Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triể
Trang 1Câu1:Hàng hóa
là gì
Hàng hoá là sản
phẩm của lao
động có thể thoả
mãn nhu cầu nào
đó của con người
và đem trao đổi,
đem bán
Hang hóa có thể
là vô hình như
sức lao động hay
hữu hình như sắt,
thép, xi măng
Hai thuộc tính
của hang hóa
- Giá trị sử
dụng: Là công
dụng của vật
phẩm có thể đáp
ứng nhu cầu nào
đó của con người
Giá trị sử dụng
của hàng hoá do
thuộc tính tự
nhiên của vật quy
định không phụ
thuộc vào hình
thái xã hội mà nó
tồn tại Giá trị sử
dụng của hàng
hoá có đặc điểm
là giá trị sử dụng
cho người khác,
cho xã hội đồng
thời nó mang nội
dung của giá trị
trao đổi Giá trị sử
dụng chỉ được
thực hiện trong
việc sử dụng hay
tiêu dùng nó Khi
chưa tiêu dùng,
giá trị sử dụng chỉ
ở trạng thái khả
năng Để giá trị
sử dụng có khả
năng biến thành
giá trị sử dụng
hiện thực, nó phải
được tiêu dùng
Điều này nói lên
ý nghĩa quan
trọng của tiêu
dùng đối với sản
xuất
- Giá trị: Để
hiểu được giá trị
hàng hoá phải bắt
đầu từ giá trị trao
đổi Giá trị trao
đổi là tỷ lệ về số
lượng giữa 2 giá trị sử dụng khác nhau Thí dụ: 1m vải = 5kg thóc
Trong tỉ lệ đó, số lượng của những hàng hóa trao đổi với nhau, giá trị trao đổi của hàng hóa được biểu hiện ra
Nếu hai vật thể khác nhau có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có cơ
sở chung nào đó
Cái chung đó không thể là công dụng, vì công dụng của chúng hoàn toàn khác nhau Các hàng hóa khác nhau chỉ
có một thuộc tính chung làm cho chúng có thể so sánh với nhau trong khi trao đổi,
đó là các hàng hóa đều là các sản phẩm của lao động Cơ sở cho hai hàng hoá trao đổi được với nhau
là lao động xã hội hao phí vào việc sản xuất ra những hàng hóa đó
Thực chất của trao đổi hàng hóa cho nhau là trao đổi lao động ẩn giấu trong các hàng hóa đó
Như vậy, lao động hao phí
để tạo ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa là cơ sở chung của trao đổi được gọi là giá trị hàng hóa
Giá trị hàng hoá
là hao phí lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá
Nó phản ánh mối quan hệ giữa
những người sản xuất hàng hoá gắn liền với kinh tế hàng hoá Nó là một phạm trù lịch
sử Giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị Giá trị là nội dung là cơ sở của giá trị trao đổi
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả thị trường: Giá
trị thị trường, Giá trị của tiền, Cung cầu hàng hóa, Cạnh tranh
Câu2:Hàng hóa
là gì?
phân tich lượng giá trị hàng hóa Hàng hoá là sản
phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào
đó của con người
và đem trao đổi, đem bán
Hang hóa có thể
là vô hình như sức lao động hay hữu hình như sắt, thép, xi măng
Giá trị của hàng hóa là do lao
động xã hội, lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng
hóa Vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng
lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa
đó Lượng lao động tiêu hao ấy được tính bằng thời gian lao động
Lượng giá trị của hàng hóa không phải do mức hao phí lao động cá biệt hay thời gian lao động cá biệt quy định, mà nó được đo bởi thời gian lao động xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cần để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó
Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, mới quyết định đại lượng giá trị của hàng hóa ấy
+Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
Tất cả những yếu
tố ảnh hưởng tới thời gian lao động
xã hội cần thiết đều ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa Chúng
ta xem xét ba yếu
tố cơ bản: năng suất lao động, cường độ lao động và mức độ giản đơn hay phức tạp của lao động
- Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động
Nó được đo bằng lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị
Năng suất lao động tăng lên có
nghĩa là cũng trong một thời gian lao động, nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất
ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do
đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa
sẽ giảm xuống và ngược lại Như vậy, giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động
- Cường độ lao động là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động
Cường độ lao động tăng lên tức
là mức hao phí sức cơ bắp, thần kinh trong một đơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên
Nếu cường độ lao động tăng lên thì
số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sản xuất ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương ứng, vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi
Tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm không đổi
- Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hóa Theo mức độ phức tạp của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp
Lao động giản đơn là lao động
mà một người lao động bình thường không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới có thể tiến hành được
-Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo
ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên
Câu 3
Nội dung yêu cầu của quy luật
Quy luật giá trị
là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá Nó quyết định các phương pháp và các nguyên tắc đo lường phân phối, kích thìch lao động xã hội trong các điều kiện của sản xuất hàng hoá Ở đâu có sản xuất hàng hoá thì
ở đó có quy luật giá trị hoạt động
Theo quy luật giá trị việc sản xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động
xã hội cần thiết, trao đổi phải dựa trên cơ sở ngang giá
-) Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có
ba tác động sau:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau: + Thứ nhất, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động Mặt
người sản xuất hàng hóa khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy
mô sản xuất càng được mở rộng + Thứ hai, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị,
sẽ bị lỗ vốn Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác lại có thể tăng lên Còn nếu như mặt hàng nào đó giá
Trang 2cả bằng giá trị thì
người sản xuất có
thể tiếp tục sản
xuất mặt hàng
này
Như vậy, quy luật
giá trị đã tự động
điều tiết tỷ lệ
phân chia tư liệu
sản xuất và sức
lao động vào các
ngành sản xuất
khác nhau, đáp
ứng nhu cầu của
xã hội
Tác động điều tiết
lưu thông hàng
hóa của quy luật
giá trị thể hiện ở
chỗ nó thu hút
hàng hóa từ nơi
có giá cả thấp hơn
đến nơi có giá cả
cao hơn, và do đó,
góp phần làm cho
hàng hóa giữa các
vùng có sự cân
bằng nhất định
- Kích thích cải
tiến kỹ thuật, hợp
lý hoá sản xuất,
tăng năng suất lao
động, hạ giá
thành sản phẩm
Các hàng hóa
được sản xuất ra
trong những điều
kiện khác nhau,
do đó, có mức
hao phí lao động
cá biệt khác nhau,
nhưng trên thị
trường thì các
hàng hóa đều phải
được trao đổi theo
mức hao phí lao
động xã hội cần
thiết
- Phân hóa những
người sản xuất
hàng hóa thành
giàu, nghèo
Những người sản
xuất hàng hóa nào
có mức hao phí
lao động cá biệt
thấp hơn mức hao
phí lao động xã
hội cần thiết, khi
bán hàng hóa theo
mức hao phí lao
động xã hội cần
thiết (theo giá trị)
sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm
tư liệu sản xuất,
mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ
Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làm thuê
Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở
ra đời của chủ nghĩa tư bản
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa
ở nước ta hiện nay
Liên hệ tác động của quy luật giá trị Đây là một tác
dụng rất lớn của quy luật giá trị, nhờ có tác dụng này mà nền knih
tế nước ta có thể
đi đúng hướng
Hiện nay, xu hướng của nước
ta cũng như của các nước phát triển trên thế giới
là tăng các ngành dịch vụ, giảm tỷ trọng ở các ngành công nghiệp và nông nhiệp Đó cũng một phần là
do quy luật giá trị; tại vì hiện nay, đời sống của nhân dân ta đã được cải thiện, kô còn là ăn
no mặc ấm nữa
mà là ăn ngon mặc đẹp Do vậy,
sự ra đời của các ngành dịch vụ là tất yếu như là bảo hiểm ( ngành
học Bây giờ hiện các ngành kinh tế đang là tiêu điểm của các học sinh lớp 12 chứ không còn là các ngành khối kỹ thuật nữa Và quy luật giá trị còn giúp lưu thông hàng hóa điều này ta có thể thấy khá rõ vaò thời điểm hiện nay, không ít các doanh nghiệp đem hàng hóa của mình ra nước ngoài để chào hàng; qua đó có thể tìm được các ôối tác nước ngoài để làm ăn lâu dài, và tất nhiên, hàng hóa bán cho tây bao giờ cũng có rất nhiều giá trị thặng dư
"Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý
hóa ."
Đây cũng là một điều rất quan trọng để phát triển
kinh tế Thử hỏi nếu như ta không đầu tư vào máy móc kỹ thuật thì làm sao có thể cạnh tranh với các nước có nền khoa học kt phát triển như nhật, mỹ Ví
dụ như hồi xưa,
để là 1m vải, ta cần 1/10 ngày, thfi hiên jnay vói 1/10 ngày, ta có thể làm ra 100m vải Đó là nhờ thành tựu của khao học kỹ thuật Và với việc tăng năg suất lao động thì sẽ dẫn đến việc giảm lượng giá trị hàng hóa
=> giá sẽ giảm và
ta có thể bán được nhiều hàng hơn
Nhưng điều này cũng có mặt trái của nó là khi đã
có mày móc thfi những người công nhân sẽ đi đâu ? Ngyaf xưa để làm công việc này cần
10 người, nay cần
1 người, vậy 9 người kia sẽ đi đâu -> họ sẽ bị sa thải-> thất nghiệp tăng nhanh
Nhưng mặt trái của quy luật giá trị là: lựa chọn tự nhiên và phân hóa giàu nghèo
Người giàu, họ có tiền => mua tư liệu sản xuất, mở
xuất hao phí lao động cá biệt < hao phí lao động xã hội cần thiết=> bán được nhiều hàng hơn=>
giàu hơn Và
Điều này làm cho nhiều người dùng mọi cách để chiếm đoạt công
nghệ, không từg thủ đoạn triệt hạ đối phương nhằm mục đích lợi nhuận
Hiểu biết của mình còn nông cạn và là lần đầu học, mong mọi người góp ý để làm phong phú thêm bài viết này
Câu 4*Bản chất:
Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị; đồng thời, tiền tệ biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá
Bản chất của tiền
tệ được thể hiện qua các chức năng của nó
Theo C Mác tiền tệ
có 5 chức năng:
- Thước đo giá trị Tiền tệ dùng
để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá
Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải
có giá trị Vì vậy,
làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng
Để đo lường giá trị hàng hoá không
cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào
đó một cách tưởng
tượng Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá
trị của hàng hoá trong thực tế đã
có một tỷ lệ nhất định Cơ sở của tỷ
lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí
để sản xuất ra hàng hoá đó Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền
gọi là giá cả hàng hoá Do đó, giá cả
là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:
+ Giá trị hàng hoá
+ Giá trị của tiền
+ ảnh hưởng của quan hệ cung -cầu hàng hoá
Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền
tệ cũng phải được
Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ Đơn vị đó
là một trọng lượng nhất định
loại dùng làm tiền
tệ ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này
có tên gọi khác nhau Đơn vị tiền tệ
và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị
đo giá trị, tiền tệ
đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền
lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá
đó Giá trị hàng hoá
tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến
"chức năng" tiêu chuẩn giá cả của nó,
mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen
- Phương tiện lưu thông: Với
chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi
giới trong quá trình trao đổi hàng hoá Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta
tiền mặt Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi
là lưu thông hàng hoá
Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T - H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán
và hành vi mua có thể tách rời nhau
cả về thời gian và không gian Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng
Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng
Trang 3thoi, bạc nén Dần
dần nó được thay
thế bằng tiền đúc
Trong quá trình
lưu thông, tiền
đúc bị hao mòn
dần
và mất một phần
giá trị của nó
Nhưng nó vẫn
được xã hội chấp
nhận như tiền đúc
đủ
Như vậy, giá trị
thực của tiền tách
rời giá trị danh
nghĩa của nó Sở
dĩ có tình
trạng này vì tiền
làm phương tiện
lưu thông chỉ
đóng vai trò chốc
lát Người ta đổi
hàng
lấy tiền rồi lại
dùng nó để mua
hàng mà mình
cần Làm phương
tiện lưu thông,
tiền
không nhất thiết
phải có đủ giá trị
Lợi dụng tình
hình đó, khi đúc
tiền nhà nước tìm
cách giảm bớt
hàm lượng kim
loại của đơn vị
tiền tệ Giá trị
thực của tiền đúc
ngày
càng thấp so với
giá trị danh nghĩa
của nó Thực tiễn
đó dẫn đến sự ra
đời của tiền giấy
Bản thân tiền giấy
không có giá trị
mà chỉ là dấu hiệu
của giá trị và
được công nhận
trong phạm vi
- Phương tiện cất
trữ Làm phương
tiện cất trữ, tức là
tiền được rút khỏi
đi vào cất trữ Sở
dĩ tiền làm được
chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải
có đủ giá trị, tức
là tiền vàng, bạc
Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu
thông Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ
- Phương tiện thanh toán Làm
phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng
Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu
Trong hình thức giao dịch này trước
tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá Nhưng
vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông
để làm phương tiện thanh toán
Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả
nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt Mặt khác, trong việc mua
người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ Khi
hệ thống chủ nợ
và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán
gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng
lên
- Tiền tệ thế giới.
Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của
nó là vàng Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội
Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất
thông hàng hoá
Câu 5
Sức lao động là
các hoạt động của con người được
sử dụng trong sản xuất để sản xuất
ra hàng hoá hàng hoá ở đây được nhìn nhận ở nhiều hình thức:
- Có thể là các sản phẩn có thể cầm nắm như quàn áo, thức ăn, điện thoại,
- Các sản phẩm chỉ có thể nghe nhìn như: các bài hát, chương trình Tivi, các trận thi đấu thể thao
Sức lao động là năng lực làm việc của 1 người
người có sức lao động phải được tự
do về thân thể
Sức lao động chỉ
có thể xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hóa, khi nó
được bản thân người có sức lao động đem bán Để
có điều kiện này người lao động phải có quyền sở hữu sức lao động của mình, có quyền định đoạt năng lực của mình Những người nô lệ, nông
nô không có quyền tự do về thân thể, không thể đem bán sức lao động của mình
2 người lao động
bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất
Người chủ sức lao động không còn bất cứ hàng hóa nào để bán ngoài sức lao động tồn tại trong cơ thể sống của mình
Điều này chỉ xuất hiện khi người lao động không còn bất cứ thứ tư liệu sản xuất tối thiểu nào để vật hóa sức lao động của mình, thành hàng hóa
2/ Cũng giống như hàng hóa khác, hàng hóa SLĐ có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng
- Giá trị của hàng hóa SLĐ cũng bằng lượng LĐ
XH cần thiết để
sx và tái sx ra nó
Nhưng việc sx và tái sx ra SLĐ phải
đc thực hiện bằng cách tiêu dùng cho cá nhân Vì vậy, lượng hàng hóa SLĐ bằng lượng giá trị những tư liệu cần thiết về vật chất
và tinh thần để nuôi sống người công nhân và gia đình của họ cùng với chi phí đào tạo công nhân theo yêu cầu của
sx Giá trị hàng hóa SLĐ phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định
- Giá trị sử dụng của hàng hóa SLĐ là công dụng của nó để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng SLĐ của nhà TB.Khác với hàng hóa thông thường, hàng hóa SLĐ khi đc sử dụng sẽ tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó
Đó chính là nguồn gốc giá trị thặng dư
Liên hệ:
Đối với nước ta, việc phát triển thị trường sức lao động nhằm tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và quản lý mối quan hệ giữa người có sức lao động và người sử dụng lao động, từ
đó nâng cao năng suất lao động, tạo nhiều của cải vật chất cho xã hội
Từ 1993 đến nay, Nhà nước đã đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nhờ đó mức lương tối thiểu được pháp luật hóa và nâng cao theo thị trường Thu nhập của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp được cải thiện Tuy nhiên, vấn đề giá cả hàng hóa sức lao động ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, tác động trực tiếp đến đời sống của người lao động và ảnh hưởng lan toả đến mọi mặt của đời sống xã hội
Do vậy, chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại thực trạng giá cả hàng hóa sức lao động thời gian qua để từ đó
có giải pháp hữu hiệu cho thời gian tiếp theo, tạo động lực để thị trường này phát triển vững mạnh
Câu 6: trình bày phương pháp giá trị thặng dư? Tại sao nói giá trị thặng dư siêu
nghạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối ? ý nghĩa của việc nghiên cứu các vấn đề trên của nước ta hiện nay?
Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, vì vậy, các nhà cittư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư Khái quát có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng
dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối
a) Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân Giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng cách kéo dài ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng dư gọi là giá trị thặng
dư tuyệt đối Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, nhưng ngày
Trang 4lao động có
những giới hạn
nhất định Giới
hạn trên của ngày
lao động do thể
chất và tinh thần
của người lao
động quyết định
Vì công nhân phải
có thời gian ăn,
ngủ, nghỉ ngơi,
giải trí để phục
hồi sức khoẻ
Việc kéo dài ngày
lao động còn vấp
phải sự phản
kháng của giai
cấp công nhân
Còn giới hạn dưới
của ngày lao động
không thể bằng
thời gian lao động
tất yếu, tức là thời
gian lao động
thặng dư bằng
không Như vậy,
về mặt kinh tế,
ngày lao động
phải dài hơn thời
gian lao động tất
yếu, nhưng không
thể vượt quá giới
hạn về thể chất và
tinh thần của
người lao động
Trong phạm vi
giới hạn nói trên,
độ dài của ngày
lao động là một
đại lượng không
cố định và có
nhiều mức khác
nhau Độ dài cụ
thể của ngày lao
động do cuộc đấu
tranh giữa giai
cấp công nhân và
giai cấp tư sản
trên cơ sở tương
quan lực lượng
quyết định Cuộc
đấu tranh của giai
cấp công nhân đòi
ngày lao động
tiêu chuẩn, ngày
làm 8 giờ đã kéo
dài hàng thế kỷ
b) Sản xuất giá trị
thặng dư tương
đối
Việc kéo dài ngày
lao động bị giới
hạn về thể chất và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân
Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản
phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, bóc lột giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư được tạo ra bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện độ dài của ngày lao động không đổi, nhờ đó kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư, được gọi là giá trị thặng
dư tương đối
Làm thế nào để
có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu?
Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động
Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm
vi tiêu dùng của công nhân Điều
đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động
trong các ngành sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân hay tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra
tư liệu sản xuất để sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt đó
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng
dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi
kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu
Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã trải qua ba giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ công
và đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà
tư bản sử dụng kết hợp với nhau
để nâng cao trình
độ bóc lột công nhân làm thuê trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản
Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dụng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân, mà trái lại tạo điều kiện để
tăng cường độ lao động Ngày nay, việc tự động hoá sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp
Giá trị thặng dư siêu ngạch Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá, nhờ đó thu được giá trị thặng dư siêu ngạch
Xét từng trường hợp, thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, xuất hiện và mất
đi Nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên
Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà
tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng
C Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng
của giá trị thặng
dư tương đối, vì
giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên
cơ sở tăng năng suất lao động (mặc dù một bên
là dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt, còn một bên dựa vào tăng năng suất lao động xã hội)
Sự khác nhau giữa giá trị thặng
dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối còn thể hiện ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà
tư bản thu được
Xét về mặt đó, nó thể hiện quan hệ bóc lột của toàn
bộ giai cấp tư sản đối với toàn bộ giai cấp công nhân làm thuê
Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ do một số các nhà tư bản có kỹ thuật tiên tiến thu được
Xét về mặt đó, nó không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê,
mà còn trực tiếp biểu hiện mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà
tư bản
Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng
dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động và
tổ chức sản xuất
để tăng năng suất lao động, giảm
giá trị của hàng hoá
Câu 8: trình bày quá trình hình thành lợi nhuận bình quân, giá cả sản xuất và sự chuyển hóa giá trị hàng hóa thành giá cả sản suất
Trong xã hội có nhiều ngành sản xuất khác nhau, với những điều kiện sản xuất
nhau, lợi nhuận thu được và tỷ suất lợi nhuận cũng sẽ không giống nhau Điều này dẫn đến việc cạnh tranh giữa các ngành Đó là
sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp
tư bản kinh doanh trong các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu
tư có lợi hơn
Chính vì điều này
mà dẫn đến việc các nhà tư bản di chuyển từ các ngành lợi nhuận ít sang những ngành
có lợi nhuận cao hơn
Sự tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác làm thay đổi tỷ suất lợi nhuận ngành
và dẫn đến hình thành tỷ suất lợi
ngang nhau Đó là
tỷ suất lợi nhuận chung hay tỷ suất lợi nhuận bình quân
Tỷ suất lợi nhuận bình quân là “con
số trung bình” của tất cả các tỷ suất lợi nhuận khác nhau hay là tỷ số phần trăm giữa
tổng giá trị thặng
dư và tổng tư bản XH
Khi hình thành tỷ xuất lợi nhuận bình quân, ta có thể tính được lợi nhuận bình quân của từng ngành Đây là lợi nhuận bằng nhau của tư bản bằng nhau đầu tư vào những ngành khác nhau
Nó chính là lợi nhuận mà nhà tư bản thu được căn
cứ vào tổng tư bản đầu tư, nhân với tỷ suất lợi nhuận bình quân, không quan tâm đến cấu thành hữu
cơ của nó Sự xuất hiện của lợi nhuận bình quân
đã biến quy luật giá trị thặng dư trở thành quy luật lợi nhuận bình quân (Tổng lợi nhuận bình quân bằng tổng giá trị
2 Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
đã làm giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất Giá cả sản xuất là giá cả bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất Giá cả sản xuất là phàm trù kinh tế tương đương với giá cả,
là cơ sở của giá cả trên thị trường, nó điều tiết giá cả thị trường, giá cả thị
quanh giá cả sản xuất Lúc này, quy luật giá trị đã biểu hiện ra thành
Trang 5quy luật giá cả
sản xuất (Tổng
giá cả sản xuất
bằng tổng giá trị)
Câu 9 trình bày
đặc điểm kinh tế
cơ bản của chủ
nghĩa tư bản độc
quyền:1 Sự tập
trung sản xuất và
các tổ chức độc
quyền
a Sự tập trung
sản xuất: là quá
trình thay thế các
xí nghiệp nhỏ, bố
trí phân tán bằng
cách xí nghiệp
lớn có đông công
nhân và làm ra
một khốI lượng
sản phẩm lớn
Chính sự tích tụ
và tập trung tư
bản đã dẫn tớI sự
tích tụ và tập
trung sản xuất
Nguyên nhân cụ
thể:
+ Đầu thế kỉ 20
trong các nước tư
bản sự cạnh tranh
diễn ra hết sức
gay gắt dẫn đến:
- 1 số nhà tư bản
có ưu thế về vốn
và kĩ thuật chiến
thắng và thôn tính
các xí nghiệp nhỏ
- Xuất hiện xu thế
thành lập các
công ty cổ phần
+ Đầu thế kỉ 20
do KHKT phát
triển nên đòi hỏI
vốn lớn để ứng
dụng được vào
+ Trong khủng
hoảng kinh tế chỉ
những xí nghiệp
lớn đủ khả năng
+ Sự phát triển hệ
thống tín dụng tạo
điều kiện cho tập
trung sản xuất
Sự tập trung sản
xuất phát triển
đến một mức độ
nhất định sẽ làm hình thành các tổ chức độc quyền – liên minh giữa các nhà tư bản để nắm phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ 1 số loạI hàng hóa nào đó nhằm thu lợI
Các hình thức tập trung sản xuất:
công ti cổ phần và
xí nghiệp liên hiệp
b Các tổ chức
Các hình thức tổ chức độc quyền
cơ bản: cartel, syndicate, trust, consortium Độc quyền và cạnh tranh là 2 mặt trái ngược nhau song ở các nước đế quốc khi xuất hiện các tổ chức độc quyền thì không thủ tiêu được cạnh tranh
mà lạI làm cạnh tranh gay gắt hơn
- Sự tồn tạI của các tổ chức độc quyền vẫn dựa trên cơ sở của chế
độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu
- Ở các nước đế quốc vẫn còn tồn tạI các xí nghiệp nhỏ chưa bị thôn tính vào các tổ chức độc quyền
- Trong các nước
đế quốc vẫn còn sản xuất hàng hóa của nông dân và thợ thủ công
3 loạI cạnh tranh trong chủ nghĩa
đế quốc: giữa các
tổ chức độc quyền vớI nhau, giữa các tổ chức độc
quyền vớI các xí nghiệp ngoài độc quyền, và ngay trong nộI bộ từng
tổ chức độc quyền
2 Tư bản tài chính và đầu sỏ
a Vai trò mới của
tư bản ngân hàng Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, khi trong công nghiệp diễn ra tích tụ và tập trung sản xuất thì trong ngân hàng cũng có tích
tụ và tập trung tư bản, làm hình thành nên các ngân hàng lớn cạnh tranh vớI nhau – các tổ chức độc quyền trong ngân hàng
Do nắm được lượng tư bản tiền
tệ lớn, các ngân hàng có khả năng chi phốI nhiều họat động kinh
b Tư bản tài chính
Tư bản tài chính
là một loạI tư bản được hình thành trên cơ sở sự xâm nhập lẫn nhau giữa tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng Tư bản ngân hàng vớI vai trò và địa
vị mớI của mình,
đã cử ngườI tham gia vào các tổ chức độc quyền công nghiệp để theo dõi việc sử dụng vốn vay Để hạn chế sự chi phốI của ngân hàng, các nhà tư bản công nghiệp cũng can thiệp vào họat động của
tư bản ngân hàng bằng cách mua cổ phiếu hoặc thành lập ngân hàng cho riêng mình 2 quá trình thâm nhập
ấy gắn kết vớI nhau, làm cho tư bản công nghiệp
và tư bản ngân hàng dần trở nên đồng nhất vớI nhau, hình thành nên tư bản tài chính Các nhóm
tư bản tài chính
có tiềm lực đủ mạnh trở thành các đầu sỏ tài chính ( hay còn gọI là tài phiệt ), thực hiện thao túng đờI sống kinh tê- chính trị
ở các nước tư bản
3 Xuất khẩu tư bản
a Xuất khẩu hàng hóa
Xuất khẩu hàng hóa là thủ đoạn để các nước tư bản tiến hành bóc lột các nước chậm phát triển thông qua trao đổI không ngang giá
b Xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản cũng là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhưng được tiến hành dướI hình thức đầu tư
tư bản ra nước ngoài để bóc lột giá trị thặng dư và một số nguồn lợI khác ở các nước nhập khẩu tư bản
Đây thực chất là công cụ để các tập đoàn tư bản bóc lột các nước chậm phát triển
Xuất khẩu tư bản
là một tất yếu trong thờI kì chủ nghĩa tư bản độc
Đầu thế kỉ 20 một
số nước tư bản đã tích lũy được một lượng vốn khổng
lồ mà nếu đầu tư trong nước thì sẽ thu được lợI nhuận ít hơn so vớI nếu đầu tư ở
Các nước lạc hậu
về kinh tế thì thiếu vốn nhưng giá nhân công thấp và nguyên liệu lạI dồI dào Các nước tương đốI phát triển có nhu cầu về vốn để đổI mớI trang thiết bị kĩ thuật Những hình thức xuất khẩu tư bản:
- Xuất khẩu tư bản sản xuất:
nước xuất khẩu tư bản đầu tư vốn để xây mớI hoặc mua lạI xí nghiệp, đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng
- Xuất khẩu tư bản cho vay:
nước xuất khẩu tư bản cho chính phủ hoặc tư nhân vay tiền hoặc hàng hóa, vật tư
4 Sự phân chia thế giớI về kinh tế Trong thờI kì tư bản tự do cạnh tranh, lượng hàng hóa sản xuất ra chưa lớn Song đến thờI chủ nghĩa tư bản độc quyền, lượng hàng hóa được sản xuất đã tăng chóng mặt, làm nảy sinh nhu cầu
về thị trường và nguyên liệu ngoài nước Mặt khác, hàng hóa đem bán
ở nước ngoài thu được lợI nhuận lớn hơn so vớI hàng hóa đem bán
trong nước Do tầm quan trọng của thị trường bên ngoài, giữa các nước đế quốc diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt để giành giật thị trường thế giớI, hình thành nên những thỏa thuận
có tính chất lũng đoạn giữa các tổ chức độc quyền trong việc sản xuất và tiêu thụ một số loạI hàng hóa, tạo nên những tổ chức độc quyền quốc tế
- liên minh giữa các tổ chức độc quyền lớn của các nước để phân chia thị trường thế giớI, độc chiếm nguồn nguyên liệu, quy định quy
mô sản xuất của từng tổ chức, định
ra giá cả độc quyền nhằm thu lợI nhuận độc
5 Sự phân chia thế giớI về lãnh thổ
Sự phân chia thế giớI về mặt lãnh thổ là hệ quả tất yếu của sự phân chia thế giớI về kinh tế, biểu hiện
ở việc các nước
đế quốc xâm chiếm và thuộc địa hóa những nước chậm phát triển hòng độc chiếm nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ hàng hóa và địa điểm lập căn cứ
Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản ở các nước nói chung
diễn ra không đều; có những nước tư bản ra đờI sau nhưng kinh tế lạI phát triển vượt bậc, muốn đấu tranh
để phân chia lạI thế giới Phương pháp phổ biến là chiến tranh
Câu 10 nguyên nhân hình thành và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Nguyên nhân
Thứ nhất, tích tụ
và tập trung tư bản càng lớn thì tích tụ và tập trung tư bản càng cao, do đó đẻ ra những cơ cấu kinh tế to lớn đòi hỏi một sự điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối, một sư kế hoạch hóa tập trung từ một trung tâm Nói cách khác sự phát triển hơn nữa của trình
độ xã hội lực lượng sản xuất đã đến yêu cầu khách quan là nhà nước phải đại biểu cho toàn bộ
xã hội quản lý nền kinh tế Thứ hai, sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một số ngành
mà các tổ chức độc quyền tư bản không thể hoặc không muốn kinh doanh đầu tư vì vốn đầu tư lớn, thu hồi vốbn chậm, ít lợi nhuận, nhất là các ngành thuộc kết cấu hạ tầng, GTVT…
Trang 6Thứ ba, sự thống
trị của độc quyền
đã làm sâu sắc
thêm sự đối
kháng giữa giai
cấp tư sản với gia
cấp vô sản và
nhân dân lao
động Nhà nước
phải có những
chính sách xoa
dịu những mâu
thuẩn đó, như trợ
cấp thất nghiệp,
điều tiết thu nhập
quốc dân, phá
triển phúc lợi xã
hội…
Thứ tư, cùng với
xu thế quốc tế hóa
đời sống kinh tế,
sự bành trướng
của các liên minh
độc quyền quốc tế
vẫn vấp phải
những hàng rào
quốc gia dân tộc
và xung đốt lợi
ích với các đối
thủ trên thị
trường Tình hình
đó đòi hỏi phải có
sự điều tiết các
quan hệ chính trị
và quan hệ kinh
tế; nhà nước tư
sản có vai trò
quan trọng trong
việc giải quyết
các quan hệ đó
Bản chất
Chủ nghĩa tư bản
độc quyền nhà
nước là nấc thang
phát triển của chủ
nghĩa tư bản độc
quyền, là sự kết
hợp sức mạnh của
các tổ chức độc
quyền tư nhân với
sức mạnh của nhà
nước tư bản thành
một thiết chế và
thể chế thống nhất
nhằm phục vụ lợi
ích của các tổ
chức độc quyền
và cứu nguy cho
chủ nghĩa tư bản
Ở đây nhà nước
tư bản xuất hiện như một chủ sở hữu tư bản, một nhà tư bản xã hội, đồng thời lại là người quản lý xã hội bằng pháp luật với bộ máy bạo lực to lớn
Như vậy chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
là một quan hệ kinh tế, chính trị,
xã hội, chứ không chỉ là một chính sách trong giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản
Câu 11:tại sao nói: sản xuất giá trị thặng dư -quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản.
Nêu sự hoạt động của quy luật giá trị thặng
dư trong giai đoạn chủ nghĩ tư bản độc quyền
Giá trị thặng dư là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tế chính trị Mác -Lênin Các Mác
đã nghiên cứu và đưa ra một số công thức tính toán xung quanh khái niệm này trong các tác phẩm viết về kinh
tế chính trị của ông Nó được sử dụng để khẳng định lao động thặng dư của công nhân bị các nhà tư bản lấy đi, là nền tảng cho sự tích lũy tư bản
Học thuyết về giá trị thặng dư Học thuyết giá trị thặng dư là phát minh quan trọng
thứ hai sau biện luận duy vật lịch
sử của Marx Nội dung chính của học thuyết phát biểu rằng sản xuất
và chiếm hữu giá trị thặng dư là hình thức đặc biệt trong chủ nghĩa tư bản về sản xuất
và chiếm hữu sản phẩm thặng dư, nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt động của mình, đối với sản phẩm từ hoạt động đó, đối với chính mình, đối với người khác
Trong học thuyết này Marx đưa ra công thức T-H-T’
(tiền-hàng hóa-tiền) để minh họa cho sự biến đổi của vốn (tư bản) dạng tiền sang dạng hàng hóa và cuối cùng quay trở lại dạng tiền ở mức cao hơn mức ban đầu một lượng ΔT (nghĩaT (nghĩa
là T’=T+ ΔT (nghĩaT)
Bởi tất cả giá trị được tạo thành trong quá trình biến đổi thông qua sản xuất hàng hóa là do lao
Thuyết giá trị về lao động), mà chủ yếu là lao động của người làm thuê, nên giá trị thặng dư ΔT (nghĩaT cũng
là giá trị do lao động kết tinh
Tuy nhiên, giá trị này không được chia đều cho những người trực tiếp làm ra nó, mà thuộc quyền sở hữu của chủ tư bản
Khác với công thức H-T-H (hàng hóa-tiền-hàng hóa) phản ánh chức năng trung gian của tiền trong trao đổi, công thức T-H-T’
phản ánh sự luân chuyển và tự phát triển của tư bản
Tư bản dưới dạng tiền trở thành một chủ thể tự thân, đối lập với sức lao động, bóc lột sức lao động để nuôi lớn mình lên
Marx chỉ ra rằng
đó là quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Theo công thức
đã dẫn thì tư bản
có khả năng lớn lên vô giới hạn
Tuy nhiên Marx cũng chỉ ra giới hạn nhất định của phát triển tư bản
do chi phối của quy luật lợi nhuận trung bình Lợi nhuận trung bình xảy ra do sự cạnh tranh tư bản giữa các ngành kinh tế khác nhau Mặc khác, do khả năng chi trả trong thị trường cho nhu cầu tiêu dùng là
có hạn, nên điều
đó cũng kìm hãm tốc độ vận động của tư bản
Hình thức cao nhất của sự phát triển tư bản là cho vay lãi Chủ nhân của tư bản vay lãi
có cảm giác rằng tiền đẻ ra tiền và công thức vận động của tư bản biến thành T-T’
Định nghĩa giá trị
Giá trị thặng dư được Marx xem
là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và số tiền nhà tư bản bỏ
ra Trong quá trình kinh doanh, nhà tư bản bỏ ra
tư bản dưới hình thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra
tư bản để thuê mướn lao động gọi là tư bản khả biến Tuy nhiên, người lao động đã đưa vào hàng hóa một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà
tư bản bỏ ra Phần
dư ra đó gọi là giá trị thặng dư
Có thể lấy một ví
dụ như sau để giải thích: Giả sử một người lao động trong một giờ làm
ra được giá trị sản phẩm là 1000 đồng Đến giờ thứ hai trở đi, trên cơ
sở sức lao động
đã bỏ ra ở giờ thứ nhất, người lao động đó sẽ làm ra được 1100 đồng
Số tiền chênh lệch
đó chính là giá trị thặng dư sức lao động
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị
* Năng suất lao động
* Thời gian lao động
* Cường độ lao động
* Công nghệ sản xuất
* Thiết bị, máy móc
Câu10
Câu 12 sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?
Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lich sử của giai cấp công nhân?
Trong thời đại xã hội nào, những người lao động sản xuất trong các ngành sản xuất công nghiệp, dịch
vụ công nghiệp hay những người công nhân đều có vai trò sáng tạo chân chính ra lịch
sử và là những người giữ vai trò quyết định sáng tạo công cụ sản xuất, gía trị thặng
dư và chính trị xã hội Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nghiên cứu một cách toàn diện về các quy luật chính trị xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của các hình thái kinh tế
xã hội cộng sản chủ nghĩa Trong
đó, chủ nghĩa xã hội khoa học đã tập chung nghiên
nguyên tắc căn bản, những điều kiện, con đường, hình thức, phương pháp đấu tranh của giai cấp công nhân để thực hiện chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội
Từ vai trò to lớn của giai cấp công nhân, việc khẳng định sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân có ý
nghĩa quan trọng
cả về lý luận lẫn
Trước sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên xô, nhiều người đã bộc lộ
sự dao động và hoài nghi về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Bọn cơ hội xét lại và các thế lực chống cộng có
cơ hội mới để phủ nhận sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và chủ nghĩa xã hội Trong giai đoạn mới hiện nay, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn
ra trên toàn thế giới, chủ nghĩa xã hội đang ở trong thời kỳ thoái trào, thời đại ngày nay vẫn đang là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới còn đang
có nhiều biến động, tiêu cực thì vấn đề làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được đặt ra trở nên bức thiết hơn bao giờ hết, cả trên hai phương diện: lý luận và
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một phạm trù cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội khoa học, do
đó nó đã được
-Ph.Ăngghen và Lênin nghiên cứu
và phát triển hết
Trang 7sức hoàn thiện
trong trong quá
trình phát triển
của lịch sử thế
giới Xét trên
phương diện lịch
sử, những nhận
định và lý luận
của các ông về
giai cấp công
nhân có tác dụng
to lớn và đúng
đắn.Còn đối với
nước ta, vấn đề
trên được Đảng ta
rất chú trọng Vì
thế, sứ mệnh lịch
sử của giai cấp
công nhân không
chỉ thể hiện rõ
trong các văn kiện
đại hội đại biểu
toàn quốc, mà đây
còn là một trong
những đề tài
nghiên cứu khoa
học của nhiều nhà
lý luận, nhà
nghiên cứu lịch
sử, và của nhiều
thế hệ công nhân,
Sự tác động của
sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công
nhân không chỉ
ảnh hưởng tới sự
chuyển biến của
lịch sử thế giới là
thay đổi từ hình
thái kinh tế này
sang hình thái
kinh tế khác, thay
đổi từ chế độ kinh
tế này sang chế
độ kinh tế khác
mà còn làm thay
đổi tình hình kinh
tế chính trị xã hội
trên toàn thế giới,
nó tác động tới
quá trình sản xuất
cụ thể, tới bộ mặt
phát triển của thế
giới
Như vậy, vấn đề
đặt ra là: sứ mệnh
lịch sử của giai
cấp công nhân là
gì? Nội dung,
điều kiện khách
quan quy định là
gì? Trên phương diện lý luận và thực tiễn, nó được thể hiện ra sao?
Và để củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp công nhân cần phải tiến hành những biện pháp gì?
Diều kiện lịch
sử Luận thuyết về
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã được C
Mác và Ph Ăng ghen trình bày sâu sắc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Trong tác phẩm này các ông đã chỉ rõ các điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
- Do địa vị kinh tế
- xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản
Và, với tính cách như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến
bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo
xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
- Giai cấp công nhân, con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến
bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh
Bị giai cấp tư sản
áp bức, bóc lột nặng nề, họ là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét
về bản chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ
áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa
Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa
Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích
và được cả thế giới về mình
Địa vị kinh tế
-xã hội khách quan không chỉ khiến cho giai cấp công nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để nhất
mà còn tạo cho họ khả năng làm việc
đó Đó là khả năng đoàn kết thống nhất giai cấp, khả năng đạt tới sự giác ngộ về địa vị lịch sử của khả năng hành động chính trị để từng bước đạt mục tiêu cách mạng Đó là khả năng đoàn kết các giai cấp khác trong cuộc đấu tranh chống tư bản Đó là khả năng đi đầu trong cuộc đấu tranh của toàn thể dân lao động và của dân tộc vì sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Đó là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp
vô sản và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế theo chủ nghĩa quốc tế vô sản
Lịch sử thế giới
đã chứng minh những kết luận C
Mác, Ph ăngghen
và V.I Lênin về
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là đúng đắn
Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm hoàn thành
sứ mệnh lịch sử của mình không phải diễn ra một cách bằng phẳng, thuận buồm xuôi gió
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tuy đang đứng trước những thử thách hết sức nặng nề, nhưng xem xét toàn cảnh của sự phát triển xã hội, giai cấp công nhân, lực lượng sản xuất tiến bộ vẫn đang chuẩn bị những tiền đề khách quan cho thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình dù có trải qua những bước thăng trầm, quanh
co, nhưng nó vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật khách quan của
Đúng là ở những nước tư bản phát triển, đời sống của một bộ phận không nhỏ trong giai cấp công nhân đã được cải thiện, có thu nhập cao; một bộ phận công nhân ở các
nước trên đã có mức sống "trung lưu hóa", song điều đó không có nghĩa là công nhân ở các nước
ấy không còn bị bóc lột hoặc bị bóc lột không
Một thực tế đã, đang và còn tồn tại ngày càng sâu sắc ở các nước tư bản phát triển, đó
là sự bất công, bất bình đẳng và thu nhập càng cách xa giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và quần chúng lao động Dù có cố gắng tìm cách
"thích nghi" và mọi biện pháp xoa dịu nhưng giai cấp tư 35 sản không thể khắc phục được mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản Thực tế, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vẫn diễn ra
ở các nước tư bản chủ nghĩa dưới nhiều hình thức phong phú, với những nội dung khác
Câu 14 cách mạng xã họi chủ nghĩa là gì?
Trinh` bay` mục tiêu động lực và nội dung của CMXHCN
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng nhằm thay thế chế
độ cũ, nhất là chế
độ tư bản chủ nghĩa, bằng chế
độ xã hội chủ nghĩa, trong cuộc cách mạng đó, giai cấp công
nhân là người lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân lao động khác xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ,
Theo nghĩa hẹp:
cách mạng xã hội chủ nghĩa được hiểu là một cuộc cách mạng chính trị được kết thúc bằng việc giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động giành được chính quyền, thiết lập nên nhà nước chuyên chính vô sản- nhà nước của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân
Theo nghĩa rộng:
cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình cải biến một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa,
tư tưởng, v.v để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng
là chủ nghĩa cộng sản Như vậy, theo nghĩa rộng, cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa bao gồm cả việc
quyền về tay giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và cả quá trình giai cấp công nhân cùng với quần chúng nhân dân lao động tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới trên tất
cả các lĩnh vực đời sống xã hội, tới khi xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì
cuộc cách mạng này mới kết thúc
1 Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Cách mạng dân chủ tư sản với khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái
đã tập hợp quần chúng nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh lật
đổ giai cấp quí tộc, phong kiến Nhưng khi giai cấp tư sản giành
quyền, thì mọi quyền tự do, dân chủ của quần
không được tôn trọng Tự do trong chế độ tư bản chủ nghĩa là
tự do bóc lột của giai cấp tư sản, tự
do bán sức lao động của người công nhân; tự do bóc lột của nước giàu với nước nghèo, tự do thống trị của nước lớn với nước nhỏ, v.v
Giải phóng con người, giải phóng
xã hội là mục tiêu của giai cấp công nhân, của cách mạng xã hội chủ nghĩa, cho nên có thể nói chủ nghĩa
xã hội mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc Chủ nghĩa xã hội không chỉ dừng lại ở ý thức, ở khẩu hiệu giải phóng con người,
mà từng bước thực hiện việc giải phóng con người "trên thực
tế, biến con người
từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc tự
Trang 8do", tạo nên một
thể liên hiệp
"trong đó sự phát
triển tự do của
mỗi người là điều
kiện cho sự phát
triển tự do của tất
cả mọi người"1
Khi chúng ta nói
mục tiêu là cái
đích cần đạt tới,
do vậy, những
mục tiêu khả thi
nêu trên từng
bước biến thành
hiện thực thông
qua quá trìnhlao
động nhiệt tình
của quần chúng
nhân dân lao
động, thông qua
những biện pháp
tổ chức xã hội
một cách khoa
học trên tất cả các
lĩnh vực đời sống
xã hội của nhà
nước xã hội chủ
nghĩa, dưới sự
lãnh đạo của đảng
cộng sản
Mục tiêu giai
đoạn thứ nhất của
cách mạng xã hội
chủ nghĩa là giành
lấy chính quyền
về tay giai cấp
công nhân và
nhân dân lao
động
Mục tiêu giai
đoạn thứ hai của
cách mạng xã hội
chủ nghĩa là "xoá
bỏ mọi chế độ
người bóc lột
người nhằm đưa
lại đời sống ấm
no cho toàn
dân"2 Khi mà
"xoá bỏ tình trạng
người bóc lột
người thì tình
trạng dân tộc này
bóc lột dân tộc
khác cũng sẽ bị
xoá bỏ"3
2 Nội dung của
cách mạng xã
hội chủ nghĩa
Cách mạng xã hội
chủ nghĩa được
tiến hành trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Trên lĩnh vực chính trị: đưa quần chúng nhân dân lao động từ địa vị nô lệ, làm thuê, bị áp bức, bóc lột trở thành người làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội, bằng lao động sản xuất, bằng cuộc đấu tranh xoá bỏ những cái xấu của
xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
về mọi mặt làm cho xã hội ngày càng phát triển, mức sống của nhân dân ngày càng nâng lên
Muốn thực hiện được những nội dung nêu trên, giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, dùng bạo lực cách mạng đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản,
"giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải
tự vươn lên thành giai cấp dân tộc"1
Bước tiếp theo, giai cấp công nhân phải không ngừng nâng cao trình độ tri thức
về mọi mặt cho quần chúng nhân dân lao động, tạo
ra những điều kiện cần thiết để ngày càng mở rộng dân chủ cho nhân dân, thu hút quần chúng nhân dân lao động tham gia vào công
việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, làm cho nhà nước thực sự là của dân, do dân,
vì dân
Quá trình xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, quá trình nhân dân thực hiện quyền làm chủ về chính trị cũng là quá trình đấu tranh gay go quyết liệt giữa cái
cũ và cái mới, giữa cá nhân và tập thể, giữa chủ nghĩa cách mạng
và phản cách mạng, v.v
Trên lĩnh vực kinh tế: những cuộc cách mạng trước đây về thực chất là cách mạng chính trị Chúng kết thúc bằng việc lật đổ ách thống trị của giai cấp này, thay thế bằng
sự thống trị của giai cấp khác
Cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa, thực chất, là có tính chất kinh tế
Việc giành được chính quyền về tay giai cấp công nhân, nhân dân lao động mới là bước đầu Nhiệm
vụ trọng tâm, có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa là phải phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao năng suấtlao động, cải thiện đời sống nhân dân
Cách mạng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế, trước hết, phải thay đổi vị trí, vai trò của người lao
động đối với tư liệu sản xuất, thay chế độ chiếm hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa bằng chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới những hình thức thích hợp;
thực hiện những biện pháp cần thiết gắn ngườilao động với tư liệu sản xuất
Trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động ngày càng tăng cao, từng bước cải thiện đời sống nhân dân lao động, nâng cao chất lượng sức khoẻ, năng lực của người lao động Mặt khác, dưới chủ nghĩa xã hội, tìm mọi cách phát huy tính tích cực xã hội, khả năng sáng tạo của người lao động để ngày càng nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công tác làm cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển góp phần chiến thắng chủ nghĩa
tư bản
2 Dưới chủ nghĩa
xã hội, có điều kiện đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo
ra nhiều của cải
xã hội phục vụ quần chúng nhân dân lao động, vì
có sự thống nhất
về lợi ích giữa cá nhân, tập thể và
xã hội
Chủ nghĩa xã hội thực hiện phân phối theo lao động, do vậy,
năng suất lao động, hiệu quả công tác là thước
đo đánh giá sự đóng góp của mỗi người cho xã hội
Năng suất lao động, hiệu suất công tác là biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước, ý thức giai cấp, ý thức dân tộc của mỗi người ở trong
xã hội
Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá:
Trong các xã hội trước đây, giai cấp bóc lột nắm
tư liệu sản xuất vật chất, họ cũng nắm luôn công cụ thống trị về mặt tinh thần Dưới chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và quần
dânlao động đã là những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, do vậy, cũng là những sáng tạo ra những giá trị tinh thần của xã hội
Ngườilao động là người sáng tạo, làm phong phú thêm những giá trị văn hoá tinh thần của xã hội, đồng thời cũng là
hưởng thụ những giá trị văn hoá tinh thần đó
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc
và nâng cao các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tiếp thu các giá trị văn hoá tiên tiến của thời đại, cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hoá thực hiện việc giải phóng những
ngườilao động về mặt tinh thần thông qua việc xây dựng từng bước thế giới quan và nhân sinh quan mới cho người lao động, hình thành những con người mới xã hội chủ nghĩa, giàu lòng yêu nước, thương dân,
có bản lĩnh chính trị, nhân văn, nhân đạo, có hiểu biết và biết giải quyết đúng đắn mốiquan hệ cá nhân, gia đình và
xã hội , có năng lực làm chủ xã hội
Cách mạng xã hội chủ nghĩa diễn ra đồng thời trên các lĩnh vực và các lĩnh vực đó có quan hệ mật thiết, tác động, thúc đẩy lẫn nhau
Nhìn chung, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình cải biến toàn diện xã hội cũ thành xã hội mới, trong đó công cuộc cải tạo kết hợp chặt chẽ với công cuộc xây dựng mà xây dựng là chủ yếu
Cải tạo đóng vai trò như một phương tiện phục
vụ cho mục tiêu xây dựng xã hội mới, ngược lại, công cuộc xây dựng xã hội mới tạo ra những điều kiện có ý nghĩa quyết định để triển khai công cuộc cải tạo
3 Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa
"Tất cả những phong trào lịch
sử, từ trước đến
nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều mưu lợi ích cho thiểu số Phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại
đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số"1
Cách mạng xã hội chủ nghĩa với mục đích giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động ra khỏi tình trạng áp bức bóc lột, do vậy, thu hút được
sự tham gia của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Giai cấp công nhân ngày càng tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng, ngày càng giác ngộ về lợi ích giai cấp của mình thông qua
sự lãnh đạo của đảng cộng sản, cho nên là động lực cơ bản, chủ yếu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Vai trò động lực và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân là yếu tố hàng đầu bảo đảm cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng, khi nào và ở đâu phong trào công nhân vững mạnh, sự lãnh đạo của giai cấp công nhân sáng suốt thì cách mạng thắng lợi, những lực lượng phản động quốc tế bị đẩy lùi
ở đâu và khi nào phong trào công
Trang 9nhân suy yếu, sự
lãnh đạo của giai
cấp công nhân
giảm sút thì
phong trào cách
mạng sẽ gặp khó
khăn
Giai cấp nông dân
có nhiều lợi ích
cơ bản thống nhất
với lợi ích của
giai cấp công
nhân, do vậy, giai
cấp này trở thành
động lực cách
mạng to lớn trong
cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa
Trong quá trình
đấu tranh giành
chính quyền, giai
cấp công nhân chỉ
giành thắng lợi
khi giai cấp nông
dân đitheo giai
cấp công nhân,
làm cho sức mạnh
của cách mạng
tăng lên Trước
đây, C Mác đã
chỉ ra, nếu giai
cấp công nhân
không thực hiện
được bài đồng ca
cách mạng với
giai cấp nông dân
thì bài đơn ca của
giai cấp công
nhân sẽ trở thành
bài ai điếu
Trong quá trình
xây dựng chủ
nghĩa xã hội cũng
vậy, giai cấp công
nhân chỉ có thể
hoàn thành được
sứ mệnh lịch sử
khi đại đa số giai
cấp nông dân
đitheo giai cấp
công nhân, cùng
giai cấp công
nhân xây dựng xã
hội mới ngày
càng tốt đẹp trên
tất cả các lĩnh vực
đời sống xã hội
Sự tham gia đông
đảo của giai cấp
nông dân vào
cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa
là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo của đảng, là cơ sở xây dựng chính quyền nhà nước vững mạnh, xây dựng một xã hội quyền lực thuộc
về nhân dân Giai cấp nông dân là lực lượngquan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước, cùng với giai cấp công nhân xây dựng nền kinh tế ngày càng phát triển - điều kiện đảm bảo cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản
3
Trong thời đại khoa học công nghệ, lượng giá trị lao động chất xám ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong sản phẩm hàng hoá, thì vai trò động lực phát triển xã hội của trí thức lại càng cao
Ngày nay, không một sản phẩm nào
nghiệp, trong nông nghiệp lại không gắn với khoa học công nghệ
Vai trò trí thức ngày càng tăng trong xã hội Trí thức ngày càng có
ý nghĩa to lớn với
sự phát triển đất nước, nhưng trí thức không bao giờ trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng, vì họ không đại biểu cho bất cứ một phương thức sản xuất nào, không
có hệ tư tưởng độc lập Trí thức phục vụ cho giai
cấp nào thì mang
ý thức hệ của giai cấp đó Trí thức trong cách mạng
xã hội chủ nghĩa thì theo ý thức hệ của giai cấp công nhân - chủ nghĩa Mác-Lênin
Báo cáo tổng kết
20 năm đổi mới (1986-2006) của Đảng đã chỉ rõ:
Để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phải tạo lập và phát huy các động lực của nó, có như vậy mới giải phóng được lực lượng sản xuất, giải phóng con người
- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Đây là nguồn sức mạnh
và là động lực chủ yếu bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
- Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới
- Kết hợp hài hoà lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, quan tâm lợi ích thiết thân của con người
- Trong sự nghiệp đổi mới, cần quan tâm tới các động lực khác rất quan trọng, như phát triển văn hoá, xây dựng con người, thi đua xã hội chủ nghĩa, kể cả
động lực tinh thần (tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội,
ý chí vươn lên, tự lực tự cường, khoa học - công nghệ ) Bản thân đổi mới cũng là một động lực của
sự phát triển
Câu 15 trình bày tính tất yếu khách quan , nội dung và nguyên tắc của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tính tất yếu của liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân
và trí thức
- Khi tổng kết thực tiễn phong trào công nhân ở châu Âu, nhất là ở Anh,
Pháp cuối thế kỷ XIX, C Mác và
Ph Ăngghen đã khái quát thành lý
liên minh công, nông và các tầng lớp lao động khác Các ông đã
nguyên nhân chủ yếu của thất bại trong các cuộc đấu tranh là do
công nhân không
tổ chức được mối liên minh với
"người bạn đồng
nhiên" của mình
là giai cấp nông dân Do vậy, trong các cuộc
này, giai cấp công nhân luôn đơn
độc và cuộc cách mạng vô sản này
thành "bài ca ai điếu"
Trong điều kiện
đã phát triển cao của chủ nghĩa tư bản (chủ nghĩa đế quốc), V.I Lênin
đã vận dụng và phát triển lý luận
Ph.Ăngghen
về tổ chức liên minh công, nông
và các tầng lớp lao động khác
mạng xã hội chủ
Mười Nga (1917)
Trong thời kỳ đầu của
thời kỳ quá độ, không chỉ có liên minh công, nông
mà còn liên minh với
các tầng lớp lao động khác Ngay
cả trong chuyên chính vô sản, V.I
Lênin
"Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của
giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiên phong của những người lao
đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ,
nông dân, trí thức, v.v.)"1 Chủ nghĩa Mác -Lênin xác định trong thời kỳ quá độ không chỉ liên minh giữa các giai cấp mà
bỏ qua các tầng
động khác mà ngược lại, rất cần phải liên minh với
họ để thực hiện mục
tiêu chung do giai cấp công nhân
- Trong một nước nông nghiệp đại
đa số dân cư là nông dân thì vấn đề
giai cấp công nhân liên minh với họ là điều tất yếu V.I Lênin đặc biệt lưu
ý mối liên minh công, nông trong các giai đoạn xây dựng chủ nghĩa
"Nguyên tắc cao nhất của chuyên chính là duy trì khối liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân để giai cấp vô sản có thể giữ được vai trò
và chính quyền nhà nước"2 Qua mối liên minh này, lực lượng
nhất trong xã hội
là nông dân, công nhân được tập hợp về mục tiêu chung
là xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của toàn thể dân tộc Đây
kiện để giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo Đó chính là tính tất
mặt chính trị - xã hội, là yếu tố tiên quyết
Liên minh công -nông - trí thức là nhu cầu giữ vững vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, nhu cầu tự giải phóng của nông dân và nhu cầu
phát triển của trí thức
Câu 16 trình bày tính tất yếu khách quan , đặc điểm, thực chất
và nội dung của thời kỳ quá độ
từ CNTB lên CNXH
Tính tất yếu của thời kỳ quá độ
từ CNTB lên CNXH vì các lý
do:
-Chủ nghĩa xã hội
và CNTB khác nhau về chất -Các quan hệ xã hội của CNXH không tự phát sinh trong lòng CNTB, chúng là kết quả của quá trính xây dựng và cải tạo XHCN -Công cuộc xây dựng XHCN là một công việc mới mẻ, khó khăn
và phức tạp, phải
có thời gian để giai cấp công nhân tưng bước làm quen với những việc đó
Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ
từ CNTB lên CNXH:
-Thời kỳ quá độ
từ CNTB lên CNXH là sự tồn tại những yếu tố của XH cũ bên cạnh những nhân
tố mới của CNXH trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế
-xã hội
+ Trên lĩnh vực kinh tế: thời kỳ quá độ là thời kỳ tất yếu tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần trong một hệ thống kinh
Trang 10tế quốc dân thống
nhất
+ Trên lĩnh vực
chính trị: Thời kỳ
này bao gồm: G/C
cn, g/c nông dân,
tầng lớp trí thức,
những người sản
xuất nhỏ, tầng lớp
tư sản Các g/c
này vừa hợp tác
vừa đâu tranh với
nhau
+ Trong lĩnh vực
tư tưởng: Bên
cạnh tư tưởng
XHCN còn tồn tại
tư tưởng tư sản,
tâm lý tiểu nông
Trên lĩnh vực văn
hóa cũng tồn tại
yếu tố văn hóa cũ
và mới, chúng
thường xuyên đấu
tranh với nhau
Thực chất của
thời kỳ quá độ từ
CNTB lên CNXH
là thời kỳ diễn ra
cuộc đấu tranh
g/c G/c tư sản bị
đánh đổ không
còn là g/c thống
trị và những thế
pháCNXH với g/c
công nhân và
quần chúng nhân
dân lao động
Nội dung thời kỳ
quá độ lên
CNXH:
Trong lĩnh vực
kinh tế: thực hiện
việc sắp xếp, bố
trí lại các lực
lượng sản xuất
hiện có trong xã
hội, cải tạo quan
hệ sản xuất cũ,
xây dựng quan hệ
sản xuất mới theo
hướng tạo ra sự
phát triển cân đối
của nên fkinh tế,
bảo đảm phục vụ
ngày càng tốt đời
sống nhân dân lao
động
-Trong lĩnh vực
chính trị: Xây
dựng hệ thống
chính trị XHCN vững mạnh
-Trong lĩnh vực
tư tưởng – văn
truyền , phổ biến những tư tưởng khoa học và cách mạng của g/c công nhân trong toàn xã hội, xây dựng văn hóa mới XHCN, tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa trên thế giới
- Trong lĩnh vực
xã hội: Khắc phục những tệ nạn do
xã hội cũ để lại, khắc phục sự chênh lệch phát triển giữa các vùng, các tầng lớp trong XH, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người theo nục tiêu lý tưởng
là tự do của người này là điều kiện, tiền đề cho sự tự
do của người khác
Câu 17 trình bày đặc điểm thực chất và nội dung của thời kì quá
độ từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ
từ CNTB lên XHCN:
- Thời kỳ quá độ
từ CNTB lên CNXH là sự tồn tại những yếu tố của xã hội cũ bên cạnh những yếu
tố mới của CNXH trong mối qua hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội +Trên lĩnh vực kinh tế: thời kỳ quá độ là thời kỳ
tất yếu tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần trong một hệ thống kinh
tế quốc dân thống nhất
+ Trên lĩnh vực chính trị: Thời kỳ này bao gồm: g/
cn, g/c nông dân, tầng lớp trí thức, những người sản xuất nhỏ, tầng lớp
tư sản, các g/c này vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau
+ Trên lĩnh vực tư tưởng: Bên cạnh
tư tưởng XHCn còn tồn tại tư tưởng tư sản, tiểu
tư sản, tâm lý tiểu nông Trên lĩnh vực văn hóa cũng tồn tại yếu tố văn hóa cũ và mới, chúng thường xuyên đấu tranh với nhau
của thời kỳ quá
độ từ CNTB lên CNXH là thời kỳ
diễn ra cuộc đấu tranh g/c G/c tư sản bị đánh đổ không còn là g/c thống trị và những thế lực chống pháCNXH với g/c công nhân
và quần chúng nhân dân lao động
Nội dung thời kỳ quá độ lên CNXH:
Trong lĩnh vực kinh tế: thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng sản xuất hiện có trong xã hội, cải tạo quan
hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của nên fkinh tế, bảo đảm phục vụ
ngày càng tốt đời sống nhân dân lao động
-Trong lĩnh vực chính trị: Xây dựng hệ thống chính trị XHCN vững mạnh
-Trong lĩnh vực
tư tưởng – văn
truyền , phổ biến những tư tưởng khoa học và cách mạng của g/c công nhân trong toàn xã hội, xây dựng văn hóa mới XHCN, tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa trên thế giới
- Trong lĩnh vực
xã hội: Khắc phục những tệ nạn do
xã hội cũ để lại, khắc phục sự chênh lệch phát triển giữa các vùng, các tầng lớp trong XH, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người theo nục tiêu lý tưởng
là tự do của người này là điều kiện, tiền đề cho sự tự
do của người khác
trưng cơ bản xã hội XHCN:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH là nền sản xuất công nghiệp hiên đại
- Xã hội XHCN
đã xóa bỏ chế độ
tư hữu TBCN, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sx
- Xã hội XHCn tạo ra cách tổ chức lao động và
kỷ luật lao động mới
- Nhà nước XHCn mang bản chất g/c cn, tính
nhân văn rộng rãi
và tính dân tộc sâu sắc, thực hiện quyền lực và lợi ích của ND
- Xã hội XHCN là chế độ đã giải phóng con người thoát khỏi áp bức bóc lột, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản
để con người phát triển toàn diện
Câu 18 Thế nào là văn hóa và nền văn hóa Trình bày nội dung và phương thức xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Khái niệm văn hóa và nền văn hóa:
Văn hóa là toàn
bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện ở trình
độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định
Văn hóa vật chất
là năng lực sáng tạo của con người được biểu hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất
Văn hóa tinh thần
là tất cả các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng lập ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người
Nền văn hóa là
biểu hiện cho toàn
bộ nội dung, tính chất của văn hóa, được hình thành
và phát triển trên
cơ sở kinh tế chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử trong đó có ý thức
hệ của g/c thống trị chi phối phương hướng phát triển quyết định hệ thống chính sách, pháp luật quản lý các hoạt động văn hóa
Khái niệm văn hóa XHCN:
Nền văn hóa XHCN là nền văn hóa được xây dựng và phát triển trên nền tảng hệ
tư tưởng của g/c
cn, do ĐCS lãnh đạo nhằm thỏa mãn nhu cầu không ngừng tăng lên về đời sống văn hóa tinh thân của ND, đưa ND lao động thực sự trở thành chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa
Nội dung cơ bản của nền văn hóa XHCN:
- Xây dựng nền văn hóa XHCN gồm các nội dung sau:
+ Cần phải nâng cao dân trí, hình thành đội ngũ trí thức của XH mới
+Xây dựng con người mới, phát triển toàn diện
+Xây dựng lối sống mới XHCN
+ Xây dựng gia đình văn hóa XHCN
Phương thức xây dựng nền văn hóa XHCN:
Để thực hiện được những nội dung chính của nền văn hóa XHCN, cần thực hiện các phước thức sau:
+ Giữ vững và tăng cường vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng g/c cn trong đời sống tinh thần của XH + Không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của ĐCS
và vai trò quản lý của Nhà nước XHCN đối với hoạt động văn hóa
+ Xây dựng nền văn hóa XHCN phải theo phương thức kết hợp giữa việc kế thừa những giá trị trong di sản văn hóa dân tộc với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại + Tổ chức và lôi cuốc quần chúng
ND vào các hoạt động và sáng tạo văn hóa
Câu 19 Dân tộc
là gì? Trình bày những nguyên lý
cơ bản của CN Mác – Lê Nin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc?
Khái niệm dân tộc:
Hiện nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa, trong
đó có hai nghĩa phổ biến:
- Dân tộc là khái niệm để chỉ cộng đồng người cụ thể nào đó có những mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ chung của cộng đồng và trong sinh hoạt văn hóa, có những nét đặc thù
so với những cộng đồng khác, xuất hiện sau