Ở Hà Tĩnh, người Thái là tộc người chiếm số lượng đông nhất trongtổng số 1854 đồng bào dân tộc thiếu số đang sinh sống ở đây, phân bố ở bahuyện Hương Sơn, Hương Khê và Vũ Quang, trong đó
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa địa lý
-*** -Tác động của điều kiện địa lý đến một số
tập quán sản xuất và sinh hoạt của ngời Thái ở xã
Sơn Kim II- huyện Hơng Sơn - tỉnh Hà Tĩnh
Khoá luận tốt nghiệp đại họcChuyên ngành: địa lý Tự NHIÊN
Giảng viên hớng dẫn: pgs.ts ĐàO KHANG
Sinh viên thực hiện: NGUYễN THị GIANG THANH
Vinh - 2011
Trờng đại học vinh
Khoa địa lý
Trang 2
-*** -Tác động của điều kiện địa lý đến một số
tập quán sản xuất và sinh hoạt của ngời Thái ở xã
Sơn Kim II- huyện Hơng Sơn - tỉnh Hà Tĩnh
Khoá luận tốt nghiệp đại họcChuyên ngành: địa lý Tự NHIÊN
Vinh - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS.TS Đào Khang – người đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình làm khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Địa lí, gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ động viên em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô, chú, anh, chị đang công tác tại UB Dân tộc – Miền núi tỉnh Hà Tĩnh, phòng Nông nghiệp, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, UBND xã Sơn Kim II cùng các ban ngành có liên quan đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những tài liệu cần thiết cho đề tài của em
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Kết quảnghiên cứu trong đề tài chưa được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứunào
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
N-L-N: Nông lâm ngư
ANQP: An ninh quốc phòng
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Khoá luận tốt nghiệp đại học 1
Vinh - 2011 1
Khoá luận tốt nghiệp đại học 2
Vinh - 2011 2
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vấn đề dân tộc là một vấn đề khá nhạy cảm trong đời sống chính trị-xãhội của mỗi quốc gia Vì vậy, chính sách dân tộc là một trong những nộidung rất được Đảng và Nhà Nước ta quan tâm, với phương châm là: Đoànkết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc anh emtrong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Trong bức tranh phân bố các dân tộc thiểu số ở nước ta, Hà Tĩnh làmột địa bàn khá đặc biệt và nhạy cảm Tuy không nhiều về số lượng nhưngđây lại là nơi hội tụ, tiếp xúc của nhiều tộc người, được tạo bởi vị trí giápranh, chuyển giao của các dân tộc ở phía Bắc như H’Mông, Khơ Mú, Thái,Mường, Thổ, và các dân tộc ở phía Nam mà cụ thể là Nam Trung Bộ nhưChứt, Vân Kiều, Tà Ôi Do đó, vấn đề dân tộc ở Hà Tĩnh và việc lưu giữ,phát huy bản sắc văn hóa của các tộc người ở đây lại càng trở nên vô cùngcần thiết và đáng quan tâm hơn nơi nào hết
Thật vậy, xuất phát từ yếu tố tự nhiên, các dân tộc trong quá trìnhphát triển đều hình thành nên những dấu ấn riêng trong phương thức laođộng, đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tạo nên cái gọi là bản sắc vănhóa của mỗi một tộc người Trong điều kiện hiện nay, khi đất nước đangkhông ngừng chuyển mình trên con đường hội nhập và phát triển thì việcgiữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc ViệtNam là một vấn đề vô cùng cần thiết để chúng ta “hòa nhập” mà không bị
“hòa tan”
Có thể nói, do số lượng không nhiều nên đồng bào dân tộc thiểu số ở
Hà Tĩnh không được quan tâm nhiều trong vấn đề giữ gìn, bảo tồn nhữngbản sắc văn hóa dân tộc Chỉ trừ dân tộc Mã Liềng có được nhắc đến trong
Trang 8một số tạp chí hay công trình nghiên cứu khoa học, còn lại hầu hết nhữngvốn quý văn hóa truyền thống và những phong tục, tập quán mang đặctrưng riêng của mỗi dân tộc ở đây đang dần mất đi
Ở Hà Tĩnh, người Thái là tộc người chiếm số lượng đông nhất trongtổng số 1854 đồng bào dân tộc thiếu số đang sinh sống ở đây, phân bố ở bahuyện Hương Sơn, Hương Khê và Vũ Quang, trong đó tập trung với sốlượng đông đảo nhất ở địa bàn xã Sơn Kim II, huyện Hương Sơn Cộngđồng người Thái ở Sơn Kim II phân bố rải rác trên khắp 9/14 thôn của xã,nơi mà những nét văn hóa của một tộc người đã dần bị lãng quên, mai một,nơi vẫn còn lẫn khuất đâu đó bóng dáng bản sắc văn hóa một tộc người đãtrải qua nhiều biến chuyển, thăng trầm của lịch sử di cư
Là một sinh viên vốn giành nhiều tâm huyết cho vấn đề văn hóa dântộc của tỉnh nhà, có mong muốn giữ gìn những bản sắc văn hóa dân tộc ít
người ở Hà Tĩnh, tôi chọn đề tài “ Tác động của điều kiện địa lý đến một
số tập quán sản xuất và sinh hoạt của người Thái ở xã Sơn Kim II, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh” làm nội dung nghiên cứu cho khóa luận
tốt nghiệp của mình
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất một số giải pháp tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, nângcao chất lượng cuộc sống và giữ gìn, phát huy những phong tục, tập quán,những vốn quý văn hóa truyền thống của người Thái ở Hà Tĩnh
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ
Trang 9- Nghiên cứu thực trạng cuộc sống của người Thái ở xã Sơn Kim II,huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- Ảnh hưởng của các đặc điểm tự nhiên làm thay đổi một số tập quánsản xuất và sinh hoạt của người Thái ở Sơn Kim II, Hương Sơn, Hà Tĩnh
so với người Thái ở Miền Tây Nghệ An
- Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn vốnquý văn hóa truyền thống của người Thái ở Sơn Kim II, Hương Sơn, HàTĩnh
4 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
4.1 Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống được vận dụng trong đề tài này để nghiên cứuđặc điểm hệ thống các hợp phần lãnh thổ tự nhiên thuộc phạm vi sinh sốngcủa người Thái ở xã Sơn Kim II, huyện Hương Sơn và hệ thống các tậpquán trong sinh hoạt và sản xuất của người Thái nói chung
Cấu trúc đứng là toàn bộ hệ các hợp phần tự nhiên thuộc phạm vinghiên cứu mà người Thái đang sinh sống và dựa vào đó để khai thác, sửdụng phục vụ cho cuộc sống của mình từ khi sang định cư ở Hà Tĩnh
Cấu trúc ngang là các đơn vị lãnh thổ trong phạm vi sinh sống củangười Thái, bao gồm 9/14 thôn của xã Sơn Kim II, huyện Hương Sơn
Cấu trúc chức năng là toàn bộ điều kiện thực tế của môi trường sinhsống có ảnh hưởng đến tập quán của người Thái ở Sơn Kim II, huyệnHương Sơn, bao gồm chức năng của điều kiện địa lý nơi địa bàn cư trú và
hệ thống các chủ trương chính sách của các cấp chính quyền, ảnh hưởngđến sự tồn tại và phát triển của các tập quán đó
4.2 Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm phát triển bền vững được vận dụng ở đề tài này trongviệc đánh giá khả năng thích ứng của người Thái với những thay đổi củađiều kiện tự nhiên do quá trình di cư từ các huyện miền Tây Nghệ An sang
Trang 10Hà Tĩnh và trong việc cố kết nên những tập quán sản xuất và sinh hoạt mớitrong điều kiện tự nhiên mới Trên cơ sở đó, rút ra những nhận xét làm cơ
sở đề xuất các giải pháp tổng thể nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địabàn cư trú hiện tại của họ, vừa đảm bảo khai thác hợp lý tài nguyên thiênnhiên, không ảnh hưởng xấu đến môi trường vừa giữ gìn được nét truyềnthống văn hóa của người Thái
4.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Quan điểm lịch sử - viễn cảnh là quan điểm có tính chất động lực khinghiên cứu đối tượng Lịch sử di cư của người Thái từ vùng lưu vực sôngNậm Mô và Nậm Nơn (Nghệ An) sang lưu vực sông Ngàn Phố (HươngSơn, Hà Tĩnh) là một quá trình vận động diễn ra khá phức tạp, chịu tácđộng của những điều kiện, hoàn cảnh nhất định trong quá khứ
Vì vậy, khi nghiên cứu về sự thay đổi những đặc điểm tập quán sảnxuất và sinh hoạt của người Thái ở Sơn Kim II, huyện Hương Sơn từ khisang định cư ở Hà Tĩnh, phải luôn xem xét các đối tượng trong bối cảnhquá khứ và hiện tại, những điều kiện địa lý trước và sau cuộc di cư cũngnhư dự báo những thay đổi trong tương lai
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.2 Phương pháp thu thập thông tin, thống kê số liệu, xử lý tài liệu
Đây cũng là một phương pháp rất cơ bản trong nghiên cứu khoa học
Trang 11Các thông tin được thu thập từ các báo cáo định kỳ hàng năm, các
dự án đã được nghiệm thu, những câu chuyện từ thực tế của người Thái ởđịa phương được ghi chép hoặc thu âm trực tiếp cũng như các sách báo,tạp chí liên quan được xử lý một các khoa học bằng các phương pháp đặcthù địa lý như: phân tích, tổng hợp, lập sơ đồ, biểu đồ, lập bảng so sánh,xây dựng bản đồ, lập đề cương
Từ những số liệu thô thiếu đồng bộ chúng tôi đã xử lý thống nhất vàđưa ra những kết quả chính xác, đồng bộ
5.3 Phương pháp bản đồ
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng bản đồ hành chính huyện HươngSơn, bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Sơn Kim II để xác định vị trí phân
bố của người Thái và thiết lập bản đồ quy hoạch lâm nghiệp trên địa bàn
xã Sơn Kim II, thuộc phạm vi cư trú và sinh sống tập trung đông của đồngbào dân tộc Thái
6 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là điều kiện tự nhiên, các tập quánsản xuất và sinh hoạt của người Thái ở Hà Tĩnh nói riêng và những đặctrưng văn hóa của người Thái nói chung, cũng như các giải pháp giúp gìngiữ những phong tục tập quán truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dântộc của người Thái ở Hà Tĩnh, đề xuất các giải pháp ổn định cuộc sốngtrên cơ sở khai thác nguồn tài nguyên hiện có
7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
7.1 Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu
Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu của đề tài tập trung vào 9 thôn của xã
Sơn Kim II, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nơi tập trung với số lượngđông người dân tộc Thái từ sau quá trình di cư sang Hà Tĩnh, bao gồm:
Trang 12Thôn Đá Mồng, thôn Quyết Thắng, thôn Kim Bình, thôn Chế Biến,thôn Quyết Tiến, thôn Làng Chè, thôn Khe Chè, thôn Khe Tre, thôn XungKích (9 thôn).
7.2 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào :
- Các đặc điểm chính về địa lý tự nhiên thuộc phạm vi cư trú củanguời Thái ở xã Sơn Kim II, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sởnhững nguồn tài liệu thu thập được và kết quả tìm hiểu thực tế của bảnthân tại địa phương
- Đời sống hiện tại của đồng bào người Thái ở xã Sơn Kim II, huyệnHương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
- Tác động của điều kiện địa lý đến một số tập quán sản xuất và sinhhoạt của người Thái từ khi sang định cư ở Hà Tĩnh
- Đề xuất các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, nâng caochất lượng cuộc sống liên quan đến việc giữ gìn những nét văn hóa đặctrưng của tộc người này
8 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Hệ thống hóa những diện mạo, đặc trưng cơ bản nhất về văn hóa
của người Thái nói chung và người Thái ở Hà Tĩnh nói riêng
- Đối sánh những đặc điểm phong tục, tập quán của người Thái ởSơn Kim II, Hương Sơn, Hà Tĩnh và người Thái nói chung mà chủ yếu làngười Thái ở miền Tây Nghệ An
- Đưa ra một số giải pháp tổng thể nhằm phát triển kinh tế- xã hội,nâng cao chất lượng cuộc sống và giữ gìn những vốn văn hóa truyền thốngcủa đồng bào dân tộc Thái ở Hà Tĩnh
9 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Người Thái ở Hà Tĩnh được biết đến không nhiều, hầu hết chỉ đượcnhắc đến một cách chung chung, khái quát trong một số báo cáo định kỳ hàng
Trang 13năm của Uỷ ban Dân tộc - Miền núi tỉnh Hà Tĩnh, trên một số bài viết nhỏhay phương tiện thông tin đại chúng, báo đài địa phương Dường như, mọinét đẹp văn hóa, phong tục tập quán của người Thái ở đây do không phát huyđược hết những giá trị của nó mà đang dần bị lãng quên và mai một.
Từ trước đến nay, ngoại trừ một số tài liệu có nhắc đến quá trình di
cư của người Thái từ các huyện miền núi miền Tây Nghệ An đi qua Làorồi sang vùng miền núi Hà Tĩnh, chưa có một đề tài khoa học nào nghiêncứu về dân tộc Thái ở Hà Tĩnh một cách đầy đủ, từ nguồn gốc, tên gọi đếnđặc điểm phong tục, tập quán, lối sống và những đặc trưnng văn hóa độcđáo của người Thái, những gì còn, những gì mất
Trong khi đó, nguồn tài liệu viết về những đặc trưng văn hóa độcđáo cũng như những phong tục tập quán của người Thái nói chung vàngười Thái ở miền Tây Nghệ An nói riêng thì vô cùng phong phú, đa dạng,đáng chú ý có một số tài liệu như:
1 Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam của Nguyễn Văn Huy NXB Giáo Dục - 2005
-2 Đặc trưng văn hóa và truyền thống cách mạng của các dân tộc thiểu
số huyện Kỳ Sơn - Nghệ An của UBND huyện Kỳ Sơn- xuất bản năm 2005
3 Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An của Nguyễn Đình Lộc - năm 2009
4 Nhà ở cổ truyền các dân tộc Việt Nam TS Nguyễn Khắc Tụng Nhà xuất bản xây dựng - 1996
5 Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam Ngô Đức Thịnh NXB Văn hóa dân tộc -1994
6 Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam - NXB Văn hóa dântộc -1994
7 Các dân tộc ít người việt Nam ở các tỉnh phía Bắc - NXB Khoahọc xã hội - 1978
Trang 148 “ Bước đầu nghiên cứu thực trạng kinh tế, văn hóa xã hội các dântộc thiểu số ở vùng miền núi Hà Tĩnh và đề xuất các giải pháp phát triển” -
10 NGUỒN TƯ LIỆU
- Các kết quả phỏng vấn, điều tra, nghiên cứu thực địa của bản thân
- Các loại bản đồ: Bản đồ hành chính huyện Hương Sơn, bản đồ quyhoạch sử dụng đất xã Sơn Kim II năm 2010, bản đồ địa giới hành chính xãSơn Kim II
- Tài liệu của UBND xã Sơn Kim II, gồm:
+ Báo cáo chính trị của BCH lâm thời Đảng bộ xã Sơn Kim II + Báo cáo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010
+ Báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội, an ninhquốc phòng năm 2010, phương hướng nhiệm vụ và giải pháp thực hiệnnăm 2011
+ Báo cáo về công tác dân tộc - tôn giáo của Phó chủ tịch UBND
xã Sơn Kim II
+ Báo cáo dự án qui hoạch bố trí sắp xếp, ổn định dân cư các xãbiên giới Việt - Lào, xã Sơn Kim II, huyện Hương Sơn năm 2010, địnhhướng đến năm 2015
- Tài liệu của UBND Tỉnh Hà Tĩnh gồm:
+ Báo cáo công tác dân tộc năm 2009
+ Báo cáo “Tình hình triển khai thực hiện các chính sách dân tộcgiai đoạn 2006 - 2010”
Trang 15+ Báo cáo “Một số vấn đề chủ yếu về dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh”năm 2009.
+ Báo cáo “Tổng kết năm thực hiện chương trình phối hợp côngtác dân tộc giữa UBDT với bộ tư lệnh bộ đội biên phòng năm 2010”
Và một số tài liệu khác
11 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm 3 phần, 4 chương, 1 bản đồ, 4 bảng số liệu, 2 sơ đồ, 10ảnh tài liệu tham khảo, tổng cộng là 96 trang đánh máy trên giấy A4, fontchữ Time New Roman, cỡ chữ 14
Trang 17PHẦN NỘI DUNG Chương 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ ĐỊA BÀN CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI THÁI
Tọa độ địa lý từ khoảng : 18o15’ - 18o26’ VB
105o08’ - 105o21’KĐ
Phía Đông giáp xã Sơn Tây và xã Hương Quang (Vũ Quang)
Phía Tây giáp xã Sơn Kim I
Phía Bắc giáp xã Sơn Kim I và thị trấn Tây Sơn
Phía Nam giáp nước Lào và xã Hương Quang (Vũ Quang)
Xã có 14 thôn với tổng diện tích đất tự nhiên trong địa giới hànhchính là 20.057 ha
Xã Sơn Kim II là địa bàn phân bố chủ yếu của người Thái ở Hà Tĩnhhiện nay và là một trong những xã khó khăn nhất của huyện Hương Sơn,tỉnh Hà Tĩnh Đây là một xã miền núi, địa hình phức tạp, lắm đồi núi vàkhe suối, xã có một tuyến đường tiểu mạch sang nước bạn Lào dài khoảng29,5 km; nối liền các xã lân cận vùng giáp biên giới của huyện với Lào
Nhìn chung, vị trí địa lý của xã Sơn Kim II có những lợi thế chủ yếu
đó là: nằm tương đối gần với trung tâm kinh tế, thương mại sầm uất thịtrấn Tây Sơn, có vị trí giao thông khá thuận lợi trong việc thông thương đilại với nước bạn Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tếcũng như giao lưu văn hóa giữa các đồng bào dân tộc ở đây với đồng bào
Trang 18Bao bọc ở phía Đông và Đông Nam của xã Sơn Kim II là khu vựcvườn quốc gia Vũ Quang và khu vực rừng sản xuất cũng như các nôngtrường lâm nghiệp rộng lớn với tiềm năng to lớn về đất, rừng, có ý nghĩa tolớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc Thái ở đây.
Tuy nhiên, là một xã miền núi, dân cư phân bố khá thưa thớt, lại nằmgần trong khu vực khí hậu khắc nghiệt, là nơi tiếp nhận đầu tiên cái nắng,cái nóng của “gió Lào bão lửa”, thêm vào đó lại nằm ở vị trí thượng nguồnsông Ngàn Phố nên phải thường xuyên gánh chịu hậu quả của thiên tai, lũlụt đặc biệt là lũ quét, hạn chế lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Mặt khác, với vị trí nằm dọc phía Nam sông Ngàn Phố, có đườngbiên giới giáp Lào dài 25km nên vấn đề đảm bảo ANQP có ý nghĩa to lớnđối với địa bàn vùng giáp biên này Vùng biên giới giáp nước bạn Lào của
xã Sơn Kim II địa hình hiểm trở, là địa bàn không mấy đồng nhất về thànhphần dân cư, dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho các phần tử chống pháchính quyền cách mạng cũng như tội phạm hoạt động, gây ảnh hưởngkhông nhỏ đến cuộc sống của đồng bào dân tộc ở đây Chính vì vậy, việcđảm bảo ANQP là một nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu đối với các cấpchính quyền địa phương xã Sơn Kim II
1.1.2 Địa hình
Người Thái ở địa bàn xã Sơn Kim II phân bố trên vùng địa hình chủyếu là đồi núi xen đồng bằng thung lũng sông Địa hình dốc từ Tây Bắcxuống Đông Nam, độ cao trung bình là khoảng 300 - 450m, chủ yếu là đồitrung du, cao nhất là núi Bà Mụ với độ cao 1.357m, trên biên giới Việt – Lào
Ngoài địa hình đồi trung du là phần chuyển tiếp từ miền núi xuốngđồng bằng với thành phần đất đai rất đa dạng thì ở đây còn có dạng địahình đồng bằng bóc mòn và thung lũng tương đối bằng phẳng do quá trìnhcanh tác và cày xới lâu năm, là địa bàn cư trú và sản xuất chủ yếu củađồng bào dân tộc Thái ở đây
Trang 19Với đặc điểm địa hình trên, cho phép phát triển các lâm trường sảnxuất, chế biến lâm sản, trồng rừng, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi giasúc và đặc biệt là trồng lúa nước cũng như phát triển hoa màu ở nhữngvùng đồng bằng thung lũng sông, đất đai được phù sa bồi đắp phì nhiêu,màu mỡ.
Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình đồi núi chiếm chủ yếu, bị chia cắt
do đó khó khăn trong khai thác, sử dụng Một số chỗ trũng thấp có khảnăng trồng lúa nước thì do canh tác lâu năm nên có nguy cơ bạc màu, thoáihóa đất, hạn chế phát triển sản xuất nông nghiệp Là xã miền núi nên diệntích ruộng đất sản xuất bậc thang nhiều, lại chủ yếu nằm cạnh các khe suốinên về mùa mưa lũ, một số vùng thường bị vùi dập, sạt lở, trôi đất màu
1.1.3 Khí hậu
Địa bàn xã Sơn Kim II nơi người Thái cư trú tập trung hiện nay cóđặc điểm khí hậu chung của khí hậu khu vực tỉnh Hà Tĩnh, đó là khí hậunhiệt đới gió mùa ẩm có một mùa đông lạnh khá rõ nét
Nhiệt độ trung bình năm khá cao, từ 25- 280 C Là nơi tiếp nhận đầutiên cái nóng ngột ngạt của gió Lào khô nóng nên ở đây nhiệt độ trungbình về mùa hạ tương đối cao, có thể lên tới 28 – 300 C, nhiệt độ tối cao cóthể lên tới 39,90 C, nhiệt độ tối thấp có thể xuống dưới 100 C, biên độ nhiệttrong vùng lớn, nhiệt độ ngày đêm chênh lệch cao, nhìn chung khí hậu khákhắc nghiệt
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt trên 2500mm, mùa mưa bắtđầu từ tháng 8 năm trước đến tháng 1 năm sau Điều kiện nhiệt cao, ẩm lớntạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển Mùa khô từtháng 2 đến tháng 7, đặc biệt thời gian hoạt động của gió Lào từ tháng 5đến tháng 7 hàng năm, là mùa nắng gắt, ít mưa, khí hậu khô nóng Mùanày thường gây hạn hán làm ảnh hưởng to lớn đến sức khỏe con ngườicũng như năng suất cây trồng, vật nuôi
Trang 20Sông Ngàn Phố bắt nguồn bằng các dòng suối nhỏ từ vùng núi GiăngMàn thuộc dãy Trường Sơn, sông chảy qua địa phận xã Sơn Kim II vớichiều dài khoảng 20km, chảy ven biên giới Việt – Lào Sông chảy ở độ caotrung bình là khoảng 331m, độ dốc trung bình là 25,2o; mật độ sông suối là0,91km/km2; tổng lượng nước là 1,4m3 tương đương với lưu lượng trungbình là 45,6m3/s.
Con sông Ngàn Phố là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho nhu cầusinh hoạt và tưới tiêu cũng như ảnh hưởng to lớn đến việc xây dựng vàthiết kế các công trình hồ, đập, các tuyến kênh mương thủy lợi phục vụ sảnxuất trên địa bàn
- Hệ thống sông suối nhỏ: ngoài sông Ngàn Phố, do vị trí đầu nguồnnên địa bàn xã Sơn Kim II còn có nhiều khe suối, nhiều nhánh sông nhỏ rảirác trên khắp các thôn của xã Trong đó có thể kể đến sông Tre – mộtnhánh của sông Ngàn Phố chảy qua địa phận xã Sơn Kim II và một loạtcác khe suối nhỏ khác như khe Tre, khe Đá, khe Vạng, khe Cá Họt, kheBén, khe Luống Cải, khe Liễu Phương Hệ thống sông và khe suối nhỏnày không chỉ có ý nghĩa về mặt sản xuất, tưới tiêu trong nông nghiệp màcòn có ý nghĩa nhất định đối với đời sống sinh hoạt hàng ngày của cư dânđồng bào dân tộc Thái, đồng thời tạo ra nhiều cảnh quan sinh thái núi sôngtuyệt đẹp ở đây
Tuy nhiên, nằm ở vị trí thượng nguồn nên về mùa lũ, khu vực nàyphải gánh chịu nhiều hậu quả của thiên tai, đặc biệt là lũ quét, gây thiệt hại
Trang 21to lớn đến đời sống, sản xuất và môi trường Điển hình là trận lũ lịch sửnăm 2002 đã cuốn đi rất nhiều nhà cửa, xóa sạch nhiều thôn bản của xãSơn Kim lúc bấy giờ, khi còn chưa tách thành hai xã
1.1.5 Đất đai
Địa bàn cư trú của người Thái ở xã Sơn Kim II có thành phần đất đai
đa dạng, phân bố xen kẽ, tạo điều kiện khai thác thế mạnh của từng loạiđất, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất tại chỗ và cấp thiết của đồng bào ngườiThái vốn có tập quán định cư canh tác Đất đai bao gồm hai nhóm chính:
- Đất thung lũng: bao gồm đất cát pha, đất glây hóa, đất sét phacát diện tích không nhiều, được tạo bởi phù sa sông Ngàn Phố hay phonghóa trầm tích tại chỗ của các thung lũng sông nhỏ hẹp, tương đối màu mỡ,
là cơ sở để khuyến khích đồng bào dân tộc từ bỏ tập quán đốt nương làmrẫy để chú trọng vào việc trồng lúa nước và hoa màu, đáp ứng nhu cầulương thực tại chỗ
- Đất đồi núi: bao gồm các loại đất như đất mùn đỏ vàng trên núi, đấtxói mòn trơ sỏi đá, đất pheralit Nhóm đất này chiếm diện tích chủ yếu, phân
bố ở tầng địa hình đồi trung du, đồi núi thấp có độ dốc trên 300,là loại đất cóhàm lượng mùn khá cao, chỉ thích hợp cho trồng rừng, trồng cây côngnghiệp, đặc biệt là trồng cây cao su, chè và một số cây lâm sản khác
Nhìn chung, có thể thấy địa bàn phân bố của người Thái ở xã SơnKim II có thành phần thổ nhưỡng rất đa dạng, lại có sự phân bố xen kẽ tạothuận lợi cho việc đa dạng hóa cơ cấu cây trồng cũng như các ngành nghềsản xuất N - L - N, phát triển sản xuất nông nghiệp một cách lâu dài, ổnđịnh và hạn chế tình trạng đốt rừng làm nương rẫy
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất đó là do địa bàn nằm trong điều kiện địahình đồi núi chiếm chủ yếu, độ dốc lớn kết hợp với lượng mưa lớn, tậptrung theo mùa nên dễ bị xói mòn, khó qui hoạch sản xuất qui mô lớn, cơgiới hóa
Trang 22Hầu hết đất có chất lượng xấu, nghèo dinh dưỡng, độ chua cao, việckhai thác tài nguyên đất còn gặp nhiều khó khăn Hiện nay, cơ cấu sử dụngđất của xã Sơn Kim II có sự mất cân đối, chưa hợp lý
Bảng 1: Cơ cấu sử dụng đất xã Sơn Kim II năm 2010
2,61 0,94 1,67 0,38 0,55
92,57 16,63 39,44 36,50
Đất phi nông nghiệp
- Đất ở
- Đất chuyên dùng.
300,23 49,04 251,19
1,45 0,24 1,21 Đất chưa sử dụng 696,24 3,37
(Theo kết quả kiểm kê đất đai của UBND xã Sơn Kim II năm 2010)
Theo kết quả kiểm kê đất đai thể hiện ở bảng trên, cho thấy tỉ lệ đấtlâm nghiệp, đất rừng vẫn chiếm đa số trong cơ cấu sử dụng đất, tỉ lệ đấtsản xuất nông nghiệp còn hạn chế, chưa khai thác hết khả năng sử dụng vàchưa đáp ứng đủ nhu cầu cấp thiết về sản xuất hoa màu và lương thực hiệnnay cho dân cư trên địa bàn
1.1.6 Sinh vật
Trang 23Với vị trí tiếp giáp với khu vực VQG Vũ Quang, địa bàn phân bốcủa đồng bào dân tộc Thái ở Sơn Kim II tiềm chứa nhiều yếu địa lý - sinhvật đặc biệt, có sự đa dạng phong phú về hệ động thực vật và sự giàu có vềtài nguyên rừng, tạo nên thế mạnh nổi bật của vùng.
Thật vậy, có thể nói, cùng với đất đai, rừng là tài nguyên có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với đời sống hàng ngày cũng như việc khai thác, sửdụng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào người Thái ở SơnKim II, huyện Hương Sơn
- Về thực vật : rừng ở khu vực cư trú của người Thái tại địa bàn SơnKim II mang những đặc điểm chung của rừng khu vực Trường Sơn Bắc,gồm hai kiểu rừng chính là rừng thường kín á nhiệt đới, độ cao từ 600-1000m với hai loại cây đặc hữu là pơmu, hoàng đàn và rừng thường kínnhiệt đới, độ cao < 600m, với thực vật chủ yếu là sến, lim, táu, dỗi, cácloại tre, nứa, song, mây, lá nón và các loại cây dược liệu
- Về động vật: là địa bàn được phân bổ quản lý một bộ phận củaVQG Vũ Quang nên nơi đây còn giữ được nhiều khu rừng nguyên sinh vớinhiều loài động vật đặc hữu, một số loài thú quí như vọoc chân nâu, vọoc
Hà Tĩnh, hươu sao, khỉ, gấu một số loài tiêu biểu, được ghi vào sách đỏViệt Nam như Sao la, mang lớn
Tài nguyên rừng là một lợi thế nổi bật đối với đồng bào người Thái
ở xã Sơn Kim II, tạo điều kiện ổn định công ăn việc làm cho nhiều hộ nôngdân ở đây trong điều kiện đất đai sản xuất nông nghiệp còn hạn chế Tuynhiên, điều đó cũng đặt ra một vấn đề là phải làm sao để khai thác, sử dụnghợp lý kết hợp với khoanh nuôi và bảo vệ nguồn tài nguyên này, góp phầnphòng ngừa sự tàn phá của lũ quét nơi vùng đất thượng nguồn
1.1.7 Nhận xét chung
Trang 24Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của địa bàn nghiên cứu cónhiều thế mạnh to lớn cho phép đồng bào dân tộc Thái khai thác, sử dụng đểphục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, trồng trọt kết hợp chăn nuôi.
Vị trí địa lý tương đối thuận lợi cho phép thông thương, buôn bán,trao đổi hàng hóa trong và ngoài xã, trong vùng với vùng biên giới nướcbạn, đặc biệt là vùng biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Bôlikhămxây (Lào).Mặt khác, do vị trí giáp ranh biên giới Việt - Lào với đường biên giớitương đối dài nên cần luôn chú ý đến vấn đề ANQP nhằm giữ vững anninh biên giới, đảo bảo cuộc sống bình yên cho đồng bào dân tộc thiểu sốvốn là thành phần dễ bị bị cô lập, lôi kéo
Bên cạnh đó, hạn chế của địa bàn nghiên cứu là đặc điểm địa hìnhkhông mấy thuận lợi, khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên gánh chịu hậuquả của thiên tai, nhất là lũ quét và đặc biệt là gió Tây khô nóng, gây hạnhán kéo dài, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sản xuất của đồngbào người Thái ở đây Việc khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyênthiên nhiên để ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bàodân tộc Thái đòi hỏi phải có các chính sách đồng bộ, dài hạn, sự quan tâmđúng mức và sự phối hợp của các cấp, các ngành
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế chung
Về tình hình phát triển kinh tế của địa bàn xã Sơn Kim II, nhìnchung, có bước tăng trưởng khá, kết cấu hạ tầng phát triển với tốc độnhanh, đời sống vật chất của nhân dân dần được cải thiện đáng kể Tốc độtăng trưởng kinh tế năm 2009 là 10% và vẫn giữ tốc độ tăng trưởng ổnđịnh cho đến nay
1.2.1.1 Về tình hình phát triển các ngành kinh tế
Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá, cụ thể :
Tổng sản lượng lương thực đạt 1273 tấn, tăng 15 % so với năm 2004
Trang 25Bình quân đất canh tác sản xuất N - L - N là 2,47 ha /hộ.
Bình quân lương thực hàng năm đạt 1,05 tấn/hộ, trong đó sản lượngthóc bình quân đạt 0,65 tấn/hộ Sản lượng các loại cây công nghiệp, cây đậu,lạc đều tăng
Chăn nuôi mặc dù bị ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng vẫn giữ đượcnhịp độ nhát triển Hiện nay, xã đang triển khai dự án nuôi bò lai Sind,hươu chất lượng cao từ nguồn dự án Bắc Trường Sơn
Kinh tế rừng, vườn đồi, kinh tế trang trại đã có bước phát triển, đã cómột số mô hình kinh tế cho thu nhập cao Phong trào trồng cây lâm nghiệp,cây công nghiệp, cây ăn quả phát triển mạnh, đã trồng được hơn 8.300 câylâm sản phi gỗ, 366.000 cây lâm nghiệp, 66.000 cây ăn quả các loại
Về thương mại, dịch vụ, bước đầu hình thành một số cơ sở, điểm kinhdoanh, dịch vụ có hiệu quả như: chế biến lâm sản, bán hàng tạp hóa, sửachữa xe máy, dịch vụ xe khách tạo thu nhập đáng kể cho người lao động
1.2.1.2 Về cơ sở hạ tầng, cơ sơ vật chất
Về cơ bản, đã tập trung xây dựng các công trình kết cấu hạ tầngphục vụ nông nghiệp, nông thôn như đường giao thông, nhà hội quán cácthôn, trạm y tế, trụ sở, đài tưởng niệm
Hiện nay, tổng số km đường trục xã, liên xã là 29km trong đó 90%
đã có bê tông hóa, nhựa hóa Tổng số km đường trục thôn, xóm là 35kmtrong đó đã cứng hóa chiếm 30% Tổng số km đường trục chính nội đồng
là 39,5km tuy nhiên 100% chưa được cứng hóa
Hệ thống thủy lợi bao gồm 3 hồ đập chứa nước, 0,2 km đê sông, cáctrạm bơm, giếng, đường cống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh về cơbản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh
Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật ngành điện, bao gồm: lướiđiện phân phối, trạm biến áp phân phối, đường dây trung áp, đường dâycấp hạ áp, có khả năng đáp ứng 98% so với yêu cầu
Trang 261.2.2 Một số vấn đề xã hội
1.2.2.1 Mức sống
Là một xã miền núi vùng sâu vùng xa, địa hình phức tạp, nhiều rừngnúi và khe suối, giao thông đi lại khó khăn, nền kinh tế chủ yếu còn dựavào sản xuất nông - lâm nghiệp, thương mại và dịch vụ chưa phát triển nênhầu hết đời sống nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Sơn Kim
II còn gặp nhiều khó khăn, mức sống còn thấp
Theo số liệu thống kê năm 2010 của UBND xã Sơn Kim II, tổng thunhập bình quân đầu người của xã chỉ đạt 3,4 triệu đồng/ năm Trong đó:
Thu nhập từ nông nghiệp chiếm 70 %
Thu nhập từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 10 %Thu nhập từ các ngành nghề dịch vụ chiếm 20%
Trang 27Cơ cấu thu nhập trên cho thấy mức độ thu nhập cũng như chất lượngcuộc sống của cư dân ở Sơn Kim II, địa bàn cư trú đông đảo của đồng bàodân tộc Thái còn gặp nhiều khó khăn.
Hiện nay, trong tổng số 1213 hộ dân cư có đến 124 hộ nghèo, chiếm10,22 %, trong đó chiếm số đông là đồng bào người Thái
Bảng 2: Hiện trạng phân tầng xã hội và đời sống năm 2009 xã Sơn
Kim II Danh mục Đơn vị tính Số lượng
24 606 243 124
Nhà ở
- nhà xây, nhà gỗ lợp ngói.
- nhà tranh tre
cái cái
1091 122
Phương tiện nghe nhìn,
điện thoại, đi lại.
- hộ có tivi
- hộ có điện thoại
- hộ có xe máy
hộ hộ hộ
727 485 849
(Nguồn: Biểu thống kê của UBND xã Sơn Kim II)
1.2.2.2 Tình hình y tế - giáo dục
Về mặt y tế, công tác chăm sóc sức khỏe trên địa bàn Sơn Kim IItương đối phát triển và có nhiều tiến bộ
Trang 28Cơ sở vật chất cho y tế đang được chú trọng đầu tư xây dựng Trạm y
tế xã đang được thành lập và hoạt động có hiệu quả, đồng bào người Thái ở9/14 thôn tham gia thực hiện tốt các chương trình tiêm chủng phòng dịch,như vậy một số bệnh phổ biến như sốt rét, lao có chiều hướng giảm
Hiện nay, tỉ lệ người dân cư ở Sơn Kim II tham gia các hình thứcbảo hiểm y tế là 38%
Về cơ bản, người dân đã hình thành cho mình một thói quen khámbệnh ở trạm y tế, không còn tình trạng cầu xin hay cúng bái thần linh theophong tục cổ xưa lạc hậu nữa
Về mặt giáo dục, là một xã miền núi thuộc loại nghèo nhất của tỉnh,Sơn Kim II được thụ hưởng nhiều sự đầu tư ưu tiên về giáo dục, do đótrình độ dân trí khá cao
Năm 2010, tỉ lệ phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ của xã SơnKim II là 95,6%; tương đối cao
Tỉ lệ phổ cập giáo dục trung học là 78% Tỉ lệ học sinh tốt nghiệptrung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc) là 85%
Tỉ lệ lao động qua đào tạo là 10%
Sự nghiệp giáo dục đào tạo được quan tâm đúng mức, 100% con emđến tuổi đều được đi học, trường tiểu học đạt tiên tiến cấp huyện, tỉ lệ họcsinh giỏi cấp tỉnh, cấp huyện đạt 2,88%; tỉ lệ học sinh tiên tiến xuất sắc đạt8,6%; giáo viên giỏi chiếm 65%
Học sinh trên toàn địa bàn nói chung và học sinh con em người Tháinói riêng được hưởng những chính sách ưu đãi như: miễn giảm các khoảnđóng góp, học bổng trợ cấp, có chế độ ưu tiên trong việc xét tuyển vào cáccấp học cũng như xét tuyển việc làm Chính vì vậy, tỉ lệ học sinh các cấphọc không ngừng tăng lên, số lượng học sinh thi đậu và các trường đại học,cao đẳng ngày càng nhiều
Trang 29Một số gia đình có đến 2-3 anh chị em đi học đại học, một số con emđồng bào dân tộc Thái đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi huyện hayhội khỏe phù đổng của huyện, tỉnh.
Điển hình là em Vì Thị Thắm – học sinh lớp 11 trường THPT CaoThắng, là người dân tộc Thái, ở thôn khe Tre, xã Sơn Kim II – là một họcsinh giỏi huyện liên tục nhiều năm Năm 2009, em Thắm đã đạt huy chươngVàng môn chạy 800m trong hội khỏe phù đổng của huyện Hương Sơn
Có thể nói, chất lượng nguồn nhân lực ở địa phương được nâng cao
rõ nét là cơ sở quan trọng để trong tương lai có thể giúp đồng bào ngườiThái thay đổi cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, rút ngắn khoảng cáchchênh lệch phát triển kinh tế với đồng bào người Kinh trên địa bàn
Trang 30Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CHUNG CỦA NGƯỜI THÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ NHÂN VĂN CỦA NGƯỜI THÁI Ở
SƠN KIM II, HƯƠNG SƠN, HÀ TĨNH
2.1 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CHUNG CỦA NGƯỜI THÁI
2.1.1 Hình thái kinh tế
2.1.1.1 Kinh tế truyền thống
- Làm ruộng nước: ngay từ rất sớm, người Thái đã biết làm ruộng
nước Nơi cư trú của người Thái là những vùng lòng chảo lớn giữa nhữngthung lũng chạy dọc theo các con suối, do đó đối tượng canh tác của ngườiThái cũng rất đặc trưng Thật vậy, đối tượng sản xuất chính của người Thái
nói chung là tông na (ruộng đồng) và hạy (nương rẫy) trong đó ruộng đồng
bao giờ cũng nổi lên như một khâu then chốt Trên cơ sở đối tượng tácđộng vào tự nhiên này mà tạo ra một nếp sống dựa trên nền nông nghiệpphức hợp: Đó là lấy trục sản xuất ra thóc lúa ở ruộng và nương làm điểmtựa để mọi hoạt động kinh tế khác như trồng các loại cây ngoài lúa, chănnuôi, làm nghề phụ gia đình, hái lượm, đánh cá xoay quanh, đảm bảocuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình, dòng họ, bản mường tồn tại và pháttriển Nếp sản xuất này ra đời trong hệ sinh thái nhân văn của vùng thunglũng núi cao miền nhiệt đới ẩm ướt và trở thành nền tảng của mô thức vănhóa thung lũng
- Làm nương rẫy: bên cạnh hình thức ruộng nước thì nương rẫy là mộtloại hình kinh tế nông nghiệp đặc trưng và là một tư liệu sản xuất không thểthiếu được của người Thái Nương người Thái có 2 loại: Loại nương hay rẫynhư nương lúa, ngô, sắn, làm hai, ba băm phải bỏ hóa, thường đi đôi vớicác công cụ là gậy chọc lỗ hay cuốc Loại nương bông, chàm đã được xới,bón kỹ, có nơi còn bón lót, cày ải, loại nương này bắt đầu được thâm canhnhưng vẫn chưa trở thành ruộng hay vườn được Nương nhằm cung cấp một
Trang 31số lương thực, thực phẩm nhất định như lúa, ngô, khoai, sắn và một số sảnphẩm khác như: vừng, lạc, bầu, bí, rau xanh dùng để làm thức ăn.
2.1.1.2 Nghề phụ gia đình
- Chăn nuôi: loại hình kinh tế chăn nuôi gắn với gia đình nông
nghiệp là đặc trưng nổi bật của văn hóa truyền thống người Thái Các giađình nông dân người Thái thường nuôi trâu, lợn, gà, chó, những gia đình
có hoàn cảnh thì nuôi thêm bò, ngựa, trong đó trâu là loài được nuôi nhiềunhất Đây là loài gia súc vừa để ăn thịt, vừa làm sức kéo vừa làm vật hiếnsinh trong nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng Đồng bào cũng chú ý chăn nuôilợn và gia cầm để dùng vào những dịp cúng bái hoặc thết khách Khikhông cần gia súc vào sản xuất, người Thái thường thả rông trâu, bò ởtrong rừng, nơi có những đồng cỏ lớn
- Các nghề thủ công: theo truyền thống tự cấp tự túc, mỗi gia đìnhThái phải làm khá nhiều nghề thủ công Hầu hết đàn ông biết đan lát, làmcác công cụ trong nông nghiệp đồng áng, nương rẫy, săn bắt, hái lượm.Ngoài ra, người Thái còn biết rèn sắt, làm đồ trang sức bằng đồng, vàng,bạc và biết làm gốm, làm nồi, vại Do có sự rèn luyện ngay từ nhỏ nênhầu hết phụ nữ Thái đều rất thông thạo việc dệt vải, thổ cẩm và thêu thùavới những sản phẩm mang đặc thù dân tộc Thái, nổi tiếng với những tấmthổ cẩm dệt rất tinh vi với những mô típ hoa văn hình thú, chim, cây cối
Tuy nhiên, ngành nghề thủ công của người Thái chưa tách khỏi nôngnghiệp và chỉ có thể coi là nghề phụ gia đình
- Trao đổi hàng hóa: trong xã hội hầu như không có chợ búa, việctrao đổi hàng hóa thường chỉ hạn chế vào một số nhu yếu phẩm và chủ yếu
là dưới hình thức trao đổi hàng hóa với các dân tộc khác ở rẻo giữa và rẻocao Ở một vài địa điểm vùng ven biên giới, chợ được tổ chức định kỳ
Trang 32Địa điểm làm nhà thường là chân đồi, nơi gần ruộng, nương, tiện chosản xuất, gần các thung lũng có nước chảy Địa thế nhà thường thấp hơnnguồn nước để có thể bắc máng nước chảy về gần nhà.
2.1.2.2 Nhà cửa
Do nằm trong hệ sinh thái của rừng mưa nhiệt đới, độ ẩm cao, mưanhiều, côn trùng, thú giữ lắm nên các cư dân của khu vực Đông Nam Áchủ yếu ở nhà sàn Người Thái cũng không nằm ngoài tập quán cư trú đó.Theo cổ truyền thì tất cả các nhóm Thái đều ở nhà sàn bằng tranh, tre, gỗ,nứa, Mọi nguyên liệu làm nhà đều là sản phẩm của địa phương
Trong quá trình dựng nhà sàn thì người Thái chú trọng đến việcchọn và dựng cột cái “xau hẹ” Xau hẹ được dựng trước nhà, là sức mạnh,
là linh hồn, là điểm tựa bên ngoài của gia đình
Nhà sàn Thái có 4 mái: 2 mái to chạy dọc theo chiều dài của nhà, 2mái nhỏ che 2 mái nhà Các vùng khác nhau thì có sự khác nhau ở hai máinhỏ Người Thái Đen thường ở nhà sàn mái vòm, cong, khum mai rùa(hình bầu dục) còn người Thái Trắng thì thường ở nhà sàn mái phẳng (hìnhchữ nhật) Trông toàn bộ mái nhà từ bên ngoài có hình dáng giống mai conrùa hoặc một chiếc thuyền úp Bên trong nhà rất thoáng, cao vì trong nhàhoàn toàn không có cột
Trang 33Trên mái nhà sàn Thái ở hai đầu hồi có “khau cút” vút cao được ghi
nhận như một đặc trưng đậm đà bản sắc dân tộc Khau cút thường được
làm từ hai miếng gỗ, màu tự nhiên của gỗ thường là màu ngả vàng, nhưng
khau cút thì lúc nào cũng phải có màu trắng Tác dụng trực tiếp của khau
cút đó là nó đóng vai trò làm cái nẹp giữ cho lớp tranh ở hai đầu hồi khỏi
bị tốc lên khi có mưa to gió lớn Song, bên cạnh đó, khau cút còn chứa
đựng nội dung thẩm mĩ mang tính dân tộc rõ rệt, là biểu tượng về sự hiệndiện của con người trong khung cảnh bao la của núi rừng hùng vĩ, tạo nênmột diện mạo rất đặc trưng cho cảnh quan bản làng dân tộc Thái, khác hẳnbản làng của bất cư dân tộc thiểu số nào trên đất nước ta
2.1.2.3 Ẩm thực
Theo đúng truyền thống thì lúa nếp là gạo, xôi là cơm của ngườiThái Ngày nay, mặc dù gạo tẻ đã trở thành lương thực chính của ngườiThái, tuy nhiên gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống, và cái gọi
là “ăn nếp” ấy vẫn còn in dấu đậm nét trong đời sống đồng bào, qua câunói cửa miệng mỗi khi người Thái lâu ngày gặp nhau: “mi khảu nựng khảuniêu bò!” (có nếp xôi không!) Trong các đặc sản nếp có 2 thứ là “xôi” và
“cơm lam”
- Xôi (khảu ón): xôi được đồ từ gạo nếp đem ngâm qua đêm trongnhững chiếc chõ gỗ Nồi để đồ xôi là cái ninh cao bằng đồng, người Thái ởhuyện Kỳ Sơn gọi là “viếng”, người Thái ở Tây Bắc gọi là “mỏ nửng” (nồiđồ) Xôi đồ chín được dỡ ra mâm bao giờ cũng phải quạt cho nguội rồi mớicho lại vào chõ hoặc giỏ xôi để ăn cả ngày
Xôi là khẩu phần lương thực thông dụng của người Thái, và từ xôingười ta làm thành nhiều thứ có giá trị như quà bánh cho trẻ con, người già
ăn lót dạ Các món này bao hàm trong đó cả sự quan tâm, tình cảm quýmến mà người ta giành cho người già và trẻ con Có 3 loại quà đặc trưng
đó là xôi nướng (khảu chì), xôi cặp (bái khảu), xôi vừng (khảu lét ngạ)
Trang 34- Cơm lam (khảu làm): cơm lam là loại cơm chín trong loại ống đặcbiệt thuộc họ tre “Lam” là từ thuộc ngôn ngữ của người Tày – Thái dùng
để chỉ tất cả cách dùng ống tre nứa để đun nấu chín Gạo để làm cơm phải
là gạo nếp thơm và dẻo Ống tre để làm ống lam phải là loại ống bánh tẻ
mà thành ruột của nó có mùi thơm như hương cơm nếp Gạo được ngâm kỹrồi cho vào ống với một lượng nước vừa phải, sau đó đặt nghiêng trênngọn lửa, xoay đều cho ống không bị cháy Nước sôi và cạn thì dập lửa,nướng ống lam trên than hồng Cơm chín lấy ra để nguội, cạo bóc lớp vỏ,
ăn rất dẻo, thơm mà không ngán
Món cơm lam này thường được làm cho sản phụ Nó cũng có giá trịnhư quà bánh cho trẻ con, người già, cho khách quý hay người thân đi xacần có lương thực mang theo
Ngoài ra, đi với cơm xôi nếp còn có nhiều thực phẩm đặc trưng khác
có gốc gác từ nền kinh tế tự cung tự cấp, hái lượm, săn bắt và đánh cá.Trước hết là món cá với nhiều cách thức chế biến độc đáo như cá gỏi, cásống, cá nướng và đặc biệt là cá chua Cá chua là cá được làm từ cá contrộn với cơm lên men cho vào ống nứa để một số ngày, khi ăn đổ ra đunthành canh Ở các vùng Thái (Thanh Hóa, Nghệ An) trước kia, món cácchua là một thứ không thể thiếu được trong các đồ sính lễ của cả quý tộc
và bình dân
Trên mâm ăn người Thái không thể thiếu được món ớt giã hòa muối,tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, gọichung là “chéo” Trong các món đặc trưng của người Thái còn phải kể đếnmón “nặm pịa” Nặm pịa là món lấy từ ruột non của các loài động vật ăn
cỏ có vị vừa bùi vừa đắng, dùng để nhúng thịt luộc rất hợp
Người Thái ưa thức ăn có vị cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng cácmón ngọt, lợ, đậm, nồng
Người Thái hay uống rượu cần và rượu cất, tuy vậy, ở Tây Bắc, tụcuống rượu cần không phổ biến và điển hình như ở miền Tây Thanh Hóa,
Trang 35Nghệ An Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre nứa và châm lửabằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ
2.1.2.4 Trang phục
- Trang phục nữ: nhìn trên những nét tổng quát nhất, trang phục nữ
của người Thái ở Việt Nam có thể chia làm ba nhóm chính: Trang phục nữTày Mường (Thái Trắng), trang phục nữ Tày Thanh (Thái Đen) và trangphục của phụ nữ Thái miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An mang đặc trưng của
cả Tày Thanh và Tày Mường Nhìn chung, trang phục phụ nữ Thái thườngđặc trưng bởi áo, váy, cúc bướm, hoa tai, vòng cổ, vòng tay, thắt lưng, xàtích
Trong bộ trang phục nữ Thái, áo cánh ngắn và váy (xửa cóm) là yphục nổi tiếng và mang đậm đà màu sắc dân tộc, được phụ nữ các ngànhThái sử dụng mặc hàng ngày Phụ nữ Thái đẹp là nhờ mặc áo cánh ngắn,
đủ màu sắc, có đính hàng khuy bướm chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sátthân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống, thắt eo bằng dải lụamàu xanh lá cây, đeo dây xà tích bạc bên hông Cúc bướm là những bộ cúchình con bướm, ve sầu, nhện đính ở hai bên nẹp áo và ngực, trung bìnhvới số lẻ 11-13 chiếc, được bố trí khéo léo, dày đặc, lóng lánh bạc trướcngực các cô gái như tỏa ánh hào quang
Bộ “xửa cóm” của người Thái nhìn qua rất giản dị nhưng đó là sựgia công đúng mực về kĩ thuật và nghệ thuật, giản dị nhưng không kémphần lộng lẫy
Nữ Thái Đen đội khăn “piêu” nổi tiếng với các hình hoa văn thêunhiều màu sắc rực rỡ “Piêu” có nhiều loại khác nhau, tùy từng vùng khácnhau mà “piêu” có những sắc thái riêng, có loại được thêu hoa văn chỉmàu, có loại chỉ là một tấm vải bông nhuộm chàm Piêu là vật trang sứcquan trọng của cô gái Thái trong sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong lúc đichơi hay dịp lễ hội
Trang 36Nữ Thái Trắng không đội khăn Piêu mà thay vào đó là nón đan lợp lá,bên trong có vách để đội đầu, gần giống với chiếc nón thúng của các liềnanh, liền chị quan họ Nón lá của người Thái Trắng không chỉ che mưa chenắng mà còn là đạo cụ trong điệu múa xòe nổi tiếng của đồng bào Thái.
- Trang phục Nam: trang phục của nam giới Thái đơn giản hơn nhiều
so với trang phục nữ, chủ yếu gồm: khăn, áo, quần
Khăn của nam giới không công phu, không đẹp như khăn piêu củaphụ nữ mà đó chỉ là miếng vải chàm đen, bao gồm hai loại: “Khăn pau”dài > 1m, được dùng khi đi xa hoặc trong ngày hội, lễ, tết và “khăn trọc”dài gần 1m, được dùng trong lao động hàng ngày, khi làm ruộng, nương.Đàn ông thường quấn khăn trên đầu khi lao động hoặc trong sinh hoạt Chỉkhi trưởng thành, 13 -14 tuổi, nam giới Thái mới bắt đầu dùng khăn
Áo của nam giới cũng đơn giản về cấu tạo và trang trí so với áo nữgiới Áo thường cắt may theo kiểu xẻ ngực, cổ tròn, không cầu vai, có haitúi dưới, đây là loại áo cánh mặc thông dụng Loại áo này cũng góp phầnquan trọng tạo nên đặc điểm giới tính của trang phục nam
Quần nam giới dân tộc Thái không rộng như quần nam H’Mông màmặc vừa người Không giống như áo vừa dùng chàm vừa dùng các loại vải
kẻ khác nhiều màu thì quần cơ bản là màu chàm
- Tang phục:
Y phục chính trong tang lễ của người Thai là chiếc áo “xửa co lòng”,may bằng vải màu trắng, kiểu xẻ ngực, dài quá gối, nẹp áo không có khuycài mà dùng dây buộc, gấu áo xổ, gấu tay đáp vải màu xanh, đỏ Loại áonày dành cho con trai, con dâu của người đã quá cố
Người chết sau khi tắm rửa sạch sẽ, mặc áo “xửa cỏm” (nếu là nữ)vào trong, rồi đến “xửa chái” và ngoài cùng là “xửa luổng”
Trong thời gian tang lễ, vợ, con dâu trưởng, con gái cả của ngườiquá cố mặc “xửa luổng”, con dâu thứ và con gái thứ mặc áo “xửa cò lòng”,
họ hàng thân thích mặc áo “xửa cỏm” màu trắng Sau đám tang, những
Trang 37người để tang mặc áo “xửa cỏm” màu trắng, chỉ khác là hàng khuy bạcđơm ở mặt trái.
2.1.2.5 Phương tiện đi lại, vận chuyển
Cũng như các dân tộc khác, trong 54 dân tộc anh em, người Thái sửdụng các phương tiện vận tải cổ xưa, truyền thống như: gùi, thồ, cưỡingựa, nhưng phổ biến nhất là gánh Ngoài ra còn có chiếc gùi theo kiểuchằng dây đeo vắt qua trán và có miếng gỗ khoét theo hình trăng khuyếttương tự như cái ách tì lên cổ phía gáy, là các hình thức vận chuyển thôngdụng trên bộ Ở vùng Tây Bắc, người Thái Đen thì gánh còn người TháiTrắng thì gùi là chủ yếu Còn các vùng Thái ở Tây Thanh Hóa, Nghệ Anthì ngược lại
Mặt khác, sinh sống phổ biến trên các lưu vực sông lớn và ven cáckhe suối nên từ lâu người Thái đã thành thạo đường vận chuyển trên sôngnước ở miền rừng núi Cho đến nay, nhìn chung phương tiện thô sơ phổbiến vẫn là thuyền, bè Thuyền Thái có hai loại: Độc mộc và đuôi én, thíchhợp với sông có lòng chảy hẹp, xiết, nhiều thác ghềnh
2.1.3 Văn hóa tinh thần
rất nhiều truyện cổ, truyền thuyết (kể chuyện bản mường), gia phả của các dòng họ, những lời răn dạy của con người (quắm xon cốn), những quy định
mang tính chất luật tục của các mường, những truyện thơ do các tác giả vô
Trang 38danh, hữu danh sáng tác (Xống chụ xon xao - Tiễn dặn người yêu, Khun Lú Náng Ủa- Chàng Lú nàng Ủa ) Nhiều tác phẩm của người Kinh, người
Hán chuyển sang tiếng Thái được lưu truyền trong cộng đồng
2.1.3.2 Tín ngưỡng dân gian
Không giống như người Mông và người Dao, người Thái không theomột tôn giáo cụ thể nào, mặc dù văn hóa của họ ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo.Tín ngưỡng dân gian Thái gắn với quan niệm: vạn vật hữu linh, mỗi một ngôinhà, bờ suối, gốc cây, hòn đá cánh rừng, các đồ vật xung quanh đều có hồnngụ ở đó và chịu sự cai quản của “Then luông” Người Thái cho rằng, khôngnhững con người mà mọi vật đều có cuộc sống được quy định bởi các “phi”.Phi Then cai quản tất cả các phi; “phi bản, phi mường” cai quản cuộc sống củadân trong bản, mường; “phi hướn” phù hộ cho cuộc sống của mỗi gia đình;
“phi pà ná” là ma rừng; “phi ma” là ma ruộng
Bên cạnh phi, người Thái còn có khái niệm “mí khoăn” (hồn) Mỗi
cơ thể con người đều có rất nhiều khoăn (khoảng 80 hồn), ngụ ở các bộphận khác nhau và có chức năng khác nhau Sự cân bằng của cơ thể do các
“khoăn” đảm nhiệm
Quan niệm người Thái cũng cho rằng, có hai thế giới tồn tại songsong là Mường Trời và Mường Người Mường Trời là cõi trời rộng lớn,nơi ở của các Then, đứng đầu là Then luông Mường Người là thế giớithực mà người Thái đang sinh sống
Như vậy, người Thái tin rằng: các lực lượng siêu nhiên, then và phiđều có ảnh hưởng rất to lớn đến đời sống của họ Chính vì vậy mà từ xưa,người Thái có tục thờ cúng để bày tỏ nguyện vọng, quan niệm của conngười trong thế giới thực tại và trong thế giới hư vô
- Thờ cúng tổ tiên: người Thái thường có những khu vực thờ cúngriêng đối với từng tông tộc, dòng họ hay gia đình
Trang 39Việc thờ cúng do trưởng họ đảm nhiệm Người đứng đầu dòng họ thìđược thờ nơi trang trọng trong khu vực thờ Những người sống chungtrong một gia đình thì cùng thờ chung “ma nhà”, chủ gia đình thay mặt cảgia đình cúng ông bà tổ tiên Bàn thờ là một ngôi nhà sàn nhỏ tượng trưng,làm bằng tre nứa có vách, có sàn đan hình đuôi cá Người Thái quan niệm
“ma nhà” luôn ở bên cạnh con cháu, chăm sóc đến mọi mặt của đời sốnggia đình Những ma tổ tiên ở trên mường Trời hay ngoài rừng không cóảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con cháu thì chỉ khấn mời về trongcác dịp lễ tế
2.1.3.3 Dân ca, nghệ thuật dân gian, nhạc cụ dân gian
- Dân ca, nghệ thuật dân gian
Có thể nói, trong các loại hình nghệ thuật dân gian của các đồng bàodân tộc thiểu số ở nước ta thì người Thái được đánh giá là hội tụ đượcnhững nét văn hóa phong phú và đặc sắc nhất, cả dân ca, múa, ca dao, tụcngữ, truyện thơ, tiêu biểu có thể kể đến:
+ Khắp
Là một loại dân ca của người Thái “Khắp” có nghĩa là hát, hát để kể
lể, tâm tình, động viên nhau để lao động, vui chơi Tùy vào từng địaphương mà “khắp” được gọi bằng nhiều tên khác nhau Những bài hátkhắp ở từng môi trường sinh hoạt khác nhau cũng được đặt tên khác nhau
Ví dụ hát ở tiệc rượu gọi là “khắp mú lẩu”, hát ở đám cưới gọi là “khắp tỏnpạn xóng nảng”, hát tỏ tình trai gái gọi là “khắp báo xao” Lời hát trongkhắp là những lời được sắp xếp có vần điệu như những câu thơ, khi cất lên
âm điệu thường réo rắt, ngân xa, gợi cảm, không thể thiếu được trong bắt
cứ sinh hoạt cộng đồng nào của người Thái
+ Múa xòe
Xòe là hình thức sinh hoạt văn nghệ cộng đồng phát triển mạnh mẽ ởngười Thái Tây Bắc Bên cạnh các hình thức múa đơn như xòe đánh trống,
Trang 40xòe đánh chiêng còn có các điệu xòe tập thể như: Xòe ồng bổng, xòe chá,xòe vòng, xòe kiếm.
Ngoài ra, các vùng Thái ở miền Tây Nghệ An, còn rất phổ biến điệumúa lăm vông rất đặc trưng và được sử dụng rất nhiều trong những dịpsinh hoạt cộng đồng hay dùng khi có khách đông đến chơi nhà, khi quâyquần bên vò rượu cần
- Nhạc cụ dân gian
Nhạc cụ dân gian đặc trưng nhất của người Thái có hai loại, đó là
“tính tẩu” hay còn gọi là đàn then và khèn bè
Tính tẩu được gọi là đàn then vì được sử dụng trong sinh hoạt hátthen Đàn then làm bằng vỏ nửa quả bầu khô, có khoét lỗ thoát âm hìnhhoa thị, mặt đàn bằng gỗ, xốp, mỏng, nhẹ, không sơn, cần đàn dài khôngcần có phím Dây đàn làm bằng sợi tơ xe lăn, thường gồm 2 dây, khác vớiđàn của người Thái thường 3 dây, ở giữa là dây trầm
Khèn bè là loại nhạc cụ hơi của dân tộc Thái và một số dân tộc ởTây Nguyên Khèn bè là loại nhạc cụ đa thanh, có loại 10 ống, 12 ống, 14ống, thường được làm bằng ống sậy hoặc ống nứa nhỏ Âm thanh khèn bètươi vui, đầy đặn, có khả năng thể hiện các bè cùng lúc Đêm rừng trăngsáng, các cô gái Thái thường hát, các chàng trai thường khèn bè đệm theo,tiếng khèn và tiếng bè quyện vào nhau rất tình tứ và thơ mộng
2.1.3.4 Một số phong tục, tập quán
- Sinh đẻ và nuôi dạy con cái
Phụ nữ Thái đẻ theo tư thế đẻ ngồi, quỳ gối, tay vịn trên dây treo, có
bà đỡ hoặc mẹ đỡ, rau của trẻ sơ sinh không chôn mà bỏ vào ống tre đemtreo trên cây ở rừng Rau con trai thì treo ở cây “tăng po”, rau con gái thìkiêng treo vào cây trong rừng phía đầu bản Cuống rốn rơi thì đem sấy trêngác bếp cho khô rồi gói thật kỹ để làm thuốc
Theo tập quán, sau khi sinh đẻ, sản phụ phải nằm cạnh bếp lửa để hơmình Người Thái gọi thời gian này là “dú phay” (ở lửa) Nếu sinh con trai