước là chủ thể của Ngân sách đó.NSNN tuy là khái hiệm rất quen thuộc theo nghĩa rộng mà bất cứ ngườidân nào cũng biết, song nhận thức về NSNN dưới góc độ khái niệm thì cònnhiều lý giải khác nhau

Theo quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển thì NSNN là một văn kiện tàichính, mô tả các khoản thu và chi của Chính phủ được thiết lập hàng năm

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì NSNN là bảng liệt kêcác khoản thu – chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước

Quan điểm cho rằng, NSNN dùng công phí để cung cấp cho một vài giaicấp trong xã hội, một phần nào đó số thu từ thu nhập của giai cấp khác màngân sách thu vào bằng chế độ thuế khoá Chính điều này cho ta thấy tínhchất chính trị của NSNN, sử dụng ngân sách có nghĩa là dùng phương tiện tàichính công như là: thuế, chi tiêu (tức là các khoản thu và chi của Nhà nước)

để Nhà nước có thể làm thay đổi sự cân bằng giữa các tầng lớp xã hội … Cóthể thấy rằng quan điểm này thiên về tái phân phối tài chính và khẳng địnhNSNN là công cụ Nhà nước thực hiện tái phân phối

Theo Luật của Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số

01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 về NSNN thì: NSNN là toàn bộ

Trang 24

khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

Vậy thu NSNN là gì? khi Nhà nước mới ra đời, để có tiền chi tiêu cho sựtồn tại và hoạt động của mình Nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khoá bắt dân cưphải đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước Lúc đầu, Nhànước sử dụng nó để nuôi bộ máy Nhà nước, sau đó phạm vị sử dụng được mởrộng dần theo sự phát triển của các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Ngàynay, Nhà nước còn sử dụng nguồn thu NSNN để chi tiêu cho các khoản phúclợi xã hội và phát triển kinh tế Do vậy, thu NSNN ngày càng được phát triển

Có quan điểm cho rằng thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực củamình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNNnhằm thoả mãn các nhu cầu của Nhà nước

Theo luật NSNN thì: Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ

phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

Thu NSNN gồm hai nguồn là: thu NSNN của trung ương và thu NSNNcủa địa phương

Nguồn thu của ngân sách trung ương gồm:

a Các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%:

- Thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu

- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu

Trang 25

- Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán ngành.

- Tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các tổ chức kinh tế, thuhồi tiền cho vay của ngân sách trung ương (cả gốc và lãi), thu từ quỹ dự trữtài chính của trung ương, thu nhập từ vốn góp của Nhà nước

- Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế,các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam

- Các khoản phí, lệ phí nộp vào ngân sách trung ương

- Thu từ kết dư ngân sách trung ương

- Khoản thu khác theo quy định của pháp luật

b Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sáchtrung ương và ngân sách địa phương:

- Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu

đã nói ở mục a

- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận

ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí

- Thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hoá, dịch vụ trong nước

- Phí xăng, dầu

Nguồn thu của ngân sách địa phương gồm:

a Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%:

- Thuế nhà, đất

- Thuế tài nguyên (không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí)

- Thuế môn bài

Trang 26

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất.

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Tiền sử dụng đất

- Tiền cho thuê đất

- Tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước

- Lệ phí trước bạ

- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết

- Thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các tổ chức kinh tế, thu từquỹ dự trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa phương

- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các

cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương

- Các khoản phí, lệ phí, thu từ hoạt động sự nghiệp và các khoản thukhác nộp vào ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật

- Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác

- Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật

- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước

- Thu kết dư ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật

- Các khoản thu khác của pháp luật

b Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách trung ương vàngân sách địa phương

c Thu bổ xung từ ngân sách trung ương

d Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theoquy định của pháp luật

Trang 27

1.2.2 Các yếu tố tác động đến thu NSNN

Đề cập đến các yếu tố tác động chính đến thu NSNN đầu tiên phải xácđịnh đó là Thuế, vì thuế là nguồn thu chính của NSNN Hiện nay ở Việt Namthuế chiếm khoảng 90% tổng thu NSNN, ngoài ra còn các yếu tố khác như phí,

lệ phí, viện trợ, … Các yếu tố cụ thể sau tác động đến thu NSNN:

Nếu xét theo khía cạnh trực tiếp ảnh hưởng đến thu NSNN thì gồm có:

a Thuế :

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội

và dân cư phải nộp cho Nhà nước

Thuế đóng vai trò quan trọng trong NSNN và do có những đặc thù riêngnên thuế có những đặc điểm sau:

- Thuế thông thường được thể chế hoá dưới hình thức luật Bởi vì thuế làmang tính bắt buộc, thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và các thành phầnkinh tế Thuế được biểu hiện ở nhiều luật thuế (sắc thuế) khác nhau

- Thuế là một khoản đóng góp cho Nhà nước nhưng không được hoàn trảmột cách trực tiếp Khi nộp thuế, Nhà nước cũng hoàn trả cho người nộp thuếnhưng được trả dưới hình thức gián tiếp như phúc lợi xã hội, các quỹ hỗ trợ

- Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước, thuế chiếm khoảng90% tổng thu Ngân sách nhà nước

Thường thuế được chia làm hai nhóm:

Thuế gián thu: là loại thuế mà người nộp thuế cho Nhà nước chỉ là

người nộp thay cho đối tượng chịu thuế theo qui định của pháp luật Thuếgián thu là thuế do người tiêu dùng phải chịu, nhưng người tiêu dùng khôngnộp thuế trực tiếp cho Nhà nước mà nộp thông qua các tổ chức, cá nhân sảnxuất kinh doanh hàng hóa, cung cấp dịch vụ cung cấp dịch vụ cho người tiêu

Trang 28

dùng đó (người nộp thuế không phải là người chịu thuế) Một số loại thuếgián thu chính hiện nay là:

- Thuế giá trị gia tăng (thuế doanh thu)

- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Thuế tiêu thụ đặc biệt …

- Thuế gián thu được đưa vào chi phí hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp để tính vào giá thành sản phẩm và làm cho giá thành tăng lên và khingười tiêu dùng mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ thì phải chịu khoản thuế đó

Thuế trực thu: là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của tổ chức, cá nhân

và do các đối tượng thuộc diện nộp thuế nộp vào NSNN Đối tượng chịu thuế

và nộp thuế là một Hiện nay loại thuế này gồm:

- Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế lợi tức)

- Thuế thu nhập cá nhân

- Thuế môn bài

- Thuế sát sinh

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất

- Thuế nhà, đất

- Thuế tài sản

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp …

Hiện nay một câu hỏi đặt ra và còn phải bàn luận nhiều để tìm ra hướnggiải pháp hợp lý, đó là: tăng thuế suất thuế gián thu và giảm thuế suất thuếtrực thu hay ngược lại? Để trả lời câu này ta thấy: nếu tăng thuế suất thuế trựcthu, giảm thuế suất thuế gián thu sẽ không kích thích đối tượng nộp thuế trựctiếp trong khâu sản xuất và tạo ra giá trị mới, ngược lại là tăng thuế suất thuế

Trang 29

gián thu và giảm thuế suất thuế trực thu sẽ kích thích người sản xuất nhưnglàm tăng khả năng trốn thuế, thất thoát nguồn thu.

b Phí và lệ phí :

Phí và lệ phí là các khoản đóng góp bắt buộc mà dân cư hoặc tổ chứckinh tế xã hội phải nộp cho Nhà nước sau khi Nhà nước đã phục vụ chochúng ta một dịch vụ nào đó

Việc phân biệt rõ ràng phí và lệ phí là rất khó khăn Tuy nhiên chúng ta

có thể hiểu rằng phí gắn liền với chi phí mà dịch vụ bỏ ra Trong khi đó lệ phímang tính chất luật lệ nhiều hơn và có khi lệ phí có thể cao hơn nhiều so vớiphí mà dịch vụ mang lại

Nước ta có một số khoản phí và lệ phí như: Lệ phí trước bạ nhà, đất; lệphí dành cho đầu tư xây dựng cơ bản, công trình phúc lợi như: phí giao thông(cầu, phà, đường bộ, phí xăng dầu ) phí dịch vụ (học phí, viện phí ) Cáckhoản phí, lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan quản lý: phí chợ, trông giữ

xe, lệ phí về chuyển nhượng tài sản

c.Các khoản thu từ lợi tức đầu tư của Nhà nước :

Đây là các khoản thu nhập mà Nhà nước có thể thu được do hoạt độngđầu tư của Nhà nước Tức là Nhà nước sử dụng NSNN để mua cổ phần, cổphiếu của các công ty cổ phần hay sử dụng vốn Ngân sách nhà nước để hùnvốn hoặc góp vốn kinh doanh với các doanh nghiệp theo một tỷ lệ vốn nhấtđịnh, theo nguyên tắc Nhà nước và doanh nghiệp cùng hợp tác kinh doanh,cùng chia sẻ rủi ro và cùng phân chia lợi nhuận

d Bán và cho thuê tài sản nhà nước

Nhà nước bán và cho thuê tài sản nhà nước thì khoản tiền thu được sẽnộp cho NSNN Khoản thu này bao gồm: thu từ cho thuê đất, sử dụng đất;tiền cho thuê và bán nhà đất thuộc sử hữu của nhà nước; thu từ sử dụng quỹ

Trang 30

đất công ích và thu hoa lợi công sản khác.

e Vay và viện trợ

Vấn đề vay: Nhà nước phát hành ra các chứng khoán (trái phiếu công

trình, tín phiếu kho bạc nhà nước )

- Vay từ các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hay từ các thành phần dân

cư hình thức vay này là vay từ các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nềnkinh tế

- Vay từ nước ngoài: Chính phủ có thể vay tiền từ các tổ chức tài chínhquốc tế, từ Ngân hàng thế giới hay từ các Chính phủ khác

Vấn đề viện trợ: Là các khoản viện trợ không hoàn lại của nước ngoài

cho chính phủ như viện trợ về thiên tai, viện trợ làm sạch môi trường, cho các

dự án mang tính xã hội cao Với Việt Nam khoản viện trợ lớn nhất là ODA và

có hai loại: viện trợ cho không (không hoàn lại) hoặc viện trợ hoàn lại với lãisuất thấp, thời hạn cho vay dài và được hưởng nhiều ưu đãi khác

f Các khoản thu khác :

Ngoài những khoản thu trên NSNN còn có những khoản thu bổ sung thêmnhư: kết chuyển thu từ năm trước, thu từ hợp tác lao động nước ngoài

Trên đây là các yếu tố nội sinh, tác động trực tiếp vào nguồn thu NSNN

Nếu xét mức độ động viên thì các yếu tố sau ảnh hưởng đến thu NSNN:

a GDP

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của mộtquốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước.GDP là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN Nếu không tínhđến chỉ tiêu này khi xác định mức động viên của ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêucực đến tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của các tổ chức kinh tế, của các tầng

Trang 31

lớp dân cư.

b Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế

Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế phản ánh hiệu quả của đầu tư pháttriển kinh tế Tỷ suất doanh doanh lợi càng lớn, nguồn tài chính càng lớn Đây

là nhân tố quyết định đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN

Dựa vào tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thuNSNN sẽ tránh được việc động viên vào NSNN gây khó khăn về tài chínhcho hoạt động kinh tế Hiện nay, tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nước tađạt thấp, trong khi chi phí tiền lương ngày càng tăng, nên tỷ suất thu NSNNkhông thể cao được

c Tiềm năng đất nước về tài nguyên thiên nhiên

Đối với các nước đang phát triển và nguồn tài nguyên thiên nhiên phongphú thì nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến số thu NSNN Kinh nghiệm của cácnước cho thấy nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20%kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu NSNN sẽ cao và có khả năng tăng nhanh

Ở nước ta trong tương lai, việc xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷtrọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu Đó là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng

to lớn đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN

d Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước

Nhân tố này phụ thuộc vào:

- Quy mô tổ chức của bộ máy của Nhà nước và hiệu quả hoạt động củanó

- Những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từngthời kỳ

Trang 32

- Chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước.

e Tổ chức bộ máy thu nộp

Tổ chức bộ máy thu nộp thuế gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thấtthu do trốn, lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm tăng tỷ suất thu NSNN mà vẫnđáp ứng nhu cầu chi tiêu của NSNN

1.2.3 Cơ cấu thu NSNN

Phần trên ta đã đề cập đến khái niệm “cơ cấu” từ đó, ta có thể hiểu cơ cấuthu NSNN là thuật ngữ chỉ cách tổ chức, sắp xếp các mục thu từ các sắc thuế,phí, lệ phí, viện trợ, các khoản thu khác trong tổng thể thu NSNN nói riêng vàvới tổng thể nền kinh tế nói chung nhằm thực hiện chức năng của thu NSNN

Vì vậy, nghiên cứu cơ cấu thu NSNN ở đây bao gồm cả việc xác định quy môthu NSNN trong nền kinh tế (so sánh với GDP), cơ cấu chi tiết cho từng khoảnthu (thu từ các sắc thuế, phí, lệ phí, …), cơ cấu thu NSNN theo thành phần kinh

tế (kinh tế quốc doanh, kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài) Trong giới hạn của luận văn, ở đây ta chỉ đi sâu vào nghiên cứu cơ cấuthu NSNN theo thành phần và đề cập sơ bộ cơ cấu thu NSNN theo sắc thuế.Khi nghiên cứu cơ cấu thu NSNN theo nguồn thu: từ thuế, phí, lệ phí,viện trợ, … nhưng như ở mục trên đã trình bày thu NSNN từ thuế chiếm 90%,nên trong mục này khi nghiên cứu cơ cấu thu NSNN theo nguồn thu ta chỉ đinghiên nghiên cứu theo sắc thuế có nghĩa là xem xét các sắc thuế cấu thànhnên thu NSNN:

- Thuế thu nhập doanh nghiệp: là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuếcủa các doanh nghiệp trong kỳ chịu thuế

- Thuế giá trị gia tăng (VAT): là sắc thuế tính trên khoản giá trị gia tăngthêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình từ sản xuất,

Trang 33

lưu thông đến tiêu dùng.

- Thuế xuất, nhập khẩu: là sắc thuế đánh vào hàng hoá xuất khẩu và nhậpkhẩu trong thương mại quốc tế

- Thuế tiêu thụ đặc biệt: là sắc thuế đánh vào một số hàng hoá dịch vụđặc biệt nằm trong danh mục Nhà nước quy định

- Thuế thu nhập cá nhân: là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuếcủa cá nhân trong kỳ tính thuế

- Thuế tài nguyên: là thuế đánh vào tài nguyên thiên nhiên khai thác được

- Phí: Phí là khoản tiền cá nhân, tổ chức phải trả khi được tổ chức, cánhân khác cung cấp các dịch vụ được quy định trong pháp lệnh phí, lệ phí

- Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quannhà nước hoặc tổ chức được uỷ quyền phục vụ công việc quản lý nhà nướcđược quy định trong pháp lệnh phí, lệ phí

- Ngoài ra còn một số sắc thuế khác như: Thuế chuyển quyền sử dụngđất, Thuế nhà đất, Thuế sử dụng đất nông nghiệp …

Nếu nghiên cứu cơ cấu thu NSNN theo góc độ thành phần kinh tế, thì ta

có thể chia nguồn thu theo ba khu vực hay thành phần sau: thu NSNN từ khuvực quốc doanh, thu NSNN từ khu vực ngoài quốc doanh, thu NSNN từ khuvực có vốn đầu tư nước ngoài

Thu NSNN từ thành phần kinh tế quốc doanh:

Thu NSNN từ thành phần kinh tế quốc doanh hay thu NSNN từ thànhphần kinh tế Nhà nước: đây chính là tổng nguồn thu từ thành phần kinh tế nhànước như: thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặcbiệt, phí – lệ phí, thuế xuất khẩu, thuế tài nguyên, các khoản thu về đất, … vàthu từ khu vực kinh tế này ở Việt Nam luôn là nguồn thu lớn nhất

Trang 34

Thu NSNN từ thành phần kinh tế ngoài quốc doanh:

Thu NSNN từ thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thực chất là thu NSNN

từ các khu vực kinh tế: kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân, bao gồmcác khoản thu như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế môn bài, …

Thu NSNN từ thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:

Thu NSNN từ thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm tất

cả các khoản thu từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài như: thuế thunhập doanh nghiệp, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,thuế tài nguyên, …

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA GDP VÀ THU NSNN

Như chúng ta đã biết giữa GDP và NSNN mà cụ thể là thu NSNN cómối quan hệ hữu cơ, khăng khít và chặt chẽ không thể tách rời nhau, có tácđộng qua lại lẫn nhau Thu NSNN phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong

đó yếu tố quan trọng đó là khả năng động viên hay tiềm lực của nền kinh tế

Mà khả năng động viên và tiềm lực kinh tế chính là GDP của quốc gia haynói cách khác GDP là yếu tố tác động chính và trực tiếp đến thu NSNN.Như chúng ta đều biết thu NSNN là một bộ phận hay một vế của NSNN(thu NSNN và chi NSNN), thu NSNN tác động trực tiếp đến chi ngân sách

mà trong chi ngân sách thì có nhiều nội dung chi, trong đó có nội dung chiquan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi NSNN đó là chi cho đầu tưphát triển (chiếm gần 30% tổng chi ngân sách) Mà chi đầu tư phát triển lại làmột nhân tố quan trọng và quyết định trong việc hình thành GDP, chi đầu tưphát triển tác động trực tiếp đến GDP Ngoài ra các khoản chi thường xuyênkhác cũng có ảnh hưởng tới GDP dù dưới góc độ trực tiếp hay gián tiếp Nóichung giữa GDP, thu NSNN và chi NSNN có mối quan hệ chặt chẽ với nhaukhông thể tách rời nhau GDP tăng thì thu NSNN tăng, nhưng liệu khi thu

Trang 35

NSNN tăng có tác động cùng chiều tới GDP hay không? đây là một bài toánrất khó, cũng không dễ có lời giải hợp lý và thỏa đáng Khi GDP tăng thì thuNSNN tăng, nhưng ngược lại tăng thu NSNN tức là tăng thuế, mà tăng thuếcao sẽ không khuyến khích sản xuất mà hạn chế quá trình đầu tư và sản xuất,như vậy lại làm giảm GDP Việc tăng thuế có thể làm tăng và cũng có thể làmgiảm GDP, vấn đề đặt ra ở đây là tìm ra bài toán và lời giải cho bài toán này

là vừa đảm bảo nguồn thu cho Nhà nước vừa phải đảm bảo tốc độ tăng trưởngkinh tế, mức thuế xuất bao nhiều là đủ, bao nhiêu là phù hợp để vừa kíchthích tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo nguồn thu

Nhưng với mục tiêu và giới hạn của đề tài chỉ nghiên cứu sự tác độngmột chiều theo đúng lý thuyết, nguyên lý đó là sự ảnh hưởng của GDP tớiNSNN; và ở đây ta sẽ nghiên cứu sự ảnh hưởng không chỉ của tổng GDPtrong nền kinh tế tới thu NSNN, mà chúng ta còn nghiên cứu cụ thể ảnhhưởng của GDP theo từng thành phần tới thu NSNN theo thành phần Trên cơ

sở đó ta tìm ra lời giải và hướng đi đúng đắn và hài hòa để làm sao vừa đảmbảo tốc độ tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo nguồn thu Ngoài ra, một điểmcần lưu ý là vì liên quan tới NSNN mà cụ thể là thu - chi NSNN, tất cả các chỉtiêu này đều được nghiên cứu, tính toán theo giá hiện hành, chính vì vậy trongtoàn bộ nội dung của đề tài các chỉ tiêu kinh tế (đặc biệt là GDP) đều đượcnghiên cứu, tiếp cận dưới góc độ giá hiện hành (trừ khái niệm liên quan đếntốc độ tăng trưởng thì phải dùng giá so sánh)

Chương 2

THỰC TRẠNG CƠ CẤU GDP VÀ THU NSNN VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1991 - 2005

2.1 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU GDP 1991 - 2005

2.1.1 Tổng quan về tình hình GDP giai đoạn này

Trang 36

Giai đoạn 1991 - 2005 là giai đoạn có nhiều dấu ấn rõ nét đánh dấu sựchuyển biến mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam từ kinh tế kế hoạch hoá tập trungsang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý và điều tiếtcủa Nhà nước Để có thể đánh giá một cách cụ thể tình hình và sự biến độngGDP thời kỳ này, có thể nghiên cứu những khoảng thời gian từ 1991 - 1995;

1996 - 2000; 2001 - 2005

Giai đoạn 1991 -1995

Trong giai đoạn này mục tiêu tăng trưởng kinh tế (GDP) đã được xácđịnh trong văn kiện đại hội VII là phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 5,5%đến 6,5% Với mục tiêu đặt ra như vậy và bằng sự nỗ lực giai đoạn này nềnkinh tế nước ta đã đạt và vượt chỉ tiêu kinh tế đặt ra Đây là một thành tựu tolớn, bước đầu khẳng định tính đúng đắn trong định hướng và con đường nước

ta đã lựa chọn

Nền kinh tế nước ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng, khắc phục được tìnhtrạng suy thoái, liên tục có mức tăng trưởng khá và tương đối toàn diện ở cácngành kinh tế Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng dần qua các năm, năm

1991 tăng 5,81% đến năm 1993 tăng 8,08% và năm 1995 là 9,54%; bình quânchung giai đoạn 1991 - 1995 GDP tăng 8,19%, trong khi kế hoạch đề ra tăngbình quân trong giai đoạn này là từ 5,5% đến 6,5% Để phản ánh điều nàyqua đồ thị 2.1 sẽ thấy rõ hơn

Đồ thị 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991 - 1995

Đơn vị: %

Trang 37

1995 là 228892 tỷ, so với năm 1991 thì đến năm 1995 GDP đã tăng 3 lần, đây

là một tốc độ tăng cao kỷ lục và nó thể hiện nỗ lực của chúng ta, ta có thể minhhoạ GDP theo giá thực tế giai đoạn này qua đồ thị 2.2

Đồ thị 2.2: GDP theo giá hiện hành giai đoạn 1991 - 1995

Trang 38

đưa ra Giai đoạn này đã thực hiện thành công cả hai mục tiêu ổn định và tăngtrưởng kinh tế, cơ bản đã tạo được một số điều kiện thuận lợi để bước vàothời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá mà giai đoạn trước đây không đạtđược.

Giai đoạn 1996 - 2000

Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của thời kỳ này đã được nghị quyết đại hộiVIII khẳng định: giai đoạn 1996 - 2000 là giai đoạn quan trọng của thời kỳ pháttriển mới - đẩy mạnh Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước Mục tiêu vànhiệm vụ trong thời kỳ này là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượtqua mọi thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện, vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước, theo địnhhướng XHCN Tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững đi đôi với giảiquyết những vấn đề bức xúc về xã hội, đảm bảo anh ninh, quốc phòng, cảithiện đời sống nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộ nên kinh tế, tạo tiền đềvững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau Nhiệm vụ cụ thểcủa GDP trong giai đoạn này là: đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 9 –10%

Với nhiệm vụ đó, với đà tăng trưởng của những năm cuối thời kỳ trước,trong những năm đầu của giai đoạn này chúng ta không những đảm bảo màcòn vượt mức kế hoạch đặt ra Cụ thể là năm 1996 tốc độ tăng trưởng kinh tế

là 9,34%, nhưng sang năm 1997 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính – tiền tệ trong khu vực đã ảnh hưởng khá nghiêm trọng tới nền kinh tếViệt Nam làm cho tốc độ tăng trưởng của năm chỉ còn 8,15%, và hậu quả củacuộc khủng hoảng kinh tế này thể hiện rõ hơn ở năm 1998 nó làm cho nềnkinh tế nước ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng cộng với năm 1998 với những

Trang 39

thiệt hại do thiên tai ở cá tỉnh Trung Bộ và Nam Trung Bộ làm cho tốc độtăng trưởng GDP chỉ còn 5,76% và ảnh hưởng tiếp sang năm 1999 chỉ còn4,77%; đây là tốc độ thấp nhất trong 10 năm qua Song cho tới năm 2000 dođường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước thì kinh tếcủa chúng ta đã có dấu hiệu phục hồi trở lại với tốc độ tăng trưởng cao hơnnhững năm trước, cụ thể tăng trưởng kinh tế năm 2000 đã đạt 6,79% đâychính là tiền đề và bàn đạp quan trọng cho những năm tiếp theo của đầu thế

kỷ Tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn này chỉ đạt 6,96% so với trung bìnhthời kỳ trước là 8,19%, còn so với mục tiêu của thời kỳ này là từ 9 - 10%, ta

có thể thấy rõ thực trạng tình hình tăng trưởng kinh tề của Việt Nam giai đoạnnày qua đồ thị 2.3

Đồ thị 2.3 : Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1996 - 2000

Trang 40

đến năm 2000 là 441646 tỷ tức là tăng gần gấp đôi năm 1996, ta có thể thấy

rõ điều này qua đồ thị 2.4

Đồ thị 2.4 : GDP theo giá hiện hành giai đoạn 1996 - 2000

ra, ta có thể thấy điều này qua đồ thị 2.5

Ngày đăng: 08/07/2018, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w