BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC --o0o-- LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI, KHẢ NĂNG GÂY HẠI VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
o0o
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI, KHẢ NĂNG GÂY HẠI VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CHÍNH
CỦA SÊN TRẦN Deroceras agreste HẠI DÂU TÂY
Trang 2ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI, KHẢ NĂNG GÂY HẠI VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CHÍNH
CỦA SÊN TRẦN Deroceras agreste HẠI DÂU TÂY
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Con xin chân thành cám ơn công lao nuôi dưỡng, dạy dỗ của Bố Mẹ và gia đình
đã tạo mọi điều kiện cho con có được ngày hôm nay
Tôi chân chân thành cám ơn:
Cô Trần Thị Thiên An và Chú Lại Thế Hưng là người đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Ban Giám hiệu Trường ĐH Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh
Toàn thể thầy cô trong khoa Nông Học Trường ĐH Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Các cô chú, anh chị Chi Cục BVTV Lâm Đồng
Các cô chú, anh chị nông dân ở các phường 6, 7, 8, 11 tại Tp Đà Lạt đã nhiệt tình giúp đỡ cung cấp thông tin cần thiết và tạo điều kiện trong suốt thời gian thực tập
để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận này
Tp Đà Lạt, ngày 20 tháng 6, năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Tú Trang
Trang 4Kết quả thu được cho thấy:
Về thành phần loài sên trần kết quả điều tra được 3 loài là Deroceras agreste với tần số xuất hiện 95,71 %, Parmarion martensi (3,72 %) , D resticulatum (0,57 %) trong đó loài phổ biến nhất là D agreste đây là loài ngoại lại mới du nhập qua nước ta Loài D agreste phân bố rất rộng, chúng gây hại rất nhiều loại cây trồng
Phổ kí chủ của sên trần D agreste điều tra cách ruộng dâu tây bán kính 100 m, chúng có mặt 7 loại cây trồng chủ yếu là rau ăn lá Tất cả các loại cây trồng đều là
thức ăn ưa thích của sên trần Trong đó, cải thảo và trái dâu tây chín là kí chủ D
agreste ưa thích nhất Sên trần gây hại chủ yếu phần lá nhưng riêng đối với dâu tây thì chúng gây hại trên trái chín
Điều tra diễn biến mức độ gây hại của sên trần D agreste cho thấy mật độ sên
trần phụ thuộc vào thời tiết và chế độ canh tác của chủ ruộng Vào mùa nắng tỉ lệ trái
và cây bị hại thì cũng cao do đặc tính canh tác của mỗi vườn khác nhau Vào mùa mưa thì mật độ sên trần ở tất cả các ruộng đều tăng cao còn tỉ lệ trái và cây bị hại phụ thuộc vào chế độ canh tác của chủ ruộng
Khả năng gây hại trong phòng thực hiện trên loài sên trần D agreste là loài phổ
biến nhất Khả năng gây hại trong phòng với 5 NT thì trọng lượng dâu tây sên trần tiêu thụ sau 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ ở NT sên trần già cao nhất lần lượt là 0,62 g, 1,35 g, 2,15 g và chỉ số hại cũng cao nhất là 33,33 %, 39,96 %, 44,04 % Thấp nhất là NT sên trần con về cả trọng lượng dâu tây sên trần tiêu thụ 0,39 g (24 giờ), 0,95 g (48 giờ), 1,60 g (72 giờ) và chỉ số hại 17,67 % (24 giờ), 28,67 % (48 giờ), 39,50 (72 giờ)
Trang 5Một số đặc điểm sinh học của sên trần D agreste:
Khả năng phát triển sau khi đẻ trứng của sên trần D agreste với n = 50, tỉ lệ trứng
nở 100 %, tỉ lệ sên trần con sống qua tuổi sên con 86 %, sên trần con hoàn thành pha
phát dục 20 %
Trang 6MỤC LỤC
Trang tựa i
Lời cám ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các bảng viii
Danh sách các hình ix
Danh sách các đồ thị x
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 1
1.2.1 Mục đích của đề tài 1
1.2.2 Yêu cầu của đề tài: 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Một số kết quả nghiên cứu về sên trần 3
2.1.1 Giới thiệu chung về sên trần 3
2.1.2 Các biện pháp phòng trừ sên trần 8
2.2 Giới thiệu tổng quát về cây dâu tây 11
2.2.1 Giới thiệu chung 11
2.2.2 Đặc điểm thực vật học 11
2.2.3 Giá trị dinh dưỡng 12
2.2.4 Đặc điểm sinh thái cây dâu tây 13
2.3 Một số loài sâu hại trên cây dâu tây 14
2.4 Các yếu tố khí tượng tại Đà Lạt từ tháng 2 đến tháng 6/2011 16
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.2 Nội dung nghiên cứu 17
3.3 Vật liệu nghiên cứu 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1 Điều tra thành phần loài sên trần hại cây dâu tây 17
Trang 73.4.2 Điều tra phổ kí chủ sên trần hại trên cây dâu tây 18
3.4.3 Khả năng gây hại của sên trần trên cây dâu tây 19
3.4.4 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sên trần D agreste hại cây dâu tây 23
3.5 Xử lý số liệu và phân tích thống kê 24
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Thành phần loài sên trần hại dâu tây 25
4.2 Phổ ký chủ của sên trần D agreste hại cây dâu tây 26
4.3 Diễn biến mức độ gây hại của sên trần D agreste trên cây dâu tây 27
4.4 Một số đặc điểm sinh học chính của loài D agreste 34
4.4.1 Thời gian phát triển các pha cơ thể của sên trần D agreste 34
4.4.2 Khả năng sinh sản của sên trần 34
4.4.3 Khả năng phát triển sau khi đẻ trứng của sên trần D agreste 35
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 36
5.1 Kết luận 36
5.2 Đề nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
PHỤ LỤC 41
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của quả dâu tây tươi chưa qua chế biến 13
Bảng 2.2: Các yếu tố thời tiết trong các tháng thí nghiệm 16
Bảng 4.1 Thành phần sên trần hại cây dâu tây tại thành phố Đà Lạt năm 2011 25
Bảng 4.2 Phổ ký chủ của sên trần D agreste hại cây dâu tây 26
Bảng 4.3 Trọng lượng trái dâu tây sên trần tiêu thụ trong phòng thí nghiệm 32
Bảng 4.4 Chỉ số hại của trái dâu tây bị sên trần gây tiêu thụ trong phòng thí nghiệm 33 Bảng 4.5 Thời gian phát dục các pha cơ thể D agreste 34
Bảng 4.6 Khả năng sinh sản của sên trần D agreste 34
Bảng 4.7 Khả năng phát triển sau khi đẻ trứng của sên trần D agreste 35
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1 Điều tra thành phần loài 18
Hình 3.2 Ruộng điều tra 1 và ô điều tra 19
Hình 3.3 Ruộng điều tra 2 và ô điều tra 20
Hình 3.4 Ruộng điều tra 3 20
Hình 3.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ngoài ruộng 21
Hình 3.6 Một số hình ảnh thí nghiệm trong phòng 23
Hình 4.1 Một số loài sên trần hại cây dâu tây 26
Hình 4.2 Sên trần D agreste gây hại một số cây trồng ngoài đồng 27
Hình 4.3 Sên trần gây hại dâu tây ngoài đồng 31
Hình 4.3 Một số hình ảnh về sên trần D agreste 35
Trang 11DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Diễn biến mức độ gây hại của sên trần D agreste tại ruộng 1 27
Đồ thị 4.2 Diễn biến mức độ gây hại của sên trần D agrestetại ruộng 2 28
Đồ thị 4.3 Diễn biến mức độ gây hại của sên trần D agrestetại ruộng 3 29
Trang 12Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Dâu tây là loại cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả dâu tây có chứa nhiều loại sinh tố A, B1, B2, trong đó hàm lượng vitamin C cao hơn cam và dưa hấu Đây là tính ưu việt của quả dâu tây giúp tăng sức đề kháng chống nhiễm trùng, nhiễm độc, cảm cúm và chống stress, lão hóa (oxy hóa) Đây là một loại cây đặc sản dùng để ăn tươi, chế biến làm mứt, nước giải khát, dùng trong công nghiệp hóa phẩm chế biến rượu, hương vị thực phẩm
Trên cây dâu tây có nhiều dịch hại như nhện đỏ, bọ trĩ, sâu cuốn lá, sên trần, bệnh thối đen rễ, bệnh đốm lá Trong đó, sên trần là loài dịch hại nghiêm trọng vì chúng ăn trái dâu chín làm cho trái dâu tây bị nấm tấn công làm cho quả bị thối
Để quản lý một dịch hại có hiệu quả thì cần phải hiểu rõ về dịch hại đó như thế nào về thành phần loài, phổ kí chủ và nhất là đặc điểm sinh học của chúng từ đó mới đề ra biện pháp phòng trừ hiệu quả Đối với sên trần hại dâu tây cũng vậy, hiện nay nước ta rất ít nghiên cứu về dịch hại này trong khi đó thì chúng gây hại rất mạnh trong điều kiện ẩm ướt và nhất là trong mùa mưa Nên từ thực tế đó, đề tài
"Điều tra thành phần loài, khả năng gây hại và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chính của sên trần Deroceras agreste hại dâu tây tại TP Đà Lạt” đã được
Trang 131.2.2 Yêu cầu của đề tài:
Xác định được thành phần loài và phổ kí chủ của sên trần hại cây dâu tây
Xác định được khả năng gây hại của sên trần D agreste hại cây dâu tây
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài sên trần D agreste hại cây dâu
tây
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Sên trần gây hại trên dâu tây
1.4 Phạm vi đề tài
Đề tài được thực hiện từ 15/02 đến 15/06/2011 tại Tp Đà Lạt với các nội dung chủ yếu:
- Điều tra thành phần loài và phổ kí chủ của sên trần hại cây dâu tây
- Điều tra diễn biễn mức độ của loài sên trần D agreste hại cây dâu tây
- Nghiên cứu một số đặc điểm chính của sên trần D agreste trên cây dâu tây
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số kết quả nghiên cứu về sên trần
2.1.1 Giới thiệu chung về sên trần
Sên trần thuộc ngành Mollusca, lớp Gastropoda và là loài lưỡng tính Nhiều loài sên trần đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái bằng cách chúng ăn các lá bị chết, nấm và các nguyên liệu thực vật mục nát Một số loài ăn các phần của cây sống hay ăn các động vật khác như sên, ốc hoặc giun đất Hầu hết sên ăn thịt, thịt thối, kể cả đồng loại của chúng
Sên trần thường có màu xám sáng hay màu đen Sên trần qua đông thường ở giai đoạn trứng, trưởng thành và sau đó trở lại hoạt động trong những ngày ấm áp của đầu mùa xuân Với điều kiện thuận lợi này sẽ dẫn đến sự tăng nhanh về quần thể Sên thích điều kiện ẩm ướt, vì vậy trong điều kiện khô hạn sự hoạt động của chúng giảm xuống đáng kể Sên trần là loài sinh vật đặc trưng cho hoạt động ban đêm, chúng gây hại chủ yếu vào ban đêm, suốt thời gian ẩm ướt mát mẻ, và sáng sớm Ban ngày, chúng tìm những chỗ, điều kiện ẩm ướt bên dưới lá, đá, và các mảnh vụn cây trồng như thân cây ngô hoặc khe đất nứt để trốn
Thành phần loài sên trần
Theo Cowie (1997, 1999) đã tìm thấy ở Hawaii có tất cả 13 loài sên trần ngoại
lai A intermedius, D leave, D reticulatum, Limax flavus, L maximus, L poirieri,
L tenellus, L valentianus, Laevicaulis alte, Veronicella cubensis, Vaginula plepia, Mailax gagates, Meghimatium striatum Trong đó Deroceras laeve gây hại nghiêm
trọng nhất (Barker, 2002; Godan, 1983)
Theo Sionek R và Kozowski J (1999) đã thu thập tại đô thị Rzeszow (Ba Lan)
năm 1994 – 1996 được 8 loài đó là Arion fascioatus Nilsson (1822), A distinctus Mabille (1868), A rufus Linné (1758), A subfuscus Draparnaud (1805), Deroceras
Trang 15laeve Müller (1774), D sturanyi Simroth (1894), D reticulatum Müller (1774) và Limax maximus Linné (1758) Trong đó, phổ biến là loài A rufus Linné (1758),
trong suốt thời gian điều tra tần số xuất hiện 40,3 % Các loài phổ biến còn lại là A
fasciatus (20,2 %), D reticulatum (16,7 %) và L maximus (16,6 %) A distinctus
(4,4 %) Như vậy các loài D sturanyi, D laeve và A subfuscus chiếm từ 0,5 - 0,7 %
trong tổng số sên trần thu thập được
Theo Skujtne (2003) thu thập tại các vườn Vilius, Jurbarkas và Nemencine năm
2001 được 7 loài sên trần là Arion subfuscus Draparnaud (1805), A fasciatus Nilsson (1822), A circumscriptus Johnston (1828), Deroceras reticulatum Muller (1774), D agreste Linné (1758), D sturanyi Simroth (1894) và Malacolimax
tenellus Muller (1774) Tất cả chúng có kích thước trung bình (Cameron và ctv.,
1983) Trong đó, D reticulatum Muller (1774) là loài phổ biến nhất (46,6 %) trừ tại vườn Nemencine thì A fasciatus Nilsson (1822) phong phú hơn (48,7 %)
Tại Turkey năm 2003, M Zeki Yildirim tìm thấy được 7 loài Imacus flavus, D
reticulatum, D berytensis, Mesolimax brauni, Mesolimax escherichi, Milax cf altenai và Tandonia budapestensi Trong đó, thì Imacus flavus, Mesolimax brauni, Mesolimax escherichi được ghi nhận trong các nghiên cứu trước (Simroth, 1885)
Theo Michal Horsak và ctv (2010) đã tìm thấy tại Cộng Hòa Séc và Slovak 28
loài sên trần như Tandonia budapestensis Hazay (1881), Tandonia rustica Millet (1843), Bielzia coerulans Bielz (1851), Limax cinereoniger Wolf (1803), Limax
maximus Linné, (1758), Limacus flavus Linné (1758), Malacolimax tenellus Müller
(1774), Lehmannia macroflagellata Grossu et Lupu (1962), Lehmannia marginata Müller (1774), Lehmannia nyctelia Bourguignat (1861), D agreste Linné (1758),
D laeve Müller (1774), D panormitanum Lessona và Pollonera, (1882), D praecox
Wiktor (1966), D reticulatum Müller (1774), D rodnae Grossu và Lupu (1965), D
sturanyi Simroth (1894), D turcicum Simroth (1894), Boettgerilla pallens Simroth
(1912), Arion rufus Linné (1758) A lusitanicus Mabille (1868), A fuscus Müller
(1774), A circumscriptus Johnston (1828), Arion fasciatus Nilsson (1823), A
silvaticus Lohmander (1937), A distinctus Mabille (1868), A obesoductus
Reischütz (1973),A intermedius Normand (1852)
Trang 16Tại Việt Nam, Nguyễn Ru (1964) đã tìm thấy ở Đà Lạt 4 loài sên trần là loài
Girasia hookeri, Philomycus bilineatu, Atopo tourannensis, D reticulatum Loài D reticulatum thích hợp với môi trường sống nên chúng sinh sản rất nhanh, xuất hiện
với mật độ cao, và cắn phá gây thiệt hại trầm trọng trên các vườn trồng rau cải Các loài sên khác tuy có sức tàn phá mãnh liệt nhưng chỉ xuất hiện với mật độ thấp
không gây thiệt hại trầm trọng như loài D reticulatum
Theo Phạm Thị Thùy (2003), đã tìm thấy trên cây dâu tây tại Đà Lạt 2 loài sên
trần D reticulatum, D caruanae Trong đó, D reticulatum là loài phổ biến nhất
Đặc điểm sinh học và sinh thái của một số loài sên trần
Sên trần là loài lưỡng tính, nghĩa là chúng có cơ quan sinh dục đực và cái Chúng có thể đẻ trứng nhiều lần trong năm và đẻ thành nhóm, mỗi nhóm 20 - 80 trứng mỗi lần đẻ Trứng có gielatin có kích thước 0,635 cm (¼ inch) có dạng hình tròn hay hình bầu dục, được đẻ trong bên dưới đất ẩm ướt, dưới đá, lá chết, lớp phủ hay đặt chậu đặt ngoài trời Trứng có thể ngưng phát triển trong suốt điều kiện môi trường khô Mùa xuân có điều kiện ẩm ướt thích hợp cho phát triển và quần thể tăng nhanh Sên trần phát triển chậm, thường có tuổi thọ 1 – 5 năm (Cerruti R.R Hooks
và Jermaine Hinds)
• Loài Arion rufus
Có nguồn gốc phía Tây và trung tâm Châu Âu Arion rufus dài đến 18 cm và có
màu đen, nâu, vàng cam hoặc đỏ nâu Sên con có rất nhiều màu khác nhau nên rất
dễ nhầm lẫn với sên con của các loài Arion khác A rufus hoạt động tích cực ở nhiệt
độ trên 100C vào những ngày nhiều mây và ban đêm Chúng có thể sinh sản ở 3
tháng tuổi và có khả năng sinh sản mà không cần giao phối Các loài A rufus giao
phối từ tháng 6 đến tháng 10, tùy vào điều kiện thời tiết Trứng được đẻ thành nhóm
từ 150 trứng trở lên có màu trắng đục ở những nơi ẩm ướt Trứng có đường kính từ
1 - 2 mm Chúng có thể sống 1 - 2 năm
• Loài Arion lusitanicus Mabille (1868)
Theo Jan Kozlowski (2007) thì chúng có các môi trường sống khác nhau như đất trồng, vườn cây và cả các vùng đất hoang Hầu hết, chúng phổ biến ở các bờ sông, dải đất hoang tại các đám cây gần cây trồng Chúng thích hợp trên đất sét hay
Trang 17đất nhiều mùn A lusitanicus có chu kì sống một năm, thỉnh thoảng 2 năm Trứng
được đẻ vào giữa và cuối tháng 8 sau khi giao phối từ 2 - 4 tuần, kết thúc vào tháng
12 Quần thể đạt mật độ cao nhất vào cuối tháng 9 Sên đẻ trứng ở 7 - 9 tháng tuổi Việc đẻ trứng được kéo dài phụ thuộc vào nhiệt độ và phạm vi từ 2,5 - 3,5 tháng Trứng được đẻ trong các hốc và khe đất nứt ở độ sâu 2 – 10 cm hay trên mặt đất Trứng còn được phát hiện ở các vết gây hại trong rễ, trái cây và rau, dưới lớp đá, dưới tấm ván, cành cây trong phân hữu cơ và xung quanh đống gạch (Davies, 1987; Proschwitz, 1994; Kzlowski, 2000) Trứng được đẻ vào tháng 8 thì nở vào mùa đông (tỉ lệ trứng nở là 54 – 86 %) Số trứng còn lại qua đông và được nở vào mùa xuân tiếp theo (Kzlowski và Sionek, 2000) Trứng nở vào mùa xuân giữa tháng 3 và
4 - 6 tuần tiếp theo Chỉ có một vào con nở vào tháng một và tháng hai khi nhiệt độ trên 6oC Trứng và sên con loài A lusitanicus qua đông Sên trưởng thành thì hiếm
khi qua đông Hầu hết chúng qua đông bằng cánh tìm nơi ẩn nấp khi nhiệt độ giảm xuống 2oC Trong suốt các tháng mùa đông, nếu như nhiệt độ ban ngày trên 5oC thì chúng ra khỏi nơi ẩn nấp đến các bãi cỏ tươi hay các thực vật đang phân hủy Nếu như nhiệt độ giảm xuống thì chúng quay lại ẩn nấp
• Loài Deroceras reticulatum (Müller)
Là loài hoạt động trên mặt đất và chúng phân bố rộng ở Anh, phía Bắc Châu
Âu, một phần của Mỹ (Godan, 1983) và New Zealand (Barker, 1999) Sên trưởng thành từ 3 - 4 tháng sau khi trứng nở và phụ thuộc vào nhiệt độ Chúng không mẫn cảm với nhệt độ thấp trừ khi bị đóng băng, nhưng rất nhạy cảm với nhiệt độ cao Vòng đời của loài này chỉ vài tháng, cao nhất thì 1 năm, thường có hai thế hệ sống chung với nhau Chúng sinh sản trong mùa hè và mùa thu, đẻ hàng trăm trứng và nở vào cuối mùa hè
• Loài Deroceras laeve Müller
Có nguồn gốc ở Bắc Mỹ, chúng là loài phổ biến nhất ở đây (Hammond, 1996), mặc dù chúng được giới thiệu nhiều ở Anh, Châu Âu, Russia, New Zealand (South, 1992) và South America (Cazzaniga, chưa xuất bản) Chúng dài từ 15 - 25 mm Chúng sống không quá một năm
Trang 18• Loài Deroceras agreste Linné
Có màu nâu nhạt, đôi khi màu nâu xám và không có đốm Tương tự như D
reticulatum nhưng nhỏ và mỏng hơn và cơ thể ít màu sắc hơn Trứng có kích thước
2,2 x 2,5 đến 2,5 x 2,25 mm, có màu trắng và được đẻ thành nhóm 10 – 20 trứng (Quick, 1960) Sên chưa trưởng thành có kích thước 3,5 mm và lúc mới nở có màu trắng (Quick, 1960)
Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống và sự gây hại của sên trần
Theo Faberi và ctv (2006) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát
triển của loài D leave tại các mức nhiệt độ 12oC và 20oC Kết quả của việc nghiên cứu này, khi loài D leave được 1 tháng tuổi tức là bắt đầu phát triển thì tại nhiệt độ
12oC phát triển chậm hơn 20oC Nhưng sau 2,5 tháng tại nhiệt độ 20oC trọng lượng
cơ thể là 204,7 mg/ 20 con còn tại nhiệt độ 120C là 132,9 mg/ 20con Về tốc độ tăng trưởng trọng lượng, tại nhiệt độ 120C kéo dài đến 4,5 tháng và đạt trọng lượng 468,1mg/ 20 con Tuy nhiên tại nhiệt độ 200C thì trọng lượng cơ thể chỉ đạt 340,4 mg/ 20 con, 86 % đạt trọng lượng tối đa và gần như không tăng
Ngoài ra, nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ trứng nở Nhiệt độ 120C thì sau 35,3 ngày trứng nở (89,2 %) còn tại nhiệt độ 200C thì 16,03 ngày (66,4 %) Thời gian trứng phát triển tại nhiệt độ 120C cao hơn 20OC (p < 0,0001)
Độ ẩm thích hợp rất quan trọng đối với sên, lớp da thấm nước và lượng nước
cơ thể Sự sống của sên trần còn phụ thuộc vào phần lớn hành vi nhưng cũng dựa vào khả năng chịu đựng sự mất nước của chúng (Luchtel và Deyrup Olsen, 2001)
Ví dụ, sên D reticulatum, trong cơ thể có một lượng nước hơn 80 % (và trứng
hơn 85 %), chết khi lượng nước cơ thể bị mất hơn 20 % Kết quả là có một mối quan hệ thân thiết giữa độ ẩm của đất và mật độ sên trần ở một khu vực cụ thể Do
đó, sên trần được tìm thấy chủ yếu ở những nơi ẩm ướt và mát mẻ
Trong tất cả các loài chim ăn thịt sên, thì giống vịt Ấn Độ được dùng trong
việc kiểm soát sên có hiệu quả nhất Vịt Ấn Độ là loài giống vịt trời (Anas
platynchos) Rắn, cóc, ếch, chim, bọ cánh cứng đều là thiên địch của sên
Trang 192.1.2 Các biện pháp phòng trừ sên trần
Có nhiều cách quản lý sên trần theo phương pháp canh tác (Glenb và ctv.,1990; Hammand, 1996; Speiser và Hochstrasser, 1998), và phương pháp kiểm
soát sinh học bằng cánh sử dụng tuyến trùng kí sinh Phasmarhabditis
hermaphrodita Schneider (Enter và Geelen, 1996; Glen và ctv., 1996; France và
ctv., 2002) Tuy nhiên việc kiểm soát bằng hóa học vẫn là chính (Chaber, 1996; Coupland 1996; Meredith, 1996; Costamagna và ctv., 1999; Bailey, 2002; Iglesias
và ctv., 2002)
Biện pháp hóa học
Có 2 nhóm thuốc chính được sử dụng trên toàn thế giới là chất metaldehyde và chất carbamate (Wedguood và Bailey, 1998; Bourne và ctv., 1990; Henderson và ctv., 1992) Tuy nhiên, các loại thuốc này độc nhiều với các động vật có xương sống, không xương sống không phải là mục tiêu (Homeida và Cooke, 1983; Buchs
và ctv., 1989; Puris và Bannon, 1992)
Chất metadehyde tác động lên sên trần thông qua con đường bài tiết, làm cho sên trần bài tiết quá nhiều chất nhầy dẫn đến sự mất nước và chết (Bailey, 2002) Chất metaldehyde không độc đối với các vi sinh vật có lợi như giun đất, kiến, bọ cánh cứng (Bieri, 2003)
Theo Chabert (1996) điều kiện ẩm ướt thì hiệu quả của bã chất mytadehyde khoảng 1 tuần, còn điều kiện khô ráo hiệu quả khoảng 12 ngày Nên nhiệt độ cao thì hiệu quả chất độc chất metadehyde tăng và cơ thể sên trần mất nước (Cragg và Vincent, 1952; Wright và Williams, 1980; Yuong, 1996) Mallet và Bougaran
(1971); Baily (2002) đánh giá tỉ lệ chết của sên D reticulatium khi nó chịu tác động
chất metadehyde nhiệt độ trên 200C thì cao hơn 160C
Ngoài chất metadehyde được sử dụng trừ các loài nhuyễn thể thì chất carbamate cũng được sử dụng Chất carbamate là hợp chất rất có hiệu quả đối với trừ sên trần, chúng được sử dụng như thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ dại và trừ nấm (Kenaga và ctv., 1962) Điều tra về ảnh hưởng của carbamate trên loài nhuyễn thể lần đầu tiên được tiến hành tại Mỹ, sau đó tại Australia và Đức Các thí nghiệm trên
đã cho kết quả, các hợp chất carbamte chỉ độc với động vật thân mềm Ưu điểm của
Trang 20chất carbamate không giống chất metadehyde, nó ít bị tác động của môi trường, và tăng độc tính trong môi trường ẩm ướt, rất thích hợp sử dụng cho loài nhuyễn thể Các loại thuốc trừ sên trần, chất carbamates thì hiệu quả hơn chất metadehyde Dựa vào thực tế loài nhuyễn thể thường xuất hiện trong khu vực ẩm ướt hoặc trong thời gian điều kiện thời tiết thích hợp Để kiểm soát bằng chất metaldehyde thì gần như không phù hợp với điều kiện thích hợp sên trần Ngoài các tác dụng của chất metaldehyde không mong muốn trên động vật và thực vật mà vẫn còn để được thảo luận, hiệu quả chất carbamate cao hơn chất metaldehyde ở các khía cạnh sau đây (Godan, 1979):
- Đặc biệt hiệu quả trong thời tiết ẩm ướt, tại hầu hết khu vực ẩm ướt và ở nhiệt độ thấp
- Một số carbamate có tác dụng lâu dài
- Các tính chất hệ thống đánh dấu của isolan và mexacarbate có thể được lợi thế trong sự kiểm soát của các loài chân bụng sống trên thực vật
Tỏi cũng được sư dụng phòng trừ sên trần, và được nghiên cứu trên sên trần
loài Arion sp Kết quả của việc nghiên cứu này là dịch nước ngâm chế từ củ tỏi tươi
tạo ra chất độc nhất (sên trần chết 45 %) Các chiết xuất khác từ trái cây và tỏi khô chỉ đạt hiệu quả 5 %
Các chiết xuất metanon của các loài thực vật Geranium robertianum,
Lepidium sativum, Origanum vulgare, Salvia officinalis, Salvia pratensis, Saponaria officinalis, Thymus vulgaris, Trifolium repens và Valerianella locusta
được chế xuất từ các lá mầm sau khi hạt nảy mầm 6 – 8 ngày, và ảnh hưởng đến
thức ăn của sên A lusitanicus Các chiết xuất từ các loài thực vật này đã ảnh hưởng
tới khả năng gây hại của chúng đến một mức độ nào đó, nhưng chỉ có chiết xuất từ
Trang 21Saponaria officinalis và V locusta có ý nghĩa lớn đối với A lusitanicus từ thức ăn
Các chất chiết xuất còn lại chỉ có tác dụng nhỏ có thể là do hiệu quả chiết xuất kém hoặc chúng ăn ít nên không đủ khả năng ức chế
Hiệu quả sử dụng carvone để xua đuổi A lusitanicus sên được khảo sát
Carvone là một hợp chất tự nhiên từ hạt cây ca - rum, được đưa vào dưới các màng phủ nông nghiệp để giảm tính bay hơi của chúng Thí nghiệm trong phòng, với 2 nghiệm thức có lớp phủ trên chất carvone và không có lớp phủ Với các mức nồng
độ khác nhau, nồng độ carvone từ 0,03 - 0,75 ml/ lít màng phủ, sên ăn rau nhiều hơn đáng kể ở phía bên không được phủ Và 1 thí nghiệm khác không , cũng với các mức nồng độ carvone 0,25 và 0,75 ml/ lít lớp phủ sên ăn giảm đáng kể so với không xử lý Hơn nữa ở nồng độ cao nhất của carvone (0,75 ml/ lít lớp phủ) tỉ lệ tử vong 50 % đã được ghi lại trong khoảng thời gian 5 ngày, chỉ ra một hiệu quả rõ ràng thuốc trừ nhuyễn thể Vì tính dễ bay hơi của nó, carvone không giảm bớt sự
làm rụng lá của thực vật bởi A lusitanicus khi ứng dụng trực tiếp lên trên rau diếp
Tiếp theo đánh giá tại Thụy Sĩ, trong các năm 1998 cho thấy 0,75 ml/ lít lớp phủ một phần làm giảm thiệt hại cho ăn sên Tuy nhiên, hiệu quả này không đủ để làm tăng đáng kể năng suất rau diếp Việc đưa một nồng độ cao hơn vào màng phủ carvone vẫn còn đang được thử nghiệm để xác nhận xem xử lý màng phủ carvone
có thể được khuyến cáo như là một phương pháp hiệu quả thay thế để kiểm soát hóa học trên sên trần
Biện pháp vật lí, cơ giới
Bã bia thì được mọi người làm vườn biết đến rất tốt Chúng dường như rất thành công, bởi vì các bẫy đó rất dễ nhìn thấy Tuy nhiên, mùi của bã có thể thu hút
các sên ngoài ruộng vào Vì thế, bã bia chỉ đặt chúng trong các hàng rào Các cốc
vại được đặt trong đất, mép cốc cách mặt đất 1cm (nếu chúng bị nằm trên mặt đất,
chúng sẽ bẫy các động vật chân đốt có ích như ấu trùng bọ cánh cứng Harpalus
alneus và nhện
Các hàng rào sên làm giảm sự xâm nhập của sên, nhưng nó không có hiệu quả
chống lại nơi cư trú của quần thể sên Đạt hiệu quả tốt nhất nếu như các khu vực
nhỏ có hàng rào Tuy nhiên trong trường hợp này thì giá trên một đơn vị thì rất cao
Các hàng rào ở khu vực lớn thì giảm giá nhưng cũng đạt được hiệu quả Hàng rào
Trang 22phòng trừ sên thỉnh thoảng có hiệu quả, nhưng sẽ tăng hiệu quả nếu kết hợp với các
biện pháp khác
2.2 Giới thiệu tổng quát về cây dâu tây
2.2.1 Giới thiệu chung
Dâu tây xuất xứ từ Châu Mỹ và được các nhà làm vườn châu Âu lai tạo vào thế
kỷ 18 để tạo nên giống dâu tây được trồng rộng rãi hiện nay Cây dâu tây có tên
khoa học là Fragaria vesca L., kết quả của sự lai ghép giống F chiloensis Duch và
F virginiana Duch Người Anh gọi là "strawberry", người Pháp gọi là "fraisier",
khi du nhập qua Việt Nam vì có nguồn gốc từ Pháp nên được gọi là dâu tây
2.2.2 Đặc điểm thực vật học
Cây: cây dâu tây là một loài cỏ sinh trưởng và phát triển mạnh, thuộc loại cây
đa niên nhờ có chồi dài, có thân ngắn lá mọc rất gần nhau
Lá: lá mọc ra từ cổ cây, có 3 thùy, mép lá có răng cưa và có khía sâu, dài khoảng 10 - 20cm, có nhiều lông tơ
Rễ: hệ rễ dâu tây dài khoảng 15 cm
Hoa: phát hoa là chùm, dài hơn lá một ít, xuất phát từ gốc, khi lên được 5 - 7cm bắt đầu phân chia nhiều nhánh, mỗi nhánh có một hoa, một chùm có khoảng 7 - 15 hoa, tùy thuộc vào giống và điều kiện canh tác Hoa có màu trắng, từ 5 - 6 cánh hoa,
20 tiểu nhụy, đế hoa lồi
Đài hoa gồm 10 - 12 lá đài, màu xanh, lớn, dài khoảng 1,5 cm Cánh hoa màu trắng mỏng manh, gồm 5-6 cánh, hình gần tròn Hoa lưỡng tính thụ tinh nhờ gió hay côn trùng, nên có rất nhiều khả năng lai tạo giống Sau khi thụ phấn tiểu nhụy teo đi, biến thành màu đen và bầu noãn lớn dần, các vòi bầu noãn vẫn còn nhưng dần dần rụng đi để thành mắt của quả dâu
Quả: quả là quả giả, có màu đỏ trên cọng đứng, mang nhiều đế quả nhỏ lồi trên đài (mà ta thường gọi là “hạt”) Quả bế tụ tập trên trục đế hoa và mọng nước thành khối màu đỏ Quả dâu khi còn nhỏ có màu xanh hình bầu dục không hoàn toàn, đường kính khỏang 1 cm khi con nhỏ và 5 cm khi quả đã chín, đường kính quả còn tùy thuộc nhiều vào giống và điều kiện canh tác Khi quả đã chín các lá đài rụng dần, quả càng nặng lên thì bị năm trên mặt đất nên cần phủ rơm để tránh quả bị bẩn
Trang 23và đất cũng như một số dịch hại khác như côn trùng hoặc nấm tấn công Khi quả chín biến thành màu hồng hoặc đỏ, tùy thuộc vào đặc điểm từng giống Là một phì quả, chứa nhiều đường hoặc các khoáng chất có mùi thơm dùng để ăn chín Thường mỗi cành ra một cụm hoa, mỗi cụm hoa có thể khoảng 15 quả hoặc nhiều hơn Từ lúc thụ phấn, phát triển quả tới khi chín khoảng 20 - 60 ngày, tùy thuộc vào giống
và điều kiện thời tiết (Boxus và Brasseur, 1990)
Thân bò: từ gốc mọc lên những nhánh, bò sát mặt đất được gọi là ngó (thân bò) Ngó này không có lá và từng khoảng một lại cho những mầm hình thành cây con và phát triển hoàn thiện hệ rễ Cây con này cũng tiếp tục hình thành thân bò và cây con khác Số lượng cây con hình thành tùy thuộc vào giống, điều kiện môi trường và dinh dưỡng
2.2.3 Giá trị dinh dưỡng
Quả dâu tây có mùi thơm quyến rũ, vị ngọt thanh pha lẫn vị chua được người tiêu dùng ưa chuộng Khả năng cung cấp năng lượng của dâu tây không cao (100 g dâu tây cho khoảng 34 Calo) nhưng cung cấp nhiều loại sinh tố cần thiết cho cơ thể con người như sinh tố A, B1, B2 và đặc biệt là lượng sinh tố C khá cao, hơn cam, dưa hấu Đây là đặc tính của quả dâu tây giúp tăng sức đề kháng, chống nhiễm trùng, nhiễm độc và chống stress…
Trang 24Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của quả dâu tây tươi chưa qua chế biến
(Nguồn: http://www.vjol.info/index.php/JSTD/article/viewFile/1133/2528)
2.2.4 Đặc điểm sinh thái cây dâu tây
Dâu tây thích hợp với loại đất thịt nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ cao, đất giữ ẩm nhưng thoát nước tốt Đất có hàm lượng chất hữu cơ cao sẽ giúp cho cây dâu tây phát triển tốt, đạt năng suất cao và kéo dài thời gian thu hoạch quả Cây dâu tây thích hợp với đất trung tính có độ pH từ 6 - 7
Nhiệt độ thích hợp cho cây dâu tây sinh trưởng và phát triển từ 18 - 220C Biên
độ nhiệt ngày và đêm cao sẽ tạo điều kiện để tăng năng suất và chất lượng quả dâu tây Thời kỳ cây phân hóa chồi non và ra hoa cần nhiệt độ từ 15 – 240C, thời kỳ hình thành trái cần biên độ nhiệt ngày đêm cao sẽ cho quả nhiều, nhiệt độ ngày từ
Trang 2520 – 250C, nhiệt độ ban đêm 10 – 150C cây sẽ cho nhiều trái Thời kỳ trái chín nhiệt
độ thích hợp là 15 – 220C
Ánh sáng rất cần thiết cho cây dâu tây sinh trưởng và phát triển, cây dâu tây đòi hỏi ánh sáng dồi dào thì mới sinh trưởng mạnh, thiếu ánh sáng thường ảnh hưởng đến khả năng ra hoa kết quả
2.3 Một số loài sâu hại trên cây dâu tây
Nhện đỏ (Tetranichus sp.)
Triệu chứng: Ấu trùng và thành trùng nhện gây hại bằng cách chích hút dịch của mô tế bào lá làm cho mặt trên của lá bị vàng loang lỗ từng đám, hơi nâu ở phía dưới lá Nếu gặp điều kiện thuận lợi, nhện sinh sản rất nhanh, mật độ có thể lên đến hàng vài chục con trên một lá, làm cho từng mảng lá bị vàng, khô cháy Hoa và trái cũng bị nhện gây hại Nhện đỏ hút chất dinh dưỡng trong trái làm cho trái bị vàng, sạm
và nứt khi trái lớn Hoa có thể bị rụng
Biện pháp phòng trừ
Không nên trồng dâu tây với mật độ quá dày làm cho tán lá rậm rạp, nhện có điều kiện thuận lợi gây hại nhiều hơn, cắt bỏ những lá có mật số nhện quá cao đã chớm vàng úa đem tiêu huỷ để diệt nhện
• Kiểm tra vườn dâu tây thường xuyên nếu thấy lá dâu tây có những triệu chứng bị nhện đỏ gây hại thì cần kiểm tra kỹ bằng kính lúp để soi tìm nhện ở mặt dưới của lá
• Khi ruộng có mật số nhện cao thì phải phun thuốc để diệt nhện kịp thời Nhện đỏ có khả năng kháng thuốc cao, vì thế để giảm bớt áp lực gây kháng thuốc cho nhện nên dùng luân phiên nhiều loại thuốc có hiệu quả như Comite 73EC (liều lượng 0,5 lít/ ha), Danitol 10EC (1,5 lít/ ha), Nissorun 5EC (1 lít/ ha), Pegasus 500SC (1 lít/ ha), Cascade 5EC (1 lít/ ha) Lượng nước: 400 lít/ ha
Bọ trĩ (Frankliniella sp.)
Triệu chứng: Ấu trùng và thành trùng bọ trĩ phá hại búp, lá, thân và trái non Chúng hút chích nhựa làm cây suy kiệt, giảm năng suất thu hoạch Hoa bị bệnh chuyển màu nâu và chết Tuy nhiên trái non vẫn tiếp tục lớn nhưng có màu vàng đồng Những
Trang 26trái bị triệu chứng này thường nhỏ và cứng hơn, đồng thời những hạt trên bề mặt trái dâu bị lồi ra Bề mặt trái dâu tây bị rạn và có màu đồng
Biện pháp phòng trừ:
Vệ sinh đồng ruộng để giảm nguồn bọ trĩ sọc vàng tồn tại và lây lan
Gieo trồng cây con khỏe, phủ đất bằng màng phủ nông nghiệp màu xám trắng
Dùng thuốc: Imidacloprid (Confidor 100SL (liều lượng 0,4 lít/ ha)), Admire 50EC (0,8 lít/ ha); Thiamethoxam (Actara 25WG (nồng độ 0,01 5%)); Etofenprox (Trebon 30EC (0,5 lít/ ha))
Sâu ăn tạp, sâu cuốn lá
Sâu ăn tạp ký sinh trong phần gốc phá hoại chủ yếu vào ban đêm, ăn lá và phần thân non của cây
Sâu cuốn lá làm gãy cuống lá, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây
Biện pháp phòng trừ
• Luân canh cây trồng, vệ sinh đồng ruộng
• Xử lý đất trước khi trồng cây con
• Phòng trừ bằng thuốc hoá học
Sên trần
Triệu chứng: Sên trần thường xuyên có mặt trên đồng ruộng, nhưng khi trời nắng thì chúng trốn dưới bất cứ vật gì có bóng mát và ẩm ướt như lá chết, nilon, đá Chính nơi đây là nơi trú ẩn, nơi chúng có thể nằm đẻ trứng, vào ban đêm hoặc vào những ngày mưa sên trần bò ra ngoài để ăn những cây đã mục nát và cả trái dâu tây Những vết tổn thương này làm giảm đáng kể giá trị của trái dâu tây và là nơi để nấm mốc gây thối trái xâm nhập và phát triển
Trang 27• Có thể trộn thuốc Bolis 5B với cám rang, vãi thành từng đám trên bề mặt luống dâu tây để diệt sên trần, nên rải thuốc vào chiều tối và sau khi tưới nước
2.4 Các yếu tố khí tượng tại Đà Lạt từ tháng 2 đến tháng 6/2011
Bảng 2.2: Các yếu tố thời tiết trong các tháng thí nghiệm
Tháng Nhiệt độ (oC) Lượng mưa Độ ẩm (%)
Trung bình Tối cao Tối thấp (mm.tháng-1)
Trang 28Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ 15/02 - 15/06/2011 tại Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật Lâm Đồng, số 12 Hùng Vương Tp Đà Lạt
3.2 Nội dung nghiên cứu
Điều tra thành phần loài và phổ kí chủ sên trần hại dâu tây
Điều tra mức độ gây hại của sên trần D agreste hại cây dâu tây
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chính của sên trần D agreste hại cây dâu tây
3.3 Vật liệu nghiên cứu
- Trái dâu tây để nuôi sên trần
- Dụng cụ và vật liệu thu thập mẫu: hộp nhựa (dài 25 cm, rộng 15 cm, cao 10 cm), dung dịch ngâm giữ mẫu gồm có nước cất, cồn 30o và cồn 70o
- Dụng cụ nuôi mẫu: hộp nhựa hình chữ nhật, giấy giữ ẩm, đất xử lý bằng nước sôi
- Dụng cụ thí nghiệm ngoài đồng: máy chụp hình, sổ ghi chép, dây màu, cọc tre, đèn pin
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Điều tra thành phần loài sên trần hại cây dâu tây
Phương pháp điều tra: điều tra trên 3 phường trồng dâu chính của Tp Đà Lạt,
mỗi phường điều tra 10 vườn
Cách thu thập mẫu: lấy mẫu theo phương pháp 20 điểm chéo góc trên một vườn, điều tra quanh cây dâu tây bán kính 15 cm Thu thập sên trần bằng tay, cho vào hộp nhựa, dán nhãn ghi địa điểm thu thập và ngày thu thập
Trang 29Thời gian điều tra: điều tra các loài sên trần vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát
Điều tra vào mùa nắng 5 ngày/ lần, còn vào mùa mưa thì điều tra liên tục
Phương pháp bảo quản mẫu và định danh: mẫu thu thập được ngâm trong nước
cất 1 - 1,5 ngày cho sên trần ra hết nhớt sau đó chuyển qua cồn 30o (1 ngày) và chuyển sang 70o ghi tên, địa điểm điều tra và gửi mẫu đến Viện Sinh thái Tài nguyên Môi trường (địa chỉ: 18 - Hoàng Quốc Việt - Cầu Giấy - Hà Nội) để định danh loài
Chỉ tiêu điều tra: Thành phần loài sên trần và tần suất xuất hiện của mỗi loài
Tần số xuất hiện (%) = (số điểm mẫu hiện diện/ tổng điểm điều tra) x 100
Hình 3.1 Điều tra thành phần loài
3.4.2 Điều tra phổ kí chủ sên trần hại trên cây dâu tây
Phương pháp thực hiện: để xác định phổ kí chủ của sên trần ngoài đồng ruộng,
tiến hành điều tra sự hiện diện của sên trần trên các cây trồng khác xung quanh vườn dâu tây trong bán kính 100 m, thu thập sên trần về phòng thí nghiệm Sau đó thử lại phổ kí chủ bằng cách cho sên trần ăn các bộ phận non của cây trồng đã xác định ngoài đồng Cho 10 con sên trần vào mỗi hộp nuôi đựng riêng từng loại thức ăn (các bộ phận
cây trồng xung quanh vườn dâu tây đã điều tra)
Chỉ tiêu điều tra: - Thành phần cây kí chủ của sên trần
- Mức độ ưa thích của sên trần đối với cây kí chủ
Việc xác định mức độ ưa thích: ++++: sên trần ăn ngay sau khi tiếp xúc với thức ăn
+++: sên trần ăn thức ăn sau 1/2 ngày
++: sên trần ăn thức ăn sau 1 ngày
+: sên trần ăn thức ăn > 2 ngày
-: sên trần không ăn
Trang 303.4.3 Khả năng gây hại của sên trần trên cây dâu tây
Điều tra diễn biến mức độ gây hại của sên trần D agreste trên cây dâu tây ở ngoài đồng
Phương pháp điều tra: để điều tra diễn biến mức độ gây hại sên trần D agreste
trên dâu tây chọn 3 ruộng dâu tây đang trong thời gian thu hoạch ở 3 phường trồng dâu tây tập trung tại Tp Đà Lạt: phường 6, phường 7, phường 8, có điều kiện tương đồng
về giống (giống Mỹ đá: giống phổ biến)
Ruộng 1: tại phường 6, Tp Đà Lạt, diện tích 600 m2, luống trồng được phủ rơm phía trên mặt và không dùng màng phủ nông nghiệp hai bên luống Về canh tác thì chủ ruộng tưới nước vào 6 giờ sáng, tưới bằng vòi phun tự động, thời gian tưới cho mỗi lần
là 15 – 20 phút Nhưng do ruộng phủ rơm dày trên mặt luống và rãnh luống ở giữa ruộng thấp không thoát nước được nên ruộng luôn bị ẩm ướt Đó là môi trường thích hợp cho sên trần sinh sống và gây hại Và ngày 21/04 chủ vườn rải thuốc trừ sên trần nhưng không rải vào ô điều tra Vào mùa mưa thì ngày 25/05 chủ vườn rải thuốc trừ sên trần và cách 1 tuần rải 1 lần tức là ngày 01/06, 07/06
Hình 3.2 Ruộng điều tra 1 và ô điều tra
Ruộng 2: tại phường 7, Tp Đà Lạt, diện tích 700 m2 , luống trồng được phủ lá thông phía trên mặt Về canh tác thì chủ ruộng tưới nước vào buổi chiều khoảng hơn
16 giờ trở đi, tưới bằng vòi phun tự động, thời gian tưới cho mỗi lần là 20 – 30 phút Nên tạo môi trường ẩm ướt thuận lợi cho sên trần sinh sống và gây hại Chủ vườn rải thuốc trừ sên trần vào các ngày 18/04, 10/05, ngày 25/05 và 02/06
Trang 31Hình 3.3 Ruộng điều tra 2 và ô điều tra
Ruộng 3: tại phường 8, Tp Đà Lạt, diện tích 640 m2, luống trồng được phủ lá thông phía trên mặt Về canh tác thì chủ ruộng tưới nước vào buổi sáng khoảng 7 – 8 giờ, tưới bằng vòi phun tự động, thời gian tưới cho mỗi lần là 20 – 30 phút Chủ vườn
rải thuốc ngày 17/04, 25/05, 02/07
Hình 3.4 Ruộng điều tra 3
Trang 32Hình 3.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ngoài ruộng
Trên mỗi vườn điều tra 21 điểm cố định, cách bờ 2 - 3 m Ở mỗi điểm điều tra 4 cây và hai bên mép luống của 4 cây đó
Phương pháp điều tra: cố định vườn, điểm điều tra, điều tra định kì 5 ngày/ lần,
vào lúc sáng sớm (4 giờ) từ tháng 4 đến tháng 06/2011 Đếm số luợng tất cả các loài sên trần có và số lượng của mỗi loài, đếm tổng số các cây, trái dâu tây bị hại và tổng
số cây, trái dâu tây trong ô điều tra
Chỉ tiêu điều tra:
- Mật độ sên trần (con/ m2)
- Tỉ lệ cây bị hại (%) = (Tổng số cây bị hại/ tổng số cây điều tra) x 100
- Tỉ lệ quả bị hại (%) = (số quả bị hại/ tổng số quả điều tra) x 100 (quả dâu điều tra là các quả đã nở mắt tức là các quả thu hoạch được)
Ghi chú: Trái bị hại là trái dâu tây bị sên trần gây hại
Cây bị hại là cây có trái dâu tây bị sên trần gây hại
Điều tra diễn biến mức độ gây hại của sên trần D agreste trên trái dâu tây trong phòng thí nghiệm
Phương pháp điều tra:
Thu thập sên trần loài D agreste ở các vườn không sử dụng các loại thuốc trừ sên
trần, phân loại tỷ lệ các tuổi sên trần theo phương pháp xác định tuổi của Skujtne (2003) dựa vào trọng lượng cơ thể của sên trần thu thập ngoài đồng (lấy sên trần có trọng lượng lớn nhất làm chuẩn)
Trang 33- Sên trần con: 0 - 1/4 trọng lượng sên trần tối đa
- Sên trần trưởng thành: 1/4 - 3/4 trọng lượng sên trần tối đa
- Sên trần già: > 3/4 trọng lượng sên trần tối đa
Sau mỗi lần thu thập mẫu ngoài đồng về ta cân các con sên trần lớn và tiếp tục nuôi trong phòng thí nghiệm cho ăn bằng trái dâu tây chín (nuôi trên đất đã xử lý bằng nước sôi) Sên trần được theo dõi và ghi nhận trọng lượng hằng ngày cho đến khi sên trần chết Từ đó biết được trọng lượng tối đa của sên trần trong quá trình nuôi
Kết quả điều tra và xác định trọng lượng sên trần tối đa là 0,32 g nên tuổi của sên trần được xác định như sau:
Sên trần con: trọng lượng < 0,08 g
Sên trần trưởng thành: trọng lượng 0,08 – 0,24 g
Sên trần già: trọng lượng > 0, 24 g
Điều tra mức độ gây hại của sên trần trong phòng thí nghiệm được tiến hành hoàn toàn ngẫu nhiễn, đơn yếu tố gồm 5 NT và 6 LLL (mỗi LLL 10 con sên trần) Tiến hành nuôi sên trần trong hộp nhựa và cung cấp 50 ± 1 g trái dâu tây chín, thời gian theo dõi 24 giờ một lần, trong vòng 3 ngày
- NT 1: tổ hợp tuổi sên trần (3 sên trần già + 4 sên trần trưởng thành + 3 sên trần con)
- NT 2: sên trần con
- NT 3: sên trần trưởng thành
- NT 4: sên trần già
- NT 5: đối chứng (không có sên trần để tính khả năng thất thoát của trái dâu tây)
Chỉ tiêu theo dõi
- Trọng lượng dâu tây sên trần đã tiêu thụ (g): được xác định bằng cách cân trọng lượng dâu tây trước khi thí nghiệm và 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ sau khi sên trần tiêu thụ
- Chỉ số trái dâu tây bị hại : được xác định bằng cách lấy cấp độ hại của NT Chỉ số hại được tính bằng công thức:
CSH (%) = [(∑ (a x n)/ N * 5)]*100
Trong đó: a là cấp hại n: số trái bị hại ở cấp tương ứng
N: tổng số trái trong hộp 5: Cấp hại cao nhất