Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xãhội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nh
Trang 1PHẦN THỨ HAI: HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
CHƯƠNG IV: HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ
Học thuyết giá trị là xuất phát điểm, là hòn đá tảng trong toàn bộ lý luận kinh
tế của C Mác Trong học thuyết này, C.Mác nghiên cứu mối quan hệ giữa ngườivới người, thông qua mối quan hệ giữa vật với vật
Như ta biết, cơ sở về kinh tế để xác lập quan hệ giữa người với người thôngqua quan hệ giữa vật với vật chính là lao động, yếu tố cấu thành giá trị của hànghóa
I Điều kiện ra đời, tồn tại, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa:
Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá đã và đang trải qua hai kiểu
tổ chức kinh tế khác nhau:
- Kiểu tổ chức kinh tế tự cung tự cấp (hay còn gọi là kinh tế tự nhiên): là kiểu
tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm làm ra để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trongnội bộ nền kinh tế mà không có trao đổi hoặc nếu có thì rất ít
Ví dụ: người nông dân sản xuất ra lúa chỉ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của mình
- Sản xuất hàng hóa ra đời vào cuối chế độ công xã nguyên thuỷ, đầu chế độchiếm hữu nô lệ Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm đượcsản xuất ra nhằm để trao đổi hoặc để bán trên thị trường
Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xãhội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xóa bỏ nền kinh
tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tếcủa xã hội
Như vậy, người lao động sản xuất hàng hóa khác với người lao động khôngsản xuất hàng hóa
Ví dụ: Nhà tôi có vườn rộng, để đất trống không làm gì nên tôi trồng một ít rau
để ăn tức rau này không phải để để trao đổi hay mua bán mà là để tiêu dùng Trong khi đó, một người nông dân có đất rộng lại chuyên trồng rau đểbán tức người nông dân này đang sản xuất hàng hóa
Vậy, làm thế nào để sản xuất hàng hóa có thể ra đời và tồn tại ta tiếp tục đi vàonghiên cứu phần 1
1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa:
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiện sau đây:
a Phân công lao động xã hội:Đây được xem là điều kiện cần của sản xuất hàng hóa
Vậy phân công lao động xã hội là gì?
- Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá sản xuất, sự phân chia laođộng xã hội ra thành các ngành, nghề, các lĩnh vực khác nhau của nền sản xuấthàng hóa
Trang 2- Vậy, chuyên môn hóa sản xuất là gì? Chuyên môn hóa sản xuất là sự sắp xếp,
bố trí, sử dụng các nguồn lực theo hướng tập trung
- Phân công lao động xã hội đòi hỏi mỗi nhà sản xuất chỉ có thể chuyên sảnxuất ra một hoặc một số sản phẩm nhất định tùy theo khả năng và điều kiện củamình Vì vậy, sẽ làm cho năng suất lao động tăng lên, từ đó dẫn đến sản xuất thừa(đối với người sản xuất hàng hóa đó) nên họ cần phải tiến hành đem bán trên thị
trường tức xuất hiện nhu cầu bán
- Tuy nhiên, bản thân của người bán lại thiếu sản phẩm khác để dùng tức mỗimột người cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau để thỏa mãn được những nhu
cầu của mình xuất hiện nhu cầu mua
Từ đó đòi hỏi người sản xuất này phải dựa vào người sản xuất khác và phảitrao đổi, mua bán sản phẩm cho nhau Tức họ phải phụ thuộc và phải liên kết vớinhau
- Như vậy, phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề dẫn tới sự trao đổi,hay nói cách khác phân công lao động xã hội là điều kiện cần để trao đổi hàng hóa.Phân công lao động xã hội càng phát triển thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càngđược mở rộng và đa dạng hơn
- Tuy nhiên, phân công lao động xã hội mới chỉ tạo ra khả năng và để biến khảnăng thành hiện thực thì cần phải có điều kiện khác
b Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất hàng hóa: Đây là điều kiện đủ của nền sản xuất hàng hóa
- Trong lịch sử, lúc đầu sự tách biệt này do chế độ tư hữu tư nhân về tư liệusản xuất quy định Còn trong kinh tế hiện đại thì sự tách biệt đó do sự tồn tại nhiềuhình thức sở hữu về TLSX và tính độc lập tự chủ của nền sản xuất trong nội bộthuộc hình thức sở hữu
Gia công Chế biến
Cây CN ngắn ngàyCây CN dài ngày
Gia súc Gia cầm
Xây dựng Khai khoáng Luyện kim
Trang 3- Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế thể hiện ở các hình thức sở hữu khácnhau về TLSX như: trình độ tư hữu TLSX Tức xác định được TLSX đó là của ai?Lúc này, những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất độc lập với nhau
và mỗi người có quyền chi phối, định đoạt sản phẩm của mình, có quyền đem sảnphẩm của mình ra trao đổi với sản phẩm của người sản xuất khác trên thị trường
Ví dụ: Người nông dân sản xuất ra lúa muốn có xe máy để đi, có ti vi để
xem, có quần áo để mặc, thì họ phải bán lúa để mua những thứ đó
Người thợ may làm ra áo quần muốn có gạo để ăn, có xe máy đểđi, thì họ phải bán áo quần tạo ra được để mua những thứ đó
Nhưng trước khi đem bán thì những vật đó phải thuộc về tay họ, tức là họ phải
sở hữu nó Muốn được sở hữu vật đó thì TLSX phải thuộc về tay họ
Do đó, chính chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất làm cho lao động của người sảnxuất mang tính chất tư nhân, làm cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của họ có sựtách biệt với nhau về mặt kinh tế làm nảy sinh ra sự cạnh tranh trong quá trìnhkinh tế
Tóm lại, chính sự phân công lao động xã hội đã làm cho mỗi chủ thể tham giavào thị trường phải liên kết và phụ thuộc lẫn nhau; trong khi đó sự tách biệt tươngđối về mặt kinh tế của những người sản xuất lại làm cho họ cạnh tranh và đối lậplẫn nhau Từ đây đã làm xuất hiện mâu thuẩn trong xã hội và kinh tế hàng hóa rađời đã giúp giải quyết được mâu thuẩn đó
Như vậy, nếu thiếu một trong hai điều kiện trên sẽ không có sự ra đời và tồntại của sản xuất hàng hóa Chẳng hạn như: nếu thiếu điều kiện phân công lao động
xã hội thì biểu hiện là một nền kinh tế kém phát triển, họ sẽ làm tất cả mọi côngviệc để thoả mãn nhu cầu của mình; còn nếu sản phẩm làm ra không phải là củangười sản xuất thì họ không thể đem bán được trên thị trường Vì vậy, muốn có vàduy trì được mô hình sản xuất hàng hóa thì cá nhân và xã hội phải tạo ra được haiđiều kiện trên
Sản xuất hàng hóa ra đời là một tất yếu khách quan Nếu xét về mặt kinh tế thìđây là một tất yếu kinh tế Nó được xem là bước ngoặc quan trọng trong quá trìnhphát triển kinh tế, nó ra đời đã làm chấm dứt thời kỳ mông muội, dã man của loàingười và mở ra một thời đại văn minh mới
Vậy, sản xuất hàng hóa ra đời khi nào?
Trong lịch sử, hai điều kiện trên được hình thành vào cuối thời kì công xãnguyên thủy và đầu thời kì nô lệ (do có sự xuất hiện của các công cụ bằng sắt hay
đồ sắt nên đã tạo ra nhiều những sản phẩm dư thừa trong xã hội, và những người cóquyền lực lại chiếm hết những sản phẩm dư thừa này Đồng thời, trong thời kỳ này
3 sự phân công lớn đã xãy ra: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; thủ công nghiệp tách
CNCS
CN - TTTCN - NNThương nghiệp
CXNT
Công cụ đồ sắt
Sản xuất hàng hóa tồn tại
Trang 4khỏi nông nghiệp và có sự xuất hiện của thương nghiệp) Đến cuối thời kỳ PTSXCSCN sẽ không còn tồn tại sản xuất hàng hóa (vì không còn tồn tại tư hữu TLSX).Như vậy, sản xuất hàng hóa đã từng ra đời và tồn tại trong nhiều phương thức sảnxuất khác nhau Nhưng trong thời kì nô lệ, phong kiến là sản xuất hàng hóa giảnđơn; còn trong chế độ tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hóa lớn Trong đó sản xuấthàng hóa giản đơn sử dụng phương pháp thủ công, lạc hậu (không có máy móc)
Sản xuất hàng hóa là một phạm trù lịch sử vì nó chỉ tồn tại trong một sốphương thức sản xuất nhất định (khi tồn tại 2 điệu kiện của nó)
2 Những đặc trưng và ưu thế cơ bản của sản xuất hàng hóa:
a Những đặc trưng của sản xuất hàng hóa:
Để thấy rõ được đặc trưng của kinh tế hàng hóa ta tiến hành so sánh mô hìnhkinh tế này với mô hình kinh tế tự nhiên (tự cấp tự túc) trên những tiêu chí sau:
- Mục đích sản xuất:
- Năng suất lao động
- Quy mô sản xuất:
- Phương pháp sản
xuất:
- Sản phẩm
- Sản phẩm sản xuất ra đểtiêu dùng cho cá nhânngười sản xuất gia đìnhcủa họ và trong nội bộ mộtđơn vị sản xuất
- Thấp, cản trở sự phâncông lao động xã hội
- Nhỏ, lạc hậu, nền kinh tếthiếu hụt, khép kín, không
có sự xuất hiện của thịtrường (sản xuất ra để tiêudùng không có sự phâncông lao động xã hội )
- Công cụ thô sơ, kỹ thuậtlạc hậu, chủ yếu sử dụngphương pháp thủ công
- Sản phẩm ít và nhu cầuthấp
- Sản phẩm sản xuất ra đểtrao đổi hoặc để bán trênthị trường (bán bao nhiêu?Cho ai? cách thức chitrả? )
- Cao, thúc đẩy sự phâncông lao động xã hội
- Lớn, là nền kinh tế mở,đại diện cho nền côngnghiệp phát triển do đó cónền kinh tế đủ và thừa vàthị trường ngày càng được
mở rộng
- Công cụ sản xuất ngàycàng tiên tiến và áp dụngngày càng nhiều nhữngthành tựu kỹ thuật côngnghệ mới
- Sản phẩm đa dang,phong phú, chất lượng vànhu cầu ngày càng tăng
Từ sơ đồ, ta thấy sản xuất hàng hóa có 2 đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán
Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa
mang tính xã hội
Trang 5Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm
ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội Nhưng với sự táchbiệt tương đối về mặt kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa đồng thờilại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng,mang tính độc lập của mỗi người
Từ những đặc trưng đó, chúng ta thấy rằng sản xuất hàng hóa có 4 ưu thế cơbản sau:
b Ưu thế của sản xuất hàng hóa:
So với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa có những ưu thế
- Thứ nhất, Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội,
chuyên môn hóa sản xuất Do đó, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xãhội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địaphương Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúcđẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao độngngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng,sâu sắc Từ đó, nó phá vỡ tính tự cung tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗingành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng,nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mởrộng giữa các quốc gia, thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau
- Thứ hai, trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của các quy luật vốn có
của sản xuất và trao đổi hàng hóa như quy luật giá trị, cung – cầu, cạnh tranh,…buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán,cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quảkinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sảnxuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn
Do đó thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội không ngừng phát triển
- Thứ ba, trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn
bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở,mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồnlực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thànhtựu khoa học – kỹ thuật vào sản xuất… thúc đẩy sản xuất phát triển
- Thứ tư, Trong nền sản xuất hàng hoá, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng
và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước, nên tạo ra khảnăng đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống đa dạng hơn, phong phú hơn so vớikinh tế tự nhiên
Tuy nhiên, kinh tế hàng hóa cũng còn có những hạn chế cơ bản như: gây phânhóa giàu nghèo giữa những người sản xuất, gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế,thất nghiệp, đặc biệt thường phát sinh ra kinh tế ngầm như làm hàng giả, buôn lậu,trốn thuế, Những mặt hạn chế này có thể được khắc phục thông qua sự quản lý vĩ
mô của Chính phủ và việc kết hợp chặc chẽ và phù hợp giữa chính sách kinh tế vàchính sách xã hội
Trang 61 Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa:
a Khái niệm hàng hoá:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn được nhu cầu nhất định nào đócủa con người thông qua trao đổi, mua bán
Như vậy một sản phẩm muốn trở thành hàng hóa khi nó thỏa mãn những điềukiện sau:
- Một là, sản phẩm của lao động
Lao động Lao động nói chung, lao động để tiêu dùng
Lao động của người sản xuất hàng hóa đây là nhân
tố mà tôi muốn nói đến
Ví dụ: Lúc rảnh rỗi tôi trồng rau để ăn, ăn không hết tôi đem ra chợ để bán
nhưng không quan tâm đến lợi nhuận thu được đây là lao động để tiêu dùng làchủ yếu
Trong khi đó, người nông dân chuyên trồng rau để đem ra chợ bán,lúc này mục tiêu hàng đầu mà họ quan tâm chính là lợi nhuận thu được đâychính là lao động sản xuất hàng hóa
- Hai là, có thể thỏa mãn nhu cầu của con người (tức phải tiêu dùng được
nó)
Ví dụ: Gà bị dịch Không phải là hàng hoá vì phải tiêu huỷ nó chứ khôngđược bán trên thị trường để thoả mãn nhu cầu tiêu cùng cho xã hội
- Ba là, sản xuất ra để trao đổi hoặc để bán, như vậy, đối với những sản
phẩm dùng để cho, tặng, biếu, thì không phải là hàng hóa
Ví dụ: Ôxi có phải là hàng hoá không? Chúng ta đều biết, nếu không có ôxi thìliệu con người không thể sống được Chính vì vậy, Ôxi có thể thoả mãn được nhucầu của con người Nhưng nó không phải là sản phẩm của lao động và chúng takhông cần mua nó cũng có thể sử dụng được Do đó, ôxi không phải là hàng hoá
Trong thực tế có một số trường hợp dị biệt sau:
Ví dụ: Hàng năm, bên bờ Tây sông Mê Công sau những mùa nước lên thườngtải về một lượng bùn non làm ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực đó Mộtchuyên gia người Nhật phát hiện ra lượng đất này và đề nghị Chính phủ Thái Lanlấy lượng bùn đó bán cho ông với giá 5 đô la/ 1m3 để đem về trồng cây Vậy, anh(chị) hãy cho biết: Sản phẩm bùn này có phải là hàng hoá hay không? Phải vì mặt
dù nó không phải do lao động của con người tạo ra nhưng để có thể bán được nó,người nông dân phải mất sức để lấy nó ra khỏi tự nhiên (tức dùng sức lao động củamình để hốt nó lên rồi đem bán)
Đây là một vài trường hợp được xếp là hàng hoá
Hiện nay, người ta chia hàng hoá ra làm hai loại:
+ Hàng hoá hữu hình (tức có thể cầm nắm nó được): như sắt thép, lươngthực, thực phẩm, máy móc,
+ Hàng hoá vô hình: bao gồm các dịch vụ thương mại vận tải, hoạt độngcủa nghệ sĩ, ca sĩ, bác sĩ, giáo viên,
Trang 7So với hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình có những ưu thế sau:
+ Sản xuất và tiêu thụ hàng hoá vô hình phải được tiến hành đồng thời vớinhau Ví dụ: Tôi giảng bài, phải có sinh viên nghe
Ca sĩ hát phải có khán giả nghe
+ Chất lượng của hàng hoá vô hình không ổn định, nó phụ thuộc vào yếu tốkhách quan và chủ quan
+ Hàng hoá dịch vụ không thể tiến hành độc lập và không thể tích luỹđược
Ví dụ: Bác sĩ không thể chữa bệnh cho một người thật nhiều để khi nàongười đó có bệnh lại lấy ra xài được
+ Giá trị sử dụng của nó phụ thuộc vào hành vi của dịch vụ đó
Chú ý: Khi nghiên cứu PTSX TBCN, Mác bắt đầu bằng sự phân tích hàng hóa.Điều này bắt nguồn từ các lý do sau:
- Một là, hàng hóa là hình thái biểu hiện phổ biến nhất của của cải trong xã hội
tư bản Trong Các Mác – Ăngghen toàn tập, tập 23 Mác viết: “Trong những xã hội
do phương thức sản suất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của cải xã hội biểu hiện ra làmột “đống hàng hóa khổng lồ””
- Hai là, hàng hóa là hình thái nguyên tố của của cải, là tế bào kinh tế trong đóchứa đựng mọi mầm mống mâu thuẫn của phương thức sản xuất TBCN
- Ba là, phân tích hàng hóa nghĩa là phân tích giá trị - phân tích cái cơ sở củatất cả các phạm trù chính trị kinh tế học của PTSX TBCN Nếu không có sự phântích này, sẽ không thể hiểu được, không thể phân tích được giá trị thặng dư là phạmtrù cơ bản của CNTB và những phạm trù khác như lợi nhuận, lợi tức, địa tô,…
b Hai thuộc tính của hàng hóa:
Hàng hoá có hai thuộc tình là giá trị sử dụng và giá trị
* Giá trị sử dụng của hàng hóa:
- Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hoá thỏa mãn nhu cầunào đó của con người
Ví dụ: cơm để ăn, áo để mặc, băng nhạc để nghe máy móc thiết bị, nguyênvật liệu để sản xuất
- Giá trị sử dụng của hàng hóa phản ánh thuộc tính vật chất (thuộc tính lí hoá)của sản phẩm, là thuộc tính có ích của hàng hoá, thể hiện ở việc sử dụng hay tiêudùng; nó do thuộc tính tự nhiên của vật phẩm quyết định, là nội dung của vật phẩm
chứ không kể đến hình thức xã hội của vật phẩm đó như thế nào Do đó, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức hay kiểu tổ
chưc sản xuất
- Một vật phẩm có ít nhất một công dụng vì có công dụng mới thoả mãn đượcnhu cầu của con người Chính công dụng của vật phẩm làm cho hàng hoá đó có giátrị sử dụng Xã hội càng văn minh, càng phát triển, khi khoa học công nghệ cànghiện đại thì con người phát hiện ra được nhiều (giá trị sử dụng) công dụng của mộthàng hóa với chất lượng ngày càng cao
Trang 8Ví dụ: Trước đây, cây mía chỉ được dùng để nhai cho đỡ khát, sau đó nó đượcdùng để sản xuất ra đường Thế nhưng ngày nay, cây mía không những được dùng
để sản xuất ra đường mà còn dùng để sản xuất ra rượu và giấy
Trước đây, dầu mỏ chủ yếu dùng để đốt, nhưng bây giờ có thể dùng nó
để sản xuất ra ni lông và một số dược phẩm,
- Thông thường, trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng của hàng hoá mà tađang nói đến ở đây là giá trị sử dụng cho nhiều người trong xã hội thông qua traođổi - mua bán chứ không phải là giá trị sử dụng cho một cá nhân nào hay cho chínhbản thân của người sản xuất hàng hoá
- Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi
* Giá trị hàng hóa:
Vì giá trị là một phạm trù rất trừu tượng, vì vậy ta không thể nghiên cứu nómột cách trực tiếp mà phải đi bằng con đường gián tiếp từ giá trị trao đổi của hànghóa và thông qua giá trị trao đổi để tìm ra vết tích của giá trị
- Giá trị trao đổi là một quan hệ tỷ lệ về lượng theo đó một giá trị sử dụng loạinày được trao đổi với những giá trị sử dụng khác Từ đó ta thấy rằng sản phẩmmuốn trao đổi được thì phải có hai điều kiện:
+ Hai sản phẩm phải có giá trị sử dụng khác nhau (vì nếu giống nhau về giátrị sử dụng thì hình thức trao đổi sẽ trở nên vô nghĩa)
+ Các hàng hoá đem trao đổi với nhau theo 1 tỷ lệ nhất định về lượng giátrị
Ví dụ: 1 cái rìu đổi lấy 20 kg thóc ( 1cái rìu = 20 kg thóc)
Như ta thấy, rìu và thóc có giá trị sử dụng và số lượng của chúng khác nhau,nhưng chúng có thể trao đổi được với nhau là vì giữa chúng có một cái chung Cáichung này là gì? đó là do chúng đều là sản phẩm của lao động, đều có lao động kếttinh ở trong đó Nhưng cái chung đó phải bằng nhau về lượng, nghĩa là để có thểtrao đổi được thì người thợ thủ công thừa nhận rằng thời gian hao phí lao động đểtạo ra 1 cái rìu phải bằng thời gian hao phí lao động để tạo ra 20 kg thóc của ngườinông dân và ngược lại Nhờ sự thừa nhận đó mà rìu và thóc có thể trao đổi được
với nhau Như vậy, cơ sở cho sự trao đổi giữa các hàng hóa với nhau là lao động
xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó.
Trở lại ví dụ trên: người thợ thủ công mất 5 giờ lao động để tạo ra 1 cái rìu,ngAasxddddđười nông dân phải mất 5 giờ để tạo ra 20 kg thóc Nhìn bề ngoài thìmột cái rìu đổi lấy được 20 kg thóc nhưng bên trong đó thì 2 người trao đổi hao phílao động cho nhau, tức họ trao đổi 5 giờ lao động sản xuất rìu lấy 5 giờ sản xuấtthóc
- Như vậy, người ta trao đổi sản phẩm cho nhau chẳng qua là trao đổi hao phílao động ẩn dấu đằng sau hàng hoá đó Chính hao phí lao động để tạo ra hàng hóa
là cơ sở chung cho sự trao đổi, chính hao phí lao động đó tạo ra giá trị hàng hóa
Vậy, Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó
Trang 9Xét về bản chất: giá trị là một quan hệ xã hội biểu hiện mối quan hệ giữanhững người sản xuất hàng hoá.
Xét về đặc điểm: giá trị là một phạm trù lịch sử vì nó chỉ tồn tại trong nền sảnxuất hàng hoá, nó sẽ mất đi khi nền sản xuất hàng hoá không còn
- Giá trị do lao động của con người tạo ra nên sản phẩm nào không chứa đựnglao động của con người thì không có giá trị Chỉ có những mối quan hệ trao đổingười ta mới quy về mặt giá trị
- Giá trị và giá trị trao đổi có mối quan hệ với nhau, trong đó giá trị là lao động
xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó; do đó, nó là nộidung bên trong và đóng vai trò quyết định, còn giá trị trao đổi là hình thức biểuhiện bên ngoài và phụ thuôc vào giá trị
c Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa:
Giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính của hàng hóa Hai thuộc tính này cóquan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất, vừa có mâu thuẩn với nhau bởi đó là sựthống nhất giữa 2 mặt đối lập Mối quan hệ này được thể hiện rõ như sau:
- Xét đến mặt thống nhất: Hai thuộc tính này cùng tồn tại trong một hàng hóa.Khi người ta sản xuất ra giá trị sử dụng đồng thời người ta sản xuất ra giá trị củahàng hoá đó Nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó vật phẩm sẽ không phải là hànghóa
Ví dụ: không khi có giá trị sử dụng là dùng để thở nhưng nó không phải làhàng hóa bởi nó không có giá trị vì nó không do lao dộng của con người tạo ra
- Xét đến mặt mâu thuẩn:
+ Với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hoá không đồng nhất về chất,nhưng với tư cách là giá trị thì các hàng hoá lại đồng nhất về chất, đều có lao độngkết tinh ở trong đó
Ví dụ: Cái bàn và viên phấn: nếu xét nó với tư cách là giá trị sử dụng thìchúng khác nhau hoàn toàn Trong đó, cái bàn dùng để ngồi học, còn viên phấndùng để viết trên bảng Còn nếu xét nó với tư cách là giá trị sử dụng thì chúnggiống nhau là đều do hao phí lao động của con người kết tinh trong nó
+ Quá trình thực hiện giá trị sử dụng và giá trị là hai quá trình tách biệt vềthời gian và không gian Bởi trên thị trường, đối với người sản xuất hàng hóa, họtạo ra được giá trị sử dụng nhưng mục đích của họ lại là giá trị Ngược lại đối vớinguời mua, cái mà họ quan tâm đó chính là giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu củamình nhưng để có được giá trị sử dụng thì trước tiên họ phải thanh toán giá trị chongười sản xuất Như vậy quá trình thực hiện giá trị được diễn ra trước và trên thịtrường còn quá trình thực hiện giá trị sử dụng được diễn ra sau và trong lĩnh vựctiêu dùng Trước khi thực hiện giá trị sử dụng của hàng hóa, phải thực hiện giá trịcủa nó; nếu không thực hiện được giá trị thì sẽ không được thực hiện giá trị sửdụng
Tóm lại, mâu thuẩn này được thể hiện:
Về không gian: Giá trị được thực hiện khi mua bán
Trang 10 Về thời gian: Giá trị được thực hiện trước
Giá trị sử dụng được thực hiện sau
Ví dụ: Các chị nữ thường đi chợ mua đồ về nấu ăn, giả sử trưa đó chị cho cả
nhà ăn cá chị phải trả tiền cho người bán cá trước mới lấy được con cá Sau đókhi về nhà chị mới chế biến con cá này để ăn quá trình tiêu dùng được diễn rasau
2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa:
Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuấthàng hóa Theo Mác, sỡ dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là vì lao động sản xuất ra nó
có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng Chính tính hai mặt của laođộng sản xuất hàng hóa quyết định tính hai mặt của bản thân hàng hóa
a Lao động cụ thể:
- Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghềnghiệp chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượngriêng, phương pháp riêng, phương tiện riêng và kết quả lao động riêng Chínhnhững cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau
Mục đích, ý thức lao động riêng Lao động cụ thể Sử dụng đối tượng lao động riêng
Phương pháp, phương tiện lao động riêng Kết quả lao động riêng
Ví dụ:
Lao động cụ thể Công cụ LĐ Đối tượng
LĐ
Phương pháp LĐ Kết quả LĐ
- Các lao động cụ thể khác nhau tạo ra giá trị sử dụng khác nhau về chất Nóicách khác, mỗi lao động cụ thể sẽ tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định của hànghóa Chính vì vậy mà mỗi vật phẩm có giá trị sử dụng riêng Do đó, trong nền kinh
tế, có bao nhiêu giá trị sử dụng thì có bấy nhiêu lao động cụ thể và lao động cụ thể
sẽ không bao giờ mất đi và chính lao động cụ thể sẽ giúp ta phân biệt được sự khácnhau giữa những người sản xuất hàng hóa
Trang 11b Lao động trừu tượng:
- Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa nếu không xétđến hình thức cụ thể của nó như thế nào mà chỉ xét đến sự hao phí sức lực nóichung của con người, bao gồm hao phí sức bắp thịt, sức thần kinh, sức óc, của conngười
Ví dụ: Lao động của nguời thợ và lao động của người người thợ may, nếu xét
về mặt lao động cụ thể thì hoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt tất cả những sự khácnhau ấy sang một bên thì chúng chỉ còn có một cái chung đều phải tiêu phí sức óc,sức bắp thịt và sức thần kinh của con người
- Như vậy, lao động trừu tượng chính là lao động hao phí đồng chất của conngười Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức lực của con người về mặt sinhlý.Nhưng không phải sự hao phí sức lao động nào về mặt sinh lý cũng là lao độngtrừu tượng Lao động trừu tượng chỉ có trong nền sản xuất hàng hóa, do mục đíchcủa sản xuất là để trao đổi
Nhờ có lao động trừu tượng đã giúp ta tìm thấy sự giống nhau giữa nhữngngười sản xuất hàng hóa Vậy điểm giống nhau này là gì? Đó chính là hao phí sứclao động Chính hao phí sức lao động đó người ta gọi là lao động trừu tượng củasản xuất hàng hoá Chính lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa tức có sảnxuất hàng hóa thì mới có tính chất của lao động trừu tượng do đó nó là một phạmtrù lịch sử
Nhận xét: + Khi xét đến lao động cụ thể người ta quan tâm đến sẽ tạo ra cái gì
với số lượng là bao nhiêu,
+ Khi xét đến lao động trừu tượng người ta lại quan tâm đến sẽ chiphí bao nhiêu sức lực trên 1 đơn vị sản phẩm
+ Trong 1 hàng hoá thật ra chỉ chứa 1 loại lao động, đó là sự kếttinh của lao động xã hội của những người sản xuất hàng hoá, có điều lao động ấy
- Vậy, Giữa lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẩn với nhau, đây làmâu thuẩn cơ bản của nền sản xuất hàng hóa giản đơn, nó được biểu hiện cụ thểnhư sau:
+ Sản phẩm do những người sản xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra có thể phùhợp hoặc không phù hợp với nhu cầu của xã hội về số lượng, chất lượng và chủng
Trang 12không thực hiện được giá trị, nó đồng nghĩa với việc lao động tư nhân không được
xã hội thừa nhận
+ Hao phí lao động cá biệt của người sản xuất hàng hóa có thể bằng, caohơn hoặc thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, người sản xuất nào có chi phílao động cá biệt cao hơn chi phí xã hội thì người sản xuất đó sẽ bị lỗ và có nguy cơphá sản do họ không thể thu hồi đủ chi phí lao động mà họ đã bỏ ra
Mâu thuẩn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là mầm mống của mọimâu thuẩn trong nền sản xuất hàng hóa Chính những mâu thuẩn này mà sản xuấthàng hóa vừa vận động phát triển vừa tiềm ẩn khả năng “khủng hoảng sản xuấtthừa” trong xã hội có nền kinh tế hàng hóa phát triển cao
Tóm lại:
Hàng hóa Giá trị sử dụng LĐ cụ thể Phạm trù vĩnh viễn
Giá trị LĐ trừu tượng Phạm trù lịch sử
3 Lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
Chất của giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá được kếttinh trong hàng hoá
Lượng giá trị hàng hoá là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa
đó quyết định Đo lượng lao động bằng thước đo thời gian như: một giờ lao động,một ngày lao động,… Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian laođộng quyết định Để hiểu được lượng giá trị hàng hoá được xác định như thế nào?Thì trước hết ta xem xét đến hai khái niệm là thời gian hao phí lao động cá biệt vàthời gian hao phí lao động xã hội cần thiết
a Thước đo lượng giá trị của hàng hóa
Đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa bằng thước đo thời gian như: mộtgiờ lao động, một ngày lao động,… Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thờigian lao động quyết định
* Thời gian hao phí cá biệt của hàng hoá:
- Thời gian hao phí lao động cá biệt là độ dài thời gian để sản xuất ra sản phẩmcủa từng đơn vị kinh tế, từng hộ gia đình, từng xí nghiệp Thời gian hao phí laođộng cá biệt phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Mức độ trang bị kỹ thuật của từng đơn vị
+ Trình độ tổ chức quản lý của từng đơn vị
Phạm trù vĩnh viễn
LĐCTGTSD
Trang 13+ Trình độ tay nghề của người lao động trong đơn vị đó
+ Cường độ lao động của đơn vị đó
- Trong thực tế, mọi người đều biết rằng điều kiện làm việc của những ngườisản xuất hàng hóa không giống nhau nên thời gian mà họ hao phí để sản xuất racùng 1 thứ hàng hóa là không giống nhau, điều này có nghĩa là có nhiều ngườicùng sản xuất ra một loại sản phẩm như nhau, nhưng thời gian hao phí lao động lạikhông bằng nhau
Ví dụ như: cùng dệt 1 tấm vải như nhau nhưng người thứ nhất mất 3h, ngườithứ hai mất 2h và người thứ ba mất 1h
Sỡ dĩ có sự khác nhau về lượng thời gian lao động tiêu hao là vì trình độ trang
bị kỹ thuật của mỗi người khác nhau, trình độ quản lý cũng như trình độ tay nghềcủa họ cũng không giống nhau Chính sự khác nhau này tạo ra thời gian hao phí cábiệt của người lao động hàng hóa trên một đơn vị sản phẩm cá biệt (còn gọi là giátrị cá biệt của người sản xuất hàng hóa)
- Nếu lượng thời gian lao động sản xuất ra từng hàng hóa cá biệt quyết địnhlượng giá trị của nó thì phải chăng người sản xuất hàng hóa nào có trình độ càngyếu kém lại tạo ra giá trị càng lớn và giá trị hàng hóa của người đó càng đắt?Không phải như vậy Như vậy cái gì quyết định lượng giá trị hàng hóa? Nói cáchkhác thước đo lượng giá trị hàng hóa là gì? Lượng giá trị của hàng hóa không phảiđược quyết định bởi thời gian lao động cá biệt, mà được quyết định bởi thời gianlao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó
* Thời gian lao động xã hội cần thiết:
- Khái niệm: Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cần thiết
để sản xuất ra 1 hàng hóa nào đó trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hộivới 1 trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo trung bình vàmột cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định
Thời gian lao động cần thiết Điều kiện sản xuất bình thường
Trình độ trang thiết bị trung bình
Trình độ thành thạo trung bình
Cường độ lao động trung bình
Ví dụ: Theo thống kê: 1 ngày người bình thường hao phí 3.000 kilô calo
Theo thống kê của tổng hội sinh viên Việt Nam năm 2001: 1 ngày sinhviên hao phí 2.300 kilô calo
Tuy nhiên, làm thế nào để biết được thời gian lao động xã hội cần thiết của xãhội? Ta đi vào cách tính nó:
- Cách tính: Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất rahàng hóa do thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loạihàng hóa đó trên thị trường quyết định
Trang 14A: 3h 20 sản phẩm đây là người quyết định giá cả của sản phẩmB: 3h 15 sản phẩm
C: 3h 5 sảnphẩm
Trong trường hợp:
A: 3h 8 sản phẩm Hình thành thời gian lao động
B: 3h 5 sản phẩm trung bình của lao động cá biệt
C: 3h 8 sản phẩm A và C là người quyết định giá cả của spTóm lại, thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị vàlàm cơ sở trao đổi trên thị trường nhưng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiếtkhông phải là cố định mà luôn luôn biến đổi
b Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị của hàng hóa:
Lượng giá trị của hàng hoá chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố sau:
* Thứ nhất, Năng suất lao động:
- Khái niệm: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động,
là hiệu quả hay hiệu suất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩmđược tạo ra trên một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian hao phí cần thiết tiêuhao trên một đơn vị sản phẩm
Cách tính: Q Trong đó, W: năng suất lao động
t t: thời gian sản xuât sản phẩm
- Như vậy, tăng năng suất lao động cũng có nghĩa là cũng trong một thờigian lao động, nhưng khối lượng hàng hoá sản xuất ra tăng lên làm cho thời gianlao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá giảm xuống Do đó, khi năngsuất lao động tăng lên thì giá trị của mỗi đơn vị hàng hoá sẽ giảm xuống và ngượclại, nhưng tổng giá trị hàng hóa thì không đổi Tức, giá trị của hàng hoá tỷ lệ nghịchvới năng suất lao động
Giá trị của hàng hoá tỷ lệ nghịch với năng suất lao động
- Ví dụ:
Bình thường:
Ví dụ: Trước đây: 1h người công nhân tạo ra 4 sản phẩm
Bây giờ: 1h người công nhân tạo ra 6 sản phẩm
Trang 15 Tiền đề để làm tăng năng suất lao động là nhờ ứng dụng khoa học côngnghệ, cải tiến kỹ thuật sản xuất
- Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
+ Trình độ khéo léo trung bình của người công nhân
+ Mức độ trang bị kĩ thuật cho sản xuất
+ Trình độ cải tiến tổ chức sản xuất
+ Quy mô và hiệu suất sử dụng tư liệu sản xuất
+ Các điều kiện tự nhiên khác
Đặc biệt trong Nông nghiệp: nếu người dân gặp thời tiết tốt sẽ có năngsuất lao động cao
Do vậy muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên
Tóm lại, lượng giá trị của hàng hoá tỉ lệ thuận với thời gian hoa phí laođộng để tạo ra nó và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động
Cường độ lao động:
- Khái niệm: Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, căng thẳng của lao
động được biểu hiện ở sự căng thẳng của các nơron thần kinh, cơ bắp, của conngười Cường độ lao động nói lên trong một đơn vị thời gian con người phải haophí bao nhiêu sức lực
- Cường độ lao động tăng lên làm cho mức hao phí sức lao động trong mộtđơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương nặng nhọc hay căng thẳng của laođộng tăng lên Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng hàng hoá sản xuất ratăng lên, sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng tức tổng giá trị cũng tănglên, vì vậy giá trị trên một đơn vị hàng hoá vẫn không đổi Tăng cường độ lao độngthực chất chính là việc kéo dài ngày lao động
+ Quy mô và hiệu suất sử dụng tư liệu sản xuất
+ Đặc biệt nó phụ thuộc vào thể chất và tinh thần của người lao động
Chú ý: Ta cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động
Tăng CĐLĐ
2
Trang 16# Làm cho số lượng sản phẩm sản xuất ra tăng lên # Giải quyết khó khăn giúp phát triển kinh tế + Khác nhau:
Trang 17Tăng năng suất lao động
# Làm cho giá trị trên mỗi
đơn vị hàng hoá giảm xuống, còn
tổng giá trị của hàng hoá không hề
thay đổi
# Phụ thuộc chủ yếu vào các
yếu tố kỹ thuật của máy móc, do
đó nó là yếu tố có sức sản xuất vô
hạn
Tăng cường độ lao động
# Làm cho giá trị trên mỗiđơn vị hàng hoá không đổi, còntổng giá trị của hàng hoá sẽ tănglên
# Phụ thuộc chủ yếu vào thểchất và tinh thần của người côngnhân, do đó nó là yếu tố có sức sảnxuất có hạn
Tóm lại, Tăng năng suất lao động có ý nghĩa kinh tế hơn so với tăng cường độlao động Nhưng muốn tăng năng suất lao động thì phải áp dụng ngày càng nhiềuthành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và hiện đại Tăng cường độ lao động cũnggiống như kéo dài thời gian lao động
Kết luận: Lượng giá trị tỷ lệ thuận với lượng lao động hao phí thể hiện trong
hàng hoá đó và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Tức năng suất lao động càngtăng lên thì tổng lượng hao phí sức lao động không đổi mà số lượng sản phẩm ngàycàng tăng nên lượng giá trị trên 1 đơn vị hàng hoá là không đổi Ngoài hai nhân tốnói trên mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng đến lượng giá trị của laođộng
Thứ hai, Mức độ phức tạp của lao động:
- Lao động để tạo ra hàng hóa bao gồm lao động giản đơn và lao động phứctạp Trong đó:
+ Lao động giản đơn là những loại lao động mà không cần qua đào tạochuyên môn, nghiệp vụ trước khi tham gia lao động, là sự hao phí lao động mà bất
kì một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được
Ví dụ: cắt cỏ, cuốc đất, khuân vát,
+ Lao động phức tạp là những loại lao động đòi hỏi phải qua đào tạo mộtcách công phu trước khi tham gia lao động
Ví dụ: kỹ sư, bác sĩ, giáo viên,
- Trong thực tế, trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, laođộng phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn vì chi phídành cho lao động phức tap (như: sách vở, học tập, đào tạo, ) là rất cao Vì vậy,lao động phức tạp được xem là bội số của lao động giản đơn
- Do đó, trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều đượcquy thành lao động giản đơn một cách tự phát theo kinh nghiệm của những ngườisản xuất hàng hóa, hay được quy định bởi Nhà nước, nhưng không được quy ngượctrở lại
Trang 18Ví dụ: Xây dựng tiền lương thì bao giờ cũng xây dựng mức thấp nhất làmức lương cơ bản 350.000 đồng Từ đó, theo mức độ phức tạp mới nâng dần mứclương lên 2,34; cứ 3 năm tăng lên thêm 1 bậc lương,
c Cấu thành lượng giá trị hàng hóa
Để sản xuất ra hàng hóa cần phải chi phí lao động, bao gồm lao động quákhứ tồn tại trong các yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ, nguyên vật liệu
và lao động sống hao phí trong quá trình chế biến TLSX thành sản phẩm mới
Trong quá trình sản xuất, lao động cụ thể của người sản xuất có vai trò bảotồn và di chuyển giá trị của TLSX vào sản phẩm, đây là bộ phận giá trị cũ trong sảnphẩm (ký hiệu là c), còn lao động trừu tượng (biểu hiện ở sự hao phí lao động sốngtrong quá trình sản xuất ra sản phẩm) có vai trò làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm,đây là bộ phận giá trị mới trong sản phẩm (ký hiệu là v + m)
Vì vậy, cấu thành lượng giá trị hàng hóa bao gồm hai bộ phận: giá trị cũ táihiện và giá trị mới Ký hiệu: W = c + v + m
III Tiền tệ:
1 Lịch sử ra đời và bản chất của tiền tệ:
Khi nghiên cứu tiền tệ, một nhà kinh tế học người Anh nhận xét: có một vậtlàm cho con người điên hơn cả tình yêu, đó chính là tiền tệ, điều đó chứng tỏ rằngtiền có sức mạnh cực kỳ to lớn Vậy thì vì sao tiền lại có sức mạnh như vậy? Đểbiết được điều này ta cần phải biết được bản chất của tiền Để hiểu được bản chấtcủa tiền thì phải hiểu nguồn gốc của nó Để hiểu được nguồn gốc của nó thì phải đitìm hiểu các hình thái giá trị
a Sự phát triển của các hình thái giá trị:
Xét về nguồn gốc, tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dàicủa quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa, được thể hiện qua quá trình phát triểncủa 4 hình thái giá trị của hàng hóa sau đây:
* Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị:
- Đây là hình thái đầu tiên của giá trị, xuất hiện khi xã hội nguyên thủy tan rã.Khi phân công lao động xã hội chưa phát triển, số lượng sản phẩm làm ra còn rất íttức, do đó của thừa còn ít ỏi và người ta chỉ trao đổi với nhau những sản phẩm thừa
ít ỏi của mình giữa các bộ lạc khác nhau, trao đổi lúc này mang tính chất ngẫunhiên và trực tiếp
- Khái niệm: Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị là hình thái mà giátrị của một hàng hóa được đo lường hay biểu hiện ngẫu nhiên qua giá trị sử dụngcủa một hàng hóa bất kì nào đó
- Bản thân hình thái này bao gồm hai hình thái: Hình thái tương đối và hìnhthái ngang giá Mỗi hình thái có một hàng hoá A và B Trong đó:
Sơ đồ: Hình thái giá trị tương đối Hình thái ngang giá
(Vật tương đối) (Vật ngang giá)
Trang 19Hàng hoá A = Hàng hoá B
Ví dụ: 1 cái rìu = 20 kg thóc.
+ Hàng hoá A gọi là hình thái tương đối vì trong thời kỳ đó người ta khôngbiết để sản xuất ra hàng hoá A thì phải chi phí bao nhiêu Nên họ phải tiến hành sosánh với hàng hoá khác một cách tương đối
+ Bất cứ hàng hoá nào thuộc hàng hoá B được gọi là hình thái ngang giá vìhàng hoá này dùng để đo giá cả của hàng hoá A Hình thái ngang giá là mầm mốngcủa tiền sau này
- Đặc điểm của hình thái giản đơn:
+ Giá trị của một hàng hoá chỉ được biểu hiện ở giá trị sử dụng của mộthàng hoá duy nhất làm vật ngang giá Hay nói cách khác, một hàng hoá chỉ đượcđổi với một hàng hoá duy nhất
Ở hình thái này, giá trị của cái rìu được biểu hiện đơn nhất ở 20kg thóc, còn20kg thóc được dùng làm hình thái biểu hiện giá trị của một cái rìu Như vậy, giá trị
sử dụng của hàng hoá này trở thành hình thái biểu hiện giá trị của hàng hoá kia 1
cái rìu mà giá trị của nó được biểu hiện ở 20 kg thóc thì nó đóng vai trò là hình thái giá trị tương đối (tức là vật tương đối) Còn 20 kg thóc mà giá trị sử dụng của
nó trở thành hình thức biểu hiện giá trị của 1 cái rìu ( để đo giá trị của 1 cái rìu) thì
thóc sẽ giữ vai trò là vật ngang giá
Tức là: 1 cái rìu chỉ đổi ra 20kg thóc và 20kg thóc chỉ đổi ra 1 cái rìu
+ Trao đổi mang tính chất trực tiếp (tức hàng đổi hàng) Khi lực lượng sảnxuất phát triển cao hơn, sản phẩm dư thừa ngày càng nhiều, nhu cầu trao đổi tănglên thì hình thái giản đơn không càng đáp ứng yêu cầu trao đổi của loài người Vìvậy, loài người phải tìm ra một hình thức trao đổi mới Do đó, hình thái giá trị đượcphát triển lên hình thái cao hơn
* Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị:
- Hình thái này xuất hiện khi phân công lao động phát triển hơn năng suấtlao động tăng hơn sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều và phong phú hơn củathừa nhiều hơn nên việc trao đổi hàng hóa được mở rộng Lúc này, một hàng hóa cóthể trao đổi với nhiều hàng hóa khác một cách thông thường và phổ biến, tức điềunày có nghĩa là có nhiều hàng hóa khác nhau được sử dụng làm vật ngang giá
- Khái niệm: Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị là hình thái mà giá trị
của một hàng hoá được biểu hiện ở nhiều hàng hoá khác nhau
Trang 20= 10 m vải
= 10 kg thịt bò
- Sự tiến bộ của con người: bây giờ một hàng hoá có thể đổi với nhiều hànghoá khác nhau Hay giá trị của một hàng hoá được biểu hiện ở giá trị sử dụng củanhiều hàng hoá khác nhau làm vật ngang giá
Như vậy, trước đây 1 cái rìu chỉ có thể đổi được với 20 kg thóc, nhưng bây giờ1cái rìu có thể đổi được nhiều thứ như: 2 cái áo, 1 lạng vàng, 10 m vải, Nhưng lúcnày 10 m vải muốn đổi 1 lạng vàng nhưng người có 1 lạng vàng lại muốn đổi 20 kgthóc chứ không đổi 10m vải
- Hạn chế: Tình trạng nhiều vật ngang giá đã gây ách tắc trong lưu thông, gây
khó khăn cho nhiều vật trao đổi, trao đổi vẫn còn mang tính chất trực tiếp.
- Để khắc phục hình thái trên, loài người đã tìm ra 1 hình thái trao đổi mới, do
đó, hình thái giá trị phát triển lên một hình thái cao hơn, đó là hình thái chung củagiá trị
* Hình thái chung của giá trị:
- Khái niệm: Hình thái chung của giá trị là hình thái mà tất cả các hàng hoáđều biểu hiện giá trị ở một hàng hoá có vai trò làm vật ngang giá chung
Sơ đồ: Hình thái giá trị tương đối Hình thái ngang giá
Ở hình thái này, giá trị của mọi hàng hoá đều được biểu hiện ở 1 hàng hoáđóng vai trò làm vật ngang giá chung là một cái rìu
- Hạn chế: Vật ngang giá chung chưa thống nhất giữa các địa phương Vì vậy,phạm vi trao đổi chưa được mở rộng ra toàn quốc Theo sử sách ghi lại thì vào thời
đó ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi quốc gia lại có những vật ngang giá chungkhác nhau như: súc vật, da thú, lông chim, răng thú, vỏ sò, lông cừu, vàng, bạc, chính điều này đã gây ra khó khăn trong trao đổi Từ đó, đòi hỏi phải xuất hiện 1hình thái thứ 4 nhằm khắc phục những nhược điểm trên
* Hình thái tiền:
Quá trình chọn lọc tự nhiên đối với các vật ngang giá chung tiếp tục diễn ra.Khi bạc và vàng được chọn thì hình thái tiền tệ đã xuất hiện với chế độ song kim
Trang 21Nhưng dần dần người ta không dùng bạc nữa mà chỉ sử dụng vàng được gọi là chế
độ đơn kim Sở dĩ người ta chỉ sử dụng vàng vì nó có những đặc điểm ưu việt vốn
có như: không cháy, ít bị hao mòn khi sử dụng, dễ chia nhỏ, hơn nữa chỉ với mộtlượng và thể tích nhỏ nhưng có giá trị cao, Từ đó, tiền tệ theo chế độ bản vị vàng
và lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện cân đối H - T
Hình thái này có sơ đồ giống với hình thái chung nhưng vật ngang giá chung
b Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ:
* Khi tiền tệ xuất hiện, thế giới chia thành 2 cực:
- Tiền (Vàng) được xem là hàng hoá thông thường: tức lúc này vàng chỉđược sử dụng để làm đồ mỹ nghệ, đồ trang sức hay trong các ngành công nghiệp
- Tiền (Vàng) làm vật ngang giá chung thì đại diện cho lượng hàng hoá nàytrao đổi với lượng hàng hoá khác (H - T - H) từ đó tiền nói lên mối quan hệ giữanhững người sản xuất hàng hoá với nhau
Ví dụ:
Trước đây: 1 cái rìu = 20 kg thóc
Bây giờ: H - T - H tức 1 cái rìu = 1 lạng vàng = 20 kg thóc
* Nguồn gốc: Tiền tệ xuất hiện là do sự phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá quyết định (tức do sự phát triển của sản xuất nên người ta thấy cần
phải có một hàng hoá để đo lường, )
Trang 22- Tiền biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá với nhau.
Để thấy được rõ hơn giá trị sử dụng của tiền tệ ta tiếp tục nghiên cứu các chứcnăng của nó
2 Chức năng của tiền tệ: Tiền tệ có 5 chức năng cơ bản sau:
a Thước đo giá trị:
- Làm thước do giá trị là tiền dùng để đo lường giá trị của cáchàng hoá khác
- Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị thì giá trị của hàng hóa được biểuhiện bằng một lượng tiền nhất định được gọi là giá cả hàng hóa Như vậy giá trị lànội dung bên trong, là cái quyết định và là cơ sở của giá cả Còn giá cả là hình tháibiểu hiện ra bên ngaòi và phụ thuộc vào giá trị Vì vậy giá trị của hàng hóa càngcao thì giá cả của nó cũng càng cao và ngược lại Tuy nhiên, điều đó không cónghĩa là giá cả và giá trị luôn thống nhất với nhau Giá cả hàng hóa lên xuống xoayquanh giá trị Giá cả có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị bởi vì ngoài ảnh hưởngcủa giá trị, giá cả hàng hoá còn chịu ảnh hưởng của cạnh tranh, độc quyền, quan hệcung cầu, lạm phát, nhưng tổng số giá cả vẫn luôn bằng tổng giá trị Mà cụ thể là:
+ Cung > cầu giá cả < giá trị
+ Cung < cầu giá cả > giá trị
+ Cung = cầu LP = 0 giá cả = giá trị
LP > 0 giá cả > giá trị
- Làm thước đo giá trị là chức năng cơ bản nhất của tiền tệ, trực tiếp biểu hiện
bản chất của một vật ngang giá chung của nó Để thực hiện chức năng này có thểchỉ cần một lượng tiền trong tưởng tượng để tính toán chứ không cần thiết phải cótiền mặt
b Phương tiện lưu thông:
- Để thực hiện chức năng này thì tiền làm môi giới trung gian để trao đổi mọihàng hóa khác với nhau Lúc này, việc trao đổi hàng hóa vận động theo công thức
H - T - H (Đây chính là công thức lưu thông hàng hóa giản đơn)
Trước đây, khi chưa có tiền: H - H
Bây giờ, khi đã có tiền: H - T - H
Gc > Gt
Gc = Gt
Gc < Gt
Giá cả Giá trị
Trang 23- Làm chức năng phương tiện lưu thông đòi hỏi phải có tiền mặt trên thực tế(tức người mua dùng tiền mặt để tính cho người bán, )
+ Đầu tiên, người ta dùng tiền vàng để trao đổi, mua bán (vàng thoi, bạc
nén ), nhưng cách thức này đã bộc lộ những thiếu sót như: phải chia nhỏ nó rathành nhiều mảnh, phải xác định số lượng, độ nguyên chất của nó khi sử dụng,
+ Do đó, vàng thoi bạc nén dần dần được thay thế bằng tiền đúc Tiền đúc
là khối lượng kim loại đúc có hình thức, trọng lượng và giá trị nhất định (tức người
ta dùng vàng để đúc ra tiển) Tuy nhiên, trong quá trình trao đổi, mua bán, đồngtiền đúc bị hao mòn cơ học bị rơi vãi và mất mát tức giảm dần trọng lượng củamình dẫn đến giá trị của nó bị giảm
+ Để khắc phục những nhược điểm đó, người ta đã phát hành tiền giấy để
thay thế cho đồng tiền vàng lưu thông trong xã hội Đặc điểm của đồng tiền giấy:
@ Do nhà nước phát hành và buộc xã hội phải thừa nhận kí hiệu giá trị
@ Thực chất đồng tiền giấy không có giá trị thực (không kể gí trị của vậtliệu giấy được dùng làm tiền) Nó có giá trị sử dụng trong từng quốc gia
Đồng tiền giấy ra đời cũng có những ưu điểm của nó nhưng nó là tiền kíhiệu nên dễ làm cho đồng tiền bị mất giá và dễ xuất hiện tiền giả Đây cũng là lí dotại sao ở nước ta đang xảy ra hiện tượng xuất hiện những đồng tiền mới song songvới đồng tiền cũ
- Tiền làm chức năng phương tiện lưu thông làm cho quá trình mua bán đượcdiễn ra thuận lợi nhưng nó cũng làm cho quá trình mua bán tách rời cả về khônggian lẫn thời gian ( Ví dụ: có thể mua mà chưa bán, mua ở thời điểm này bán ở thờiđiểm khác, mua chỗ này bán chỗ kia nên tạo ra sự không đồng nhất) Do đó, nó baohàm khả năng khủng hoảng
c Phương tiện cất trữ:
- Tiền là thước đo giá trị, nó thõa mãn được mọi nhu cầu trao đổi ở mọi lúc vàmọi nơi vì vậy tiền tệ còn có chức năng cất trữ tức là tiền rút ra khỏi lưu thông Khinào cần đến nó thì lại đưa ra để sử dụng
- Tại sao tiền lại cất trữ được? Vì tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hìnhthái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải
- Thông thường người ta cất tiền đủ giá chứ không cất tiền mất giá Vậy thếnào là tiền đủ giá? Đó là tiền vàng Nói cách khác, để thích hợp với chức năng nàytiền tệ phải có giá trị đảm bảo, tức nó phải là vàng, đã quý, hay ngoại tệ mạnh như:đồng Euro, đồng Bảng Anh, đồng đôla Mỹ,
Vì sao người ta cất trữ đôla Mỹ: Vì:
+ Mỹ là nền kinh tế mạnh
+ GDP của Mỹ cao (2001): 10.000 tỷ USD
+ Đại diện cho tài sản lớn: 36.000 tấn vàng ( chiếm 3/4 thế giới)
+ Nhà nước Mỹ là Nhà nước mạnh
Trang 24- Tiền giấy không có chức năng cất trữ vì tiền giấy là kí hiệu của mỗi quốc giaquy định nên nó có thể bị thay đổi
Ví dụ: Cu Ba đã từng thay đổi toàn bộ đồng tiền của mính để phát hành mộtlượng tiền mới tính trên đầu người chứ không phải dùng đồng tiền củ để đổi tiềnmới vì lúc này Mỹ đã đẩy một lượng tiền giả vào Cu Ba, làm cho đồng tiền Cu Ba
d d Phương tiện thanh toán:
e - Khi kinh tế hàng hóa phát triển đến một trình độ nào đó thì sẽ nảy sinh nênviệc mua chịu và bán chịu, lúc này đây, tiền tệ có thêm một chức năng mới nữa đó
là phương tiện thanh toán
f - Khái niệm: Tiền làm phương tiện thanh toán là tiền dùng để chi trả sau khicông việc mua bán đã hoàn thành, tức dùng để trả nợ, để nộp thuế, trả tiền mua chịuhàng…
g Ví dụ: ông A bán hàng cho ông B, sau khi giao hàng, ông B mới trả tiền cho ôngA
h - Tiền làm phương tiện thanh toán có tác dụng hai mặt:
+ Một mặt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người mua và người bán kể cảkhi chưa có tiền (tạo điều kiện cho người sản xuất và người tiêu dùng chưa có tiềnvẫn mua được hàng)
+ Mặt khác, làm cho mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá trởnên phức tạp, mâu thuẫn giữa họ trở nên sau sắc và có thể dẫn đến những rủi rokhông lường trước được Đặc biệt, khi chức năng này trở nên rộng rãi sẽ gây rakhủng hoảng bởi vì một khâu nào đó trong quá trình thanh toán bị ách tắt thì sẽ làmcho toàn bộ sợi dây chuyền thanh toán bị phá vỡ
Ví dụ: A bán hàng chịu cho B, B lại bán hàng chịu cho C, C lại bán hàngchịu cho D, giả sử D bị phá sản A sẽ là người bị thiệt
Ví dụ: Hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh: số USD của các DNNNmua bán chịu với nhau lên đến 2 tỷ USD
- Vì vậy, để thực hiện tốt chức năng này thì cần phải:
+ Thực hiện đúng luật pháp, luật pháp phải chặt chẽ
+ Người bán phải xem xét kỹ đối tác của mình trước khi bán chịu
e Tiền tệ thế giới:
Trang 25- Khi trao đổi hàng hóa vượt ra khỏi biên giới quốc gia và hìnhthành nên quan hệ mua bán giữa các nước thì giữa các quốc gia cần phải có mộtđồng tiền chung Vì vậy, chức năng tiền tệ thế giới sẽ xuất hiện
- Thực hiện chức năng này tiền sẽ làm công cụ mua bán và thanhtoán quốc tế, thường là vàng, đá quý hoặc đó là những ngoại tệ mạnh (trong thực tế
có thể không dùng vàng mà tuỳ vào thoả thuận giữa hai bên) Thông thường, ngàynay trên thế giới đã thống nhất kí hiệu tiền tệ bao gồm 3 từ
Ví dụ: VNĐ, USD, TLB, JPY, DEM, FRF, GBP,
- Chức năng này có 3 nhiệm vụ:
+ Dùng để thanh toán những chênh lệch trong bảng cân đối thanh toán quốc
tế (bảng cân đối thanh toán quốc tế là bảng ghi chép tất cả các khoảng vay nợ củacác quốc gia
+ Dùng để mua hàng nước ngoài
+ Dùng để di chuyển tài sản từ nước này sang nước khác
Ví dụ: Sau chiến tranh Thế giới II, các nước bại trận phải bồi thường chocác nước thắng trận (3 nước bại trận: Đức, Ý, Nhật phải bồi thường cho Anh, Mỹ
và Liên Xô) bằng tiền chứ không phải bằng của cải
- Việc trao đổi tiền của nước này ra tiền của nước khác được tiếnhành theo tỉ giá hối đoái Đó là giá của đồng tiền của nước này được tính bằngđồng tiền của nước khác
Ví dụ: 1USD = 15850 VNĐ
1 TLB = 397 VNĐ
Tóm lại, tiền tệ có 5 chức năng, và những chức năng này ra đời cùng với sựphát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa 5 chức năng này có quan hệ chặt chẽvới nhau và tiền thường làm nhiều chức năng trong cùng một lúc
IV Quy luật giá trị:
Quy luật giá trị là gì? Là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hoá Haynói cách khác, ở đâu có sản xuất hàng hoá thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động
1 Nội dung của qui luật giá trị:
Quy luật giá trị yêu cầu “sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết” Quy luật giá
trị được xem là qui luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa
Như vậy, người sản xuất nhắm vào thời gian lao động xã hội để sản xuất rahàng hoá và người trao đổi hàng hoá trên thị trường cũng vậy Cụ thể là:
- Trong sản xuất: mỗi người tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mìnhnhưng trên thị trường thì hàng hóa do hao phí lao động xã hội quyết định Vì vậy,những người sản xuất nào có hao phí cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cầnthiết thì sẽ bù đắp được chi phí và có lãi Do đó, quy luật giá trị buộc người sản
Trang 26xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phải phù hợp với haophí lao động xã hội cần thiết thì mới có thể tồn tại được.
- Trong trao đổi: Quy luật giá trị yêu cầu phải thực hiện theo nguyên tắc nganggiá, tức Tổng giá cả = Tổng giá trị; hoặc trong trao đổi mua bán phải thực hiện giá
cả = giá trị Điều này có nghĩa là, hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kếttinh một lượng lao động như nhau, hoặc trao đổi, mua bán hàng hóa phải thực hiệnvới giá cả = giá trị
* Phương thức vận động của qui luật giá trị:
Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả trên thịtrường vì giá trị là cơ sở, là nội dung của giá cả cho nên trước hết giá cả phụ thuộcvào giá trị, điều này có nghĩa là, những hàng hóa nào có giá trị càng cao thì giácàng cao và ngược lại Tuy nhiên, trên thị trường ngoài giá trị, giá cả còn chịu ảnhhưởng của cạnh tranh, cung cầu và lạm phát Sự tác động của những nhân tố nàylàm cho giá cả và giá trị không đồng nhất với nhau mà tách rời nhau Sự vận độnggiá cả của các hàng hóa trên thị trường lên xuống xoay xung quanh giá trị trở thành
cơ chế hoạt động của quy luật giá trị
Trong sự phân tích trên, ta thấy rằng nếu như nhìn bề ngoài thì sản xuất và traođổi gần như là hai hành động độc lập và tách rời lẫn nhau Thế nhưng trên thực tế,mọi người sản xuất và trao đổi hàng hóa luôn luôn phải chịu chi phối và tác độngcủa qui luật giá trị
Vậy, ta có thấy được sự vận động của quy luật giá trị hay không? Khôngnhưng thông qua sự lên xuống của giá cả mà ta thấy được sự vận động của quy luậtgiá tri
2 Tác động của qui luật giá trị:
Qui luật giá trị thường có 3 tác động chủ yếu như sau:
- Một là, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
+ Điều tiết sản xuất: trong nền sản xuát hàng hóa, đối với người sản xuấthàng hóa thì mục đích của họ là thu được lợi nhuận siêu ngạch, do đó thường xảy
ra tình trạng người sản xuất bỏ ngành này để đổ xô vào kinh doanh, sản xuất ởnhững ngành khác để thu được nhiều lợi nhuận hơn Do đó, quy mô sản xuất củangành này bị thu hẹp, ngành khác lại được mở rộng làm cho TLSX và SLĐ đượcphân bổ lại giữa các ngành Đây được gọi là sự điều tiết sản xuất, sự điều tiết nàydiễn ra một cách tự phát thông qua sự biến động của giá cả trên thị trường Cụ thểxảy ra 3 trường hợp sau:
Trang 27@ Khi một hàng hóa nào đó có cung < cầu giá cả > giá trị và ngườisản xuất sẽ thu được lợi nhuận cao Do đó, họ sẽ lập tức mở rộng quy mô sản xuất,đầu tư thêm TLSX và SLD Mặt khác, những ngươi sản xuất hàng hóa khác cũng
có thể chuyển sang sản xuất và kinh doanh những mặt hàng này hay lĩnh vực này
Do đó, TLSX và SLĐ của ngành này được tăng lên làm cho quy mô sản xuất càngđược mở rộng
@ Khi một hàng hóa nào đó có cung > cầu giả cả < giá trị, lúc nàyhàng hóa sẽ không bán được và người sản xuất sẽ bị thua lỗ Tình hình đó buộcngười sản xuất ở ngành này thu hẹp quy mô sản xuất hay chuyển sang sản xuấtkinh doanh những ngành khác, làm cho TLSX và SLĐ giảm đi ở ngành này và tăng
ở ngành khác mà họ thấy có lợi hơn
@ Khi một hàng hóa nào đó có cung = cầu giá cả = giá trị thì ngườisản xuất vẫn tiếp tục sản xuất mặt hàng này
+ Điều tiết lưu thông: Qui luật giá trị không chỉ điều tiết lĩnh vực sản xuất
mà còn điều tiết cả trong lĩnh vực lưu thông qua sự biến động của giá cả
Trong lưu thông thì nơi nào bán được nhiều hàng thì có tác dụng thu hút,khơi thông, khơi nguồn các hàng hoá khác đến và ngược lại nơi nào không bánđược hàng thì hàng hoá ở nơi đó sẽ bị đẩy đi bán ở nơi khác Đồng thời, hàng hóacòn có xu hướng di chuyển từ nơi có giá trị hay giá cả thấp đến nơi có giá trị haygiá cả cao Sự diều tiết này là có lợi, bởi vì đó là sự điều tiết từ nơi có nhu cầu đếnnơi có nhu cầu cao, giúp phân phối hợp lí các nguồn hàng giữa các vùng kinh tế,giúp cân đối cung và cầu các loại hàng hóa trong nền kinh tế
- Hai là, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lí hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và phát triển lực lượng sản xuất.
Điều tiết lưu
thông hàng hóa
Thị trường cógiá cả thấp
Thị trường cógiá cả cao
Hàng hóa
Trang 28Các hàng hóa sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, nên có giá trị cábiệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theomức độ hao phí lao động xã hội cần thiết (tức trao đổi theo giá trị xã hội) Lúc nàyđây, người sản xuất nào có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội thì sẽ bị thua lỗ Vìvậy để có thể tồn tại được và để có thể đứng vững trong cạnh tranh thì họ phải tìmmọi cách để làm giá trị cá biệt của mình nhỏ hơn giá trị xã hội Để làm được điềunày thì người sản xuất hàng hóa ngoài việc phát huy những điều kiện thuận lợi,thực hiện tiết kiệm trong sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý và phân phối, họ cònphải đầu tư mua sắm thiết bị máy móc, cải tiến kĩ thuật, cũng như sử dụng lao động
có tay hnghề cao Nếu nhà sản xuất nào cũng làm như vậy sẽ góp phần làm tăngnăng suất lao động xã hội và thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển
- Ba là, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành người giàu kẻ nghèo:
+ Trong quá trình sản xuất kinh doanh, người sản xuất nào có điều kiện thuậnlợi, biết đầu tư đúng chỗ, cũng như có nỗ lực cải tiến kĩ thuật và quản lý để có thểtạo ra được sản phẩm với giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội thì sẽ thành công vàtrở nên giàu có và ngày càng mở rộng quy mô sản xuất của mình
+ Ngược lại, những người không có các điều kiện hay nỗ lực như trên hoặcgặp rủi ro trong kinh doanh sẽ tạo ra mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức haophí lao động xã hội cần thiết thì sẽ dễ dẫn đến tình trạng phá sản, thua lỗ, đi làmthuê cho người khác và trở thành những người nghèo trong xã hội
Như vậy: @ Nếu xét về mặt kinh tế, tác dụng này sẽ đưa đến sự bình tuyển
và chọn lọc một cách tự nhiên những người sản xuất hàng hóa, thúc đẩy các nhân tốphát triển
@ Còn nếu xét về mặt xã hội, tác dụng này đưa đến sự phân hóagiàu nghèo, tạo cơ sở hình thành quan hệ chủ thợ và tạo tiền đề cho sự ra đời củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Ở nước ta hiện nay, trong quá trình phát triển kinh tế đang cố gắng giảm dầnkhoảng cách giữa người giàu và người nghèo thông qua 1 loạt những chính sách vìngười nghèo như: quỹ hỗ trợ người nghèo, ngân hàng dành cho người nghèo,
Phải nâng cao NSLĐ
Phải cải tiến
kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất
Lực lượng sản xuất
xã hội phát triển
Trang 29Tóm lại, Tác dụng của quy luật giá trị có ý nghĩa: một mặt nó chi phối sự lựachọn tự nhiên, đào thải những yếu tố lạc hậu, kích thích cải tiến kỹ thuật, tăng năngsuất lao động, phát triển LLSX Mặt khác, quy luật giá trị lại góp phần phân hóa xãhội ra thành người giàu, người nghèo trong xã hội.
CHƯƠNG V: HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
Ở chương VI chúng ta đã nghiên cứu những vấn đề chung về sản xuất hànghóa, về sự chuyển hóa của giá trị hàng hóa thành tiền tệ Chủ nghĩa tư bản ra đờigắn liền với sự phát triển ngày càng cao của sản xuất hàng hóa Nhưng sản xuấthàng hóa TBCN khác với sản xuất hàng hóa giản đơn không chỉ về trình độ mà cònkhác cả về chất nữa Để thấy được sự khác biệt đó, chúng ta đi vào nghiên cứuchương V
I Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản:
1 Công thức chung của tư bản:
Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản Mọi tư bản lúc đầu xuất hiện trên thị trường đều tồn
Trang 30tại dưới dạng một số tiền nhất định nhưng bản thân tiền chưa phải là tư bản Tiền chỉ trở thành tư bản khi nó phải thoả mãn 3 điều kiện sau:
- Thứ nhất, Phải có một số lượng tiền lớn để mở xí nghiệp và thuê lao động Thế nào được gọi số tiền lớn? Mỗi quốc gia có quy định không giống nhau
Ví dụ: Trong lĩnh vực công nghiệp ở Mỹ 1 doanh nghiệp vừa phải có vốn từ 1triệu - 3,5 triệu USD và lao động là 500 người
Nhật 1 doanh nghiệp vừa phải có vốn từ 100 triệu yên và lao động là
Nhưng nếu có 1 số tiền lớn mà tiền đó chỉ bỏ trong túi để tiêu hay chỉ để trong két sắt thì không phải là tư bản mà chỉ khi nào tiền được đem vào đầu tư ở trong những xí nghiệp mới được xem là tư bản
- Thứ hai, số tiền đem ra đầu tư đó phải đem lại 1 lượng tiền lớn hơn số tiền ban đầu Tức T - T' (T < T', T' = T + t) (phần này sẽ được tôi giải thích rõ hơn trong phần sau)
- Thứ ba, số tiền đó phải vận động liên tục trong sản xuất và trong lưu thông
và luôn đem lại một khoảng tiền phụ thêm cho người chủ sở hữu tiền tệ
Như vậy, tiền với tư cách là tiền và tiền với tư cách là tư bản chỉ khác nhau
về hình thái vận động trong lưu thông Vì vậy, muốn biết đồng tiền nào trở thành tưbản và đồng tiền nào không trở thành tư bản thì ta phải so sánh hai công thức lưu thông hàng hoá Đó là lưu thông hàng hoá giản đơn và lưu thông hàng hoá tư bản chủ nghĩa
+ Tiền với tư cách là tiền, vận động theo công thức: H - T - H (1) (Hàng hóa
chuyển thành tiền và tiền chuyển thành hàng, còn tổng giá trị của nó là không đổi.Đây là công thức lưu thông hàng hóa giản đơn
+ Tiền với tư cách là tư bản vận động theo công thức: T - H - T’ (2) (tức
dùng tiền mua hàng, sau đó bán hàng để thu được số tiền lớn hơn) Đây được gọi làcông thức lưu thông hàng hóa TBCN
T' > T, T' = T + t
Trang 31Trong đó t: là số tiền trội hơn và sau này được Mác gọi đây là giá trị thặng
+ Cả hai công thức đều biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa hai người dólà: người mua và người bán
- Tuy nhiên, 2 công thức đó phản ánh hai nền sản xuất hàng hoá ở trình độkhác nhau, vì vậy, bên cạnh những điểm giống nhau về hình thức thì nó có nhữngđiểm khác nhau thuộc về bản chất:
+ Điểm bắt đầu và điểm kết thúc của sự vận động :(1) Bắt đầu là hàng và kết thúc cũng là hàng ( H ), còn T đóng vaitrò trung gian
(2) Bắt đầu từ tiền và kết thúc cũng là tiền ( T ), còn H đóng vai tròtrung gian
+ Trình tự vận động:
(1) Vận động: H - T, T - H (bắt đầu bằng hành vi bán, kết thúcbằng hành vi mua)
(2) Vận động: T - H, H - T' (bắt đầu bằng hành vi mua, kết thúcbằng hành vi bán)
+ Mục đích vận động:
(1) Nhằm vào giá trị sử dụng để thõa mãn nhu cầu
(2) Nhằm vào giá trị nhưng không phải giá trị bảo tồn mà giá trị lớnhơn tức làm cho khối lượng tiền tệ tăng lên về số lượng: T - T' T’ = T + t , tđược gọi là số tiền trội hơn
+ Giới hạn vận động:
(1) Vận động có giới hạn vì hàng hóa khi đem ra sử dụng thì sẽ mấtdần giá trị của nó đến một lúc sẽ hết giá trị sử dụng và quá trình này kết thúc saukhi mua hàng hóa
(2) Vận động không có giới hạn vì nhà tư bản bỏ tiền ra để muahàng rồi bán hàng hoá đó để thu tiền lớn hơn, rồi lại lấy tiền đó để mua hàng hoá vàlại bán hàng hoá đó để thu được tiền lớn hơn khác ( tức T - H - T' - H - T'’ ) và quátrình này cứ tiếp tục làm cho tiền không ngừng tăng lên
Tóm lại: Đồng tiền nào vận động theo công thức T - H - T' tức đồng tiền đó
sẽ trở thành tư bản và người chủ của đồng tiền đó được gọi là nhà tư bản.
Vậy, ta có thể định nghĩa tư bản là giá trị mang lại giá trị lớn hơn bản thân
nó hay tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư
Trang 32Trong hai công thức này, công thức T - H - T' trở thành công thức chung của
tư bản vì mọi tư bản như TB công nghiệp, tư bản thương nghiệp, tư bản ngân hàng,
tư bản kinh doanh nông nghiệp, tư bản cho vay đều vận động theo công thức này
để mang lại số tiền lớn hơn bản thân nó
2 Mâu thuẩn của công thức chung của tư bản:
* Công thức chung của tư bản (T - H - T') làm cho người ta lầm tưởng rằng lưuthông cũng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư Nhưng trong chương III thì chỉ có laođộng mới tạo ra giá trị hàng hóa Giá trị hàng hóa là do lao động xã hội của ngườisản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó Nghĩa là giá trị hàng hóa phải đượctạo ra trong sản xuất Như vậy lưu thông có tạo ra giá trị và làm tăng thêm giá trịhay không?
* Lưu thông là quá trình trong đó diễn ra các hành vi mua và bán:
- Trong lưu thông: dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá cũng khôngtạo ra một lượng giá trị mới, do đó cũng không tạo ra giá trị thặng dư
+ Nếu trao đổi ngang giá: theo quy luật giá trị trong lưu thông hàng hóa
phải tuân thủ theo nguyên tắc ngang giá tức mua hàng hóa đúng giá trị và bán hànghóa đúng giá trị Tiền và hàng chỉ thay đổi về mặt hình thức (tức tiền thành hàng và
từ hàng thành tiền), còn tổng giá trị hàng hóa không hề thay đổi Tức tổng giá cả = tổng giá trị Do đó, không tạo ra một lượng giá trị mới t.
Ví dụ: giá trị của 1 cái áo là 100 ngàn Hôm nay, do mua mở hàng nênngười bán hàng bán cho tôi cái áo đó đúng 100 ngàn như vậy, giá trị không tănglên tức là không tạo ra giá trị thặng dư
+ Nếu trao đổi không ngang giá: dù trao đổi không ngang giá cũng không
làm tăng thêm một lượng giá trị mới nào cả Cụ thể xảy ra 3 trường hợp sau:
@ Nếu hàng hóa được bán cao hơn giá trị thì số tiền mà anh ta nhận đượckhi là người bán cũng chính là số tiền mà anh ta sẽ mất đi khi là người mua, tổnggiá trị không hề thay đổi
@ Nếu mua hàng hóa thấp hơn giá trị, thì sô tiền mà anh ta nhận được khi
là người mua cũng chính là số tiền mà anh ta sẽ mất đi khi là người bán, còn tổnggiá trị không hề thay đổi
Trang 33Ví dụ: cũng cái áo đó lúc mới ra, là cái áo môden, ít người bán hàng nào
có nên người bán hàng bán với giá rất cao là 130 ngàn thậm chí cao hơn nhưngngười mua vẫn sẵn sàn mua Nhưng 1 thời gian sau, khi cũng loại áo đó được sảnxuất hàng loạt, hết môden thì người mua chỉ mua với giá 70 ngàn nhưng người báncũng sẵn sàng bán để mua tiếp loại áo môđen khác để bán Trong xã hội, thì mộtngười cần đến nhiều loại sản phẩm, người bán áo quần lại đi mua nhiều thức sảnphẩm khác và cái lợi mà họ thu được khi bán chính là cái thiệt khi họ đi mua
@ Giả sử có một số người chuyên mua rẽ bán đắt để kiếm nhiều lãi thìtổng giá trị trong xã hội cũng không hề tăng lên vì số lượng giá trị mà người nàythu được chính là sự ăn chặn, chiếm đoạt giá trị của người khác Còn tổng giá trịtrong xã hội không hề thay đổi
Tóm lại, Giá trị xã hội không tăng mà chỉ chuyển từ người này sang ngườikhác, cái mà người mua được thì người bán mất, cái mà người bán được chính làcái mà người mua bị mất, tổng giá trị trong xã hội là không đổi
Như vậy ta thấy rằng lưu thông không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư.Nhưng nếu không có lưu thông tức tiền để trong két sắt, hàng hóa để trong khokhông đem ra bán trên thị trường thì cũng không tạo ra được giá trị thặng dư Vìvậy, lưu thông chỉ là phương tiện
Vậy nhà tư bản có bí quyết gì để tạo ra giá trị thặng dư Để biết được điềunày ta trở lại phân tích hai yếu tố tiền (T) và hàng (H) ngoài lưu thông:
* Ngoài lưu thông:
- Xét nhân tố Tiền (T):
+ Tiền đứng im, bỏ trong két sắt, không thể biến T thành T'
+ Tiền trong quá trình vận động chỉ là vật ngang giá và T chỉ đóng vai tròtrung gian
- Xét nhân tố Hàng (H): H khi sử dụng bị mất dần giá trị và giá trị nàychuyển vào sản phẩm mới Cụ thể là:
+ TLSX: được bảo tồn và di chuyển nguyên vẹn vào sản phẩ mới trong quátrình sản xuất không tạo ra giá trị mới
+ TLTD: sẽ bị tiêu dùng và mất dần giá trị của mình trong quá trình sửdụng không tạo ra giá trị mới
* Vì vậy mâu thuẩn của công thức chung là “giá trị thặng dư vừa sinh ra trong quá trình lưu thông, lại vừa không thể sinh ra trong lưu thông”.
Vậy hai hàng hoá này không tạo ra giá trị mới t Vậy yếu tố nào tạo ra giá trịmới t? Để giải quyết mâu thuẩn này Mác cho rằng trong số những hàng hóa mànhà tư bản mua về có một thứ hàng hóa đặc biệt có khả năng làm gia tăng giá trị,tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó Đó chính là hàng hóa sức lao động.Đây chính là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung
Tóm lại:
Tổng giá cả = Tổng giá trị
Lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư
Mâu thuẫn của
công thức
T - H - T'
Bán cao hơn giá trị Trao đổi
không ngang giá
Trao đổi ngang giáTrong
lưu thông
Mua thấp hơn giá trị
Không tạo ra giá trị thặng dư
Xét nhân tố tiền (T)
Chuyên mua
rẽ bán đắt
Ngoài
lưu thông
Trang 343 Hàng hóa sức lao động (SLĐ):
a Sức lao động và điều kiện biến sức lao động thành hàng hóa:
* Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người được sử dụng trongquá trình lao động để tạo ra của cải vật chất Sức lao động là yếu tố cơ bản của mọiquá trình lao động của con người
* Để sức lao động trở thành hàng hóa thì phải có 2 điều kiện sau:
- Thứ nhất: Người có sức lao động phải được tự do về thân thể của mình,
phải có khả năng chi phối SLĐ ấy Tức để con người đó làm chủ được thể lực và trílực bên trong của mình Với điều kiện này, người lao động mới có thể có quyềnquyết định đốivới SLĐ của bản mình: bán hay không bán? bán cho ai? bán trongđiều kiện thế nào?
Trong lịch sử đã từng có phương thức sản xuất mà ở đó người lao độngkhông có quyền chi phối sức lao động bên trong của mình đó là phương thức sảnxuất chiếm hữu nô lệ, còn giai cấp nông nô trong phương thức sản xuất phong kiếnvẫn bị lệ thuộc một phần
Ví dụ: Trong thời kỳ phong kiến, người nông dân là thần dân của lãnh chúaphong kiến
Trang 35Trong thời kỳ nô lệ: nô lệ là công cụ lao động biết nói, là công cụcủa chủ nô Do đó, Ngày nghỉ con bò đực được nghĩ làm, còn nô lệ thì không Nô
lệ đau ốm không được chữa trị, chết thì thôi còn con trâu con bò đau ốm vẫn đượcchữa trị
Và chỉ khi CNTB ra đời thì điều đầu tiên mà họ làm cho con người được tự
do Ví dụ: cuộc cách mạng ở Mỹ 1776, cuộc cách mạng ở Pháp 1791, cuộc cải cáchnông nô ở Nga 1861, cải cách Minh Trị ở Nhật 1868, làm cho con người được tựdo.Chẳng hạn như:
Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ có viết: "Tất cả mọingười sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai cóthể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do vàquyền mưu cầu hạnh phúc"
Trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm
1791 cũng nói rằng: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luônluôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi"
- Thứ hai: Người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất hay bất kỳ của
cải cần thiết để tự mình thực hiện lao động (và Mác đã dùng một cụm từ rất hìnhảnh để diễn tả tình cảnh của người lao động lúc bấy giờ đó là: những người này
"trần như nhộng" Nếu như anh chị nào đã từng thấy con nhộng thì sẽ rõ, trên mình
nó không có bất cứ một cái gì cả), tức họ không còn gì cả và tài sản duy nhất đảmbảo sự sống của họ chỉ là sức lao động Vì vậy, muốn sống được thì họ chỉ còn cáchbán sức lao động cho người khác sử dụng
Nếu chỉ có điều kiện người lao động được tự do về thân thể thì chưa đủđiều kiện biến sức lao động thành hàng hóa, vì nếu người lao động được tự do vềthân thể mà lại có tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất ra hàng hóa và bán hàng hóa
do mình sản xuất ra chứ không bán sức lao động Vì vậy, muốn biến lao động thànhhàng hóa, người lao đông phải là người không có tư liệu sản xuất, chỉ trong điềukiện ấy người lao động mới bán sức lao động của mình, vì họ không còn cách nàokhác để sinh sống
Ví dụ: Có thời kỳ nước Anh đã xãy ra tình trạng "rào đất cướp ruộng"
Thế kỷ 16 - 17, lông cừu ở Anh được bán với giá rất cao nên ngườiđịa chủ không cho người nông dân thuê đất nữa mà sử dụng đất để nuôi cừu Lúcnày, người nông dân không có đất để làm nên họ phải ra thành phố để kiếm việclàm, còn một số người khác trên đường đi bị chết vì thời tiết khắc nghiệt, đói rét, Trong khi đó, những nhà địa chủ lại tiếp tục tiến hành lân đất của người nông dân,
1 năm một ít Đến 1 lúc người nông dân mất sạch ruộng đất của mình nên phải lũlượt tiến ra thành phố kiếm việc làm Tức lúc này người nông dân đã mất sạchTLSX, muốn sống buộc họ phải bán sức lao động của mình cho những người chủtrong các xưởng dệt lông cừu ở Thành phố Đây là hiện tượng "cừu ăn thịt người" ởAnh lúc bấy giờ
Trang 36Trong thực tế hiện nay, có những người có TLSX nhưng vẫn muốn đi làmthuê cho người khác do họ tính toán đến hiệu quả kinh tế Tức họ sẵn sàng bỏ côngviệc này để đi làm một công việc khác do công việc đó có thu nhập cao hơn Màtrong kinh tế người ta gọi đó là "chi phí cơ hội"
Ví dụ: 1 thanh niên ở Huế làm việc 1 ngày chỉ kiếm được 20 ngàn là rấtkhó, nhưng họ vào thành phố Hồ Chí Minh làm việc thì 1 ngày họ có thể kiếmđược vài chục ngàn dễ hơn
Nhưng trong bài này ta chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi đó
* Ý nghĩa của sự xuất hiện hàng hoá sức lao động:
- Hàng hoá sức lao động ra đời giúp giải quyết được mâu thuẫn của công thứcchung
- Hàng hoá sức lao động ra đời góp phần thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế thịtrường hết sức nhanh chóng Vì lúc này đã có cả TLSX và SLĐ đều thamgia vàoquá trình sản xuất
- Sức lao động trở thành hành hoá thì sự chiếm đoạt thặng dư do sức lao độngtạo ra sẽ dẫn đến mâu thuẩn giữa nhà tư bản và người lao động, Tuy nhiên, mâuthuẩn này có gay gắt hay không còn tuỳ thuộc vào quá trình phân phối sao cho hợp
lý hay không
b Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động:
Cũng giống như những hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có haithuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị
* Giá trị của hàng hóa sức lao động:
Giá trị của một hàng hoá thông thường do hao phí sức lao động tạo nên.Vậy, giá trị của bản thân sức lao động do cái gì tạo nên?
- Khái niệm: Giá trị của hàng hoá sức lao động do số lượng thời gian laođộng xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định Giá trị sức laođộng được quy về giá trị của toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất vàTSX ra sức lao động, để nuôi sống người công nhân và gia đình của họ Nó baogồm:
+ TLSH để tái tạo sức lao động cho người công nhân
+ TLSH để nuôi sống gia đình họ (bao gồm cha me già, con chưa đến tuổilao động)
+ TLSH để bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng nhucầu ngày càng cao của xã hội
- Lượng giá trị hàng hoá sức lao động phải phụ thuộc vào các yêu cầu:
+ Khả năng lao động của công nhân: người công nhân nào có trình độ cao,tay nghề giỏi sẽ tạo ra nhiều sản phẩm lao động nên được nhà tư bản trả lương cao
và ngược lại
+ Điều kiện khí hậu của mỗi nước
Trang 37Ví dụ: ở nước lạnh thì người lao động phải có các phương tiện chống lạnhnhư: chăn bông, lò sưởi, và ở những nước nóng thì phải có: máy quạt, máylạnh, thì người lao động mới có thể làm tốt công việc được.
+ Trình độ phát triển LLSX của mỗi nước: Đây được xem là yếu tố cơ bảnnhất vì tiền lương bao giờ nó cũng phụ thuộc vào năng suất lao động và năng suấtlao động bao giờ cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển LLSX của mỗi quốc gia
Ví dụ: Một số Thanh niên Việt Nam lười nhác hiện nay có phương châm:
"Ăn cơm tàu, lấy vợ Nhật, nhận lương Mỹ" Điều này chứng tỏ mức lương ở Mỹ làrất cao do trình độ phát triển LLSX ở Mỹ là rất cao Theo thống kê thì ở Mỹ 1h laođộng sẽ được trả tối thiểu là 6 USD và trung bình là 9 USD/1h
- Sự đấu tranh của công nhân: nhưng ta phải lưu ý rằng không phải sự đấutranh nào cũng có thể tăng lương, mà chỉ khi nào năng suất tăng, lợi nhuận nhà tưbản thu được tăng mà tư bản không tăng lương thì công nhân phải đấu tranh dòităng lương; còn khi năng suất không tăng, lợi nhuận không tăng, suy thoái xảy ra
mà công nhân đòi đấu tranh thì không bao giờ tăng lương
Ví dụ: Trước khi khai mạc World Cup 98 các phi công Pháp đấu tranh đòităng lương Nhưng họ đấu tranh suốt 1 tháng trời thì lương vẫn không tăng Đếnlúc khai mạc hãng hàng không Pháp tuyên bố nếu phi công nào không làm việc sẽ
bị cắt hợp đồng và họ sẽ thuê phi công nước ngoài với mức lương thấp hơn, vì lúcnày hãng hàng không Pháp đang bị suy thoái nghiêm trọng Nghe vậy, nhưng phicông Pháp hết đấu tranh mà bắt đầu làm việc với mức lương như cũ
- Cung cầu về sức lao động:
+ Nếu cung > cầu thừa lao động buộc các công nhân phải cạnhtranh với nhau để tìm việc làm và trong điều kiện đó nhà tư bản có lợi thế họ sẽgiảm tiền lương và công nhân buộc phải chấp nhận
+ Nếu cung < cầu thiếu lao động buộc các nhà tư bản phải cạnhtranh với nhau để thu hút lao động, trong trường hợp này nhà tư bản phải tự giáctăng lương cho công nhân
Tóm lại, Ngoài những điểm giống với hàng hoá thông thường thì giá trịhàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cảyếu tố tinh thần và lịch sử:
+ Yếu tố tinh thần: ngoài việc có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, con người cầnphải được nghỉ ngơi, giải trí, du lịch,
Ví dụ: Hiện nay, ở những xí nghiệp lớn đối với những người lao động cónăng lực, họ cấp cho nhà ở, xe để đi lại, Thậm chí, có thuê cả những chuyên giatâm lý về làm việc giúp công nhân giải toả được tâm lý của mình những lúc rắc rối.Chính điều này, làm cho họ gắn bó với công việc hơn, làm việc trong trạng tháithoải mái hơn năng suất lao động cao
Trang 38+ Yếu tố lịch sử: người lao động trong thời đại ngày nay khác với ngườilao động trong thời kỳ phong kiến,
Điều này có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công dân còn cónhững nhu cầu về tinh thần văn hóa, Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnhlịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, phụ thuộc vào điều kiện địa lý, khí hậu củanước đó và mức độ thỏa mãn những nhu cầu đó phần lớn phụ thuộc vào trình độvăn minh đã đạt được của mỗi nước
* Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động: được thể hiện trong quá trình
tiêu dùng SLĐ, tức là quá trình lao động của ngườicông nhân để sản xuất ra mộthàng hóa nào đó
Nói cách khác giá trị sử dụng của hàng hóa SLĐ là công dụng của sức laođộng cần thiết cho nhu cầu của người mua và sử dụng nó, mà trước hết là khả năngtạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Và đây chính là nguồngốc của giá trị mới t và là chìa khóa giải đáp mâu thuẩn của công thức chung tưbản
Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt lànguồn gốc sinh ra giá trị, tức nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bảnthân nó Đây là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động, là đặcđiểm để phân biệt hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường khác Giá trị sửdụng này biểu hiện ra khi có sự kết hợp với TLSX để sản xuất ra sản phẩm
Như vậy, hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường có những điểm gìgiống nhau và khác nhau?
+ Giống nhau:
- Cả hai loại hàng hoá đều nhằm thoả mãn nhu cầu của người mua
- Cả hai loại hàng hoá đều được tiêu dùng ngoài lĩnh vực lưu thông
+ Khác nhau:
Hàng hóa thông thường
- Là vật vô tri, vô giác, có thể là lao
động sống nhưng không có tâm hồn
- Được bán trong điều kiện hết sức
bình thường, làm ra thì bán
- Bán cả quyền sử dụng lẫn quyền sở
hữu
- Bán trong cùng 1 lúc
- Khi sử dụng thì giá trị sử dụng của
hàng hóa sẽ mất đi theo thời gian
sử dụng của chính bản thân nó
Trang 39 Sau khi nghiên cứu xong công thức chung của tư bản, mâu thuẩn của côngthức chung và hàng hóa sức lao động thì một câu hỏi đặt ra: khi nào tiền biến thành
Như vậy, ở đây ta đã chứng minh được lưu thông không tạo ra giá trị thặng dưnhưng ta chưa chứng minh được công nhân tạo ra giá trị thặng dư bằng cách nào
Để chứng minh được điều này ta đi vào nghiên cứu việc sản xuất ra giá trị thặng
dư
II Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư trong xã hội tư bản:
Trong lưu thông công nhân và tư bản là 2 ông chủ bình đẳng với nhau trong
đó, công nhân là chủ sức lao động còn nhà tư bản là chủ của tiền; vì vậy, công nhân
có quyền đem bán sức lao động của mình cho bất kỳ ai và nhà tư bản cũng cóquyền mua sức lao động của bất kỳ một người công nhân nào Khi đi vào sản xuất,công nhân không còn là người chủ nửa mà sức lao động lúc này đã trở thành yếu tốsản xuất, thuộc sở hữu của nhà tư bản và nhà tư bản có quyền sử dụng nó
1 Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư:
a Mục đích, đặc điểm của sản xuất hàng hóa TBCN:
* Mục đích của sản xuất hàng hóa TBCN:
Mục đích của sản xuất hàng hóa TBCN không phải là giá trị sử dụng mà làgiá trị, hơn nữa cũng không phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị thặng dư Nhưng
để sản xuất ra giá trị thặng dư trước hết phải sản xuất ra 1 giá trị sử dụng nào đó vì
giá trị sử dụng là vật mang giá trị và giá trị thặng dư Vậy mục đích của CNTB là tạo ra được ngày càng nhiều giá trị thặng dư.
* Đặc điểm của quá trình sản xuất TBCN:
Quá trình sản xuất TBCN là sản xuất hàng hóa qui mô lớn với hai đặc điểmsau:
- Một là, công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, lao động
của anh ta thuộc về nhà tư bản giống như những yếu tố khác của sản xuất và đượcnhà tư bản sử dụng sao cho có hiệu quả nhất
Lưu thông 1 Sản xuất Lưu thông 2
Trang 40- Hai là, sản phẩm là do lao động của người công nhân tạo ra, nhưng nó
không thuộc về công nhân mà thuộc sở hữu của nhà tư bản (Vì sao? Vì nhà tư bán
sở hữu tư liệu sản xuất)
b Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư :
Để thấy được quá trình sản xuất giá trị thặng dư, chúng ta lấy việc sản xuấtsợi của 1 doanh nghiệp để làm ví dụ Nó là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ragiá trị sử dụng và quá trình lớn lên của giá trị hay là quá trình lớn lên của giá trịthặng dư Vì vậy, để sản xuất có thể được tiến hành, nhà tư bản phải mua các yếu tốsản xuất bao gồm TLSX và SLĐ Giả định việc mua đó là đúng giá trị của hànghóa
- Giả sử để sản xuất ra 10 kg sợi thì chi phí đầu vào sẽ là:
+ Mua 10 kg bông: 10$
+ Khấu hao máy móc là: 2$
+ Giá trị sức lao động trong 1 ngày (8h): 2$ Nhưng người công nhân chỉmất 4h để sản xuất ra 10 kg sợi
Như vậy, tổng chi phí là 14$ Với giả định trong quá trình sản xuất bằnglao đông cụ thể, công nhân sử dụng máy móc để chuyển 10kg bông thành 10 kgsợi, theo đógiá trị của bông và hao mòn máy móc cũng được chuyển vào sợi, bằnglao động trừu tượng, mỗi giờ người công nhân tạo ra 1 lượng giá trị là 0,5$
- Sau quá trình sản xuất ta được:
+ Giá trị 10 kg bông chuyển thành 10 kg sợi: 10$
+ Giá trị máy móc chuyển vào sợi: 2$
+ Giá trị mới do lao động tạo ra sau 4h: 2$ (4h x 0,5)
Như vậy, trong nền kinh tế tư bản trình độ lao động, kỹ thuật công nghệ và
tổ chức quản lý sản xuất được phát triển làm cho năng suất lao động tăng lên người lao động chỉ lao động sản xuất trong 4h đã sản xuất ra được 14$
- Nhưng theo thỏa thuận thì nhà tư bản mua sức lao động của người công nhântrong cả ngày (8h) Vì vậy, nhà tư bản sẽ bắt công nhân lao động thêm 4h còn lại.Trong 4h này để sản xuất 10kg sợi thì nhà tư bản phải chi phí là 12$ bao gồm:
+ Mua 10kg bông: 10$
+ Khấu hao máy móc: 2$
Tương tự như 4h đầu, sau quá trình sản xuất nhà tư bản có số lượng sợi với giátrị là 14$
- Như vậy, trong 1 ngày lao động 8h thì:
Chi phí sản xuất
+ Tiền mua bông (20kg): 20$
+ Khấu hao máy móc: 4$
+ Mua sức lao động 1 ngày: 2$
Tổng cộng: 26$
Giá trị sản phẩm mới
+ Giá trị của bông chuyển vào sợi: 20$