Nghiên cứu dân ca nghi lễ dân tộc Thái bước đầu sẽ đưa ra một cái nhìn khá tổng thể về nghi lễ và dân ca nghi lễ Thái ở những khía cạnh cơ bản của văn hóa và văn học.. Năm 1990, cuốn Văn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Chí Quế
Phản biện 1: ………
Phản biện 2: ………
Phản biện 3:………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp cơ sở họp
tại………… vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V, khóa VIII nêu rõ: “Di
sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc”.Việc nghiên cứu văn hóa dân gian các dân thiểu số là việc làm có ý nghĩa lớn, góp phần giữ gìn và phát huy vốn văn hóa cổ, bản sắc tinh hoa văn hóa của đồng bào các dân tộc
1.2 Dân ca Thái, đặc biệt là dân ca nghi lễ hiện diện trong hầu hết mọi khoảnh
khắc của cuộc sống thường nhật So với dân ca của nhiều dân tộc khác, dân ca Thái được nghiên cứu tương đối sớm trên một số phương diện nhưng mới chỉ là những nghiên cứu sơ bộ ban đầu, còn nhiều vấn đề của dân ca Thái cần đi sâu nghiên cứu
1.3 Đi vào thế giới đời sống xã hội đồng bào Thái nói chung và người Thái
Thanh Hóa nói riêng có thể gặp nhiều lớp văn hóa có sức hấp dẫn lớn Trong văn học dân gian Thái, dân ca nghi lễ chiếm một vị trí rất quan trọng, là tài sản văn hóa phi vật thể vô giá, mang đậm bản sắc dân tộc, phản ánh nhiều mặt đời sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tư tưởng, tình cảm, tâm hồn dân tộc
1.4 Dân ca nghi lễ dân tộc Thái phong phú với nhiều loại như dân ca trong các
nghi lễ đám cưới, tang ma, mừng nhà mới, sinh đẻ…mà hiện nay ít nhiều vẫn được bảo tồn trong sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng Dân ca nghi lễ Thái vừa có giá trị thực hành tín ngưỡng đồng thời có giá trị văn học nghệ thuật sâu sắc Nghiên cứu dân ca nghi lễ dân tộc Thái bước đầu sẽ đưa ra một cái nhìn khá tổng thể về nghi lễ và dân
ca nghi lễ Thái ở những khía cạnh cơ bản của văn hóa và văn học
1.5 Thanh Hóa vùng đất “địa linh nhân kiệt” là nơi cư trú khá đông của đồng
bào Thái Đây là nơi giao thoa giữa các ngành Thái của Việt Nam (Tây Bắc - Nghệ
An - Lào; Thái đen - Thái trắng - Thái đỏ) mỗi địa phương, mỗi dòng họ Thái lại có những sắc màu riêng Nên khi nghiên cứu đề tài này tác giả đã chọn Thanh Hóa làm vùng nghiên cứu chính
1.6 Tác giả là người Thái sinh ra và lớn lên ở tỉnh Thanh Hóa nên có điều kiện
tiếp cận thực tế, có vốn hiểu biết nhất định về đời sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào mình Thực hiện đề tài này tác giả hy vọng góp phần công sức nhỏ bé của mình vào việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái nói chung
và tộc người Thái vùng Thanh Hóa nói riêng
1.7 Nhóm tác giả Hà Nam Ninh, Hà Công Mậu, Hà Văn Thương là người con
của dân tộc Thái Thanh Hóa nên rất am hiểu về văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc mình Các tác giả đều biết chữ Thái, có nhiều công trong việc sưu tầm dân ca Thái, dịch thơ từ chữ Thái cổ ra lời Việt Người viết Luận án may mắn được gặp gỡ,
Trang 42
làm việc trực tiếp với các tác giả, tiếp cận với pho tư liệu sống về văn hóa, văn học dân gian Thái
1.8 Trong khoa nghiên cứu văn học dân gian hiện nay, đối với các tác phẩm văn
học dân tộc thiểu số, việc các nhà nghiên cứu có thể phân tích trực tiếp trên văn bản ghi chép tiếng địa phương, hay trực tiếp nghe hát- kể bằng tiếng dân tộc vẫn còn là một công việc khó khăn và chưa phổ biến Mã ngôn ngữ là một nhu cầu trung chuyển giữa một bên đầu cầu là mã văn hóa và một bên chân cầu- điểm đến là mã thẩm mỹ
Do đó, chỉ tiếp cận trực tiếp với ngôn ngữ gốc chúng ta mới có thể hiểu được gốc rễ văn hóa và thẩm mỹ của tác phẩm
Với những lý do trên và do khuôn khổ có hạn của luận án, chúng tôi chọn hai loại dân ca nghi lễ có vai trò quan trọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Thái là dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca tang ma để nghiên cứu Đề tài
nghiên cứu có tên: Dân ca nghi lễ của người Thái ở Thanh Hóa
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử về nghiên cứu, sưu tầm, công bố dân ca Thái
Năm 1961, tác giả Mạc Phi công bố Tiễn dặn người yêu (xống chụ xôn xao) Tác
phẩm gồm 1846 câu thơ được sưu tầm từ dân tộc Thái tỉnh Yên Bái Với người Thái
Tây Bắc, Tiễn dặn người yêu có một vị trí xứng đáng, là quyển sách quí nhất trong
mọi quyển sách quý Là một kiệt tác dân gian, là lời của chàng trai dặn người yêu khi tiễn nàng về nhà chồng
Năm 1962 trong cuốn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam do Nông Quốc Chấn chủ
biên đã giới thiệu khá nhiều ca dao- dân ca Thái về lao động sản xuất Trong đó có cả những bài viết và nói của Chủ Tịch Hồ Chí Minh với các dân tộc Tây Bắc
Năm 1979, tác giả Mạc Phi công bố các công trình sưu tầm về Dân ca Thái Cũng
như bộ phận những bài dân ca, khặp (hát dân ca) của người Thái Thanh Hóa được sưu
tầm sớm vào năm 1983, trong cuốn Khặp Thái Thanh Hóa do Bùi Tiên sưu tầm Năm
1986, cuốn Văn hóa truyền thống mường Ca Da do hai nhà Thái học ở mường Ca Da là
Hà Văn Ban và Cao Ngọc Bích chủ biên xuất bản Cùng năm này, nhóm tác giả ở
Thường Xuân cho ra mất bạn đọc “Văn hóa truyền thống Thường Xuân”
Năm 1988, tác giả Đặng Nghiêm Vạn và các cộng sự cho ra mắt công trình nghiên
cứu Tìm hiểu văn hóa cổ truyền của người Thái Mai Châu Trong công trình nghiên cứu
này, các tác giả đã sưu tầm và giới thiệu được một số tác phẩm VHDG Thái thuộc nhiều thể loại: truyện thơ, sử thi, ca dao dân ca, tục ngữ… tại Mai Châu, Hòa Bình
Năm 1990, cuốn Văn hóa truyền thống Lang Chánh được xuất bản, trong phần
dân ca các tác giả chỉ công bố phần dân ca đi đường, bài hát mời trầu- một tiểu loại của dân ca sinh hoạt nghi lễ
Trang 53
Năm 1990, trong “Lời nói đầu” của Hợp tuyển văn học dân gian các dân tộc ở
Thanh Hóa Văn bản đã sưu tầm được một số bài dân ca Thái về: Hát xin mưa; làm
bai; thủa mang thai; lời thương ý tứ gửi trao; lễ xin đón dâu; lễ nhận mặt dâu; hát cảm
ơn thông gia; hát ru; khặp thả; khặp Tay Mươi Thường Xuân; lời nhắn lời chẳng dứt
Năm 1991, với tác phẩm Hạn Khuống của tác giả Cầm Biêu ra đời Cùng năm này tác giả Nguyễn Hữu Thức và các cộng sự cho ra đời cuốn Dân ca Thái Mai Châu
đã sưu tầm và giới thiệu những bài dân ca tiêu biểu ở nhiều tiểu loại khác nhau
Năm 1993, tác giả Cầm Cường cho ra mắt công trình Tìm hiểu văn học dân tộc
Thái ở Việt Nam, văn bản giúp người đọc có cái nhìn khái quát về nguồn gốc, thành
tựu của văn học Thái
Năm 1998, trong Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ biên (tái
bản lần thứ 3) đã giới thiệu diện mạo chung của văn học dân gian các dân tộc thiểu số
ở Việt Nam trong đó có thơ ca dân gian Thái gồm: dân ca lao động, dân ca nghi lễ phong tục và dân ca sinh hoạt
Năm 2001, một nghiên cứu của Dương Đình Minh Sơn về Ngôn ngữ với việc
hình thành âm điệu đặc trưng trong dân ca Thái Tây Bắc Việt Nam đã khái quát một
vài nét về người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, ngôn ngữ âm nhạc trong dân ca Thái
Năm 2008, PGS TS Trần Thị An chủ biên tập 17 Tổng tập văn học dân gian
các dân tộc thiểu số Việt Nam do Viện nghiên cứu văn hóa phối hợp với nhà xuất bản
Khoa học xã hội tổ chức biên soạn
Năm 2010, nhóm tác giả Ngọc Anh, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Nghĩa Lân, Cao Sơn
Hải cho xuất bản cuốn Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam trong đó
dân ca Thái được giới thiệu ở các làn điệu khặp
Năm 2011, Nguyễn Văn Hòa trong Dân ca Thái vùng Tây Bắc đã giới thiệu và
dịch 27 bài dân ca vùng Thái Tây Bắc và 25 bài “Hạn khuống” Cùng năm 2011, tác
giả Cầm Hùng sưu tầm, biên dịch Dệt sứ- lam thời xưa của dân tộc Thái Đen Sơn La
giới thiệu cách tổ chức cưới xin của người Thái Đen Khóa luận tốt nghiệp cử nhân
văn hóa của Nguyễn Thị Thanh Nga trường Đại học văn hóa Hà Nội về vấn đề Khắp
của người Thái ở huyện Mường La đã giới thiệu nét văn hóa đặc trưng vốn có trong
đời sông của đồng bào Thái đen huyện Mường La
Năm 2012, Tòng Văn Hân xuất bản cuốn Khắp sứ lam của người Thái Đen xã Noong
Luống, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Văn bản giới thiệu những nét văn hóa cơ bản trong
tiến trình kết hôn của người Thái Đen ở Điện Biên, những nét đặc sắc của khắp sứ lam- một kiểu hát đối trong đám cưới Cũng trong năm này, các tác giả Đặng Thị Oanh công bố kết
quả Luận án tiến sĩ tìm hiểu về đề tài Biểu tượng nước từ văn hóa đến văn học dân gian của
người Thái ở Tây Bắc Việt Nam; luận án đã tiếp cận dân ca Thái từ phương diện biểu tượng
Trang 64
nước, khẳng định giá trị văn hóa, văn học, bản sắc văn hóa Thái tiềm tàng trong biểu tượng
nước Dân ca Thái Lai Châu của các tác giả Hà Mạnh Phong, Đỗ Thị Tấc đã tập hợp 46 bài
dân ca của người Thái mường Cang, mường Kim, mường Than của Lai Châu về tình yêu nam nữ
Năm 2015, tác giả Hoàng Anh Nhân đã tập hợp những công trình của ông trong
Tuyển tập sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian Thanh Hóa Hai tác giả Hà Mạnh
Phong, Đỗ Thị Tấc tiếp tục giới thiệu 183 bài thơ và dân ca về tình yêu dành cho các
chàng trai cô gái Thái bày tỏ tình cảm, tâm trạng của mình trong Thơ và dân ca tình
yêu dân tộc Thái Mường So
2.2 Lịch sử về nghiên cứu, sưu tầm, công bố dân ca nghi lễ Thái
Năm 1996, trên Tạp chí Văn hóa số 2, tác giả Vi văn An với bài “Hôn nhân và
tục lệ cưới xin của người Thái ở Miền núi Nghệ An”
Năm 2000, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam bổ sung vào vốn Dân ca Thái cuốn
“Lời tang lễ dân tộc Thái ” của tác giả Hoàng Trần Nghịch
Năm 2003, Tác giả Đồng Trọng Im cho ra nắt cuốn “Đám cưới của người Thái
Trắng Phong Thổ- Lai Châu” Năm 2004, tác giả Nguyễn Ngọc Bảo với đề tài Thạc
sỹ “Góp phần tìm hiểu truyện thơ Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái”
Năm 2005, nhà xuất bản văn hóa thông tin cho ra mắt bạn đọc cuốn “Lễ cưới
dòng họ Mè huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La” của tác giả Quàng Thị Chính sưu tầm, giới
thiệu Cùng thời gian này, các tác giả Hoàng Lương có bài viết “Tục thờ vía lúa:
khau khoăn của người Thái ở Phù Yên- Sơn La” đăng trên Tạp chí nghiên cứu tôn
giáo, số 2, trang 25-26 bàn về nghi lễ trong nông nghiệp hằng năm của người Thái
Phù Yên Tác giả Cầm Trọng với bài viết “Lễ tục cưới xin trong xã hội cổ truyền
Thái Đen” đăng trên Tạp chí dân tộc và thời đại
Năm 2009, tác giả Trần Chinh Dương trong luận văn thạc sỹ “Khảo sát văn bản
Xên bản- xên mường của người Thái mường Thanh Điện Biên” đã nêu khái quát về
văn bản và lễ hội xên mường của người Thái mường Thanh xưa
Năm 2010, cuốn “Mường Bôn huyền thoại” của tác giả Quán Vi Miên ra đời
Năm 2011, Tác giả Quán Vi Miên tiếp tục cho ra mắt công chúng cuốn “Tang lễ
của người Thái Nghệ An”, giới thiệu một số bài dân ca tang lễ, khái quát về người
Thái Nghệ An
Cùng năm 2011, các tác giả người Thái Thanh Hóa Hà Nam Ninh, Hà Công Mậu,
Phạm Bá Thược, Hà Văn Thương xuất bản cuốn “Dân ca sinh hoạt của người Thái Thanh
Hóa” dưới dạng song ngữ Thái- Việt
Vào thời điểm 2011, tác giả Đào Quang Tố cũng cho ra đời cuốn “Tục dựng nhà
mới của người Thái Đen họ Mè, bản Tủm, xã Chiềng Khọi, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn
Trang 75
La” Nhà xuất bản Thanh Niên cho ra mắt bạn đọc “Phong tục tang lễ của người Thái Đen xưa kia” của tác giả người Thái Lường Vương Trung, giới thiệu nghi thức tổ
chức tang lễ và một số bài ca dùng trong tang lễ của người Thái Đen vùng Thuận
Châu, Sơn La Tác giả Lò Vũ Vân trong cuốn “Lời ca tang lễ của dòng họ Sa: Dân
tộc Thái vùng Mộc Châu, Sơn La”, tác giả đã khái quát một vài đặc điểm của người
Thái vùng Mộc Châu, Sơn La
Năm 2012, nhóm tác giả Lương Thị Đại, Lò Xuân Hinh, Đỗ Thị Tấc xuất bản
cuốn “Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái”
Năm 2013, Quán Vi Miên tiếp tục cho ra mắt bạn đọc “Đám cưới truyền thống
của người Thái Nghệ An”
Năm 2014, Lò Xuân Dừa trong cuốn “Tang lễ dòng họ Lò bản Tặt” đã giới thiệu
về đặc điểm kinh tế- xã hội, phong tục tập quán của người Thái bản Tặt, Tường Tiến, Phù Yên, Sơn La
Năm 2016, Tác giả Lò Xuân Dừa trong Luận án tiến sỹ Văn hóa học với đề tài “Tang
ma của người Thái, trường hợp người Thái Phù yên, Sơn La”
Cùng trong thời gian này, các tác giả Tòng Văn Hân cho ra đời cuốn “Tang lễ
của người Thái Đen Mường Thanh” Tác giả Lường Song Toàn trong “Hôn nhân truyền thống và những nghi thức trong lễ cưới của người Thái ở huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình” đã khái quát về người Thái ở Mai Châu Hòa Bình và nhận thức của
họ trong hôn nhân
3 Mục đích nghiên cứu
3.1.Trên cơ sở tiếp thu lý thuyết được đề xuất bởi các nhà nghiên cứu trong
nước, dựa trên các tư liệu về dân ca nghi lễ Thái đã được công bố, đồng thời qua quá trình điền dã tham vấn thực tiễn, người viết đặt mục đích tìm hiểu, nghiên cứu diện mạo, nội dung ý nghĩa, nghệ thuật biểu đạt cũng như sự gắn bó mật thiết giữa dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi lễ tang ma với đời sống của dân tộc Thái
3.2 Bước đầu tập hợp và hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến
vấn đề dân ca nghi lễ của người Thái ở Việt Nam
3.3 Luận án đặt vấn đề so sánh ở mức độ nhất định dân ca nghi lễ đám cưới và
dân ca nghi lễ tang ma trong một số ngành Thái khác nhau, giữa dân ca nghi lễ dân tộc Thái và dân ca nghi lễ một số dân tộc khác để bước đầu làm sáng tỏ những tương đồng và khác biệt giữa dân ca nghi lễ các dân tộc
3.4 Nghiên cứ chỉ ra các giá trị văn học - nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, lịch
sử cũng như toàn bộ bức tranh kinh tế, chính trị, xã hội của tộc người Thái mà dân ca nghi lễ biểu chưng, chứa đựng
Trang 86
3.5 Bằng phương pháp điền dã, điều tra xã hội học, luận án nghiên cứu sự nhìn
nhận, đánh giá vai trò dân ca nghi lễ trong đời sống cộng đồng dân tộc người Thái trong xã hội đương đại thông qua các phiếu điều tra
3.6 Từ kết quả nghiên cứu, luận án khẳng định các giá trị cao đẹp cần bảo lưu, đề xuất
các giải pháp bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp
4 Nhiệm vụ của luận án
4.1 Tập hợp, hệ thống, đối chiếu tư liệu dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi
lễ tang ma của dân tộc Thái trên các văn bản đã được công bố
4.2 Nghiên cứu đặc điểm nội dung, nghệ thuật phần lời các bài ca hôn lễ, nghi
lễ tang ma với tư cách là một thành tố quan trọng trong mối quan hệ thống nhất và toàn vẹn với diễn xướng, lễ thức tín ngưỡng dân gian
4.3 So sánh dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi lễ tang ma ở một số ngành
Thái, và với các dân tộc khác
4.4 Bằng kết quả nghiên cứu trên kết hợp với phương pháp điều tra xã hội học,
luận án nghiên cứu quan niệm của người dân về vai trò, sự biến đổi của dân ca nghi lễ trong truyền thống và hiện tại, đề ra các giải pháp xây dựng nếp sống văn hóa trong cưới xin, tang ma của dân tộc Thái; hạn chế loại bỏ yếu tố lạc hậu, mê tín dị đoan hoặc những hủ tục rườm rà
5 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và tƣ liệu sử dụng
5.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án là dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi
lễ tang ma dân tộc Thái ở Việt Nam
5.2 Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Thanh Hóa hiện nay có 27 đơn vị hành chính
Chúng tôi chọn nghiên cứu điền dã dân ca nghi lễ ở 5 huyện: Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Bá Thước, Lang Chánh
5.3 Dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi lễ tang ma dân tộc Thái Là một hiện
tượng văn hóa dân gian đang hiện hữu ngay trong đời sống thường nhật của đồng bào Thái Chính vì vậy trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu kết hợp đan xen nhiều hình thức khác nhau để đối tượng nghiên cứu bảo lưu được các thành tố vốn có của nó
5.4 Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thống nhất về mặt tư liệu như sau:
- Văn bản chính chúng tôi sử dụng làm tư liệu nghiên cứu trong luận án của các tác giả: Hà Văn Ban, Cao Ngọc Bích; Trọng Miễn, Cao Xuân Đỉnh ; Hà Nam Ninh,
Hà Công Mậu, Phạm Bá Thược, Hà Văn Thương; Hoàng Anh Nhân, Bùi Tiên
+ Đối với dân ca nghi lễ đám cưới, văn bản mà chúng tôi lựa chọn để làm căn cứ nghiên cứu về lời trong luận án là: “Khặp Thái Thanh Hóa”, “Văn hóa truyền thống
Trang 9Ngoài một số tư liệu văn bản của các tác giả, tư liệu tác giả sưu tầm được ở phần phụ lục, tác giả luận án đã đi điền dã, tham dự 03 đám cưới và 03 đám tang của đồng
bào Thái vùng Thanh Hóa
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp phân tích ngữ văn dân gian
6.2 Phương pháp so sánh lịch sử và so sánh loại hình
6.3 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
6.4 Phương pháp nghiên cứu điền dã (điều tra, quan sát, tham dự diễn xướng…)
Trong quá trình nghiên cứu, người viết thực hiện khảo sát thực tế (tham dự đám cưới và đám tang của người Thái ở Thanh Hóa), tiến hành khảo cứu, biên dịch tư liệu…Để thực hiện các hoạt động đó, người viết phải sử dụng đến các phương pháp như: quan sát tham dự, thảo luận, phỏng vấn sâu, thống kê, phân loại, khảo cứu, biên dịch, ghi âm, quay phim, chụp ảnh…Với những phương pháp sử dụng như trên, việc chiếm lĩnh các bình diện của dân ca nghi lễ Thái sẽ được thực hiện một cách khoa học, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu đặt ra
7 Những đóng góp của luận án
7.1 Về Lý luận:
7.1.1 Lần đầu tiên tư liệu dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi lễ tang ma dân tộc Thái được tập hợp, hệ thống hóa khá đầy đủ, góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu văn học dân gian Thái nói chung và văn học dân gian các dân tộc thiểu
số Việt Nam nói riêng
7.1.2 Dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi lễ tang ma Thái được nghiên cứu với
tư cách một thành tố quan trọng trong những nghi lễ tín ngưỡng thống nhất, toàn vẹn tồn tại ở dạng nguyên hợp cùng nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm Folklore
7.1.3 Khảo sát trên cơ sở khoa học một số phong tục về nghi lễ đám cưới và nghi lễ tang ma của dân tộc Thái ở Thanh Hóa, tập trung nghiên cứu sâu về giá trị văn học của dân ca nghi lễ
7.2 Về thực tiễn:
7.2.1 Luận án được thực hiện một phần từ các tư liệu điều tra thực địa, góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu về dân ca nghi lễ của người Thái nói chung
Trang 10Chương 1: Tổng quan về đề tài
Chương 2: Dân ca nghi lễ đám cưới- hình thức diễn xướng và nội dung
Chương 3: Dân ca nghi lễ tang ma- hình thức diễn xướng và nội dung
Chương 4: Một số phương diện nghệ thuật trong dân ca nghi lễ của người Thái
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1 Vài nét khái quát về người Thái ở Việt Nam
1.1.1 Lịch sử tộc người, dân số, địa bàn cư trú
Theo Thống kê dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc Thái hiện nay có 1.550.423 người, sinh sống tập trung tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hóa và rải rác ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Dân tộc Thái còn có tên gọi khác là Táy và có các nhóm: Táy Đăm (Thái Đen), Táy Khao (Thái Trắng), Táy Mưới, Táy Thanh, Hàng Tổng, Pu Thay, Thổ Đà Bắc Tiếng Thái thuộc hệ ngôn ngữ Tày- Thái
Khảo sát thực tế, người Thái có tiếng nói, văn học dân gian, đặc biệt là thần thoại, cổ tích Họ ý thức rằng, phía dưới có người Kinh, phía trên có người Lào, người Xá; người Lào là anh, người Kinh là em út Người Thái có 02 nhóm chính là Thái Đen (phân bố chủ yếu ở Thanh Hóa, Nghệ An) và Thái Trắng (vùng Tây Bắc)
1.1.2 Đời sống kinh tế
Người Thái vốn là dân nông nghiệp trồng lúa nước lâu đời Nghề trồng lúa nước trong các cánh đồng dọc theo thung lũng sông, suối đã phát triển ở mức độ kỹ thuật cao Người Thái đã tích lũy được một kho tàng kinh nghiệm về nước, phân, cần, giống, đặc biệt chú ý về các biện pháp thủy lợi, thời vụ và phòng trừ sâu, chuột, trâu bò phá hoại Sản phẩm nông nghiệp tương đối phong phú Có nhiều giống lúa quý trồng ở ruộng, nương Các nghề thủ công truyền thống phổ biến nhất là nghề thêu dệt thổ cẩm, đan lát, chặt đẽo bằng dao, rìu
1.1.3 Đời sống văn hóa
1.1.3.1 Về sinh hoạt hằng ngày
Người Thái ăn cơm nếp, ở nhà sàn, phụ nữ mặc áo ngắn, váy dài, có phần đầu váy trùm lên trên ngực; người Thái Thanh Hóa, Nghệ An thì khăn đội đầu màu đen, thêu
Trang 119
hoa văn ở hai đầu, còn người Thái ở Tây Bắc đội khăn phiêu, áo trắng cúc dài Trước đây, phụ nữ thường nhuộm răng đen, ăn trầu Ở trên nhà sàn thường kiêng kỵ việc ngồi trên bậc cửa ra vào, ngồi thả chân xuống cửa sổ và nằm ngang sàn Khách đến nhà phải lên thang dành cho giới tính, không được tự ý qua lại gian nhà khác giới
Bữa ăn thường dọn thành hai mâm, nam riêng, nữ riêng Có khách bên nào cùng
ăn với bên đó Thức uống truyền thống là rượu cần
Tập quán săn bắt, đánh cá tập thể
Các bản dọc sông, suối bà con thường rủ nhau đi đánh bắt cá tập thể rất đông vui Thông thường, chuẩn bị cho Tết Nguyên Đán, kể từ tháng Mười âm lịch người ta bắt đầu cấm đánh bắt cá và đến khoảng từ ngày 24 đến 26 tháng Chạp tổ chức đi đánh bắt tập thể
Các bản vùng đồi núi nhiều thú, người ta có nhiều hình thức săn bắn thú rừng
1.1.3.2 Về tín ngưỡng, tôn giáo
* Về tín ngưỡng
Cơ sở hình thành các hoạt động tín ngưỡng của người Thái là quan niệm về thế giới ba tầng: Trời, Đất, Nước và mọi vật có linh hồn, trong điều kiện sản xuất nông nghiệp chưa chế ngự được thiên nhiên, cuộc sống còn nhiều mối đe dọa Quan niệm tiếp theo là con người có linh hồn Người Thái cho rằng mỗi con người có một cái bóng vô hình, lởn vởn bên ngoài cơ thể, chỉ nhận thấy được trong giấc mơ.Tín ngưỡng kiêng kỵ và thờ các loại vật tô tem gắn với từng dòng họ
* Tôn giáo
Theo cách giải thích có tính chất tôn giáo, người Thái cho rằng trên trái đất này vốn tồn tại hai thế giới Đó là thế giới của sự sống và thế giới của hư vô Tục ngữ Thái có câu: “Khách được ăn cho chủ tốt bụng; “phi” được ăn phù hộ cho người” Bởi vậy các loại “phi” thường đòi người cho ăn uống Chỗ đứng, chỗ dựa, chỗ vịn…và những chặng đường của linh hồn người Thái gọi là “minh,nén, khớ”
1.1.3.3 Các nghi thức trong đám cưới
Cũng như các dân tộc anh em khác, đám cưới của người Thái trải qua các nghi
lễ sau: Lễ thăm dò, ướm hỏi; lễ bỏ trầu ăn hỏi; lễ đón dâu, lễ cưới, lễ lại mặt Người thực hiện các lễ này là ông mối của nhà trai và nhà gái Ông mối là người được nhà trai nhà gái trước đó phải có lễ đi mượn về giúp nhà mình
Đám cưới truyền thống của người Thái có các tình tiết trong diễn biến quá trình
tổ chức đám cưới mang đậm nét văn hóa Thứ nhất đó là cuộc hát đối đáp Xin mở
cổng mường khi họ nhà trai đi đón dâu đến trước cổng nhà gái, muốn được vào nhà phải hát bài Xin mở cổng mường và trả lời những câu hát đố do nhà gái đưa ra; người yêu cũ của cô dâu hát khặp Tiễn dặn người yêu đi lấy chồng Thứ hai thủ tục của đôi
Trang 1210
vợ chồng mới cưới ăn cơm, uống rượu chung một mâm, đánh dấu cái mốc thành vợ
thành chồng gọi là Pan pau kháu láu huốm Xong mâm cơm này đôi trai gái đã chính
thức thành vợ thành chồng
1.1.3.4 Các nghi thức trong đám tang
Trình tự đám ma người Thái khác người Mường ở chỗ: người giúp việc cho thầy
mo phải là khươi Keo (con rể người Kinh) gọi tắt là Keo Keo được bên nhà con rể
hoặc cháu rể chọn trong họ nhà rể đến làm Keo phục dịch trong đám tang Keo thắt dây lưng bằng khăn trắng, vác con dao sáu, đứng trực góc dưới quan tài để nghe lời truyền của ông mo, xướng to lời truyền cho gia đình thực hiện, thúc giục, kiểm tra việc sắm đặt thủ tục, nghi lễ theo yêu cầu của thầy mo
Mo đám tang là mo ma Đám tang có nhiều bước tiến hành các thủ tục, nghi thức Mỗi thủ tục đều có phần đồ lễ, động tác tượng trưng và lời mo Sau khi lấp mộ, người Thái đặt lên một cái khung gỗ nhà mồ, hình chữ nhật, đóng ván xung quanh gọi là
khóp hác và chôn hai cột gỗ lõi ở hai đầu, gọi là xau chay để gác đòn nóc
Xong xuôi công việc tang lễ, còn có tục cắt tóc để tang và nằm cữ Hậu tang của
người Thái chỉ còn làm thêm hai lễ là tháy pước và tháo căm
1.1.4 Văn học dân gian
1.1.4.1 Thần thoại
Nổi bật trong kho tàng thần thoại của người Thái là các mẫu kể liên quan đến thuồng luồng Đấy là những mẫu kể có giá trị đặc biệt với người nghiên cứu bởi cốt truyện của nó có mối liên hệ với thời đại cổ tích thần kỳ và sự bảo lưu những mô típ có liên quan đến tín ngưỡng của người Tày- Thái cổ như tín ngưỡng thờ thần nước Bên cạnh mẫu kể Thuồng Luồng là hệ thống thần thoại tương đối hoàn chỉnh giải thích về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên
1.1.4.2 Truyện cổ tích
Truyện cổ Thái khá tiêu biểu cho cổ tích các dân tộc miền núi và có khá đầy đủ các tiểu loại Căn cứ vào tiêu chí phân loại dựa trên phương pháp loại hình lích sử, một số nhà nghiên cứu phân chia truyện cổ tích Thái thành 3 tiểu loại: Truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt
1.1.4.3 Tục ngữ
Tiếp xúc với nguồn tư liệu hơn 1000 câu tục ngữ của người Thái, chúng ta có thể hình dung khá rõ vùng cư trú, nếp ăn ở, cuộc sống lao động sản xuất và các mối quan hệ ứng xử của họ Phần lớn những câu tục ngữ về lao độnh sản xuất của người Thái cho thấy họ là những người yêu lao động, trân trọng những ai cần cù, siêng năng Đồng thời, tục ngữ Thái cũng phê phán kịch liệt các thói hư, tật xấu, các tệ nạn xã hội
1.1.4.4 Dân ca
Trang 1311
Dân ca Thái là những bài hát do nhân dân sáng tác và lưu truyền trong dân gian Các bài ca này có phần lời ca, âm nhạc và cả nghệ thuật diễn xướng Dân ca Thái có nhiều loại khác nhau và các nhà sưu tầm đã phân loại dân ca Thái thành 3 loại: Dân
ca sinh hoạt; dân ca lao động và dân ca nghi lễ phong tục Trong dân ca nghi lễ - phong tục có dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi lễ tang ma là mảng dân ca mà đề tài luận án quan tâm
1.1.4.5 Truyện thơ
Truyện thơ Thái được công bố sớm nhất vào năm 1957 với bản dịch Tiễn dặn
người yêu (xống chụ xon xao) của Mạc Phi Đây có thể xem là một kiệt tác dân gian
của người Thái, dài 1846 câu thơ Từ đó đến nay đã có hơn 30 tác phẩm được công
bố, trong đó có 18 tác phẩm mới chỉ được công bố bản chữ Thái cổ Chín tác phẩm còn lại đã được dịch ra tiếng Việt, trong đó có tác phẩm vừa dịch ra tiếng Việt vừa có
bản phiên âm Thái Các truyện thơ nổi tiếng của người Thái như: Tiễn dặn người yêu;
Khăm Panh; Ú Thêm;Tư Mã Hai Đào, Khun Lú- Nàng Ủa…
1.2 Tổng quan về dân ca nghi lễ của người Thái
1.2.1 Khái niệm về dân ca và dân ca nghi lễ
1.2.1.1 Khái niệm dân ca
Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về dân ca và dân ca nghi lễ, đặc biệt là bộ phận dân ca các dân tộc thiểu số Việt Nam Tuy nhiên, chúng tôi thấy các định nghĩa sau phản ánh chính xác và đầy đủ hơn cả: Một là, “ Dân ca là một loại hình sáng tác dân gian chủ yếu có tính chất trữ tình dưới hình thức ngôn ngữ có vần điệu gắn với lời ca hát” Hai là, “Dân ca là những bài hát ngâm hay kể bằng văn vần, hoặc độc lập, hoặc kèm theo nhạc, điệu múa, trò chơi, hoặc tự một người thể hiện hay một tập thể cùng tham gia…Đó là những bài hát ngắn dăm bảy câu đến hàng trăm hàng ngàn câu cắt ra từng khúc, từng đoạn” (Đặng Nghiêm Vạn)
1.2.1.2 Dân ca nghi lễ
Trong Tạp chí Văn học số 1 năm 1977, tác giả Nguyễn Xuân Kính đưa ra khái niệm “Dân ca nghi lễ là các lời hát của người thực hiện hành vi nghi lễ trong các hoạt động nghi lễ như đám cưới, đám tang, đám cầu cúng, chúc tụng- những lời hát này đã
trở thành một bộ phận hữu cơ của các nghi lễ đó” Tác giả Lê Chí Quế trong bài Việc
phân loại dân ca các dân tộc ở miền Bắc nước ta, tác giả Võ Quang Nhơn trong giáo
trình Văn học dân gian cùng đồng ý kiến phân chia dân ca các dân tộc thành ba loại:
Dân ca lao động; Dân ca nghi lễ - phong tục và Dân ca sinh hoạt
Như vậy, thông qua các nhận định trên về dân ca nghi lễ, chúng tôi nhận thấy kho tàng dân ca nghi lễ - phong tục của các dân tộc ít người rất phong phú Tùy theo chức năng của chúng, có thể phân chia các bài dân ca này ra thành nhiều nhóm khác nhau