Người Thái có nhiều truyện thơ như Khăm Panh, Ú Thêm, Khun Lủ nàng Ủa...Khi kể chuyện thơ cho người khác nghe thì phải dùng “khắp xự” Khắp ơi là hát vui chơi, chủ yếu hát giao duyên đối
Trang 1CHUYÊN ĐỀ Dân ca sinh hoạt của người Thái ở Thanh Hóa
ThS Ngô Xuân Sao Trường Đại học Hồng Đức
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong kho tàng văn học dân gian, ca dao dân ca là một trong những bộ phận chiếm số lượng lớn, quan trọng, thể hiện tâm hồn, bản sắc văn hóa của các dân tộc Ca dao, dân ca phản ảnh những tâm tư, tình cảm, khát vọng của con người với thiên nhiên, quê hương, đất nước, với ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè, với những người thân yêu
Dân ca sinh hoạt là hình thức phổ biến trong văn hóa dân gian Việt Nam nói chung, văn hóa Thái nói riêng Dân ca sinh hoạt của dân tộc Thái rất phong phú,
đa dạng, mang tính hệ thống tương đối chặt chẽ, luôn gắn với diễn xướng và mang đậm yếu tố địa phương
Dân ca sinh hoạt của người Thái ở Thanh Hóa có các loại như “Lăm”,
“Nhuôn” của người Táy Dọ vùng Thường Xuân, Như Xuân, “Khặp” của Tày Mươi ở các vùng Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Lang Chánh, Bá Thước Qua khảo sát, nghiên cứu các vùng của người Thái sinh sống chúng tôi thấy
“Lăm”, “Đuôn” (nhuôn) không phổ biến trong dân ca sinh hoạt của người Thái
ở Thanh Hóa Phổ biến và sử dụng rộng rãi, lưu giữ nhiều sắc thái văn hóa mang đậm yếu tố bản địa của dân tộc Thái ở Thanh Hóa là các làn điệu khặp
Chính vì vậy, trong chuyên đề này chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu tìm hiều dân ca sinh hoạt của người Thái Thanh Hóa qua dân ca “Khặp”
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Môi trường tự nhiên, xã hội của người Thái ảnh hưởng tới dân ca
sinh hoạt
1.1 Người Thái là một trong những dân tộc cư trú lâu đời bên các dân tộc Mường, Kinh ở Thanh Hoá Vốn là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước từ lâu đời, người Thái thích sống cuộc sống ổn định “Tắng chặng kin pà, phừa na kìn
Trang 2kháu”, nghĩa là “chặn nước ăn cá, làm ruộng ăn cơm” và làm nương dưới chân đồi núi đá, làm ruộng dưới chân bản” Bản người Thái định cư theo ruộng, có thể có nhà phụ du canh theo rẫy Con trâu là loại gia súc chủ yếu Vừa dùng để cày bừa, vừa để làm thịt, cúng tế, vừa bán lấy tiền, Bò dê, ngựa còn hạn chế vì không có khả năng tự vệ trước sự tấn công của thú dữ Nghề trồng lúa nước trong các cánh đồng dọc theo thung lũng, sông, suối đã phát triển ở mức độ kỹ thuật khá cao Người Thái đã tích luỹ được một kho tàng kinh nghiệm về nước, phân, cần, giống Thời xa xưa, người Thái chỉ làm ruộng mỗi năm một vụ, vào
vụ mùa (từ tháng năm đến tháng mười) mà vẫn đủ lương thực để ăn quanh năm Còn vụ chiêm ít làm vì vụ chiêm xuân hay bị giá rét, ngại cày bừa Về sau, do nhu cầu lương thực tăng, người Thái đã làm ruộng mỗi năm 2 vụ, trong đó ruộng thấp canh tác quanh năm, ruộng cao, bậc thang chỉ làm 1 vụ
Sản phẩm nông nghiệp tương đối phong phú Có nhiều giống lúa trồng ở ruộng, rẫy Mặc dù bữa ăn của người Thái chủ yếu dùng cơm nếp, nhưng lúa gạo làm ra có đủ nếp, đủ tẻ, có nhiều loại thơm ngon như nếp cái, nếp cẩm, tám thơm Nhiều cánh đồng khá rộng, hàng trăm mẫu được coi là kho lúa nuôi sống dân mường như: Mường Ký, Mường Lau, Mường Khoòng, Mường Mo, Mường Mìn, Mường Khăng
Do cộng cư lâu dài với các dân tộc khác như Mường, Kinh, Khơ Mú, Dao, Thổ văn hóa vật chất và phi vật thể người Thái Thanh Hóa có đặc điểm nổi bật là:
- Giữ gìn được những nét chung nhất của cộng đồng người Thái Việt Nam
và người Tày – Thái cổ Việt Nam
- Hình thành bản sắc địa phương về cả hình thức thể hiện, ngôn ngữ và nội dung gắn với lịch sử, địa danh cụ thể trên vùng đất xứ Thanh
- Văn hóa người Thái Thanh Hóa có sự giao thoa, hòa quyện với văn hóa Mường - Việt, trực tiếp là nhóm Mường trong Do quá trình hòa nhập đã diễn ra hàng nghìn năm, hầu hết các lĩnh vực sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần của người Thái và người Mường Thanh Hóa có nhiều mô típ tương tự nhau, không
Trang 3còn phân biệt được nguồn gốc từ Mường hay từ Thái Ví dụ như: Tập quán canh tác ruộng nước, nương rẫy, ẩm thực, nhà ở, thuốc nam, y phục, tín ngưỡng, lễ tục, thiết chế bản mường, nhạc cụ, múa hát Riêng tiếng nói và chữ viết thì không lẫn Xét về mặt hình thức thì người Thái Thanh Hóa có nhiều nét giống người Mường Thanh Hóa hơn là Thái Tây Bắc Người Mường Thanh Hóa giống người Thái hơn người Mường Hòa Bình – Phú Thọ
- Người Thái Thanh Hóa có ký ức về văn hóa Chăm Pa, Lào và nhóm Thái Phủ Quỳ (Nghệ An) nhiều hơn Tây Bắc
1.2 Người Thái Thanh Hoá có tiếng nói, văn học dân gian, đặc biệt là thần thoại, cổ tích gần gũi với người Thái ở Việt Bắc Trong quan niệm của người Mường cổ Thanh Hoá, người ta gọi người Thái và người Lào là một Người Thái ở Thanh Hoá thì ý thức rằng, phía dưới có người Kinh, phía trên có người Lào, người Xá; người Lào là anh (gọi là Ái Lào), người Kinh là em út (gọi là Lá Lúa) Ở Thanh Hoá không còn khái niệm về Thái đen, Thái trắng Chỉ phân biệt hai nhóm chính là nhóm ít hơn sinh sống dọc sông Chu gọi là Tày Dọ
và nhóm lưu vực sông Mã gọi là Tày Mươi Thực tế tên Tày Dọ và Tày Mươi không phải tự danh mà do nhóm kia đặt cho Hai nhóm này có một vài đặc điểm khác nhau về tiếng nói, y phục và sinh hoạt văn hoá Nhóm Tày Dọ sông Chu gắn với bộ phận ở Tương Dương (Nghệ An), có nhiều nét giống người Thái trắng Sơn La - Lai Châu Còn nhóm sông Mã, có số lượng đông, địa bàn rộng hơn, cùng chung nhóm này có cả Mai Châu (Hoà Bình), Sầm Nưa (Lào) và Tày Thanh (Nghệ An) Người Lào gọi nhóm này là Tày Đenh (thực tế người ta nhầm Mường Đenh thuộc Lang Chánh với nhóm người Thái, Thanh Hoá)
Từ thời Hùng Vương và An Dương Vương (Thiên niên kỹ thứ I trước công nguyên) Nhà nước Văn Lang và Âu Lạc hình thành trên địa bàn miền Bắc nước
ta mà chủ nhân cơ bản là tộc người Mường Việt và Tày Thái Ba lưu vực sông cái (lớn) là sông Hồng, sông Mã, sông Cả (Tiếng thái: Sông Hồng gọi là Nặm Tao, sông Mã là Nặm Mã, sông Cả là Nặm Pao) là địa bàn cư trú của người Lạc Việt Đặc biệt sông Mã có nhiều di tích lịch sử từ thời đồ đá (Núi Đọ, Hang Con
Trang 4Mong, Mái đá điều, Hang Điền Hạ); thời kỳ đô đồng nổi tiếng (Đông Sơn, Đa Bút ) Rất có thể người Thái đã có mặt trên mảnh đất của mình thuộc lưu vực sông Chu, sông Mã Thanh Hoá Trong thời kỳ bắc thuộc, người Thái đã nhiều lần nổi lên chống lại các quan lại phong kiến Trung Quốc sang cai trị nước ta Bị đàn áp, người Thái phải chạy ngược theo các dòng sông lên miền núi cao thượng nguồn, lập bản mường mới Sau đó người Mol (Mường) ở lại tiếp tục mở mang làng xóm
Thời kỳ thứ hai, có thể khẳng định chắc chắn được Sau khi đánh đuổi quân xâm lược phương bắc, Nhà nước phong kiến Việt Nam xây dựng chế độ Trung ương tập quyền, mở rộng bờ cõi về phía nam và xác định ranh giới về phía tây, người Thái đang sống trong các khu vực cát cử (theo đơn vị Mường) tình nguyện gia nhập quốc gia Việt Nam Những bộ phận phiêu bạt về phía tây có thời cơ quay trở lại nơi đất đai màu mỡ, khang trang Nhưng lúc này người Mường và người Xá đã có mặt từ trước Người Thái tiếp tục khai phá các thung lũng trên cao để lập bản, làm ruộng và tiến sâu xuống các thung lũng sông, xuống xen kẽ với người Mường Người Xá thì nhường bộ, dần dần rút về phía tây Khi nước Lạn Xạng (Triệu voi) hình thành thì toàn bộ địa bàn người Thái Thanh Hoá hiện nay nằm trên lãnh thổ Việt Nam Thời kỳ kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi lãnh đạo, vùng người Thái Thanh Hoá là căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Lam Sơn Đồng bào cống hiến nhiều người, nhiều của để củng cố lực lượng nghĩa quân trong thời kỳ hiểm nguy nhất
Qua dấu tích về các nghĩa địa cổ (héo) và các tên địa danh Người Thái đã từng định cư thành từng quần thể theo sông Mã đến tận Eo Lê (ranh giới giữa Cẩm Thuỷ - Vĩnh Lộc), theo sông Chu đến vùng Mã Cao (giáp giới Yên Định - Ngọc Lặc) Sau đó, do một số biến cố lịch sử, người Thái lại chuyển đi nơi khác hoặc hoà đồng vào cộng đồng người Mường, lấy họ của người Mường, nói tiếng Mường
Trong quá trình lịch sử, người Thái ở Thanh Hoá đã nhiều lần tiếp nhận các cụm di dân từ Tây bắc vào, và cũng từ đây di chuyển đến phía nam (vào Nghệ
Trang 5An) và phía Tây (sang Lào) Gia phả và lời mo đưa hồn trở lại quê cũ của một số dòng họ còn xác định một số cuộc di cư
Ở vùng Thường Xuân, lang đạo họ Cầm dẫn người di cư từ Tây Bắc qua địa phận Lào vào lập nghiệp dọc theo sông Chu, lấy Chiềng Vạn làm nơi trung tâm, đến đời Cầm Bá Thước là đời thứ 13 Ở vùng Bá Thước do họ Hà (Khà) di cư từ mường Hạ (Mai Châu – Hòa Bình) vào từ thế kỷ XV
Ngoài ra còn một số trường hợp cá biệt do loạn lạc hoặc trốn chủ từ Mường
Lự, Mường Lào chạy đến trú ngụ; và một bộ phận nhỏ người Mường từ Hoà Bình, người Kinh từ dưới xuôi đến nhập cư lâu đời đã bị Thái hoá
Ngược lại từ Thanh Hoá, người Thái đã từng dịnh cư trong nội địa từ Tây Bắc xung Đông Nam đến tận Như Thanh, Tĩnh Gia
Ở vùng Thượng Lào, nhiều nhất là Tỉnh Hủa Phăn, dân cư Thái có tên là Phu Thay hay Tay Đenh chiếm tỷ lệ cao, phần lớn có nguồn gốc từ Thanh Hoá Theo truyền khẩu thì có 3 đợt loạn lạc phải di cư hàng loạt Đó là thời Khun Mín Khun Hon (Vạ Lông Nhím) xảy ra vùng Mường Muần (Mường Ký ngày nay); tiếp đến là thời Ngua Khàu Lệch Khàu Tong (Bò sừng sắt sừng đồng) xảy ra ở vùng Mường Ca Da (Quan Hoá) và thời Văn Thân, sau thất bại của phong trào yêu nước chống Pháp do thủ lĩnh Cầm Bá Thước (Thường Xuân) và Hà Văn Nho (Bá Thước) lãnh đạo
Như vậy, xét về mặt lịch sử, người Thái Thanh Hoá được hình thành và phát triển từ một nhóm Tày, Thái cổ bản địa, trải qua nhiều biến cố lịch sử, được bổ sung thêm một bộ phận từ nhiều địa phương Phía Bắc vào, đồng thời tiếp cận với người Mường, người Kinh, Người Khơ Mú, xung quanh và giữ mối liên hệ thường xuyên mật thiết với khối đồng tộc Tây Bắc, Thượng Lào, Nghệ An Do vậy, về huyết thống và văn hoá có sự hoà đồng của nhiều yếu tố, từ đó tạo nên dân ca sinh hoạt của người Thái ở Thanh Hóa vừa mang đặc trưng Thanh Hoá, vừa phản ánh tính chất chung của cộng đồng Thái Việt Nam, và sự tiếp nhận, giao lưu với người Mường Việt
2 Dân ca sinh hoạt của người Thái ở Thanh Hóa
Trang 62.1 Khái quát về dân ca sinh hoạt - khặp của người Thái ở Thanh Hóa
N hư đã trình bày ở phần trên, dân ca của người Thái ở Thanh Hóa chủ yếu
là khặp Nói đến dân ca Thái Thanh Hóa cũng là nói đến khặp Khặp hoặc khắp
là một loại hình dân ca của người Thái Khặp có nghĩa là hát, khặp để kể lể tâm tình, để tường thuật câu chuyện, để động viên nhau trong lao động thường ngày,
để vui chơi thăm hỏi, chúc tụng và đặc biệt là hát giao duyên Những nhạc cụ đệm cho lời khắp gồm khèn bè, các loại pí: pí ló, pí pặp, pí thiu, mắc hính, tính tẩu Nét riêng trong khắp Thái ở Thanh Hóa thường mở đầu bằng một cụm từ quen thuộc “Yêu đu lắm ne!”
Là một thể loại hát dân gian nên các điệu khắp, lời khắp cũng từ xưa truyền lại, sau này thế hệ con cháu phát triển thêm nhiều bài thơ, bài khắp mới làm phong phú thêm kho tàng văn hóa của dân tộc mình và cũng để biểu lộ nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, lứa tuổi khác nhau
Khắp đối đáp giữa nam và nữ rất phổ biến Ở mỗi địa phương cũng có một làn điệu khắp riêng mà mọi tầng lớp nhân dân trong bản Thái đều biết
2.2 Phân loại khặp
Theo Địa chí Thanh Hóa (1) Đến nay hầu như chưa có sự phân loại nào để giúp ta có cái nhìn tổng quát về toàn bộ kho tàng khặp ở Thanh Hoá, có khi người ta dựa vào các vùng, các địa phương để gọi các loại khặp Nếu là người Thái ở Lang Chánh hát thì gọi là khặp mường Chánh, ở Bá Thước thì gọi là khặp Mường Kỷ, mường Khoòng Đi thuyền trên sông Mã mà hát thì gọi là khặp Lóng Má, trên sông Chu gọi là khặp Lóng Xăm
Ngay ở một bản mường, người ở mạn dưới hát thì gọi là khặp poọng tớ, ở mạn trên hát thì gọi là khặp poọng nưa Những bài hát của đôi trai gái ngồi bên nhau tình tự thì gọi là khặp xon láy Trong buổi sinh hoạt mang tính cộng đồng, vui vẻ, nhiều âm thanh náo nhiệt, khi hát cần cao giọng cho tiếng hát vang xa thì
gọi là khặp ơi Có khi người ta còn căn cứ vào người hát là đàn ông hay đàn bà
mà phân biệt Trong một buổi diễn xướng làm Chá hay làm Chiêng (tương tự
(1)
Địa chí Thanh Hóa tập II, Nxb KHXH, năm 2004 Tr.130-131
Trang 7như đám hội nghi lễ ở vùng miền xuôi) bà Tày hát thì gọi là Khặp một, ông mo hát thì gọi là Khặp mùn
Khặp Thanh Hóa có thể phân thành các loại như sau:
a Khặp nghi lễ: khắp mo (trong đám tang), khắp mùn, khắp mốt (trong cầu cúng làm vía) (Xem thêm trong chuyên đề Dân ca nghi lễ)
b Khặp trong sinh hoạt vui chơi của người Thái chỉ có khắp xự và Khắp ơi Khắp xự là khắp kể chuyện Người Thái có nhiều truyện thơ như Khăm Panh, Ú Thêm, Khun Lủ nàng Ủa Khi kể chuyện thơ cho người khác nghe thì phải dùng “khắp xự”
Khắp ơi là hát vui chơi, chủ yếu hát giao duyên đối đáp nam nữ giống như hát ghẹo của dân tộc Kinh, Xường trai gái của người Mường
Khắp ơi của người Thái Thanh Hóa rất phong phú về lời ca, phổ biến rộng rãi trong tất cả các bản của người Thái
Khắp ơi được vận dụng nhiều trong sinh hoạt hàng ngày Lúc một mình hay lúc làm lên rừng chặt cây đốn củi, hoặc ra nương cuốc đất làm rẫy người Thái lại khắp lên để động viên an ủi, để giảm bớt mệt nhọc, cô đơn, để gửi hồn mình theo gió theo mây, với núi với rừng, với thiên nhiên cây cỏ Có khi từng nhóm trai gái làm nương rẫy họ vừa làm vừa khắp, đối đáp với nhau giống như hát lẻ trong hát ghẹo ở miền xuôi Đặc biệt trong những cuộc rượu cần có đông
đủ dân bản thì khắp ơi được vận dụng để hát chúc rượu, hát vui chơi trong tiếng trống, tiếng khèn, sáo, tiếng cồng chiêng, khua luống Khắp ơi còn sử dụng phổ
biến trong khắp trai gái giao duyên, kể lể tâm tình
2.3 Giá trị của dân ca (khặp) của người Thái
Khặp là một loại dân ca có những đặc điểm riêng Khặp không có thủ tục như hát quan họ, hát ghẹo, hát đúm; không có thể thức riêng như lối hát lẻ, hát cuộc Khặp không phải một nghề nghiệp, một sinh hoạt riêng như hát phường vải, hát phường cấy, hay các loại hò chèo thuyền, hò dô cộ Khặp cũng không phải chủ yếu là trữ tình như Xường Khặp có những lời như ca dao, nhưng
Trang 8thường không phải là hát lẻ từng câu, mà thành bài, tuy nhiên nội dung những bài ấy lại vượt quá xa yêu cầu của ca dao
Những bài khặp là niềm vui, là món ăn tinh thần của người dân Thái Họ không thể làm mà không hát Ở đâu cũng vậy, người Thái luôn sống trong âm nhạc để được giải thoát những cái mệt mỏi sau ngày làm việc vất vả, chăm chỉ cần cù, họ tự tìm đến những giai điệu âm nhạc đơn giản, gần gũi và thân thiện với mọi người nhất Rồi tình yêu trai gái của những con người nơi đây thông qua những bài khặp cũng mộc mạc, trinh nguyên chân chất nhưng cũng không kém phần lãng mạn, đắm say Ngôn ngữ của những bài khặp bằng tiếng Thái, cất lên bằng tiếng Thái, do chính người dân sáng tác và tự biểu diễn Điều đó không lầm lẫn với bất cứ một loại hình âm nhạc nào khác Hát khặp có một cái gì đấy rất riêng, rất độc đáo đối với người Thái nói riêng với dân tộc ta nói chung Những lời hát thật đơn giản, nhẹ nhàng, chậm rãi không quá vội vàng mà vẫn toát lên được âm điệu của nó
Nội dung những bài khặp thường là ứng tác Có những bài đã quen thuộc, vẫn có thể sử dụng và thêm bớt tuỳ hoàn cảnh môi trường Lời hát trong khặp là những lời được sắp xếp có vần có điệu như những câu thơ Chủ yếu là loại thơ 7 chữ, thơ 5 chữ, đôi khi có thêm bớt Không thấy những câu lục bát hay tương tự lục bát như thơ của dân tộc Kinh, và cũng khó gặp những bài kiểu bát cú, tứ tuyệt như ở dân tộc Tày, vẫn thường gặp là vần lưng rơi vào chữ thứ ba, thứ năm trong câu thơ bảy chữ Vần chân thường đặt theo lối gieo vần gián cách song nhiều khi chỉ chú trọng chuyển thanh hơn là gieo đúng vần Lời khặp có thể hát đơn ca, tốp ca Âm điệu thường réo rắt, gợi cảm
Qua khặp, tâm hồn, cuộc sống của con người Thái thể hiện với nhiều dáng
vẻ khá chân thật và sinh động
Tập hợp những bài khặp “vòng đời” ta có cả một tập hồ sơ tư liệu dân tộc học Có ở đây quan niệm về sự ra đời của con người từ lúc mới hoài thai cho đến trưởng thành, dựng vợ gả chồng, đau ốm, chết chóc… gạt bỏ đi những hình ảnh hoặc chi tiết huyền thoại, hoang đường có đậm màu sắc mê tín qua các nhân
Trang 9vật Mé Hang, qua các hành động cầu vía, gọi hồn, chúng ta thấy ở đây nhiều chi tiết về những người mẹ mang nặng đẻ đau, những tục lệ cưới xin, chạm ngõ, hồi môn, những dấu tích của sự giao lưu miền xuôi, miền ngược Cái tình sâu sắc nhất trong lòng người Thái là cái tình đối với đất nước, quê hương, không phải chỉ ở bản nhỏ hắt hiu mà rộng ra khắp vùng xuôi ngược (hồn có đi qua cả một số vùng đồng bằng Thanh Hoá), ở lời cầu mong hạnh phúc, lời khuyên bảo, nhắc nhủ nhau bám chặt lấy đồng ruộng, bản mường
Điều này còn được thấy rõ hơn trong các bài ca giao tiếp của người Thái Qua những lời khặp, con người hiện lên giàu tình nghĩa và rất lịch thiệp Một cuộc viếng thăm, một buổi đãi khách có ý nghĩa thật trọng đại, chỉ là một “tạo út”, một “ trai then” đến chơi thôi - không phải là người quyền quý cao sang gì
mà được tiếp đón ân cần của toàn mường bản, sự xao động của cả chim chóc, núi rừng Một thành viên trong nhà chủ có bận đi đâu vắng thì cũng có đến “90 hồn bảo lại”, “50 vía bảo quay” Dân tộc Thái là dân tộc có tấm lòng hiếu khách hiếm có !
Thông qua những bài khặp giao duyên giữa những đôi trai gái Thái Ta thấy toát lên những lời ca tâm tình tình, cháy bỏng yêu thương, tình cảm tha thiết, thơ mộng Con người và tình yêu gắn bó rất chặt chẽ, đắm đuối với thiên nhiên Thiên nhiên chắp cánh cho tình yêu, người yêu muốn ôm ấp lấy cả tạo vật
để thể hiện lòng mình, nhưng vẫn rất hiền hoà khiêm tốn Cái chất giao duyên trong khặp Thái là vậy
Những bài “khặp thả” cũng giống như loại hát đố ta thường gặp ở vùng xuôi, nhưng không có ở đây cách đối đáp để thử tài kiến thức hay để giao cảm
Đố và giải trong Khặp thả thực sự là để giới thiệu nhân sinh quan Người lao động Thái đang trình bày cách sống, cách suy tư của họ Thế nào là đẹp, là xấu,
là cay đắng, ngọt ngào, là oán ghét yêu thương
Khặp Thái vừa đặc sắc vừa dân dã Khặp là hình thức diễn tự nhiên, có sàn diễn cũng như không cần sàn diễn, trên nương đồi, trong đêm vui hay đi một mình… tiếng khặp có thể khởi xướng mọi nơi mọi lúc, kể cả niềm vui và nỗi
Trang 10buồn đều có thể cất lên thành lời Chính vì thế, đến nay trên núi rừng vùng núi Thanh Hoá, không kể tuổi tác, giới tính … tiếng khặp vẫn tồn tại, đi vào lòng người
Tất cả những làn điệu trong khặp, dù nói lên tâm trạng nào, trong hoàn cảnh nào, dù khặp một mình hay khặp đối đáp đều chan chứa, thấm đượm và ngọt ngào tình yêu thiên nhiên, bản mường, tình yêu giữa người với người, giữa nam với nữ Thực ra những làn điệu đó, những lời tâm tình ấy không cần đợi đến khi đã lớn, đã đến tuổi yêu người Thái mới được biết đến mà từ thuở còn nằm nôi, các ông, các bà, các chị đã rót vào giấc ngủ trẻ thơ những bản tình ca mượt mà
Một trong những điệu hát dân ca được cộng đồng Thái nâng niu, truyền miệng nhiều nhất là khặp tua Khặp tua nghĩa là gọi nhau đi hát, đến hội hát đối đáp Lối diễn xướng cộng đồng, trí tuệ tập thể được chọn lọc từ trí tuệ từng thành viên nghệ nhân.Khắp tua được diễn xướng với những sinh hoạt trong đám cưới, làm nhà, mừng nhà mới, làm vía, họp họ Có khắp tua ngoài trời, khắp tua trong nhà, khắp tua trên nương rẫy, khắp tua ngoài ruộng lúa, khắp tua đi chăn trâu, khắp tua dệt cửi…Khắp tua cổ truyền nhất và độc đáo nhất là được tổ chức đám hát ngay trong nhà sàn Thái, ngôi nhà của chủ đám vui Đám vui được bày mâm, bát, có quy ước về thể lệ cuộc đua tranh hát hay, giọng ngọt Khắp tua được tuân theo tiến trình là hát từng chặng Khặp trong đám cưới cũng tuân theo quy luật ấy
Những tâm tình của người Thái dù đi đâu về đâu hay làm công việc gì, lúc lên nương hay ra đồng, lúc ra suối hay ở nhà dệt cửi…họ đều có thể khặp, khặp
để vơi đi nỗi niềm Vui cũng khặp mà buồn cũng khặp Người Thái thích khặp
để trang trải nỗi lòng hơn là nói, chỉ có lời khắp và âm điệu của các bản tình ca
ấy mới đủ sức truyền tải hết độ rung động tâm tình của họ và chỉ có qua lời khắp
họ mới được an ủi, mới có thêm niềm tin, hy vọng vào cuộc sống
2.4 Một số phương diện chính trong dân ca (khắp) sinh hoạt của người Thái Thanh Hóa
Trang 112.4.1 Khắp trong hôn nhân
Trình tự các chặng trong khắp giao duyên:
a) Dạo đầu - khắp xin được vào chào hỏi bố mẹ, anh em
b) Chào mừng – khắp mừng Chàng trai khắp ca ngợi bản mường, chúc sức khoẻ người già, cha mẹ, chú bác, họ hàng nhà cô gái đến khi trời đã khuya, bố mẹ cô gái đã đi ngủ nhường lại sàn nhà bếp lửa cho đôi trai gái đến lúc này họ mới khặp tình yêu
c) Khắp yêu: cô gái bưng đĩa trầu, ngồi cạnh chàng trai và cất tiếng khặp Từ đây khắp là những lời thủ thỉ tâm tình, hai bên đối đáp qua lại, gửi cho nhau những lời yêu thương đắm đuối, tha thiết mặn nồng
d) Khắp thề nguyền
“không yêu nhau quả táo chín ăn chẳng trôi,
Đã yêu nhau thì chòa rào gai cũng nuốt được”
e) Khắp tạm biệt: trời gần sáng đôi trai gái tạm biệt
“Con gà đã gáy sang canh, Gáy ba gáy tư là trời gần sáng Anh xin ra về,
Chào em ở lại”
* Sau đây xin khảo tả một bài khặp trong hôn nhân của người Thái - Tày Dèng sưu tầm ở Yên Thắng, Yên Khương Lang Chánh
Bước 1: Khặp ướm hỏi:
Điệu khặp này được cất lên trong thời kỳ chàng trai và cô gái tìm hiểu nhau:
Trang 12Chàng trai cất lời ướm hỏi:
1 Hỏi thăm
Nam:
Không phải tôi từ nhà sòng sọc đến đây để tán Không phải tôi từ bản sòng sọ tới đây để thưa Tôi chi mong cởi mở lòng mình cho khỏi đắng Trang trải lòng mình cho khỏi buồn
Nghe tin chuyền trong bản trong mường
Tin rằng có quả bưởi rơi đến bản
Có quả “xán” rơi đến mường
Có con gái vua Long vương lạc đường đến trú Người đến hôm nay hay đến hôm qua?
Đến hôm qua tôi đang đi rẫy
Đấn hôm nay tôi đang đi ruộng
Chim sẻ hay chim sẻ đến mách
Chim chích hay chim chích đến thưa
Chim khướu đen, khướu hoa đến báo
Chim “én cậu” đến báo tin thêm
Anh liền bỏ “chóp” cán “mạy láy” trên rẫy chạy
Bỏ bừa cây “xum” cây “xa” bên “nà” chạy tới Anh mới vội về nhà
Bước qua vụng nước mát
Tạt vào bến nước trong
Rửa mặt, rửa tay, trở gót lên nhà
Chị trong nhà dọn mâm cơm ra
Cô trong nhà dọn mâm cơm tới
Vừa ăn vừa lường ý hỏi
Nghe nói cá “tệt” lên sông Chu hàng đống
Ca bống lên sông Mã hàng đàn
Trang 13Ai có chài, có lưới đi quăng
Anh ước có đôi lưới nhỏ đi giăng hai đầu vụng nước Giữ cá lại để được làm quen
Anh mon men xem người vào bản
Chị trong cửa mang bọc quần áo ra
Cô trong nhà mang khăn áo tới
Anh thay áo, ngắm mình, đi tìm rủ bạn
Xuống nhà dưới rồi tới nhà trên
Tìm bạn được bạn vừa đôi
Tìm người được người cùng lứa
Rủ nhau cùng tới
Đến sân thấy bố trong nhà ngồi cửa sổ đan chài
Mẹ trong nhà quay sa kéo sợi
Thấy người mới đến ngồi sàn
Anh muốn chào dưới sân, lo là không sang
anh muốn chào từ cầu thang sợ là không trọng
Anh chào trên giường, trên phản mới quý nhau
Người đến à, mặc áo hoa cà
Người đến à, mặc áo hoa sung
Người mặc áo nhung, áo lụa ngọc ngà
Sáng sủa nết na như con nhà chúa
Hay phải con vua ở nước nào về ?
Về đường sông hay đến đường đồng
Đi đường sông anh xin hỏi thăm cá
Đi đường nà anh xin hỏi thăm lúa, thăm cơm
Hỏi thăm lúa “cao hộc” có còn đủ hái
Nếp cái “cai cá” có còn đủ cắt
Vịt chân sắt viền vàng có còn ra ruộng
Dê sừng nhọn chân thiếc nạm bạc, chân thiếc nạm vàng
Trang 14Đũa đặt ra còn đủ mâm cơm
Bố mẹ anh em còn bình yên tất cả ?
Chàng trai bày tỏ với cô gái nỗi tâm tình muốn được làm quen tìm hiểu cô gái cho nên đã khặp những lời ca, cùng nói chuyện và hỏi thăm gia cảnh
Cô gái khắp đáp lời:
Chọn lời đẹp gái thưa Tìm lời thương gái nói ! Cảm ơn nhiều, cảm ơn nhiều lắm
Cảm ơn vì tôi đến nhà có người danh giá hỏi thăm
Mình đi tới nơi có người tới hỏi
Hỏi thăm lúa “cai hộc” em không hề cấy
Hỏi thăm lúa “cai cá” em không hề trồng
Đũa đặt ra còn đủ quanh mâm
bỏ lòng mong ước tốt đẹp của chàng trai và đưa vào đó những lời khiêm tốn, nếu chàng trai lấy cô gái về thì chàng trai sẽ thêm chịu nhiều thiệt thòi, thất bại
và sẽ không được như chàng trai mong muốn.Những lời tâm sự đó đã được chàng trai và cô gái trao gửi cho nhau, để mỗi người “hãy gói mang về”.Còn
“tình ước” của họ đã “đeo” lại nơi bản Mường
Ngày tiếp theo chàng trai, cô gái gặp nhau họ lại tiếp tục khặp:
“ Hết ngày này ngày khác lại mở Qua ngày này ngày mới lại kề
Ăn cơm xong trai nhớ khoác chài
Trang 15Đem chài tơ đi quăng bên hón
Đến đây chàng trai và cô gái tuy vẫn đi làm những công việc của mình; sau buổi ăn cơm chàng trai thì cầm chài đi quăng cá, cô gái thì đem binh đi xúc cá; cả hai đều có mục đích, hướng tới mục tiêu là đi tìm nhau; gặp một nửa yêu thương của mình để bày tỏ những lời yêu, để trao nhau tình son sắt
Người trai nói:
Anh ước và anh mơ Ước được chim chích về đậu ở cây sào phơi áo Thấy chim câu về đậu nơi cây sào phơi khăn Được út lá thiên hạ về chăm nhà cửa
Thương mình lắm em ơi Cột nhà anh sắp đứt cả lõi Dòng dõi anh sắp đứt sợi tơ
Mẹ anh già giã gạo không còn nhanh
Mẹ anh già nhóm bếp lửa lớn không còn cháy
Mẹ anh gọi con gà cối, con gà cối không còn lại
Mẹ anh gọi con gà mái, con gà mái không đến
Mẹ anh khóc thèm ăn gói nấm hương
Mẹ anh khóc đòi ăn cá bú
Mẹ anh khóc đòi gắp đũa sơn đỏ
Mẹ anh khóc đòi con dâu
Trang 16Chàng trai khặp những lời lẽ rất khôn khéo, ban đầu chàng trai bày tỏ niềm mong ước của mình mong có được người mình yêu về chăm nhà, chăm cửa cho mình Chàng trai đã rất khéo léo đưa ra gia cảnh đáng thương của mình để tìm
sự đồng cảm với người mình yêu “thương mình lắm em ơi”, “Cây cột nhà anh sắp đứt cả lõi, Dòng dõi anh sắp đứt cả sợi tơ”
Hai câu thơ diễn tả tình trạng khẩn cấp cần phải có vợ ngay để thay cây cột và quan trọng hơn cả là để nối dõi dòng họ, chàng còn đưa hình ảnh mẹ già
ra để khặp, người phụ nữ trong nhà anh đã già yếu và đang cần người đảm đương công việc trong gia đình Hơn nữa, người mẹ già cũng cần có người con dâu chăm sóc, muốn có con dâu đỡ đần
Đáp lại lời của chàng trai, cô gái mới khặp tiếp:
Mắt thấy ưng cái lòng bảo được Nhưng tay em không trắng, ngón chẳng thon
Về khua chày nhà anh cái loóng nó vỡ
Đồ cơm niếng nhà anh nó cháy Chân nặng bước lên thang nó sập Mặt trời thấp cành dâu
Mặt trời ngang cành sổ Mặt trời thấp ngọn dang, sắp tắt Mặt trời ngang cành bương, sắp lặn Trời nóng nực cá đi xuôi dòng mương Người phương nào đi về phương đó Lời tình để hôm sau mới nhắc Lời thương để hôm khác lại trao
"mắt thấy ưng cái lòng bảo được” Đó là tình cảm của cô gái, nhưng chỉ có điều nàng lo sợ sẽ không đảm đương được công việc nhà chồng, sẽ làm cho chàng trai thất vọng Giờ đây họ lại hẹn nhau để hôm khác lại bàn chuyện…
Hết ngày này ngày khác lại mở Qua ngày này ngày mới lại kề
Trang 17Trai ở nhà thấy chán Lòng ở bản nghe buồn Mới đi rủ bạn nhà trên được bạn cùng tuổi Đến rủ bạn nhà dưới được bạn lứa bằng Sắm quà được nhiều thứ
Sắm lễ có trầu cau Chọn ngày được ngày tốt Chọn tháng được bữa lành
Đi với chụ khác mường cho lòng khỏi chán
Đi với chụ khác bản cho lòng khỏi sầu Vượt khúc suối đi xa
Qua khu đồng đi tới Đến với gái út tận nhà Chiếu đẹp gái ả đem trải Chiếu mới út lá đem bày Trầu vàng xếp vào cơi Miếng bùi miếng cay mời trai nhá Chốn móng ngoài cùng tựa
Bên cửa sổ cùng ngồi Ánh trăng luồn vào chiếu Nghĩa trao duyên càng nồng
Gà vỗ cách dưới sân một lần gái bảo
Gà vỗ cánh dưới sân lần 5 gái nói Anh muốn em về chung cửa phải sắm quà Anh muốn em về chung nhà phải lo của Quà sắm cho đủ lễ
Của sắm cho đủ đưa
Tâm trạng của chàng trai, tình yêu của chàng cứ một ngày càng nhiều hơn,
để rồi khi không được gặp người yêu, lòng chàng trai cứ bồn chồn, buồn chán,
Trang 18tâm trạng ấy đã thúc giục chàng trai sắm quà, sắm lễ đến nhà cô gái để hỏi ý kiến cô gái Đôi trai gái tâm sự với nhau để cuối cùng cô gái đã nói ra những lời mách bảo với chàng trai.Muốn cô gái về chung nhà chung cửa thì phải có lễ vật:
Bánh chưng gánh lên nhà xem quả Bánh lá nâng lên cửa nhiều chăm Bạc đầy nén kê chân khung cửi Tiền bốn trăm đến đổi em về Xanh năm lễ rữa chân ông ngoại Xanh sáu lễ cống nộp mẹ cha Xem ông ngoại có ưng lòng gả Người nên vợ mới được ra đi Của phải lo gái đã trao tiếng Của phải sắm gái đã trao lời
Gà dưới sân vỗ cánh liên hồi Gáy lần bảy, lần năm, gọi ông trời dậy Sương đêm buông mái sàn
Đốn cây đỏ về núi Khi từ nhà cô gái về chàng trai mới
“ Gói lời người thương trai mang về trình cha mẹ
Về đến nhà, trai nằm giữa quản Trùm chăn kín buông mình giữa sàn Mặt trời lên bằng sào
Mẹ khẽ nhấc chân đến gọi Mặt trời lên bằng sải
Mẹ khẽ tay đánh thức Con ốm hay lòng sầu Con đau hay bụng đói Cơm chưa mâm đã bầy
Trang 19Cơm ngày chú bác đã ăn Quay đầu trai mới nói Nâng mình khỏi nhà sàn trai thưa Con ở nhà nghe chán
Lòng ở bản thấy buồn Con đi với chụ khác mường cho lòng khỏi chán Đến với chụ khác cho lòng khỏi soài
Được lời thương của gái út đem về nhà Được lời đẹp của noọng là đem về cửa Muốn được xao noọng phải lo lễ quà Muốn được xao lá phải lo sắm của Chặt chuối đổ về rừng
Trong những sính lễ mà cô gái đưa cho chàng trai thì phải có cả sanh đựng nước: Để cho ông ngoại nhà gái rửa chân khi đưa dâu đến nhà trai, bởi theo phong tục người Thái thì ông ngoại là người quyết định gả hay không gả cô gái, cha mẹ chỉ là thứ yếu Đoạn khắp cũng là lời dãi bày nỗi lo lắng của chàng trai
về những lễ vật mà nhà gái đưa ra, bởi bản thân chàng trai không lo nổi.Qua đấy cũng giúp chúng ta thấy được hôn nhân của người Thái xưa, với tục thách cưới
vô cùng nặng nề Nhiều mối tình đẹp, yêu nhau tha thiết nhưng đành “chia lìa” bởi người con trai không lo đủ lễ vật cho nhà gái, để làm đám cưới Tuy nhiên trong bài ca này chàng trai may mắn lại được sự hậu thuận của cha mẹ…
Đoạn khặp diễn tả quá trình nhà trai chuẩn bị lễ vật và nhờ bà mối lo đám cưới:
Con chú, con bác chẳng phải lo xa Còn mẹ có cha chẳng phải lo lóm
Đi nương mới cắt lá dong Thả trâu lên rừng mới xen lá duốc Gói bánh lá quả vuông
Gói bánh chưng bốn cạnh
Trang 20Đến nói cùng mụ nhà dưới khéo lời
Chọn ngày được giờ tốt
Trùm áo lên đầu, ấn mũ đi sang
Quàng áo lên vai ấn mũ đi tới
Không có điềm hoẵng nai kêu bên đồi chắn lối Chẳng có điềm đá lăn lên núi chắn đường Vượt khúc suối đi xa
Qua cánh đồng đến pọong
Đến nhà xao noọng khác mường
Tới phường này khác bản
Lời chào nhau đan quấn
Chiếu đẹp từ mường Kinh đem trải
Chiếu mới mua ở chợ đem bày
Mẹ xao noọng đến dạ
Cha xao noọng đến thưa
Sao lòng dạ thấy lo
Có việc gì phường ấy đi lại
Có việc chi ấu mụ phải sang
Thấy quà mang nhiều thứ
Vật lễ sắm khác thường
Cau cả buồng và rượu chai đôi
Trang 21Quà bạc qua vàng phường nào đi lại Lời gốc ấu mụ nói
Tiếng ngon ấu mụ thưa
Thưa từ gốc cành đến ngọn
Con trai đứa nối nhà
Con cả đứa nối dòng
Con nên chú lêu lao
Con nên trai lai luống
Cơi đến chưa nơi ngoắc
Nắp dao chưa ai treo
Dưới sân chưa có người quản
Trên sân chưa có người chăm
Ruộng bừa không người cấy
Lúa chín không người gặt
Khách lại chẳng người chào
Rau xanh chưa có người đồ chín Tôi lên núi xin ngắt ngọn vầu
Vào mường dầu xin hái hoa
Xin xao lá về bên kia làm vợ
Mong được bề trên ưng gả
Người nên vợ ưng chồng
Lời gốc ấu mụ đã nói
Tiếng ngọn ấu mụ đã thưa
Mẹ xao noọng đến dạ
Cha xao noong buông lời
Thương lắm và thương nhiều
Nhìn rừng sâu tưởng sông
Nhìn con người tưởng nên
Nhưng chân tay gái út quá vụng
Trang 22Tiếng nói cũng chát chua Khách đến không biết chào Rau xanh không biết đồ chín Bấc miếng cầm sứt tai
Nuôi lợn vụng cả máng Xấu mặt họ hàng khi về làm vợ người ta
Ấu mụ vui đón lời Xin nhà ngoài vui lòng gả Người nên vợ ưng lòng về theo Vịt tớ biết nuôi trứng
Người nên vợ cha mẹ gật đầu”
Hình ảnh hai bên gia đình thống nhất chuyện cưới xin giữa chàng trai và cô gái, cha mẹ cô gái vui lòng gả con gái cho chàng trai, họ hài lòng vì đã hỏi được
vợ cho con trai mình
+ Khắp nạp tài:
Hết ngày này ngày khác lại mở Qua ngày này ngày mới lại kề Tìm ngày được ngày tốt Chọn tháng được bữa lành Của nả sắm đã đủ
Vật lễ sắm đã đầy Lợn to đủ năm khiêng theo
Trang 23Gạo trăm ống đi làm bữa khách Vượt khúc suối đi xa
Qua khu đồng đến poọng
Ông mối đứng chắp tay Mối hai họ tóc buông trên quản Lạy hai lạy chào người
Lạy ngưòi lạy trình ma Mối họ gái đứng, mối nhà trai quỳ Mối trai đứng, mối họ gái lạy quỳ Nườm nượp khách vào ra
Ồn ào tiếng thăm hỏi Mối họ trai đến giao của Mối họ gái nhận vật lễ đưa Xanh năm lễ sửa chân ông ngoại Xanh sáu lễ cúng nạp mẹ cha Bạc trăng cân đủ nén
Vải đen đo đủ sải
Áo váy xếp từng chồng Hoa rừng đã đủ hương Của nả nộp đủ lễ
Đoạn khặp này diễn tả cảnh nhà trai đem lễ vật đến nhà gái trong lễ nạp tài, với đầy đủ lễ vật Theo phong tục của người Thái Thanh Hoá, người con trai khi đi hỏi vợ phải đến nhà gái thì ông mối, bà mối của họ nhà trai và họ nhà gái trao nhau và họ làm những thủ tục cần thiết mà trong lễ nạp tài phải tiến hành
+Khặp diễn tả lễ cưới:
Lời đẹp hai bên đã xoắn Tiếng thương hai họ đã trao Lợn đủ, mâm bày cơm san sát Rượu chỉnh to đem chốt giữa sàn
Trang 24Ông mối cúng ma nhà ấu trước Mời thần sông thần núi ăn hương Thần linh chủ bản mường ăn cỗ Khăn trắng con rể quấn trên đầu
Áo đen con rể mặc vào thân Buông tóc dài lạy liên hồi trên quan Buông tóc mượt lạy gấp gối trên sàn Lạy ma nhà để thần nhận mặt
Lạy họ hàng để người nhận con Cây lau thành cây má
Con của người thành rể hôm nay Thủ tục nhà trai đến nhà gái đánh dấu kết thúc, những lời khặp đã thể hiện đầy đủ các nghi lễ, phong tục trong hôn nhân, những bước phải thực hiện khi nhà trai đến nhà gái đón dâu
+ Khặp trong đám cưới
Người Thái quan niệm trong đám cưới không có hát coi như không có đám cưới (trừ trường hợp một trong hai họ có chuyện không vui như đang có tang).Với quan niệm đó, người Thái khi chuẩn bị tổ chức cưới xin cả hai bên, việc đầu tiên là tìm được người đại diện cho mình để hát Người đó phải thông thạo phong tục tập quán dân tộc, nhất là trong cưới xin, phải biết ứng xử giao tiếp giỏi, biết hát hay, đặc biệt là biết đối đáp ứng khẩu nhanh khi hát và đúng trình tự hát trong đám cưới Đến dự đám cưới có rất nhiều người biết hát và hát rất hay Nhưng bao giờ người Thái cũng luôn tôn trọng người được bên trai, bên gái chọn đại diện cho mình để hát chính Còn những người cùng dự đám cưới chỉ làm nhiệm vụ lĩnh xướng mà thôi Hát của người Thái bao giờ cũng phải có
số đông người lĩnh xướng nhất là trong cuộc rượu vui và cưới xin Trong cuộc vui và cưới xin mà hát không có người lĩnh xướng, chỉ có 2 người hát đối đáp nhau không thôi thì cuộc vui sẽ rất đơn điệu, tẻ nhạt Hát được mọi người lĩnh xướng sẽ làm cho cuộc vui thêm đậm đà và mọi người thực sự được hòa nhập
Trang 25trong không khí vui tươi đầm ấm và thăng hoa Họ chú ý lắng nghe và tấm tắc khen ngợi, thưởng thức những lời hay ý đẹp do người hát đem lại Mặt khác có lĩnh xướng, mọi người trong mâm rượu thêm phấn khích, người hát thêm say sưa và sáng tác ngẫu hứng thêm nhiều lời hay ý đẹp
Hát trong vui chơi, hát giao duyên và đặc biệt hát trong đám cưới bao giờ
họ cũng hát lời chào hỏi nhau trước Khi trong cuộc vui hoặc cưới xin, mọi người đều cơm rượu no say mới bắt đầu chuyển sang phần vui văn nghệ Họ vẫn ngồi yên vị tại mâm vừa ăn, vừa uống, vừa hát cho đến khi tan cuộc Ban đầu thầy mo hát chúc tụng mọi người trong mâm, nhà trai nhà gái luôn mạnh khỏe,
ấm no, hạnh phúc Sau đó nhà trai mới bắt đầu hát và hát xin lỗi trước:
Tôi là phận vịt xin tập đẻ
Là gà trống con xin được tập gáy
Gáy không hay đừng mong cáo bắt
Gáy còn rụt rè, run rẩy xin đừng cười chê
Tôi xin được vãi bã rượu đầu nguồn gọi cua
Xin hái lá trầu tươi mời Ngoọng (một loại ve sầu)
Sau khi hát lời xin lỗi rồi mới hát những lời chào hỏi:
Đến từ sớm nhưng chưa được hỏi
Đến từ trưa nhưng chưa được chào
Giờ xin chào em như vịt chào gà
Chào em như gà đua tiếng gáy
Tiếp đó hát chào mọi người trong mâm rồi hát rằng nhà nghèo không có gì
để làm bữa cưới cho tươm tất, không đáng để mời hai họ, bạn bè về dự vui
Ống tay ngắn muốn dài không được
Đã không có không biết lấy gì đặt mâm
Lẽ ra phải có lợn to mổ làm bữa
Phải có trâu mổ đặt mâm
Phận nghèo anh hái rau bướm về thay đĩa cá
Hái rau rừng về để đặt mâm
Trang 26Dù có mâm cao cỗ đầy cũng hát rằng phận nhà trai nghèo không có mâm cao, cỗ đầy mời khách và họ hàng nhà gái và mong mọi người thứ lỗi Tiếp đó mới hát đối đáp nhau Họ hát từ lúc người con trai, con gái còn đang đầu thai trong bụng mẹ, sinh ra, lớn lên cùng nhau, rồi biết tìm hiểu yêu đương nhau cho đến khi tổ chức đám cưới
Bên trai hát:
Nay sẽ kể từ trước về sau
Kể chuyện qua về bù chuyện tới
Kể từ thời ấy ngày xưa
Kể từ đôi ta nằm trong lòng mẹ bên phải
Ở lòng mẹ bên trái
Đã qua mười tháng đợi
Đã đủ chín tháng chờ
Được mười tháng đôi ta ra đời ăn cơm
Được chín tháng đôi ta sinh ra bú mẹ
Rơi sấp anh thành bé trai
Rơi ngửa em thành bé gái
Công mẹ cha nuôi ta lớn cùng thời
Yêu nhau thuở mới ra đời
Trao duyên, gửi nghĩa từ thời con thơ
Bên gái cũng hát đáp lại gần tương tự như vậy cho đến khi lớn lên Tiếp đó bên trai hát:
Từ xa nhìn thấy lửa hồn
Từ xa nhìn thấy nước trong
Nhìn thấy dòng nước sâu anh ước được đo
Thấy dòng nước trong đầy anh ước được uống
Thấy áo nhuộm chàm anh ước được ướm thử
Thấy người má hồng anh ước hỏi thăm
Bên gái đáp:
Trang 27Chắc là chàng đi nương lạc lối?
Đi ruộng tiện đường qua?
Định đi gặp người yêu tiện đường ghé nghỉ?
Lúc sắp ra khỏi nhà mẹ chàng còn dấu áo
Lúc sắp sang đây chơi mẹ chàng còn dấu khăn
Rồi dặn hai lần, dặn ba lần
“Chớ gần bọn gái rừng tay lấm mặt đen
Không xứng đáng nâng khăn hầu rượu”
Chàng cất vó đã được cá thu đuôi đỏ
Có vợ rồi sao lại bỏ vợ đi chơi?
Về đi anh, kẻo vợ nhớ vợ chờ
Bên trai bên gái cứ hát đối đáp qua lại như vậy, hát giai đoạn trai, gái tìm hiểu, yêu đương khá dài tùy theo khả năng và thời gian cho phép có thể thâu đêm suốt sáng
Người hát, cả bên trai bên gái phải hết sức linh hoạt, nhanh ý ứng khẩu cho phù hợp Biết tài nghệ ứng dụng, biến tấu các bài hát giao duyên có trong dân gian và ứng tác tại chỗ kịp thời Đồng thời phải biết trích các đoạn hát trong
“Hạn khuống”, “Sống chụ xon xao”, “Tản chụ xiết xương”, “Tản chụ sống sương” rồi các bài hát thách đố nhau, trêu ghẹo nhau, thử tài nghề hát của nhau v.v rồi đỉnh cao là hát những bài hát thách đố lẫn nhau những cái không có thực ở trong đời sống nhưng phải đối đáp được có tình có lý bắt buộc đối phương và mọi người thừa nhận là đúng
Ví dụ bên gái hát:
Cha mẹ em ước được ăn dưa hấu mọc ở lưng trâu
Ước được ăn dưa bở mọc ở lưng voi
Cha mẹ ước vậy anh có đáp ứng được chăng?
Rồi bên trai đáp lại:
Anh sẽ chuyển đất đắp lên lưng trâu
Chuyển cát đắp lên lưng voi
Trang 28Hạt dưa hấu anh đem gieo
Hạt dưa bở anh đem trồng
Mới trồng mà dưa đã leo giàn nở nhiều hoa
Anh mới lấy được dưa hấu mọc trên lưng trâu
Lấy được dưa bở mọc trên lưng voi
Được như vậy cha mẹ em có ưng gả không?
Hai bên cứ hát đối đáp, thách đố nhau đến khi cả hai bên thấy hài lòng Vui chơi thỏa thích mới đồng ý để tổ chức cưới xin cho thành vợ, thành chồng Khi bên nhà gái đồng ý cưới gả, bên nhà trai hát rằng người con trai trẻ người non
dạ, còn nhiều vụng về không biết làm rể bên nhà gái cũng hát đáp lại rằng người con gái cũng vụng về, không biết làm dâu rồi khen bên kia giỏi giang, tháo vát, khéo tay, chăm ngoan được lòng cha mẹ anh em, bạn bè trìu mến, mọi người bản trên, mường dưới được nương nhờ
* Khắp xin được rước dâu
- Nhà trai:
Đại diện nhà trai xin được rước con nhà ông bà về nhà tôi giã gạo
Nhà tôi chày nặng, ngắt rau nuôi vịt, ngắt lá dâu nhà tôi cho tằm,
Có người dệt vải, có người gùi nước nhà tôi,
Khe mộng tới nhà tôi có người ra chào,
Nhà tôi hư có người tu bổ, nhà tôi nghiêng có người chống đỡ,
Dòng dõi nhà tôi chưa có người nối dõi,
Bây giờ còn bằng sợi tơ,
Ông cho con ông về như chim đậu giàn phơi,
có người về thì vui cửa vui nhà,
Xin người xin cả đồ gả cưới,
Xin màn dày chăn rộng
Cho xin 30 khiêng đệm ngồi hoa
với 30 khiêng gối hoa
và 30 khiêng gối có thêu hình hạt dưa
Bây giờ đã đến giờ lành, đại diện cho anh em bên nhà trai
Trang 29chúng tôi xin được rước dâu về
Nhà gái đáp lại:
Rẻ vứt trên nương lấy về làm đồ gả cưới
Rẻ ngoài đồng để về làm đẹp,
Rẻ đùm con nít lấy về làm đồ chuẩn bị lấy chồng
Con nhà tôi về nhà không biết là khách nhà trai đến nhiều người nên bóc nồi sáu lại sút bỏ không
Bóc nồi năm lại gãy mất quai
Giã gạo chưa biết đường giã,
phơi thóc còn kéo mền phơi
Nhà chồng thì nói là bãi tha ma,
con khóc thì bảo là phân hở, phân gần,
cho gà ăn thì gà bay lên nóc nhà,
cho chó ăn thì gọi chạy ra sau nhà
Quay lại mẹ giận, con gái mẹ,
bậc thang cuối cùng không được ngồi
Ghế của chị dâu thì đừng tựa
Thấy anh chồng đẹp thì đừng ưa
Nếu thấy áo bố chồng đẹp thì đừng mượn để khoác
Cá không ngon thì đừng nói tại nước
Người không nên đừng nên mắng dòng dõi
Bây giờ đã đến giờ lành,
Trang 30tôi xin gửi gắm con gái tôi cho gia đình ông bà
Mong ông bà chăm sóc cháu cẩn thận
Mong con rể yêu thương con gái tôi thật lòng,
Mong anh em gia đình nhà chồng đối xử với con tôi thật tốt
+ Khắp cảm ơn thông gia bên ngoại khi nhận đồ hồi môn
Xin thưa và xin phép
Xin phép người nên bậc mẹ cha
Xin phép ông bà cậu mợ bên nhà ngoại
Tôi ở dưới này xin có lời thưa
Việc cưới xin hai nhà cùng lo liệu
Phần khó nhọc giành lại cho ông bà
Tôi xin có lời cầu chúc đến thông gia bên ngoại
Kính chúc thông gia mạnh khỏe yên vui
Cảm ơn người nên cha nên mẹ
Cảm ơn cậu, mợ, ông bà bên ngoại kính yêu
Đã cho con lại còn cho ăn uống
Cảm ơn các mẹ bên ngoại nhiều tầng
Sắm sửa cho con đi làm dâu đủ thứ
Mua cho con chiếu dày trải rộng
Chiếu hoa hoa hồng, gối đỏ mặt thêu
Đệm bông lau xếp đặt thành hàng
Chăn bông “phá”, vỏ hoa đào chồng chất
Do bàn tay mẹ đẻ biết nhiều hoa
Một chăn mẹ dệt hình voi cùng hoa khau cút
Một chăn đỏ tươi xen vàng nghệ
Một chăn dệt hoa mặt trời xen lẫn rồng bay
Hình gà có màu đỏ tươi
Hình cá tệt, cá mang lăn tăn nước chảy
Hình cá chát, cá chày xen cát nước trong
Trang 31Cá chép, cá trôi xen nơi đá cuội
Tôi không kể nổi các loại hoa chăn
Xin cảm ơn ông bà thông gia cùng bên ngoại
Cho chăn màn, gối đệm về làm đẹp nhà tôi
Cảm ơn người nuôi nấng con dâu
Ơn đến các bậc ông bà nội ngoại
Các ngài chia con cái cho tôi
Cầu ông bà sống khỏe nhiều năm
Luôn sung sức lo làm giàu cho cháu
Lời cảm ơn Xin hết Như cá xuôi theo thác
Mặt trời lặn khuất dần sau núi
Tôi xin đỡ con dâu và chào tiễn biệt
Được của, được người, tôi xin trở về nhà, thông gia ơi!
+ Khặp diễn tả cảnh nhà trai rước dâu về:
Cơm xong họ trai xin lui bước Rượu uống nhạt xin đón dâu về Của nả đi làm dâu sắm đủ Của riêng người nên vợ đã bày Từng cặp con trai khiêng vải Từng cặp con gái dìu chiếu chăn Phá dệt chỉ tơ xanh đỏ
Của bố mẹ sắm cho con gái về nhà chồng Cái thứ út dùng lấy đi không thiếu
Đem con út về nhà chồng để quay Vải chưa xong cuốn chiếu đem theo
Tơ chưa xong cuốn chân không rối Lúa chưa xong để mẹ gặt dần
Trang 32Con dâu mới mặc áo đỏ Thả búi tóc mượt xanh Ngồi xuống sàn nghiêng đầu cúi lạy Lạy hai hồi ba hồi liên tiếp
Lạy ma nhà nhận mặt Lạy họ hàng để họ nhận con Con của vịt thành con của ngỗng Con thiên hạ nên dâu của nhà .Sinh con gái ngồi đầy mâm cơm
Nở con trai ngồi đầy mâm cả Then xây cho có lứa có đôi Đoạn khặp miêu tả một cách đầy đủ phong tục đám cưới của người Thái Ngoài ra, lời khặp còn thể hiện mong ước của người Thái về một cảnh sống gia đình hạnh phúc, vợ chồng hoà thuận, con trai, con gái đầy nhà
Như vậy điệp khúc rước dâu đã kết thúc toàn bộ bài khắp trong đám cưới người Thái, Thanh Hoá
Nhận xét: Khắp trong đám cưới của người Thái Thanh Hoá là một trong
những nghi lễ tiêu biểu, với nhiều thành phần tham gia như chàng trai (chú rể),
cô gái (nàng dâu), mẹ – con, ông mối, bà mối,…mỗi bài khắp đều nói lên tâm tư tình cảm của mỗi người, thể hiện nỗi niềm sâu lắng của tâm hồn, phản ánh ước
mơ, hy vọng về tình yêu cuộc sống và bên trong đó còn chứa cả những lời động viên an ủi, thông qua lời khặp trong đám cưới, văn hóa phong tục, tập quán nghi
lễ người Thái Thanh Hoá được phác hoạ một cách khá rõ nét và độc đáo
Đám cưới của người Thái là dịp để mọi người được vui chung, được thưởng thức những câu ca hay, những lời hát đẹp Là dịp để đồng bào trong bản được hưởng thụ văn hóa tinh thần, tạo cảm hứng phấn chấn trong cuộc sống, được trò chuyện, kết bạn lẫn nhau, tạo không khí êm đềm, đấm ấm, hiểu biết, thân thiện với nhau hơn Đó là một nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc cần được trân trọng, lưu truyền
Trang 332.4.2 Khắp uống rượu cần
Khắp uống rượu cần là một hình thức sinh hoạt dân ca có những sắc thái văn hóa rất phong phú, độc đáo, thể hiện tâm hồn tính cách của người Thái xứ Thanh
Rượu cần đã trở thành một biểu tượng của văn hóa Thái Rượu cần đón khách xa, rượu cần thờ cúng tổ tiên, rượu cần dùng trong đình đám: cưới xin, ma chay, mừng nhà mới, lễ hội…Khi sử dụng rượu cần có thể chia làm hai loại: + Rượu cần trong các đình đám
+ Rượu cần trong các lễ hội
Nhìn vào số lượng cần hút (vòi hút trong choé rượu ) là biết gia chủ sử dụng chúng vào mục đích nào Nếu số cần lẻ (5 – 7 – 9) thì thường là cúng ma Cần rượu sử dụng trong lễ hội có số lượng chẵn (4 – 6 – 8 – 10 – 12)
Uống rượu cần không đơn giản chỉ là uống rượu mà ẩn chứa phong tục tập quán, lối ứng xử thấm đượm tình người, mang tính nhân văn sâu sắc của người Thái Rượu cần uống bằng sừng trâu, sừng là để lo lường cho từng người hoặc nhiều người trong mỗi đợt uống Trong bài khặp uống rượu cần, nhiều nhất của một đợt uống là mười sừng trâu Nếu uống không cạn bị phạt uống thêm lại có bài ca riêng
Khắp uống rượu cần gồm các bước:
1) Xơ phí hươn: cúng ma nhà trước khi uống
2) Mơi láu: mời khách uống rượu
3) Chá ớn láu: cảm ơn khách
4) Xò nôi láu: xin phép uống
5) Dơ pá láu: lời hô thả nước rượu
6) Xò ban láu: Xin từ chối không uống thêm
7) Cảm ơn: chào ra về
1 Thủ tục bắt buộc trước khi bắt đầu vào cuộc rượu cần là cúng mời tổ tiên, thần linh thổ địa, thể hiện tấm lòng biết ơn tổ tiên, đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của người Thái Khắp cúng tổ tiên có các bước: