1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN RUỒI ĐỤC LÁ, MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI Chromatomyia horticola (Agromyzidae – Diptera) TRÊN ĐẬU HÒA LAN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

67 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 677,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN RUỒI ĐỤC LÁ, MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SIN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN RUỒI ĐỤC LÁ, MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI

Chromatomyia horticola (Agromyzidae – Diptera) TRÊN

ĐẬU HÒA LAN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT KHÓA : 2007 – 2011

SVTH : ĐẶNG THỊ QUẾ ANH

Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2011

Trang 2

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN RUỒI ĐỤC LÁ, MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI

Chromatomyia horticola (Agromyzidae – Diptera) TRÊN

ĐẬU HÒA LAN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Thành kính ghi nhớ công ơn của Bố Mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con học tập và hoàn thành luận văn này

- Chân thành biết ơn:

Ban Gám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm và quí thầy cô khoa Nông Học trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh đã giảng dạy và truyền đạt kiến thức quí báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Cô Trần Thị Thiên An – Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật – khoa Nông Học – Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Các Cô bác và Anh chị nông dân tại các phường của thành phố Đà Lạt đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Và các Anh Chị, Bạn Bè và những người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tp Hồ Chí Minh, tháng 8/2011

Sinh viên thực hiện

Đặng Thị Quế Anh

Trang 4

TÓM TẮT

ĐẶNG THỊ QUẾ ANH, Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, tháng 8/ 2011,

đề tài:” Điều tra thành phần ruồi đục lá, mức độ gây hại và nghiên cứu một số đặc

điểm sinh học của loài Chromatomyia horticola (Agromyzidae – Diptera) trên đậu hòa

lan tại thành phố Đà Lạt”

Giáo viên hướng dẫn: TS TRẦN THỊ THIÊN AN

Nhằm để xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự biến động quần thể ruồi đục lá và ong kí sinh của chúng cùng với đặc điểm sinh học của loài ruồi

Chromatomyia hortiocla trên cây đậu hòa lan ở thành phố Đà Lạt để làm cơ sở thực

tiễn cho việc xác định biện pháp phòng trừ hữu hiệu cho loài dịch hại này, đề tài được thực hiện từ tháng 2 – tháng 6/ 2011 tại một số phường của thành phố Đà Lạt với các nội dung nghiên cứu điều tra thành phần ruồi đục lá và thành phần ong kí sinh sâu non của chúng trên đậu hoà lan, điều tra diễn biến mức độ gây hại của ruồi đục lá và đặc

điểm sinh học của loài Chromatomyia horticola Kết quả thu được của đề tài bước đầu

cho thấy:

- Ở thành phố Đà Lạt có 2 loài ruồi đục lá là Liriomyza huidobrensis B và

Chromatomyia horticola G gây hại trên cây đậu hòa lan cả 2 loài thuộc họ

Agromyzidae bộ Diptera

- Ở thành phố Đà Lạt có 6 loài ong kí sinh sâu non của ruồi đục lá trên cây đậu hoà lan, chúng gồm 3 loài thuộc họ Eulophidae, 1 loài thuộc họ Braconidae, 1 loài thuộc họ Eucoilidae và 1 loài thuộc họ Pteromalidae Trong các loài ong kí sinh thu

được thì có 3 loài phổ biến là Diglyphus isaea, Chrysocharis pentheus và

Neochrysocharis formosa cả 3 đều thuộc họ Eulophidae

Trang 5

- Ruồi đục lá gây hại trên cây đậu hoà lan từ khi cây còn nhỏ đến khi cây tàn Mức độ gây hại của chúng thì khác nhau tùy theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây, chúng gây hại nặng lúc ở giai đoạn cây con và giảm dần khi bước vào thu hoạch và tận thu

- Loài ruồi đục lá Chromatomyia hortiola khi nuôi ở điều kiện thí nghiệm 25,6

0C và ẩm độ 68,5 % thì vòng đời từ 20,47 ± 0,32 ngày, với gian phát triển trung bình của các pha là trứng 4.05 ngày, sâu non là 6,35 ngày, nhộng là 8,46 ngày, cùng với tỉ

lệ trứng nở là 88,8% , tỉ lệ hóa nhộng là 89,49% và tỉ lệ vũ hóa là 85,49% Thành trùng cái sau khi vũ hóa cho ăn thêm dung dịch đường 10% thì khoảng 1,37 – 1,85 ngày thì bắt đầu đẻ trứng, con cái đẻ cao nhất trong 1 ngày là 50 trứng và cao nhất trong vòng đời là 111 trứng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh sách các bảng các hình vii

Danh sách chữ viết tắt vii

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Giới hạn đề tài 3

Chương 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá Chromatomyia horticola G trên cây đậu hòa lan (Pisum sativum L.) 4

2.1.1 Một số kết quả nghiên cứu ngoài nước 4

2.1.1.2 Mức độ gây hại 6

2.1.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh học của ruồi đục lá C horticola 7

2.1.1.4 Môt số kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của quần thể C horticola 9

2.1.1.5 Một số kết quả nghiên cứu về ong kí sinh ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan 12

2.1.1.6 Một số kết quả nghiên cứu về biện pháp phòng trừ 15

Trang 7

2.1.2 Một số kết quả nghiên cứu trong nước 16

2.1.2.1 Phân bố và kí chủ 16

2.1.2.2 Mức độ gây hại 16

2.1.2.3 Biện pháp phòng trừ 16

2.2 Giới thiệu về cây đậu hòa lan 18

Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Thời gian, địa điểm thí nghiệm 20

3.2 Điều kiện thời tiết 20

3.3 Vât liệu nghiên cứu 20

3.4 Phương pháp thí nghiệm 20

3.4.1 Điều tra thành phần ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan 20

3.4.2 Điều tra thành phần ong kí sinh trên sâu non ruồi đục lá đậu hòa lan 21

3.4.3 Điều tra diễn biến mức độ gây hại của ruồi 22

3.4.4 Nghiên cứu đặc điếm sinh học của ruồi đục lá Chromatomyia horticola 24

3.5 Xử lí số liệu 26

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Thành phần loài ruồi đục lá và mức độ phổ biến của chúng trên cây đậu hòa lan (Pisum sativum L.) 27

4.2Thành phần loài ong ký sinh sâu non ruồi đục lá và mức độ phổ biến của chúng trên cây đậu hòa lan (Pisum sativum L.) 30

4.3 Biến động mức độ gây hại của ruồi đục lá trên cây đậu hòà lan ở thành phố Đà Lạt năm 2011 4.4 Một số đặc điểm sinh học chính của ruồi Chrommyia horticola 36

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

CHƯƠNG 7: PHỤ LỤC 53

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG CÁC HÌNH

Bảng

4.1: Thành phần ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan tại thành phố Đà Lạt năm 2011 27

4.2: Thành phần loài ong kí sinh sâu non ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan tại thành phố Đà Lạt năm 2011 30

4.3 Thời gian phát dục các pha cơ thể và vòng đời ruồi đục lá C horticola 37

4.4: Khả năng sinh sản của ruồi đục lá Chromatomyiah horticola 41

4.5: Khả năng phát triển sau đẻ trứng của ruồi đục lá Chromatomyia horticol 41

Hình Hình 3.1: Mẫu thu thập ngoài đồng 22

Hình 3.2: Cây kí chủ nuôi ruồi 25

Hình 4.1 ruồi đục lá đậu hòa lan 29

Hình 4 2: Một số ong kí sinh sâu non ruồi đục lá C horticola 32

Hinh 4.3 : Biến động quần thể ruồi đục lá đậu hòa lan 33

Hình 4.4: Ruộng đậu hòa lan 35

Hình 4.5: Biến động quần thể ruồi đục lá ở 2 ruộng có số lần phun thuốc khác nhau36

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Cây ký chủ CKC

Chỉ tiêu theo dõi CTTD

Ong kí sinh OKS

Trang 10

Chương 1

GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Đậu hòa lan (Pisum sativum L.) là một trong những loại rau có giá trị dinh dưỡng

cao, tuy không có mặt thường xuyên trong các bữa ăn của gia đình Việt Nam nhưng chúng góp phần không nhỏ trong việc cung cấp chất dinh dưỡng cho con người, bởi vì trong quả tươi, non có nhiều glucozo, protein, vitamin C và một số chất dinh dưỡng khác Ở nước ta diện tích trồng đậu hòa lan còn nhỏ phân tán, tuy đậu hòa lan đã được trồng ở Việt Nam từ hàng thế kỉ nay nhưng sản lượng còn thấp Một số tỉnh ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta có thể trồng đậu hòa lan là Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang và các thành phố lớn như Hải Phòng, Hà Nội, đặc biệt khu vực Đà Lạt (Lâm Đồng) có điều kiện khí hậu thích hợp để canh tác loại đậu này quanh năm

Nhiều năm gần đây hạt đậu hòa lan tươi và khô đã được sử dụng rộng rãi hơn trong các nhà hàng, khách sạn, vì vậy đậu hòa lan đang có xu hướng được chú trọng sản xuất Nhưng việc canh tác cây đậu hòa lan cũng gặp một số khó khăn do bị sâu bệnh hại tấn công như là bệnh lở cổ rễ, bệnh virut, sâu đục quả, rệp và ruồi đục lá,

trong đó thì loài Chromatomyia horticola G được xem là đối tượng gây hại khá

nghiêm trọng (Spencer, 1973), chúng gây hại trên đậu hòa lan với tỉ lệ hại trung bình

là 37,5% (Kaya và Hincal, 1991) và có thể mất 30% năng suất nếu không được kiểm soát (Sivapragasam và ctv., 1992) Chúng là loài ăn tạp gây ra nhiều thiệt hại đối với cây trồng, sâu non đục và ăn biểu bì lá làm giảm khả năng quang hợp ảnh hưởng đến năng suất thẩm chí có thể làm chết cây kí chủ nếu mật số chúng cao (Spencer và

Steyskal, 1986) Và một điều đặc biệt quan trọng là khi gây hại thì loài ruồi đục lá C

horticola có thể truyền virus gây bệnh từ cây này qua cây khác (Civelek và Onder,

1999) Ngoài ra đây cũng là loài ruồi đã phá hại nặng trên rau và hoa kiểng ở Nhật Bản (Saito và ctv., 2008) và theo một số tá giả ghi nhận chúng gây hại trên cây mù tạc, cải

Trang 11

sợi 64% cây dưa 46% (Tandon, 1971), cây tỏi 30 - 50% có khi 100% (Hu và ctv., 1992) và nó đã được kiểm soát bằng thuốc bảo vệ thực vật từ những năm 1980

Từ cuối năm 1997 chương trình quản lí dịch hại tổng hợp quốc gia phối hợp với cục Bảo Vệ Thực Vật đã xây dựng kế hoạch tổ chức nghiên cứu về loài ruồi đục lá

Tuy nhiên việc tìm hiểu về đặc điếm sinh học, mức độ gây hại của loài Chromatomyia

horticola G còn hạn chế và việc phòng trừ loài ruồi này chủ yếu bằng biện pháp hóa

học Nhưng một số nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy loài ruồi này đã kháng thuốc (Saito, 2004) Do đó vấn đề đặt ra là chúng ta cần nắm được thành phần ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan là những loài nào, mức độ gây hại của chúng ra sao, riêng đối với

loài Chromatomyia horticola G thì đặc điểm sinh học của chúng như thế nào Do vậy

để giảm thiểu tới mức thấp nhất việc sử dụng thuốc hóa học trong viêc phòng trừ loài ruồi này, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của xã hội về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phát huy tối đa vai trò kiểm soát sâu hại của thiên địch thì đề tài

“Nghiên cứu thành phần ruồi đục lá, mức độ gây hại và một số đặc điểm sinh học

của loài Chromatomyia horticola G trên đậu hòa lan tại thành phố Đà Lạt” đã

được thực hiện

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích đề tài

Tìm hiểu về thành phần ruồi đục lá, mức độ gây hại cùng với đặc điểm sinh học

của loài Chromatomyia horticola G trên đậu hòa lan để làm cơ sở cho nghiên cứu và

xây dựng biện pháp phòng trừ hiệu quả loài dịch hại này

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra được thành phần ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan

- Điều tra được thành phần ong kí sinh sâu non ruồi đục lá đậu hòa lan

- Điều tra được diễn biến mức độ gây hại của ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan

- Nghiên cứu được một số đặc điểm sinh học của ruồi đục lá Chromatomyia

horticola gây hại trên đậu hòa lan

Trang 12

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Ruồi đục lá và ong kí sinh sâu non của chúng trên cây đậu hòa lan

- Ruồi đục lá C horticola

1.4 Giới hạn đề tài

Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2011 đến tháng 6/2011 tại Đà Lạt với các nội dung chủ yếu

- Thành phần ruồi đục lá và ong kí sinh sâu non của chúng trên cây đậu hòa lan

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chính của ruồi đục lá Chromatomyia

horticola như về thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời, khả năng sinh sản…

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá Chromatomyia horticola G trên cây đậu hòa lan (Pisum sativum L.)

2.1.1 Một số kết quả nghiên cứu ngoài nước

2.1.1.1 Thành phần, sự phân bố, và ký chủ của loài ruồi đục lá C horticola

Nghiên cứu về thành phần ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan Gencer (2009) ghi

nhận được 4 loài là C horticola, Phytomyza lappae, Liriomyza sp., L trifolii Và một

số tác giả khác cho rằng thiệt hại do sâu non ruồi đục lá gây ra phụ thuộc chặt chẽ vào

từng loài ruồi, cây ký chủ và vùng phân bố của chúng Trong đó thì loài C horticola

được Spencer (1972) ghi nhận là một loài đa thực có phổ ký chủ rộng gồm 160 chi của

31 họ cây trồng trong đó 55 chi của 19 họ được ghi nhận ở nước Anh Ngoài ra ở Anh

và Ailen Spencer (1976) đã ghi nhận phổ kí chủ của ruồi đục lá C horticola là cây đương qui (Alcea rosea), tỏi mù tạc (Alliaria petiolata), tỏi ta (Allium sativum), chùm ngây (Armoracia rusticana), cây mù tạc đen (Brassica nigra), nho dại (Bryonia

dioica), cần sa (Cannabis sativa), rau tề (Capsella bursa-pastoris), cây đinh hương

(Cheiranthus cheiri), bắp cải lundy (Coincya wrightii), mù tạc tai thỏ (Conringia

orientalis), dưa chuột (Cucumis sativus), mẫu đơn (Dahlia pinnata), gai dầu

(Galeopsis tetrahit), Hesperis matronalis, Jasionemontana, cây cẩm quì (Lavateraarborea), cây liễu ngư (Linaria purpurea), (Linaria vulgaris), đậu lupin (Lupinus polyphyllus), cà chua (Lycopersicon esculentus), cây bụt (Malva neglecta), cây bụt cao (Malva sylvestris), cây hoa violet (Meconopsis cambrica), cỏ ba lá ngọn màu vàng (Melilotus officinalis)

Nhận xét về phổ kí chủ của ruồi đục lá C horticola Spencer (1990) đã ghi nhận

là loài ruồi này tấn công trên 35 họ cây trồng như Asteraceae, Brassicaceae, Cucurbitaceae, Lamiaceae, Fabaceae, Liliaceae, Linaceae, Papaveraceae và Solanaceae, trong đó thì cây đậu hòa lan trong họ Fabaceae là bị loài dịch hại này tấn công nặng nhất (Spencer, 1973)

Trang 14

Theo CABI (2000) ghi nhận được là loài ruồi đục lá C horticola có kí chủ rộng

bao gồm 268 chi của 36 họ cây trồng và chúng phân bố chủ yếu ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi

Kí chủ cấp 1: Họ Fabaceae (đậu hòa lan, quả đậu, đậu đũa), họ Solanaceae (cà chua), họ Brassicaceae (cải trắng, bắp cải, cải bẹ xanh), họ Liliaceae (hành, tỏi tây), họ Cucurbitaceae (bầu bí, dưa chuột), họ Anacardiaceae, họ Asteraceae (xà lách), họ Chenopodiaceae (cải bó xôi), họ Ranunculaceae, họ Umbelliferae, bạc hà (mentha),

hoa cúc (Chrysanthemum sp.), họ bông (Malvaceae)

Kí chủ cấp 2: Họ Amaranthaceae, họ Rutaceae, họ Onagraceae

Theo CABI (2000) ruồi đục lá C horticola là dịch hại kinh tế quan trọng ở bất

cứ nơi nào mà chúng xuất hiện, ở Bắc Âu chúng gây hại nghiêm trọng trên cà chua và

xà lách trồng trong nhà kính Ở vùng Mediterranean thì chúng gây hại trên bắp cải và

đậu trồng trong nhà kính và ngoài đồng Ở Nhật Bản ruồi đục lá C horticola tấn công

trên hành, bạc hà

Ở tỉnh Hangzhou Nam Trung Quốc, Chen X.X và ctv (2003) ghi nhận là ruồi

đục lá C horticola tấn công cây đậu hòa lan, cải bẹ trắng, bắp cải, cải bẹ xanh, cải củ,

đậu đũa, đậu cove, xà lách, hành hương và một số cây cỏ dại khác

Theo Wang và ctv (2004) đã điều tra và ghi nhận ruồi đục lá C horticola tấn

công gây hại trên họ Cruciferae, Legumminosae và họ Cucurbitaceae, đặc biệt chúng tấn công và gây hại nặng trên xà lách và đậu hòa lan

Theo Ibrahim G và Onder Akpinar (2010) báo cáo rằng loài ruồi đục lá C

horticola tấn công trên 34 họ rau, hoa kiểng và cỏ dại, chúng phân bố ở nhiều vùng

của Châu Âu và Châu Á Và tác giả còn ghi nhận rằng chúng được tìm thấy đầu tiên trên hoa cúc vào năm 1958 ở Thổ Nhĩ Kì

2.1.1.2 Mức độ gây hại

Nghiên cứu về mức độ gây hại của ruồi đục lá Parella (1984) đã ghi nhận cả 2 giai đoạn sâu non và trưởng thành của ruồi đục lá đều gây hại nguy hiểm cho cây ký

Trang 15

chủ Sâu non của ruồi đục lá đục ăn phần thịt lá phía dưới lớp biểu bì tạo thành những đường hầm ngoằn ngèo làm giảm khả năng quang hợp của cây Còn ruồi trưởng thành

của hầu hết các loài ruồi đục lá kể cả loài C horticola gây hại trên cây bằng cách chích

vào biểu bì lá để đẻ trứng và hút chất dinh dưỡng (Zoebisch và Schuster, 1987; Minkenberg và Otten heim, 1990; Sharma và ctv., 1994; 1997) Chúng là loài ăn tạp gây ra nhiều thiệt hại khác nhau, đối với các cây trồng bị sâu non đục và ăn biểu bì lá thì khả năng quang hợp bị giảm ảnh hưởng đến năng suất thẩm chí có thể làm chết cây

kí chủ nếu mật số chúng cao (Spencer và Steyskal, 1986), còn hoa kiểng khi bị chúng tấn công thì sẽ bị giảm giá trị thẩm mỹ Và một điều đặc biệt quan trọng là khi gây hại

thì loài ruồi đục lá C horticola có thể truyền virus gây bệnh từ cây này qua cây khác

(Civelek và Onder, 1999)

Theo CABI (2000) cho rằng giai đoạn cây trồng bị ruồi đục lá C horticola tấn

công là khi cây còn nhỏ, sinh trưởng thân lá, đang ra hoa, ra trái Con cái đẻ trứng trên

bề mặt lá đặc biệt là ở chóp lá và rìa mép lá (Parrella và ctv., 1985; Parrella, 1987; Wei

và ctv., 2000)

Theo Sivapragasam và ctv (1992) ghi nhận rằng ruồi đục lá C horticola gây

hại trực tiếp và gián tiếp, làm mất năng suất đậu hòa lan 30% nếu không được kiểm soát

Ở Ấn Độ, năm 1993 Bhalla và Narang đã ghi nhận được là ruồi đục lá C

horticola tấn công trên dưa chúng đục 80% lá mầm và chỉ 6% lá thật

Ở vùng Mediterranean, năm 1971 Tandon đã ghi nhận được rằng cây mù tạc, cải sợi, bị loài ruồi này tấn công nặng lên tới 64%, cây dưa 46% và trung bình 2,8 ấu trùng và nhộng/ lá (Narang và Chahal, 1986)

Nhận xét về mức độ gây hại của ruồi đục lá C horticola ở Thổ Nhĩ kì, năm 1991 Kaya và Hincal cho biết trên đậu (Pisum sp.) bị tấn công với tỉ lệ bị hại trung bình là

37,5% và 1 - 4 sâu non/ lá Còn ở Trung Quốc, theo Hu và ctv (1992) ghi nhận cây tỏi

bị loài ruồi này tấn công 30 - 50% có khi 100%

Trang 16

Ở Srinagar Kashmir Ấn Độ, Ahmad M và ctv (2010) ghi nhận là bắp cải

(Brassica campestri) bị tấn công trong tháng 3 - tháng 5 là 4,16% - 100% và 0,46% -

92,7%, số đường đục trung bình trên lá là 0,65% - 13,09%

2.1.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh học của ruồi đục

lá C horticola

Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho biết sự phát triển của ruồi đục lá trải qua 4 giai đoạn là trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành Thời gian phát triển vòng đời của ruồi đục lá phụ thuộc chủ yếu vào nhiêt độ và cây kí chủ nơi mà chúng sống

● Pha trứng

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của ruồi đục lá một số tác giả nhận xét trứng của chúng được đẻ từng cái riêng lẻ trong mô lá, mới đẻ thì có màu trắng trong còn sắp

nở thì chuyển sang mờ đục, còn đối với loài C horticola theo CABI (2000) cho rằng

trứng của loài này được đẻ trong lá và nằm mặt dưới lá nhưng thường thích ở chóp lá, trứng nở ra sau 3 - 4 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ và khí hậu, con cái có thể đẻ 50 trứng/ ngày và một con cái có thể đẻ hơn 355 trứng và theo Melis (1935), Ahmad và Gupta (1941), Molitas và Gabriel (1975), Wang vag Yan (1986), Sharma và ctv (1997) thì một trưởng thành cái có thể đẻ 100 - 500 trứng, và đẻ tối đa là 50 trứng/ ngày sau 1 - 4 ngày thì trứng nở

Theo Wang và Yan (1986), ở nhiệt độ 210C, trưởng thành cái đẻ trứng 1 - 3 ngày sau khi vũ hóa, số lượng là 475,3 trứng, trứng phát triển 1- 3 ngày là nở tỉ lệ là 96,68%

● Pha sâu non

Sâu non ruồi đục lá dạng dòi, hơi giống hình trụ với phần trước cơ thể thì nhọn

và phần cuối cơ thể thì tù Sâu non của ruồi đục lá C horticola có màu trắng xanh dài

khoảng 3 mm, chúng nằm trong mô lá và đục ăn diệp lục của lá tạo thành những đường hầm ngoằn ngèo, khi đẫy sức thì hóa nhộng ngay tại đường đục Sâu non của

ruồi đục lá C horticola có 3 tuổi và để xác định chính xác tuổi của sâu non của loài

ruồi này cũng như tuổi sâu non các loài ruồi đục lá khác Saito (1993) khuyến cáo sử

Trang 17

dụng phương pháp đo kích thước móc miệng hoặc chiều rộng chiều dài đường đục của dòi trên các lá kí chủ bị hại

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học ruồi đục lá C horticola Sasakawa và Yoshida

(1975) ghi nhận là sâu non của chúng nở ra nằm trong lá ăn hại 4,5 ngày và theo Melis (1935), Ahmad và Gupta (1941), Molitas và Gabriel (1975), Wang vag Yan (1986), Sharma và ctv (1997) ghi nhận dưới điều kiện ấm áp giai đoạn sâu non trải qua 5 – 6 ngày tùy theo nhiệt độ và chất lượng thức ăn

Theo Wang và Yan (1986), ở nhiệt độ 210C, sâu non ruồi đục lá C horticola

phát triển kéo dài 3 tuổi, tuổi 1 (2,5 ngày), tuổi 2 (1,69 ngày), tuổi 3 (1,75 ngày)

● Pha nhộng

Theo Spencer (1976) nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi đục lá C horticola

đã ghi nhân là nhộng của loài này là dạng nhộng bọc, hình ovan màu nâu vàng hoặc hơi trắng và được làm trong đường đục

Theo Melis (1935), Ahmad và Gupta (1941), Molitas và Gabriel (1975), Wang

và Yan (1986), Sharma và ctv (1997) ghi nhận nhộng của ruồi đục lá C horticola phát

triển kéo dài 9 - 15 ngày

Theo Wang và Yan (1986), ở nhiệt độ 210C, nhộng của ruồi đục lá C horticola

trải qua 7,53 ngày với 82,75% nhộng vũ hóa thành thành trùng

Theo Sasakawa và ctv (1970), Mizukoshi và Togawa (1999) cho rằng là khi tăng nhiệt độ thì có thể rút ngắn thời gian phát triển tuy nhiên có thể làm trứng bị chết,

và nhộng của loài C horticola thì thích nhiệt độ ôn hòa

Theo CABI (2000) ghi nhận là nhộng của loài ruồi đục lá C horticola làm trong

đường đục có thể là 7 - 15 ngày và có thể ngủ đông vài tháng

Theo Iwasaki và ctv (2008) báo cáo là ở nhiệt độ thấp 150C, thời kì nhộng của

C horticola là 12,6 ngày (dưới điều kiện 12 giờ chiếu sáng trên 12 ngày), 14,2 ngày

(dưới điều kiện 14 giờ chiếu sáng trên 10 ngày) và 13,6 ngày (dưới điều kiện 16 giờ

chiếu sáng trên 8 ngày) Và các tác giả ghi nhận là ruồi đục lá C horticola không trải

Trang 18

qua thời gian ngủ nghỉ thậm chí dưới điều kiện nhiệt độ thấp, thời gian chiếu sáng

ngắn Ngoài ra các tác giả còn cho rằng là ruồi đục lá C horticola không thể sống sót

hơn 75 ngày dưới tuyết và chúng không qua đông trong thời gian có tuyết (3 tháng) ở miền Bắc Nhật Bản

● Pha trưởng thành

Các tác giả đã nghiên cứu về ruồi đục lá và ghi nhận rằng hầu hết các loài ruồi đục lá đều có kích thước nhỏ, cơ thể dài khoảng 1 mm, sải cánh dài 2,2 – 2,7 mm, mặt

lưng màu đen óng riêng đối với loài C horticola thì toàn cơ thể màu đen và ở mặt lưng

không có tam giác màu vàng đậm giữa hai gốc cánh Trưởng thành của loài ruồi này gây hại bằng cách để lại những chấm trắng nhỏ li ti trên lá cây kí chủ do chúng ăn thêm và đẻ trứng, vết chích của chúng hình ovan dài khoảng 1 mm hoặc hơi tròn Và Theo Wang và Yan (1986), ở nhiệt độ 210C trưởng thành cái ruồi đục lá C horticola

sống trên 35 ngày và trưởng thành đực sống trên 5 ngày

2.1.1.4 Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát sinh gây hại của ruồi

đục lá C horticola

● Ảnh hưởng của điều kiện thời tiết và cây kí chủ

Nghiên cứu về các yêu tố môi trường ảnh hưởng đến sự phát sinh gây hại của

ruồi đục lá Trehan và Seghal (1963) đã ghi nhận là ruồi đục lá C horticola có thể phát

triển ở nhiều vùng, tuy nhiên điều kiện quá nóng trên 300C và quá lạnh dưới 100C thì hạn chế phát triển (Kaurava và ctv., 1970)

Ở Hokkaido, Toru Mizukoshi và Togawa Hiroshi (1999), thí nghiệm quan sát vết chích, trứng và đường đục trên 50 chóp lá đậu hòa lan và ghi nhận rằng ở nhiệt độ

250C tỉ lệ vũ hóa của ruồi đục lá C horticola giảm và ở nhiệt độ trung bình hằng ngày của Hokkaido thì ruồi đục lá C horticola có 7 lứa/ năm và khi đậu hòa lan trồng trong

nhà kính cũng có 7 lứa/ năm

Ở tỉnh Hangzhou Nam Trung Quốc, Chen X.X và ctv (2003) đã ghi nhận rằng

sự tấn công của ruồi đục lá C horticola thì khác nhau giữa các cây kí chủ, địa điểm và thời gian, cụ thể là ở quận Huajiachi, Jingjang và thị trấn Pengbu thì bắp cải (B

Trang 19

olerace) và rau diếp (S oleraceu) bị tấn công bởi ruồi đục lá C horticola nặng hơn ở

quận Qiaoshi Farm Và thời gian từ tháng 4 – tháng 6 là bị loài ruồi đục lá này gây hại nặng nhất

Theo Tsumou và ctv (2008), ở Nhật Bản ruồi đục lá C horticola gây hại

nghiêm trọng trên rau vào tháng 5

Theo Deen Mohammad Bhat và R.C.Bhagat (2009), ở quận của Kashmir Velley

ruồi đục lá C horticola tấn công gây hại các loại rau cải bẹ xanh, cải bắp, cải củ, đậu

hòa lan, hành, trong đó thì đậu hòa lan và cải bẹ xanh bị gây hại nặng nhất đặc biệt là vào tháng 5

Theo Lutfiye Gencer (2009), ở Middle Anatolia Sivas Thổ Nhỉ Kỳ ruồi đục lá

C horticola xuất hiện trên đậu hòa lan, đậu côve, cây cải, dưa chuột, rau diếp, cải

bông xanh, chúng tấn công gây hại nặng từ tháng 5 – tháng 8

● Ảnh hưởng của thức ăn

Theo Minkenberg (1988), Minkenberg và Ottenheim (1990) cho rằng trưởng

thành cái của loài C horticola thì cần nguồn dịch dinh dưỡng giàu đạm từ lá cây

Theo Takayuki Mitsunaga và ctv (2006) thí nghiệm thấy rằng cung cấp thêm

thức ăn cho trưởng thành cái của loài ruồi đục lá C horticola thì ảnh hưởng đến sự

phát triển của chúng Khi được cho ăn thêm đường và mật ong thì con cái đẻ được 500 trứng, gấp đôi điều kiện không cho ăn thêm Ngoài ra khi cho ăn thêm đường và mật ong thì con cái sống lâu hơn là không cho ăn

Theo Seyed A.A (2010) ghi nhận sự phát triển và gây hại của ruồi C horticola

ở các giống cải dầu thì khác nhau, ruồi đục lá C horticola có thời gian phát triển ngắn,

tỉ lệ sống cao trên giống Talayh với số trứng được đẻ là 80,15 trứng và tỉ lệ vũ hóa của nhộng là 0,54%, ngoài ra số lượng vết chích và đường đục trên giống Talayh này nhiều hơn các giống cải dầu khác

● Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật

Trang 20

Ở các vùng Mitaka, Kawazu, Shizuokavaof và Tanegashima của Nhật Bản, một

số tác giả đã nghiên cứu và kết luận rằng có 5 hoạt chất hóa học là phenthoate, malathion, permethrin, tralomethrin và cartap có thể dùng để kiểm soát ruồi đục lá trên đậu hòa lan Nhưng theo Saito và ctv (2003) đã phân tích thống kê trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng 4 trong 5 loại thuốc kể trên không hoặc ít hiệu quả trên sâu non

của ruồi đục lá C horticola Và theo các tác giả Sekiguchi (1950) và Enjoji (1958)

cũng cho rằng hoạt chất malathion ít có hiệu quả trong việc phòng trừ ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan

Ở Chiba, theo Sawada (1988) thí nghiệm và kết luận rằng hoạt chất phenthoate

có thể kiểm soát ruồi đục lá trên đậu hòa lan rất tốt Tuy nhiên Togawa và Mizukoshi

(1988) đã chứng minh rằng ruồi đục lá C horticola ở Hokkaido thì ít mẫn cảm với

phenthoate và nghiên cứu sau đó ở quận Shizuoka và Kagoshima miền Nam Nhật Bản một số tác giả cũng cho rằng hoạt chất phenthoate thì không thể kiểm soát ruồi đục lá

C horticola một cách hiệu quả

Theo các tác giả Sekiguchi và Enjoji (1958), chiba (1983), Wang và Yan (1986), Goel và Kumar (1992), Togwa và Mizukoshi (1998) đã ghi nhận các hoạt chất Isoxathion, fenitrothion, diazinon, dimethoate acephate, và flufenoxuron là có hiệu quả

trong việc kiểm soát ruồi đục lá C horticola Tuy nhiên trong các hoạt chất đó chỉ có

fipronil, spinosad và chlorfenapyr là được tác giả ghi nhận là có hiệu quả cao trong

việc kiểm soát ruồi đục lá C horticola, còn hoạt chất flufenoxuron thì hiệu quả thấp

hơn và hoạt chất Isoxathion thì chỉ có hiệu quả khi phòng trừ ruồi đục lá ở quận Shizuoka và quận Kagoshima

Theo Saito và ctv (2003), ở quận Shizuoka và Kagoshima Nhật Bản ruồi đục lá

C horticola có thể đã kháng thuốc từ những năm 1990 và tác giả đã nghiên cứu và ghi

nhận là hoạt chất Cartap có thể kiểm soát sâu non C horticola một cách hiệu quả

nhưng thuốc này có thể không hiệu quả nếu sử dụng ngoài đồng ruộng vì giá trị LC 50 tương đối cao (149 ppm ở Shizuoka và 51 ppm ở Kagoshima)

Theo Wang và ctv (2004) ghi nhận 3 hoạt chất có khả năng kiểm soát ruồi đục

lá C horticola hiệu quả nhất là cypermethrin, chlorflua zuron và imidacloprid

Trang 21

Theo Tokumaru Susumu và Yamashita (2004) đã thí nghiệm về sự mẫn cảm với thuốc bảo vệ thực vật của ruồi đục lá trên đậu hòa lan và kết luận rằng các hoạt chất cartap, cypermethrin, spinosad, tolfenpyrad và milbemectinthi thì chỉ có hiệu

trong việc kiểm soát sâu non ruồi đục lá C horticola và hoạt chất pyridalyl thì chỉ hiệu quả với trưởng thành ruồi đục lá C horticola còn các hoạt chất isoxathion,

chlorpyrifos, thiocyclam, ethofenprox, emamectin benzoate thì có hiệu quả trong viêc

phòng trừ cả sâu non và trưởng thành của ruồi đục lá C horticola trên cây đậu hòa lan

2.1.1.5 Một số kết quả nghiên cứu về ong kí sinh của ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan

Các kết quả nghiên cứu về thiên địch kí sinh của ruồi đục lá cho biết đây là loài dịch hại có thành phần loài thiên địch kí sinh rất phong phú, đã có rất nhiều nghiên cứu

về thiên địch kí sinh của loài dịch hại này (Stegmaier, 1966; Spencer, 1973; Alazwi, 1971; Lasalle và Parrella, 1991; Murphy và Lasalle, 1999; Sivapragasam và ctv.1999)

Ở Nhật Bản, Kamijo (1978), Takada và Kamijo (1979), Konishi (1998), đã ghi

nhận được 30 loài ong kí sinh ruồi đục lá C horticola và L trifolii, trong đó các loài

D nipponica, C pentheus và D isaea được tác cho là có khả năng kiểm soát ruồi đục

lá trên cây đậu hòa lan khá cao Trong 21 loài ong kí sinh ruồi đục lá C horticola trên vườn đậu hòa lan thì phổ biến là các loài D isaea, C pentheus, D minoeus, N

formosa, H circulus Tác giả còn ghi nhận các loài D isaea, D minoeus, D nipponica

thì phát triển trong mùa lạnh, C pentheus thì phát triển nhiều khi thời tiết ấm, loài N

formosa thì phát triển trong mùa nóng, còn loài H circulus thì phát triển trong mùa

lạnh và mùa ấm Và theo A.Sivapragasam (1999) ghi nhận loài N formosa thì phát triển được ở vùng thấp lẫn vùng cao, còn loài C pentheus thì ít thấy ở vùng cao

Ở Ấn Độ Kumar và ctv (1990) ghi nhận rằng các loài Apanteles sp., Diglyphus sp., Sphegigaster sp và Callisula sp là những loài ong kí sinh được ghi nhận đầu tiên trên ruồi đục lá C horticola, trong đó 2 loài Apanteles sp và Callisula sp được tìm thấy trên đậu hòa lan còn 2 loài Diglyphus sp và Sphegigaster sp được tìm thấy trên

cả đậu hòa lan lẫn bắp cải Trong các loài ong kí sinh ghi nhận được thì 2 loài phổ biến

nhất là Diglyphus sp (20% - 25%) và Sphegigaster sp (10% - 12%)

Trang 22

Theo Saito và ctv (1996) ghi nhận trên vườn đậu hòa lan ở Shizuoka trung tâm

Nhật Bản có 20 loài ong kí sinh ruồi đục lá C horticola, trong đó phổ biến nhất là các loài Diglyphus isaea, D minoeus và Chrysocharis pentheus Và tác giả còn lưu ý rằng

là loài Diglyphus isaea, D minorus xuất hiện khi điều kiện thời tiết lạnh và loài

Chrysocharis pentheus xuất hiện trong điều kiện thời tiết ấm

Nghiên cứu về thành phần ong kí sinh của 3 loài ruồi đục lá L huidobrensis, L

sativae và C horticola Rauf A và ctv (2000) ghi nhận được 11 loài, trong đó 10 loài

thuộc họ Eulophidae là Chrysocharis sp., Neochrysocharis formosa W.,

Neochrysocharis sp., Hemiptarsenus varicornis, Asecodes sp., Cirrospilus ambiguus, Closterocerus sp., Pnigalio sp., Quadrastichus sp., Zagrammosoma sp và 1 loài thuộc

họ Eucoilidae là Gronotoma sp trong đó phổ biến nhất là loài Hemiptarsenus

varicornis

Ở tỉnh Ankara Thổ Nhĩ Kì, Gencer Lutfiye (2002) đã ghi nhận được 7 loài ong

kí sinh của ruồi đục lá C horticola, Liriomyza trifolii và Phytomyza lappae G là các loài Diglyphus iseae W., P Chabrias W., Neochrysocharis formosa W., N arvensis G., Pediobius acanthi W., Chrysocharis sp và Hemiptarsenus sp và tất cả đều thuộc

họ Eulophidae

Ở tỉnh Hangzhou Nam Trung Quốc Chen X.X và ctv (2003) thu thập được khoảng 11000 thành trùng ong kí sinh, gồm 14 loài thuộc 4 họ trong đó có 11 loài ong

kí sinh của ruồi đục lá C horticola và phổ biến nhất là O caricivorae (41,1%), C

pentheus (37,9%), T erxia (6,7%), D albiscapus (6,9%), 3 loài còn lại là C trifasciatus, T chara và Dendrocerus carpenteri được tác giả ghi nhận là ong kí sinh

của ruồi đục lá L sativae và C horticola Đặt biệt trên cây đậu hòa lan ong kí sinh C

pentheus là loài phổ biến

Ở Sivas Thổ Nhĩ Kì Gencer Lutfiye (2004), điều tra và ghi nhận được 8 loài ong

kí sinh trên ruồi đục lá C horticola, các loài này thuộc họ Eulophidae và Pteromalidae, trong đó Diglyphus isaea W., Pedibius metallicus N và Diglyphus pachyneurus G là loài phổ biến và Aprostocetus flavifrons W., Merimus sp và Chrysocharis sp., Crassis

capus T thì mới được ghi nhận ở Thổ Nhĩ Kì

Trang 23

Ở Hisayyama và Fukuoka Nhật Bản, Fukuhara và Takagi (2005) ghi nhận được

20 loài ong kí sinh thuộc 3 họ Eulophidae (16 loài), Pteromalidae (2 loài), Braconidae

(2 loài) kí sinh sâu non và nhộng ruồi đục lá C horticola trong đó các loài phổ biến là các loài Diglyphus isaea, Chrysocharis pentheus, C pubicornis, Dacnusa nipponica

Ở Middle Anatolia Sivas Thổ Nhỉ Kỳ Gencer Lutfiye (2009), thu thập được trên đậu côve, đậu hòa lan, dưa chuột, bắp cải, cải bông xanh… 611 trưởng thành ong kí

sinh gồm 19 loài thuộc 3 họ đó là Baryscapus sp., Chrysocharis pubicornis,

Chrysocharis phyrne, Chrysocharis viridis, Diglyphus crassinervis, Diglyphus isaea, Diglyphus pachyneurus, Diglyphus pusztensis, Epiclerus panyas, Neochrysocharis clara, Neochrysocharis arvensis, Neochrysocharis chlorogaster, Hemiptarsenus zilahisebessi, Pediobius metallicus, Neochrysocharis formosa Trong 16 loài ong kí

sinh ruồi đục lá C horticola thì ong kí sinh D iseae là loài phổ biến nhất 26,19% -

68,86%

Theo Deen M B và R.C.Bhagat (2009) ghi nhận được 7 loài ong kí sinh trên

ruồi đục lá C horticola gồm 5 loài họ Eulophidae là Chrysocharis horticola Mani,

Diglyphus horticola Khan, Diglyphus sp., Pediobius indius Khan, Euderus agromyzae

Và 2 loài thuộc họ Braconidae là Opius sp.và Dacnusa sp Trong đó phổ biến nhất là loài Diglyphus horticola (35,66% và 37,06%) và Diglyphus sp (27,44% và 26,68%)

lần lượt ở năm 2005 và 2006 Và theo tác giả đây là 2 loại ong kí sinh có khả năng

kiểm soát ruồi đục lá C horticola rất hiệu quả ở Ấn Độ, trong đó Diglyphus horticola được xem là loài ong kí sinh vượt trội khi kiểm soát ruồi đục lá C horticola trên đậu

hòa lan ở Himachal Pradesh (Ấn Độ) và chúng thường hoạt động mạnh vào tháng 6 (50%)

2.1.1.5 Một số kết quả nghiên cứu về biện pháp phòng trừ ruồi đục lá

- Biện pháp canh tác là vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, hái bỏ những cây bị tấn công

để tránh lây lan

- Biện pháp sinh học sử dụng thiên địch để kiểm soát ruồi

Trang 24

- Sử dụng bẫy vàng: người nông dân đã sử dụng bẫy vàng từ rất sớm nhưng thời gian gần đây việc kiểm soát ruồi đục lá bằng bẫy vàng không còn hiệu quả Lấy ví dụ

cụ thể trên ruộng hoa cúc, số lượng đường đục và mật số dòi trên lá ở nghiệm thức có

sử dụng bẫy là (3,81 đường đục/ 10 lá và 3,63 dòi/ 10 lá) so sánh với không dùng bẫy

là (2,66 đường đục/ 10 lá và 2,51 dòi/ 10 lá), tuy nhiên bẫy vàng vẫn có thể được sử dụng để quản lý dịch hại tổng hợp (Phyllis và ctv.1998) Nhưng theo CABI (2000) khi

sử dụng bẫy vàng thì chỉ bẫy được trưởng thành đực vì chúng có xu hướng bay thấp giữa các cây kí chủ và chúng thường di chuyển nhiều hơn trưởng thành cái

- Biện pháp hóa học: đã có nhiều nghiên cứu sử dụng hóa chất thuộc nhóm lân hữu cơ để phòng trừ ruồi đục lá và kết quả ghi nhận là ít hiệu quả, các hóa chất này không những làm ruồi đục lá hình thành tính kháng mà còn giết chết quần thể thiên địch có lợi trong tự nhiên và nếu kéo dài sẽ dẫn đến bùng phát thành dịch hại, nhiều tác giả khuyến cáo sử dụng các hóa chất vừa có thể phòng trừ ruồi đục lá hiệu quả vừa bảo vệ được thiên địch như hoạt chất flufenoxuron (Saito và ctv., 1996), cyromazine (Prijono và ctv., 2004), abamectin (Weintraub, 2001)

Ở Shizuoka trung tâm Nhật Bản Saito và ctv (1996) đã nghiên cứu và báo cáo rằng hoạt chất malathion và tralomethrin thì ảnh hưởng đến quần thể ong kí sinh ruồi

C horticola trên đậu hòa lan

2.1.2 Một số kết quả nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về loài ruồi C horticola ở nước ta tuy cũng còn hạn chế nhưng

cũng ghi nhận được một số vấn đề

2.1.2.1 Phân bố và kí chủ

Theo Lê Ngọc Anh và Đặng Thị Dung (2006), điều tra ở Hà Nội và vùng phụ

cận ghi nhận được ruồi đục lá C horticola gây hại trên cây gấc (Momordica

cochinchinensis) và cà chua (Lycopersicon esculentum) mức độ cũng khá phổ biến,

nếu mật số cao thì có thể làm giảm năng suất hoặc giết chết cây ký chủ

Trang 25

Theo Trần Đăng Hòa (2004; 2006) ghi nhận ruồi đục lá C horticola gây hại phổ

biến trên cây cải xanh ngoài ra còn có bắp cải , xu hào, cải cúc, cà chua

Theo Trần Đăng Hòa, Trần Thị Thiên An và Masami Takagi (2005), ghi nhận

là các loài L sativae , L bryoniae, L chinensis, L huidobrensis, L trifolii và C

horticola tấn công trên bắp cải, su hào, cải sợi, cải cúc, mướp, khoai tây

2.1.2.3 Biện pháp phòng trừ

- Biên pháp canh tác

+ Vệ sinh đồng ruộng dọn dẹp các loài cỏ lá rộng (ký chủ phụ) một tháng trước khi trồng, ngoài ra sau khi thu hoạch xong phải dọn dẹp tàn dư thực vật sạch sẽ, cày đất, phơi đất để diệt nhộng

+ Luân canh với cây trồng khác họ, có thể trồng xen với đậu bắp, khoai lang

- Biện pháp sinh học: ruồi đục lá có nhiều loại ký sinh, nên theo dõi mật độ và tỷ

lệ lá bị hại trước khi sử dụng thuốc hóa học

Theo Lê Ngọc Anh và Đặng Thị Dung tại Hà Nội và vùng phụ cận điều tra và

ghi nhận được 10 loài ong kí sinh ruồi đục lá họ Eulophidae (Neochrysocharis formosa W., Neochrysocharis sp., Hemiptarsenus sp., Cirropillus sp., Quandrastichus sp.), họ Braconidae (Opius sp.) và 3 họ Cynipoidae, Aphelinidae, Diapriidae chưa định tên loài Những loài ong kí sinh này ghi nhận được trên 7 loài ruồi Chromatomyia

horticola, Liriomyza sativae Blanchard, Liriomyza sp., Liriomyza bryniae Kaltenbach, Phytomyza sp., Ruồi vàng và ruồi đen 2 vằn bụng chưa định danh

Theo Trần Đăng Hòa (2004; 2006) điều tra 15 vùng trồng rau của 6 tỉnh miền Trung ghi nhận được 13 loài ong kí sinh thuộc 3 họ Braconidae, Eucoilidae và

Eulophidae Ở Bắc miền Trung loài Neochrysocharis okazakii và N formosa là hai

loài phổ biến chiếm lần lượt là 55,1% và 29,8% tổng số ong vũ hóa Ở duyên hải miền

Trung trong 9 loài ong được thu thập thì hai loài N okazakii và Hemiptarsenus

varicornis là phổ biến (51,2% và 24,9%) Ở Tây Nguyên Chrysocharis pentheus và Acecodes delucchii B là hai loài phổ biến (45,3% và 22,1%) Các loài ong kí sinh này

thu được trên 5 loài ruồi đục lá C horticola, L sativae, L bryoniae, L chinensis, L

huidobrensis

Trang 26

Theo Trần Đăng Hòa, Trần Thị Thiên An và Masami Takagi (2005), điều tra 45 điểm trồng rau của 20 tỉnh miền Trung và miền Nam Việt Nam ghi nhận được gồm 18 loài thuộc 3 họ Braconidae, Eucoilidae, và Eulophidae, trong đó họ Baconidae gồm

Opius sp (0,2%), Opius chromatomyiae (3,1%), họ Eucoilidae Gronotoma sp (0,1%),

họ Eulophidae là Neochrysocharis okazakii K (18,8%), Neochrysocharis formosa W (10,6%), Neochrysocharis beasleyi Fisher và Lasalle (29,5%), Neochrysocharis sp (0,05%), Hemiptarsenus variconis G (8,8%), Diglyphus isaea W (8,9%), Cirrosilus

ambiguous H và L (1,5%), Chrysocharis pentheus W (5,1%), Asecodes delucchii B

(13,1%), Asecodes erxias W (0,05%), Quadrastichus sp (0,2%), Pnigalio sp

(0,05%), Closterocerus sp (0,05%), losterocerus trifasciatus West Wood (0,05%)

Các loài ong kí sinh này được thu thập từ các loài ruồi đục lá Chromatomyia horticola,

L sativae, L bryoniae, L chinensis, L huidobrensis và L trifolii

2.2 Giới thiệu về cây đậu hoà lan

Đậu hòa lan (Pisum sativum L.) thuộc họ Leguminosae còn có tên là đậu Anh

Đây là một trong những cây trồng thuộc nhóm họ đậu được trồng trọt khá phổ biến ở

Đà Lạt Có nhiều tài liệu cho rằng đậu hòa lan có nguồn gốc ở vùng Trung Á, Abyssinia và Địa Trung Hải Đậu hòa lan là loại rau chủ yếu ở các nước có khí hậu ôn hòa và ở vùng nhiệt đới có mùa đông lạnh và ở Việt Nam chúng được nhập nội vào Đà Lạt khoảng những năm 1940 với các giống nhập nội từ Mỹ (Mammoth Melting Sugar), Đài Loan (Tai Chung N09 và N010, Pháp (Merveille de Kelvedon) sau đó người sản xuất tự để giống trồng vụ sau

Có nhiều phương pháp phân loại đậu hòa lan, người ta phân loại theo loại hình sinh trưởng là hữu hạn và vô hạn, phân loại theo chiều cao cây là dạng bụi và dạng leo, phân loại theo nếp nhăn trên hạt là hạt nhẵn và hạt nhăn, phân loại theo cách sử dụng quả non và hạt

Đậu hòa lan là loại cây thân thảo hàng năm, thân mềm, rỗng có cạnh và phân cành ít Rễ của chúng phát triển trung b́nh, ăn sâu khoảng 70 – 80 cm và có khả năng

cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium để cố định đạm tự do trong khí trời Lá của

đậu hòa lan thuộc loại lá kép gồm một số đôi lá chét, lá kèm ở cuống lá có 2 đôi lá

Trang 27

chét, phần ngọn lá là tua cuốn Hoa của chúng cũng như các loài khác trong họ đậu, hoa của đậu hòa lan thuộc loại hoa lưỡng tính, tự thụ phấn là chủ yếu Hoa được sinh

ra từ nách lá Hoa đậu hòa lan thường có màu trắng, nhưng cũng có thể là màu hồng, màu hoa cẩm chướng, đỏ tía hoặc là màu hỗn hợp Và trên mỗi đốt của giống sớm trung bình có từ 1 - 2 quả, những giống muộn trên mỗi đốt trung bình có trên 2 quả Một số giống có 4 quả mỗi đốt hoặc nhiều hơn Quả có 2 mảnh vỏ, bên trong chứa hạt, hạt đậu hoà lan gồm có 2 lá mầm lớn, dự trữ chất dinh dưỡng, chúng bao quanh phôi

và được bao bọc bởi vỏ hạt

Đậu hòa lan là loại rau có giá trị kinh tế cao nhưng đòi hỏi nhiều công chăm sóc, nhiệt độ thích hợp cho đậu hòa lan sinh trưởng, phát triển là 18oC – 20oC, chúng só khả năng chịu hạn kém, độ ẩm không khí thích hợp là 65% - 75% Tuy đậu hòa lan có thể trồng trên nhiều loại đất nhưng thích hợp nhất là đất có pH từ 6 – 7, thâm canh loại đậu này phải cần nhiều phân hữu cơ

Đậu hòa lan có thời gian sinh trưởng trung bình là 100 - 120 ngày tùy chủng loại giống, điều kiện chăm sóc và thời vụ trồng, chúng có thể trồng quanh năm ở Đà Lạt nhưng tốt nhất là vụ đông xuân vì vụ này ít sâu bệnh Năng suất trung bình của chúng

là 1,2 – 1,5 tấn/ ha với 10 – 12 lứa trái, và ngoài ra khi canh tác đậu hòa lan phải chú ý phòng ngừa một số sâu bệnh hại thường gặp là dòi đục gốc và thân, dòi đục lá, nhện

đỏ, rầy mềm, sâu xanh, bệnh rỉ sắt, bệnh phấn trắng, bệnh châm kim, bệnh đốm lá và bệnh lở cổ rễ

Trang 28

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian, địa điểm thí nghiệm

Đề tại được thực hiện từ 15/2-15/6/2011 tại Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật tỉnh Lâm Đồng, số 12 Hùng Vương Thành Phố Đà Lạt

3.2 Vât liệu và dụng cụ nghiên cứu

- Hạt giống đậu hòa lan

- Ly nhựa, hộp nhựa có nắp lưới, cồn 700 để giữ mẫu

- Lồng nuôi ruồi, cọ, kính sôi nổi, sổ ghi chép

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Điều tra thành phần ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan

● Chọn ruộng điều tra

Tiến hành điều tra theo phương pháp tự do, không cố định điểm (càng nhiều điểm càng tốt), mỗi tuần thu 1 lần hoặc vào những thời điểm cây kí chủ trên đồng ruộng bị gây hại nặng để thu thập mẫu theo mục đích nghiên cứu

● Phương pháp điều tra

Tiến hành thu thập mẫu lá có chứa sâu non ruồi đục lá đang gây hại trên đậu hoà lan ở các phường của thành phố Đà Lạt, mẫu lá hái từ ruộng về sau khi loai trừ hết những côn trùng khác và bụi bẩn thì mang về phòng thí nghiệm để ở nhiêt độ phòng, mẫu lá được đăt trong hộp có lót giấy ẩm Hàng ngày theo dõi và phun nước giữ ẩm, tiếp tục giữ như vậy để thu ruồi trưởng thành vũ hóa

Trang 29

● Phương pháp bảo quản mẫu và định danh

Các mẫu ruồi được ngâm trong cồn 70o, dán nhãn ghi tên địa điểm và thời gian điều tra, sau đó phân loại theo đặc điểm hình thái dựa trên các mẫu ruồi đục lá ở Việt Nam đã được GS.TS Arild Andersen trường đại học khoa học sự sống Na – uy (Norwegian University Of Life Siciences) định danh

- Chỉ tiêu theo dõi: xác định thành phần loài và tỉ lệ hiện diện của loài

Để xác định loài ruồi đục lá gây hại chính trên đậu hòa lan dựa vào TLHD của loài

TLHD (%) = (số mẫu hiện diện/ tổng số mẫu thu thập) x 100

3.4.2 Điều tra thành phần ong kí sinh sâu non của ruồi đục lá đậu hoà lan

● Chọn ruộng điều tra: kết hợp với những lần điều tra tiến hành thu thập mẫu để xác định thành phần loài

Phương pháp điều tra: Thu thập mẫu lá có chứa sâu non đang gây hại của các loài ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan ở các phường của thành phố Đà Lạt, mẫu lá hái từ ruộng về sau khi loại trừ hết những côn trùng khác và bụi bẩn thì mang về phòng thí nghiệm để ở nhiêt độ phòng, mẫu lá được đăt trong hộp có lót giấy ẩm Hằng ngày theo dõi và phun nước giữ ẩm, tiếp tục giữ như vậy để thu ong trưởng thành

● Phương pháp bảo quản mẫu và định danh

Mẫu kí sinh được thu thập và bảo quản theo phương pháp làm mẫu ướt, mẫu được làm sạch trước khi ngâm cồn 700 và bảo quản trong các lọ thủy tinh nhỏ dán nhãn địa điểm thu mẫu, ngày thu mẫu và người thu mẫu, sau đó phân loại theo đặc điểm hình thái dựa trên các mẫu ong kí sinh ở Việt Nam đã được GS.TS Arild Andersen trường đại học khoa học sự sống Na – uy (Norwegian University Of Life Siciences) định danh

- Chỉ tiêu theo dõi: thành phần ong kí sinh và tỉ lệ hiện diện của loài

Trang 30

Để xác định loài ong kí sinh chính của ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan dựa vào TLHD của loài

TLHD (%) = (số mẫu hiện diện/ tổng số mẫu thu thập) x 100

Hình 3.1 Mẫu thu thập ngoài đồng ruộng

3.4.3 Điều tra diễn biến mức độ gây hại của ruồi đục lá trên cây đậu hòa lan

● Chọn ruộng điều tra: để điều tra diễn biến mức độ gây hại của ruồi đục lá đậu hòa lan chọn 3 ruộng đại diện có cây sinh trưởng, phát triển tương đối đồng đều, mỗi ruộng

có diện tích lớn hơn 500 m2 tiến hành theo dõi từ lúc gieo đến lúc thu hoạch

+ Đặc điểm ruộng điều tra

-Ruộng 1: thôn Túy Sơn, xã Xuân Thọ, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, diện tích 1000 m2, ruộng trồng một năm 3 vụ rau và luân canh nhiều loại như khoai tây, bắp

sú, cải thảo, cải bông xanh…

-Ruộng 2: Cao Thắng, phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, diện tích

500 m2 , ruộng trồng một năm 3 vụ rau và luân canh nhiều loại như khoai tây, xà lách côron, cải thảo…

-Ruộng 3: Tô Vĩnh Diện, phường 6, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, diện tích

550 m2, ruộng trồng một năm 3 vụ rau và luân canh các loại rau là cải bông xanh, xá lách côron, hành…

Trang 31

● Phương pháp điều tra: cố định, điểm và cây điều tra, định kì 5 ngày điều tra 1 lần Mỗi ruộng điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 1 m chiều dài, mỗi mét điều tra

3 cây (đầu - giữa - cuối)

- Ở giai đoạn cây đậu hòa lan còn nhỏ đến khi bỏ vòi: điều tra toàn cây

- Ở giai đoạn cây đậu hòa lan bỏ vòi đên khi tàn: điều tra tịnh tiến 10 lá kép ( bỏ 4 lá ở ngọn và lấy 5 cặp lá ở giữa, tịnh tiến theo mỗi lần điều tra)

- Chỉ tiêu theo dõi

Mật số sâu non/ lá = tổng số sâu non/ tổng số lá điều tra

Tỉ lệ lá bị hại (%) = (tổng số lá bị hại/ tổng số lá điều tra) x 100

Trang 32

- Nhân nuôi ruồi: thu thập mẫu lá có sâu non của ruồi đục lá C horticola mang

về phòng thí nghiêm nuôi để thu ruồi trưởng thành, chú ý là nhộng của ruồi này làm trong đường đục

Sau khi ruồi vũ hóa cho ăn thêm dung dịch mật ong 10%, rồi chọn từng cặp (1 đực, 1cái có cùng ngày vũ hóa) thả vào cây đậu đã chuẩn bị, trùm lưới lại, thí nghiệm

45 lồng

Sau 24 giờ thả ruồi thì thay cây một lần cho tới khi trưởng thành chết, quan sát hằng ngày để ghi nhận thời gian phát dục của giai đoạn trứng, giai đoạn sâu non các tuổi, nhộng và trưởng thành, mỗi lồng theo dõi 1 cá thể

- Giai đoạn trứng: sau khi thả ruồi thì tiếp tục quan sát cho đến khi xuất hiện đường đục 0,5 mm, ghi nhận thời gian này là thời gian trứng nở

- Giai đoạn sâu non: tiếp tục quan sát sâu non mới nở cùng ngày tuổi, hàng ngày thu mẫu sâu non ngâm KOH 1%, mẫu sau khi công phá chỉ còn trông thấy móc miệng dựa vào đó để xác định tuổi của sâu non, tiếp tục quan sát trên cây ký chủ cho đến khi hóa nhộng, ghi nhận thời gian phát triển của sâu non

- Giai đoạn nhộng: quan sát và ghi nhận thời gian hóa nhộng cho đến khi nhộng

vũ hóa thành trưởng thành

Thời gian vòng đời được tính từ lúc trứng đẻ đến khi trưởng thành đẻ lại quả trứng đầu tiên

Chỉ tiêu theo dõi

+ Mô tả tập tính sinh sống và gây hại của ruồi đục lá C horticola

+ Thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời, số mẫu theo dõi > 30 cá thể cho mỗi pha

Trang 33

Hình 3.2 Cây ký chủ nuôi ruồi

* Khả năng sinh sản của ruồi đục lá

- Khả năng sinh sản: chọn từng cặp ruồi 1 đực 1 cái thả vào cây ký chủ, 24h sau

đó thay cặp ruồi sang cây ký chủ khác để cho trưởng thành cái tiếp tục đẻ trứng, làm như vậy cho đến khi trưởng thành cái chết, tổng số trứng của một ruồi cái được tính bằng tổng số trứng được đẻ trên các cây đậu thay thế hằng cộng với số trứng còn lại trong bụng sau khi giải phẫu trưởng thànhcái

Chỉ tiêu theo dõi: số trứng/ trưởng thành cái và số trứng đẻ/ trưởng thành cái

* Khả năng phát triển sau đẻ trứng: hằng ngày theo dõi cây ký chủ đã được trưởng thành cái đẻ trứng (45 cây) cho đến khi xuất hiện đường đục 0,5 mm là trứng nở và đếm số trứng nở và đánh dấu trứng nở cùng ngày

- Sau đó hằng ngày tiếp tục theo dõi sự phát triển của sâu non trên các cây ký chủ

để đếm số sâu non chết cho đến khi số sâu non quan sát hóa nhộng và đếm số sâu non hóa nhộng

- Tiếp tục quan sát nhộng cho đến khi chúng vũ hóa và ghi nhận số nhộng vũ hóa thành trưởng thành và tỉ lệ đực, cái khi trưởng thành vũ hóa

Chỉ tiêu theo dõi

● Tỉ lệ trứng nở (%) = (tổng số trứng nở/ tổng số quan sát) x 100

● Tỉ lệ hóa nhộng = (tổng số nhộng / tổng số sâu non quan sát) x 100

Ngày đăng: 10/06/2018, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. LÊ NGỌC ANH, ĐẶNG THỊ DUNG, 2006. Thành phần ong ký sinh ruồi đục lá họ Agromyzidae và một số đặc điểm sinh học của loài ong Neochrysocharis Formosa Westwood vụ xuân 2006 tại Hà Nội và vùng phụ cận. Tạp chí BVTV số 4:38-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần ong ký sinh ruồi đục lá họ Agromyzidae và một số đặc điểm sinh học của loài ong Neochrysocharis Formosa Westwood vụ xuân 2006 tại Hà Nội và vùng phụ cận
2. TRẦN ĐĂNG HÒA, 2008. Thành phần ruồi đục lá và ong kí sinh của chúng ở các tỉnh miền trung . Tạp chí bảo vệ thực vật. số 5/ 2008, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần ruồi đục lá và ong kí sinh của chúng ở các tỉnh miền trung
3. AHMAD M. JAMAL, YAQOOB MUNAZZA, MOHI UDDIN SAJAD, 2010. Seasonal occurrence of leafminer, Chromatomyia horticola (Goureau) (Diptera: Agromyzidae) and its parasitoids, Diglyphus spp. on brown mustard, Brassica campestris in Kashmir valley. Biological Control. Vol 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seasonal occurrence of leafminer, Chromatomyia horticola (Goureau) (Diptera: Agromyzidae) and its parasitoids, Diglyphus spp. on brown mustard, Brassica campestris in Kashmir valley
4. A.SIVAPRAGA SAM VÀ A. R. SYED, 1999. The problem and management of Agromysid leafminers on vegetables in Malaysia. Stategic Environment and Natural Resources Center, MARDI, G. P. O. Box 12301. 50774. Kuala Lumpua Sách, tạp chí
Tiêu đề: The problem and management of Agromysid leafminers on vegetables in Malaysia. Stategic Environment and Natural Resources Center
5. A.SIVAPRAGASAM, A.R.SYED, J.LASALLE AND M.RUWAID, 1999. Parasitoids of invasive agromyzid leafminers on vegetables in peninsular malaisia. MARDI Training center, Serdang , Selangor, Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parasitoids of invasive agromyzid leafminers on vegetables in peninsular malaisia
6. BHAT, D.M., BAHAGAT, R.C., 2009. Natural parasitism of leaf miner, Chromatomyia horticola (Goureau) ((Diptera: Agromyzidae) on vegetable crops in Kashmir (India). World Journal of Agricultural Sciences . Vol. 5 No. S pp.888- 891 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Natural parasitism of leaf miner, Chromatomyia horticola (Goureau) ((Diptera: Agromyzidae) on vegetable crops in Kashmir (India)
7. BHALLA, J.S. AND NARANG, D.D., 1993. A new record of leafminer Chromatomyia horticultural (Goureau) on muskmelon (Cucumis melo Linn.) at Ludhiana (Pb) India. Punjab Horticultural Journal. 33: 1 – 4, 133 – 134. In CABI, 1995. Abstracts on CD – ROM. Silver Plate Information. Vol 5. CAB International UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new record of leafminer Chromatomyia horticultural (Goureau) on muskmelon (Cucumis melo Linn.) at Ludhiana (Pb) India
8. CHEN, X.X., X.Y. LANG, Z.H.XU, JH., HE AND Y.MA, 2003. The occurrence of leafminer and their parasitoid on vegetables and weed in Hangzhou area, sountheast China. Biocontrol 48. Page 515 – 527 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The occurrence of leafminer and their parasitoid on vegetables and weed in Hangzhou area, sountheast China
10. CABI, 2000. Data sheet for horticultural Chromatomyia. Crop Protection Compendium. Global Module. 2 nd Edition. CAB International. UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Data sheet for horticultural Chromatomyia
11. CHIBA, T., 1983. Seasonal prevalence of the garden pea leafminer, Phytomyza horticola Goureau (Diptera: Agromyzidae), on spring field pea and the control by application of some insecticides. Ann. Rept. Plant Prot. North Japan 34: 50 – 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seasonal prevalence of the garden pea leafminer, Phytomyza horticola Goureau (Diptera: Agromyzidae), on spring field pea and the control by application of some insecticides
12. FUKUHARA, F., TAKAGI, M., 2004. Indigenous parasitoid complex of Chromatomyia horticola G. on vegetables in Fukuoka Japan. Science Bulletin of the Faculty of Agriculture, Kyushu University. Vol 62(1) p. 1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indigenous parasitoid complex of Chromatomyia horticola G. on vegetables in Fukuoka Japan
13. GENCER LUTFIYE, 2005. Chalcidoid parasitoids of Chromatomyia horticola G. (Diptera: Agromyzidae) in Sivas Province, Turkey. Journal of pest science. Vol.78. No 1. pp.41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chalcidoid parasitoids of Chromatomyia horticola G. "(Diptera: Agromyzidae) in Sivas Province, Turkey
14. GOEL, I. AND S. KUMAR, (1992). Relative efficacy of insecticides against leafminer, Chromatomyia horticola G. infesting mustard in Western Uttar Pradesh. Indian J. Ent. 54: 411 – 414 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chromatomyia horticola G
Tác giả: GOEL, I. AND S. KUMAR
Năm: 1992
15. HANSSON C, 1990. A taxonomic study on the Palearctic species of Chrysonotomyia Ashmead and Neochrysocharis Kurdjumov (Hymenoptera:Eulophidae). Ent. Scand. 21: 29 – 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A taxonomic study on the Palearctic species of Chrysonotomyia Ashmead and Neochrysocharis Kurdjumov (Hymenoptera: "Eulophidae)
16. HU, Y.L., SUN, A.P., CHENG Y.Q., SUN Y.F., 1992. Severe infestation of the vegetable leaf miner in a garlic field in Zhongmou County, Henan. Plant Protection. 18: 4, 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Severe infestation of the vegetable leaf miner in a garlic field in Zhongmou County, Henan
17. IWASAKI, A., MIYAKE, N., TAKEZAWA, Y., MIZUKOSHI, T., IWAIZUMI, R., UEBORI, T., 2008. Hokkaido, Wind- dependant spring migration of Chromatomyia horticola G. ( Diptera: Agromyzidae) in the Northern Island of Japan. Vol. 52(3) p. 129-137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hokkaido, Wind- dependant spring migration of Chromatomyia horticola G. ( Diptera: Agromyzidae) in the Northern Island of Japan
18. KAE AMANO, AI SUZUKI, HAJIME HIROMORI AND TSUTOMU SAITO, 2008. Relative abundance of parasitoids reared during field exposure of sentinel larvae of the leafminers Liriomyza trifolii (Burgess), L. sativae Blanchard, and Chromatomyia horticola (Goureau) (Diptera: Agromyzidae). Appl. Entomol.Zool. 43 (4): 625 – 630 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relative abundance of parasitoids reared during field exposure of sentinel larvae of the leafminers Liriomyza trifolii (Burgess), L. sativae Blanchard, and Chromatomyia horticola (Goureau) (Diptera: Agromyzidae)
19. KAMIJO, K., 1978. Chalcidoid parasites (Hymenoptera) of Agromyzidae in Japan, with description of a new species . Kontyu 46: 455 – 469 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chalcidoid parasites (Hymenoptera) of Agromyzidae in Japan, with description of a new species
20. KAURAVA, A.S., ODAK, S.C., DHAMDHERE, S.V., 1970. Studies on the biology of Phytomyza atricornis Meigen (Agromyzidae: Diptera). Journal of the Bombay Natural History Society, 67(3): 597 – 601 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Studies on the biology of Phytomyza atricornis Meigen (Agromyzidae: Diptera)
21. KAYA, N. AND HINCAL, P., 1991. Survey studies on Liriomyza trifolii (Burgess) and horticultural Phytomyza Goureau (Diptera: Agromyzidae) on leguminous plants found in the Aegean Region. Turkiye Entomoloji Dergisi. 15: 4. 241 – 246.In CAB. 1993 – 1994. Abstracts on CD – ROM. Silver Plate Information. Vol 4A. CAB International UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Survey studies on Liriomyza trifolii (Burgess) and horticultural Phytomyza Goureau (Diptera: Agromyzidae) on leguminous plants found in the Aegean Region

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w