1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận về đô thị và quản lý nhà nước về đô thị

23 133 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 139 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Có 5 loại đô thị theo cấp độ: - Đô thị loại 1: + Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, khoa học công nghệ, dulịch, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp, thương mại, gi

Trang 1

PHẦN I NỘI DUNG

I LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÔ THỊ:

1 Khái niệm về đô thị:

Đô thị là nơi tập trung đông đúc dân cư, chủ yếu là lao động phi nôngnghiệp, họ sống và làm việc theo lối sống thành thị Đó là lối sống được đặctrưng bởi những đặc điểm: có nhu cầu về tinh thần cao, tiếp thu những tiến bộ vềnền văn minh của nhân loại nhanh chóng, rõ ràng, có mạng lưới dịch vụ côngcộng và thông tin liên lạc thuận lợi

2 Tiêu chuẩn xác định đô thị:

Do tình hình phát triển kinh tế - xã hội khác nhau mà mỗi nước có nhữngquy định cũng khác nhau về quy mô điểm dân cư đô thị Tuy vậy đều thống nhất

ở 5 tiêu chuẩn cơ bản:

- Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự pháttriển - kinh tế - xã hội của vùng, lãnh thổ nhất định

- Quy mô điểm dân cư đô thị có ít nhất 5.000 người sống và làm việc ở đó(miền núi 2.000 người)

- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp ở nội thành chiếm từ 60% trở lên trongtổng số lao động, là nơi có sản xuất và dịch vụ, thương mại phát triển

- Có mật độ cư trú được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặcđiểm từng vùng và mật độ cư trú ở đô thị thường cao hơn ở nông thôn

- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ nhu cầucủa dân cư đô thị (ít nhất bước đầu xây dựng một số công trình công cộng và hạtầng kỹ thuật)

3 Phân loại đô thị:

Có hai quan điểm phân loại đô thị

a Phân loại đô thị theo quy mô dân số: Theo cách này có 5 loại đô thị:

- Đô thị nhỏ có dân số từ 5.000 người đến dưới 20.000 người

- Đô thị trung bình có dân số từ 20.000 người đến dưới 100.000 người

- Đô thị lớn có dân số từ 100.000 người đến dưới 500.000 người

- Đô thị cực lớn có dân số từ 500.000 người đến dưới 1.000.000 người

- Siêu đô thị có dân số trên 1.000.000 người

b Phân loại theo tính chất hành chính - chính trị: gồm có 4 loại đô thị:

- Thủ đô (quốc gia hay liên bang)

- Thủ phủ của một bàng (nếu có cơ cấu hành chính liên bang)

Trang 2

- Tỉnh lỵ.

- Huyện lỵ

Đô thị gồm có nội thành, nội thị và ngoại ô

* Có 5 loại đô thị theo cấp độ:

- Đô thị loại 1:

+ Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, khoa học công nghệ, dulịch, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp, thương mại, giao dịch quốc tế.Loại đô thị này do Trung ương quản lý, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế

- xã hội của cả nước

+ Có dân số từ 1.000.000 người trở lên, có mật độ dân cư là 15.000người/km2, có lao động phi nông nghiệp chiếm từ 90% trở lên trong tổng số laođộng của đô thị

+ Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xâydựng đồng bộ

- Đô thị loại 2:

+ Là trung tâm kinh tế, văn hoá - xã hội, sản xuất công nghiệp, du lịch,dịch vụ, giao thông vận tải , giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội tại một vùng, lãnh thổ nhất định

+ Có dân số từ 350.000 người đến dưới 1.000.000 người, có mật độ dân

cư 12.000người/km2, có lao động phi nông nghiệp chiếm 90% trở lên trong tổng

số lao động

+ Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xâydựng nhiều mặt tiến tới đồng bộ

- Đô thị loại 3:

+ Là đô thị trung bình lớn, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội,

là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ, có vai tròthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc từng lĩnh vực đối vớivùng, lãnh thổ

+ Có dân số từ 100.000 người đến dưới 350.000 người, có mật độ dân cư10.000người/km2, có lao động phi nông nghiệp chiếm từ 80% trở lên trong tổng

Trang 3

nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hoặc một vùngtrong tỉnh

+ Dân cư có từ 30.000 người đến dưới 100.000 người, mật độ dân cư8.000người/km2, có lao động phi nông nghiệp chiếm từ 70% trở lên trong tổng

số lao động, có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công trình công cộng đã và đang đầu tưxây dựng từng phần

- Đô thị loại 5:

+ Là những đô thị nhỏ, là trung tâm tổng hợp kinh tế - xã hội hoặc làtrung tâm chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội của một huyện hay một vùng trong tỉnh

+ Có dân số từ 5.000 người đến dưới 30.000 người, có mật độ dân cư bìnhquân 6.000người/km2, có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm từ 60% trở lêntrong tổng số lao động, bước đầu xây dựng một số công trình công cộng và hạtầng kỹ thuật

4 Quá trình hình thành đô thị trên thế giới cũng như ở Việt Nam:

Quá trình phát triển đô thị trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêngđược diễn ra theo 3 giai đoạn:

Trang 4

Một là: giai đoạn hình thành các đô thị:

- Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các mối quan hệ giao lưu hànghóa đã hình thành các cụm dân cư

- Các mối quan hệ đi lại, giao lưu buôn bán tạo nên các thị tam, thị tứ

- Các cụm dân cư ngày càng mở rộng trở thành trung tâm chính trị, vănhoá, kinh tế của khu vực và hình thành đô thị loại nhỏ Đây là xu hướng có tínhhiệu quy luật của những nước nghèo, nông nghiệp lạc hậu

Ở Việt Nam sau năm 1954 với chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế - xãhội các vùng nông thôn được đổi mới, nhiều cụm dân cư ra đời và phát triểnthành các thị tam, thị tứ và dần dần trở thành thị trấn như Lương Sơn (HoàBình), Nghĩa Đàn (Nghệ An), có nơi trở thành thị xã như Bỉm Sơn (Thanh Hoá)

Hai là: Giai đoạn phát triển đô thị:

Xu hướng vận động và phát triển của các đô thị đồng thời với quá trìnhtăng lên về dân số, tăng trưởng về kinh tế, đô thị ngày càng mở rộng và pháttriển từ thị trấn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá ở một vùng nhỏ (vài baxã), trở thành trung tâm của vùng lớn hơn, làm hạt nhân cho một số huyện và trởthành thị xã

Từ các thị xã phát triển thành các Thành phố có vị trí quan trọng đối vớimột địa phương cấp tỉnh

Đô thị phát triển theo kiểu này trở thành phổ biến nhất là các nước Đông

Âu và đặc biệt là ở nước ta, việc chuyển đô thị từ cấp thị trấn lên cấp thị xã, hay

từ thị xã lên Thành phố phản ánh sự phát triển toàn diện về mọi mặt của đờisống chính trị, kinh tế, xã hội ở đô thị

Ba là: Giai đoạn mở rộng, tạo thành cụm đô thị:

Quá trình phát triển kinh tế đòi hỏi phải mở rộng Thành phố ra các vùnglân cận tạo nên các Thành phố vệ tinh mang tính chuyên ngành (Thành phố dulịch, vui chơi, khu công nghiệp, khu thương mại) làm vệ tinh cho Thành phố lớntrung tâm Từ đó tạo thành một cụm các đô thị hài hoà, hỗ trợ lẫn nhau trong sựphát triển Đây là một xu thế mới được các nước tiên tiến vận dụng rất có hiệuquả

Trang 5

Ta có thể tóm tắt quá trình hình thành và phát triển đô thị theo sơ đồ tổngquát sau:

Giai đoạn III

mở rộng đô thị

Trang 6

5 Quá trình đô thị hoá:

Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư vào các đô thị, hoặc mở rộngmạng lưới các đô thị trên quy mô lớn đến các vùng ngoại ô và nông thôn lân cận

để cho dân chúng sống và làm việc theo lối sống thành thị do yêu cầu của côngnghiệp hoá, thương mại và giao lưu quốc tế

Quá trình đô thị gắn liền với sự phát triển của các lực lượng sản xuất, cáchình thái về quan hệ xã hội và được cách mạng khoa học kỹ thuật thúc đẩy Vìvậy, đô thị hoá không chỉ là sự phát triển đô thị về quy mô và số lượng dân số

mà còn gắn liền với những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội ở đô thị, trên cơ

sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ và tin học

Tóm lại, ta có thể hiểu rằng khi kinh tế - xã hội phát triển đến trình độnhất định nào đó thì mới xuất hiện đô thị và quá trình phát triển đô thị gắn liềnvới quá trình phát triển kinh tế - xã hội

* Sự biểu thị của quá trình đô thị hoá là:

- Sự tăng nhanh của tỉ lệ số dân đô thị trong tổng số dân,

- Sự tăng lên số lượng của các đô thị đồng thời với sự mở rộng không gian

đô thị

- Sự chuyển hoá của lao động (từ lao động giản đơn sang phức tạp, khônggian đô thị)

- Sự chuyển hoá từ lối sống dàn trải sang sống tập trung trong mật độ cao,

từ những điều kiện cơ sở hạ tầng đơn giản sang cơ sở hạ tầng hiện đại phức tạp

* Quá trình đô thị hoá ở các nước công nghiệp phát triển:

Đặc trưng cho sự phát triển này là nhân tố chiều sâu, sự tận dụng tối đanhững lợi ích, đồng thời hạn chế những ảnh hưởng xấu của quá trình đô thị hoá,suy cho cùng chính là tập trung phát triển về chất

* Quá trình đô thị hoá ở các nước đang phát triển:

Đặc trưng của quá trình này là sự bùng nổ về dân số và sự phát triển côngnghiệp thấp kém Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trở nên sâu sắc do pháttriển mất cân đối của hệ thống phát triển dân cư, thương mại và dịch vụ Vìvậy, đô thị hoá ở các nước đang phát triển chủ yếu phát triển về lượng

Tóm lại, quá trình đô thị hoá ở các nước công nghiệp phát triển và cácnước đang phát triển có sự khác nhau, một bên phát triển về lượng, một bênphát triển về chất chính là do thời điểm bắt đầu và tốc độ phát triển của côngnghiệp hoá phát triển

6 Quản lý Nhà nước về đô thị:

Quản lý Nhà nước về đô thị chính là tổ chức và điều hành đối với các quátrình phát triển đô thị, thông qua các cấp chính quyền và các cơ quan chuyênmôn, nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước giao cho trêntất cả mọi lĩnh vực từ sự đảm bảo trật tự an ninh, an toàn vệ sinh thực phẩm, xây

Trang 7

dựng đô thị phục vụ cho cuộc sống cộng đồng dân cư đô thị theo mục tiêu đãxác định.

Quản lý Nhà nước về đô thị là những hoạt động quản lý mang tính tổnghợp trên cơ sở quản lý của các chuyên ngành kết hợp với quản lý lãnh thổ, nóbao gồm cả một hệ thống các quy định, chính sách, tổ chức, cơ chế, biện pháp,phương tiện được chính quyền các cấp sử dụng nhằm mục đích kiểm soát quátrình tăng trưởng phát triển đô thị trong một trật tự nhất định đồng thời đảm bảotheo đúng các mục tiêu, định hướng đề ra với hiệu quả cao nhất

II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG CÁC ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM:

1 Tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị theo quy định của Hiến pháp

1992 hệ thống chính quyền nước ta gồm 4 cấp:

Sơ đồ bộ máy Nhà nước

* Mô hình tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị ở từng cấp cũng khácnhau:

- Tổ chức bộ máy chính quyền của Thành phố trung ương: có từ 21 đến

Ví dụ: ở Thành phố Hồ Chí Minh, quận 4 có diện tích là 4km2 trong khi

đó quận Tân Bình có diện tích 38,5km2

Thị xã

g

Trang 8

Thành phố Đà Nẵng, quận Hải Châu dân số 186.500 người, quận NgũHành Sơn dân số 39.208 người (thống kê tháng 5/1997).

Phường Tân Chính (Quận Thanh Khê) có diện tích 0,3700 km2, dân số13.545 người trong khi đó phường An Khê (quận Thanh Khê) có diện tích3,2357km2, dân số 23.169 người (thống kê năm 1999)

2 Sự xuất hiện những đối tượng quản lý mới:

Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước

đã làm nảy sinh những đối tượng quản lý mới ở đô thị

- Đối với lĩnh vực kinh tế:

+ Trước đây chỉ có 2 thành phần kinh tế đó là thành phần kinh tế quốcdoanh và kinh tế tập thểm thì nay Đại hội 9 xác định có 6 thành phần kinh tế:kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể tiểuchủ, kinh tế tư bản Nhà nước và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước nhoài(100% vốn)

+ Chính từ sự ra đời của các thành phần kinh tế nói trên làm xuất hiệnnhiều loại hình kinh tế mới: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

+ Các loại thị trường mới cũng bắt đầu xuất hiện như thị trường vốn, thịtrường sức lao động, thị trường chứng khoán

Ví dụ: ở Thành phố Hồ Chí Minh thị trường chứng khoán ngày càng pháttriển, Thành phố Hà Nội đã xuất hiện hoạt động những chợ bán sức lao động

- Đối với lĩnh vực dân cư:

Nếu như trước đây, đối tượng quản lý ở các đô thị chỉ đơn thuần là dân cư

có hộ khẩu thường trú thì nay do tác động của nền kinh tế thị trường ở đô thịxuất hiện đối tượng dân cư mới ra Thành phố kiếm việc làm theo thời vụ, sốnglang thang trên các đường phố, nhà trọ, các “khu lều”, “xóm lều” Các loại dân

cư này không có công ăn việc làm và hết sức phức tạp

Ví dụ: Thành phố Hồ Chí Minh năm 195, toàn Thành phố có 399.188người cư trú không có hộ khẩu:

Đây là số người đăng ký tạm trú thường xuyên, nhưng thực chất số ngườithường xuyên cư trú dưới 6 tháng, cư trú chưa đăng ký và số người mới đến (tháng 6/1996) ước tính khoảng 600.000 người (bằng nửa số dân của một tỉnh)

Trên địa bàn quận Gò Vấp trong quý 1/1996 có 250 đối tượng phạm pháphình sự bị bắt và tạm giữ thì có 124 đối tượng ngoài quận (Báo Nhịp cầu hỗ trợphát triển)

- Lĩnh vực văn hoá - xã hội:

Những khuyết tật của nền kinh tế thị trường đã bộc lộ khá rõ nét ở các đôthị như: làm ăn phi pháp, buôn bán hàng lậu, hàng giả, tệ nạn xã hội, trộm cắp,

Trang 9

mại dâm, ma tuý, mê tín dị đoan không còn bó hẹp là nỗi lo của gia đình màhiện nay chính là nỗi lo của toàn xã hội.

Ta đã biết lượng ma tuý xâm nhập vào học đường: karaoke là hình thứcsinh hoạt văn hoá nhưng khi vào Thành phố một số đã biến tướng Để quản lýlĩnh vực này không phải là dễ

Như vậy ta có thể nói: tất cả các lĩnh vực đều xuất hiện các hình thức hoạtđộng mới và đối tượng quản lý mới

3 Thực trạng quản lý Nhà nước về đô thị trên một số lĩnh vực:

Quản lý Nhà nước ở đô thị theo nghĩa rộng bao gồm nhiều lĩnh vực (kinh

tế, chính trị, xã hội, nội chính ) Tuy nhiên trong chuyên đề này chỉ trình bàynhững nội dung chủ yếu sau:

Phân loại và phân cấp quản lý đô thị:

Phân loại và phân cấp quản lý đô thị là một nội dung của quản lý Nhànước về đô thị Sau mỗi kỳ kế hoạch 5 năm Bộ Xây dựng phối hợp với Uỷ bannhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương và với sự tham gia của Ban Tổchức Cán bộ Chính phủ rà soát, phân loại và xét duyệt phân loại đô thị của từngđịa phương Theo quyết định 132 HĐBT, Thông tư Liên Bộ: Bộ Xây dựng - Ban

Tổ chức Cán Bộ Chính phủ trình Chính phủ quyết định công nhận đô thị loại 1

và 2 Bộ trưởng Bộ Xây dựng quyết định công nhận đô thị loại 3 và 4 UBNDtỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương quyết định công nhận đô thị loại 5

3.1 Quản lý quy hoạch xây dựng đô thị:

- Những ưu điểm và tồn tại:

Trong thời gian qua nhất là sau giai đoạn đổi mới của đất nước, công tácquản quản lý quy hoạch xây dựng đô thị đã góp phần thay đổi bộ mặt đô thị đivào chiều sâu, phát triển có trọng điểm theo quy hoạch nhiều đô thị hiện đạihơn, văn minh hơn đã ra đời nhưng vẫn giữ được những nét đẹp truyền thốngcủa nền văn hoá dân tộc - Một số các dự án quy hoạch xây dựng đầu tư đã đi vàocuộc sống và ngày càng có vai trò quan trọng trong việc phát triển đô thị phục

vụ những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân trong vàngoài đô thị Bên cạnh đó công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị cònnhững tồn tại, yếu kém sau:

Một là: các cơ sở pháp luật và văn bản pháp quy về quy hoạch xây dựng

đô thị còn ít, thiếu cụ thể thiếu đồng bộ, thiếu tính khả thi và còn nhiều kẻ hởđang công tác quản lý - xây dựng đô thị

Hai là: Hệ thống cơ quan quản lý quy hoạch xây dựng đô thị từ trungương đến địa phương chưa được hoàn thiện nhất là ở cấp cơ sở Cán bộ thiết kếquy hoạch, cán bộ quản lý quy hoạch đô thị còn thiếu, yếu về năng lực và kinhnghiệm thực tiễn cần được bồi dưỡng thêm cho đội ngũ cán bộ để có thể gánhvác trọng trách thiết kế xây dựng quy hoạch và quản lý đô thị trong thời kỳ mớicông nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Trang 10

Ba là: Phương thức quản lý quy hoạch xây dựng đô thị còn mang nhữngđặc điểm của cách làm cũ, thời kỳ phát triển nông nghiệp nông thôn lạc hậuchưa theo kịp cơ chế thị trường Một số thủ tục hành chính rườm rà làm chậmtiến độ trong việc giao đất, cấp giấy phép xây dựng cho nhân dân đã ảnh hưởngđến việc thực hiện Nghị Quyết 38/CP của chính phủ.

Bốn là: Chất lượng của các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị đã được chútrọng hơn nhưng nhìn chung và còn yếu, tính khả thi trong thực tế chưa cao, còntình trạng xây dựng nhà không xin phép hoặc lấn chiếm đất công trái pháp luật,xây dựng còn chưa theo quy hoạch tổng thể dẫn đến không đồng bộ trong xây dựng

- Nội dung công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị bao gồm:

+ Ban hành các quy định về quản lý quy hoạch xây dựng đô thị: việc quản

lý quy hoạch xây dựng đô thị ở nước ta hiện nay đã được thể chế hoá bằng cácvăn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới luật của hệ thống hành chínhNhà nước

+ Lập và xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị:

* Hệ thống các đồ án quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị, trong đó có

đồ án quy hoạch chung đô thị và đồ án quy hoạch chi tiết

* Lập - trình - xét duyệt - điều chỉnh đồ án quy hoạch xây dựng đô thị

* Trách nhiệm và quyền hạn quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị củacác cấp chính quyền

+ Quản lý cải tạo và xây dựng công trình trong đô thị (kiểm soát sự pháttriển trong đô thị): các công trình trong đô thị bao gồm các công trình trên mặtđất, các công trình ngầm và các công trình trên cao kể cả các công trình điêukhắc, áp phích, biển quảng cáo

3.2 Quản lý nhà ở, đất ở đô thị:

* Quản lý về nhà ở đô thị:

Thực trạng nhà ở đô thị Việt Nam: từ năm 1986 trở về trước, trong cơ chếbao cấp vốn đầu tư cho xây dựng nhà ở mà Nhà nước dành cho chỉ từ 2 - 3% củavốn xây dựng cơ bản Mặt khác, nhà ở tư nhân lại bị hạn chế xây dựng và mởrộng nên nhìn chung nhà ở trong các đô thị ở nước ta có diện tích ở thấp, chấtlượng xây dựng kém và thiếu tiện nghi

- Nội dung quản lý nhà ở đô thị:

+ Ban hành quy phạm về quy hoạch, thiết kế xây dựng, quản lý và sử dụng nhà ở + Lập kế hoạch xây dựng nhà ở

+ Cho phép xây dựng, cải tạo nàh ở hoặc đình chỉ, phá dỡ nhà ở

+ Đăng ký điều tra, thống kê nhà ở

+ Xây dựng nhà ở cho diện chính sách, ưu đãi và người có thu nhập thấp

+ Thanh tra giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm về nhà ở

+ Kinh doanh và phát triển nhà

Trang 11

* Quản lý đất ở đô thị:

- Nội dung:

* Điều tra, khảo sát, đo đạt, lập bản đồ địa chính và bản đồ giá đất ở đôthị

* Lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đô thị

* Giao đất, cho thuê đất đô thị, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

* Thu hồi đất để xây dựng hạ tầng cơ sở ở đô thị

* Thanh tra, kiểm tra giải quyết các khiếu kiện về đất

- Trách njhiệm quản lý Nhà nước về đất đô thị:

* Chính phủ thống nhất QLNN về đô thị trong cả nước

* Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Tổng cục địa chính giúp Chính phủ banhành các quy định hướng dẫn về quản lý đất đô thị (giá đất)

* Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản

lý đất đô thị trong phạm vi mình phụ trách

* Sở địa chính nhà đất, Sở Xây dựng và Sở Tài chính giúp UBND tỉnh,Thành phố trực thuộc Trung ương quản lý đất đô thị theo thẩm quyền được giao

* Việc quản lý và sử dụng đất đô thị phải đúng quy hoạch xây dựng đô thị

và kế hoạch sử dụng đất đô thị được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

3.3 Quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị:

Hạ tầng kỹ thuật đô thị (giao thông vận tải, cấp nước, thoát nước, cấpđiện, năng lượng, xử lý phân rác ) có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triểnkinh tế - xã hội cũng như đáp ứng những nhu cầu trong đời sống của người dân

đô thị, do đó cần phải đầu tư xây dựng, nâng cấp cải tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở

đô thị để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong các đô thị và phải được tiếnhành trước 1 bước

- Quản lý giao thông vận tải đô thị:

+ Thực trạng giao thông và vận tải đô thị ở nứoc ta:

Hệ thống đường giao thông rất lạc hậu và thấp kém so với các nước pháttriển cũng như các nước trong khu vực, năng lực vận chuyển hàng hóa khôngcao, tốc độ chậm, thường xuyên gây ùn tắc, cản trở giao thông, ô nhiễm môitrường vận chuyển hành khách trong đô thị chủ yếu bằng phương tiện xe 2

Ngày đăng: 11/06/2018, 19:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w