- Không được thực hiện quyền tài phán hình sự của mình trên một tàu nước ngoài đi qua lãnh hải để tiến hành bắt giữ hay dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu khi nó đi q
Trang 1CHƯƠNG 7 LUẬT BIỂN QUỐC TẾ
1 KHÁI NIỆM
1.1 Định nghĩa
Từ rất sớm, con người đã có các hoạt động trên biển Trước thế kỷ XV, biển cả là môi trường phục vụ cho hàng hải, truyền đạo và thám hiểm Con người quan niệm tài nguyên biển cả là vô tận nên không có các cuộc đấu tranh giành quyền lực trên biển Vì vậy mà có thể nói rằng những quyền sơ khai đầu tiên trên biển chính là các quyền tự do biển cả
Từ thế kỷ XV, biển cả từ một môi trường, một phương tiện, đã trở thành đối tượng chinh phục của các quốc gia muốn mở rộng quyền lực của mình ra biển Vấn đề càng thêm trầm trọng khi con người ý thức được rằng tài nguyên biển không phải là vô tận
Luật biển ra đời phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai nguyên tắc lớn: tự do biển cả và chủ quyền quốc gia Tồn tại hai học thuyết trái ngược nhau về bản chất pháp lý của luật biển: Res nullius và Res commonis Res nullius có nghĩa biển cả là vô chủ, cho phép các quốc gia ven biển được toàn quyền hành động thiết lập chủ quyền quốc gia Ngược lại,
Res commonis với nghĩa biển cả là của chung, các quốc gia bình đẳng trong việc sử dụng
biển Cả hai học thuyết này đều không được sử dụng đầy đủ, và chúng chỉ là hai khía cạnh đối kháng nhưng tồn tại song song trong luật biển Tuy nhiên, thời kỳ này luật biển chủ yếu tồn tại dưới dạng các quy tắc, quy phạm tập quán
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, quá trình pháp điển hóa luật biển phát triển mạnh, thông qua ba hội nghị lớn của Liên hợp quốc vào các năm 1958, 1960 và từ 1973-
1982 Và Công ước Luật biển đã được thông qua ngày 10/12/1982 đã đánh dấu một bước phát triển mới của luật biển quốc tế Công ước Luật biển 1982 được coi như bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế
Luật biển quốc tế là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp lý, được các chủ thể luật quốc tế tham gia thiết lập trên cơ sở thỏa thuận hoặc thông qua thực tiễn có tính tập quán, nhằm điều chỉnh các quan hệ nảy sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng và quản lý biển
1.2 Các nguyên tắc của Luật biển quốc tế
1.2.1 Nguyên tắc tự do biển cả
Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia Nguyên tắc này không cho phép bất
cứ quốc gia nào được quyền áp đặt hợp pháp một bộ phận của biển cả thuộc chủ quyền của mình Mỗi quốc gia khi thực hiện quyền tự do biển cả phải thừa nhận và tính đến
quyền tự do biển cả của các quốc gia khác
Các quyền tự do biển cả bao gồm:
Trang 2- Tự do đánh bắt hải sản
- Tự do nghiên cứu khoa học
Nguyên tắc này không chỉ áp dụng cho biển cả mà còn trong các vùng biển đặc thù của quốc gia ven biển Ở đó, nguyên tắc này được áp dụng hạn chế hơn
1.2.2 Nguyên tắc đất thống trị biển
Nguyên tắc đất thống trị biển với nội dung là cho phép quốc gia mở rộng chủ quyền của mình ra hướng biển Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này không phải là vô hạn Các quốc gia không thể mở rộng mãi thẩm quyền của mình ra biển hoặc đơn phương yêu sách những vùng biển rộng lớn hơn không phù hợp với luật quốc tế
Bên cạnh đó, nó còn thể hiện ở nguyên tắc phân định biển Đó là các quốc gia không được sửa chữa lại tự nhiên mà chỉ được hưởng phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ của nước mình ra biển
1.2.3 Nguyên tắc di sản chung của loài người
Vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia (được gọi là Vùng), cũng như các tài nguyên ở đó, là khối tài sản không thể phân chia, thuộc sở hữu chung của cộng đồng quốc tế Đây chính là di sản chung của loài người
1.2.4 Nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc này được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Không đặt biển cả dưới chủ quyền riêng biệt của bất kỳ quốc gia nào
- Vùng và tài nguyên của vùng có chế độ pháp lý là di sản chung của loài người
- Thừa nhận và thực hiện quyền của các quốc gia không có biển hoặc bất lợi
về địa lý được sử dụng biển cả như các quốc gia có biển, cũng như được khai thác các tài nguyên của biển ở những mức độ nhất định
- Trong phân định biển, nguyên tắc công bằng được sử dụng để đảm bảo quyền lợi đúng đắn, công bằng và hợp lý cho các quốc gia liên quan, có tính đến các hoàn cảnh hữu quan
2 CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA
2.1 Nội thủy
2.1.1 Khái niệm
Theo quy định tại khoản 1 điều 8 Công ước Luật Biển 1982 thì nội thủy là vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải
Trong quy định về nội thủy, cần lưu ý:
Thứ nhất, các quốc gia quần đảo có quyền vạch ra các đường cơ sở thẳng của quần
đảo bằng cách nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm lúc nổi của quần đảo Vùng nước trong đường cơ sở thẳng này là vùng nước quần đảo và
có chế độ pháp lý đi qua không gây hại
Thứ hai, khoản 2 điều 8 Công ước Luật Biển 1982 quy định, khi một đường cơ sở
thẳng được vạch ra theo đúng phương pháp quy định tại Công ước gộp vào nội thủy các vùng nước trước đó chưa được coi là nội thủy thì quyền đi qua không gây hại vẫn được áp dụng ở các vùng nước đó Đây là quy định nhằm đảm bảo cho quyền tự do biển cả của tàu
Trang 3thuyền, nhất là đối với những vùng nước có đường hàng hải quốc tế đi qua mà trước đó chúng không thuộc nội thủy
Thứ ba, vùng nước lịch sử là các vùng nước tuy không phải là nội thủy nhưng do
tính chất lịch sử của mình mà chúng được hưởng quy chế nội thủy Tuy vịnh và vùng nước là các khái niệm khác nhau về mặt địa lý, bề rộng, nhưng do các vùng nước được yêu sách là lịch sử chủ yếu là các vịnh nên lý thuyết về vùng nước lịch sử và vịnh lịch sử
là trong luật quốc tế không có gì khác nhau Một vịnh được coi là lịch sử khi thỏa mãn cả
Tuy nhiên, chủ quyền quốc gia trên nội thủy vẫn có điểm khác với chủ quyền quốc gia trên đất liền, đó là quốc gia ven biển chỉ thực hiện quyền lực của mình đối với tàu thuyền và phương tiện bay chứ không phải với các cá nhân, pháp nhân (kể cả là các cá nhân ở trên tàu thuyền, phương tiện bay đó) Đặc trưng cho tính chủ quyền này là mọi sự
ra vào nội thủy của tàu thuyền nước ngoài cũng như các phương tiện bay nước ngoài trên vùng trời nội thủy đều phải xin phép quốc gia ven biển Không tồn tại chế độ “lãnh thổ nổi” của tàu thuyền Tàu thuyền nước ngoài được đặt dưới thẩm quyền tương đối của quốc gia ven biển
Quốc gia ven biển không được thực hiện quyền tài phán hình sự và dân sự trên tàu thuyền nước ngoài đang ở trong nội thủy
Về thẩm quyền tài phán dân sự, con tàu là một tổng hợp có tổ chức, các tòa án của quốc gia ven biển không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự giữa các thành viên thủy thủ đoàn Luật của quốc gia mà tàu mang cở giải quyết các tranh chấp này
Về thẩm quyền tài phán hình sự thì thẩm quyền này thuộc về quốc gia mà tàu mang cở Tuy nhiên, quốc gia ven biển có thể can thiệp khi:
- Hành vi phạm tội do một người ngoài thủy thủ đoàn thực hiện
- Thuyền trưởng yêu cầu chính quyền sở tại can thiệp
- Hậu quả của nó ảnh hưởng tới an ninh trật tự của cảng
2.2 Lãnh hải
2.2.1 Khái niệm
Lãnh hải là vùng biển nằm giữa vùng nước nội thủy và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia
Trang 42.2.2 Chiều rộng của lãnh hải
Các quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không quá 12 hải lý
tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (điều 3 Công ước Luật Biển 1982)
Chiều rộng lãnh hải được các quốc gia xác định rất khác nhau quan các thời kỳ Đầu tiên, nó được xác định bởi “tầm của súng thần công” và được cụ thể hóa thành con số
3 hải lý vào năm 1782 Khoảng cách này được đa số các cường quốc phương Tây chấp nhận Sau đó, xuất hiện các con số là 4 hải lý, 6 hải lý, 12 hải lý và thậm chí là tới 200 hải
lý Sau khi thống nhất tại Công ước Luật biển thì hầu hết các nước đều xác định chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lý, trừ 8 nước tuyên bố lãnh hải của mình có chiều rộng nhỏ
hơn 12 hải lý và có 16 nước yêu sách rộng hơn 12 hải lý
Phương pháp xác định đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải gồm 2 phương
pháp
* Phương pháp đường cơ sở thông thường
Đường cơ sở thông thường là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển Trường hợp những bộ phận đảo cấu tạo bằng san hô hoặc các đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh
thì đường cơ sở là ngấn nước triều thấp nhất ở bờ phía ngoài cùng của các mỏm đá
Ưu điểm của phương pháp này là phản ánh đúng đường bờ biển của các quốc gia
và hạn chế được sự mở rộng không chính đáng các vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia Nhưng nhược điểm của nó là rất khó áp dụng cho các bờ biển khúc khuỷu,
không ổn định, phức tạp
* Phương pháp đường cơ sở thẳng
Đường cơ sở thẳng là đường nối liền các điểm thích hợp có thể được lựa chọn ở
những điểm ngoài cùng, nhô ra nhất của bờ biển
Phương pháp đường cơ sở thẳng chỉ được áp dụng trong 3 trường hợp: ở những nơi bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm, ở những nơi có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển và ở những nơi mà bờ biển cực kỳ không ổn định do những điều kiện
thiên nhiên đặc biệt gây ra, như là sự hiện diện của các châu thổ,
Các điều kiện cần tuân thủ khi vạch đường cơ sở thẳng là:
- Tuyến các đường cơ sở thẳng không được đi chệch quá xa hướng chung của
bờ biển
- Thứ hai, các vùng biển ở biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức đạt chế độ nội thủy
Tuy nhiên, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh
tế riêng biệt của khu vực đó và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh
Những lưu ý khi vạch đường cơ sở thẳng:
- Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp ở đó có đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô lên trên mặt nước hoặc việc vạch đường cơ sở thẳng đó được sự thừa nhận chung của quốc tế
- Phương pháp đường cơ sở thẳng của một quốc gia áp dụng không được làm cho lãnh hải của một quốc gia bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế
Trang 5Nghĩa của thuật ngữ “đi qua không gây hại”:
Thứ nhất, “đi qua” là đi ở trong lãnh hải, nhằm mục đích:
- Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thủy, không đậu lại trong một vũng tàu hoặc một công trình cảng ở ngoài nội thủy; hoặc
- Đi vào hoặc rời khỏi nội thủy, hoặc đậu lại hay rời khỏi một vũng tàu hay một công trình cảng ở trong nội thủy
Thứ hai, việc đi qua phải liên tục và nhanh chóng, tuy nhiên nó bao gồm cả việc
dừng lại và thả neo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp những sự cố thông thường về hàng hải, hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn, hoặc vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hay mắc nạn
Thứ ba, việc đi qua là không gây hại, chừng nào nó không làm phương hại đến hòa
bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển
Tàu ngầm và phương tiện đi ngầm khác buộc phải đi nổi và treo cờ quốc tịch trong lãnh hải Tàu thuyền nước ngoài có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân và tàu thuyền chuyên chở các chất phóng xạ hay các chất vốn nguy hiểm hay độc hại, khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải, phải mang đầy đủ các tài liệu và áp dụng những biện pháp phòng ngừa đặc biệt theo quy định của các điều ước quốc tế đối với loại tàu thuyền đó
Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của quốc gia ven biển trong lãnh hải:
- Định ra, phù hợp với quy định của Công ước Luật biển và các nguyên tắc của luật quốc tế, các luật và quy định liên quan đến việc đi qua không gây hại trong lãnh hải của mình về các vấn đề quy định tại điều 21 Công ước Luật biển Các luật và quy định này phải được công bố đúng thủ tục
- Khi cần đảm bảo an toàn hàng hải, có quyền đòi hỏi tàu thuyền nước ngoài
đi qua không gây hại trong lãnh hải của mình phải đi theo các tuyến đường do mình ấn định và phải tôn trọng cách bố trí phân chia giao thông do mình quy định nhằm điều phối việc qua lại của tàu thuyền
- Có quyền thi hành các biện pháp cần thiết trong lãnh hải của mình để ngăn cản mọi việc đi qua có gây hại
- Không được cản trở quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải
- Không được thu lệ phí đối với tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải nếu không phải vì lý do trả công cho những dịch vụ riêng đối với tàu thuyền này, và cả khi thu
lệ phí này cũng không được phân biệt đối xử
Trang 6- Không được thực hiện quyền tài phán hình sự của mình trên một tàu nước ngoài đi qua lãnh hải để tiến hành bắt giữ hay dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu khi nó đi qua lãnh hải, trừ các trường hợp: hậu quả vụ vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển hoặc vụ vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đất nước hay trật tự trong lãnh hải hay do thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao, lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà đương cục địa phương và các biện pháp này là cần thiết để trấn áp việc buôn lậu chất ma túy hay các chất kích thích
- Được quyền bắt giữ hay tiến hành dự thẩm ở trên con tàu nước ngoài đi qua lãnh hải sau khi rời khỏi nội thủy Tuy nhiên quyền này không được áp dụng cho các vụ
vi phạm hinh sự xảy ra trước khi con tàu đi vào lãnh hải mà không đi vào nội thủy
- Không được bắt một tàu nước ngoài đang đi qua lãnh hải phải dừng lại hoặc thay đổi hành trình của nó để thực hiện quyền tài phán dân sự của mình đối với mọi người trên con tàu đó Và quốc gia ven biển cũng không được áp dụng các biện pháp trừng phạt hay biện pháp bảo đảm về dân sự đối với con tàu này, nếu không phải là do những nghĩa
vụ dân sự đã cam kết hay những trách nhiệm mà con tàu phải đảm nhận trong khi đi qua hay để được đi qua vùng lãnh hải, nhưng không loại trừ quyền của quốc gia trong vấn đề này do luật của quốc gia quy định đối với tàu thuyền nước ngoài đang đậu hay đang đi qua lãnh hải sau khi đã rời nội thủy
3 CÁC VÙNG BIỂN QUỐC GIA CÓ QUYỀN CHỦ QUYỀN VÀ QUYỀN TÀI PHÁN 3.1 Vùng tiếp giáp lãnh hải
3.1.1 Khái niệm
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải Chiều rộng vùng tiếp giáp lãnh hải không quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải
3.1.2 Chế độ pháp lý
Quốc gia ven biển có thể thi hành sự kiểm soát của mình trong vùng tiếp giáp lãnh hải, nhằm:
- Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định hải quan, thuế khóa,
y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình
- Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình
Thẩm quyền này nhằm mục đích ngăn ngừa và trừng trị các vi phạm xảy ra trên lãnh thổ, trong nội thủy và lãnh hải chứ không phải trong vùng tiếp giáp lãnh hải
3.2 Vùng đặc quyền kinh tế
3.2.1 Khái niệm
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng, trong đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, các quyền của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh
Chiều rộng vùng đặc quyền kinh tế không được mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải
Trang 73.2.2 Chế độ pháp lý
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển đặc thù nên chế độ pháp lý của nó là sự thỏa hiệp, cân bằng giữa quyền của quốc gia ven biển và quyền lợi chung của cộng đồng quốc
tế
* Quyền của quốc gia ven biển
- Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế là quyền đối với việc thăm dò khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và vùng đất dưới đáy biển, cũng như những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế
- Quyền tài phán đối với việc: lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết
bị và công trình, nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển
- Các quyền khác do Công ước quy định, như:
Có đặc quyền tiến hành xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng, cũng như có quyền tài phán đặc biệt đối với: các đảo nhân tạo; các thiết bị và công trình dùng vào các mục đích quy định tại điều 56 của Công ước; các thiết bị và công trình có thể gây trở ngại cho việc thực hiện các quyền của quốc gia ven biển trong vùng
Quyền ấn định khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận được đối với các tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, cũng như xác định khả năng khai thác của mình Nếu khả năng khai thác đó thấp hơn tổng khối lượng đánh bắt
có thể chấp nhận được thì quốc gia ven biển có thể cho phép các quốc gia khác khai thác
số dư thông qua điều ước quốc tế hay các thỏa thuận khác, đặc biệt quan tâm đến các quốc gia không có biển, các quốc gia bất lợi về địa lý và lưu ý đặc biệt tới các quốc gia đang phát triển Tuy nhiên quyền khai thác số dư này không thể chuyển giao trực tiếp hay gián tiếp cho các quốc gia thứ ba hay các công dân của các quốc gia này
* Quyền của các quốc gia khác
Trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, đều được hưởng 3 quyền tự do cơ bản: quyền tự do hàng hải, quyền tự do hàng không, quyền tự do đặt dây cáp ngầm và ống dẫn ngầm
3.3 Thềm lục địa
3.3.1 Khái niệm
Khái niệm thềm lục địa pháp lý được xây dựng trên cơ sở của thềm lục địa địa chất Vì thế, trước khi nêu ra định nghĩa về thềm lục địa pháp lý thì chúng ta nghiên cứu
về thềm lục địa địa chất trước
Thềm lục địa địa chất là một bộ phận của rìa lục địa Rìa lục địa là phần kéo dài ngập dưới nước của lục địa của quốc gia ven biển, cấu thành bởi 3 thành phần:
- Thềm lục địa: là phần nền lục địa ngập dưới nước với độ dốc thoai thoải (trung bình từ 0,07 đến 1 độ), thường kéo dài đến độ sâu 200m Ở một số nơi thềm lục địa không tồn tại hoặc có chiều rộng rất hẹp, khoảng 70 km Nhưng một số nơi lại có thềm lục địa rất rộng, có nơi tới 500 km
- Dốc lục địa: là phần nằm giữa thềm lục địa và bờ lục địa, phân biệt với thềm lục địa bằng một sự thay đổi độ dốc đột ngột, trung bình khoảng từ 4 đến 5 độ, có
Trang 8- Bờ lục địa: là vùng tiếp theo của dốc lục địa cho tới khi độ dốc thoải trở lại, thường là rất nhỏ (0,5 độ), mở rộng từ chân dốc lục địa cho đến khi gặp đại dương Vùng này thường rộng từ 50 đến 500 km
Thềm lục địa pháp lý có lịch sử hình thành dựa trên từ vựng địa chất Tuyên bố của tổng thống Mỹ Truman ngày 28/09/1945 (sau đây gọi là Tuyên bố Truman) đã lần đầu
tiên định nghĩa về thềm lục địa và nêu ra bản chất của nó: “Việc quốc gia kế cận thực thi quyền tài phán đối với các tài nguyên nhiên nhiên của đáy và lòng đất dưới đáy thềm lục địa là đúng đắn bởi vì tính hiệu quả của các biện pháp áp dụng nhằm khai thác và bảo tồn chúng sẽ phải phụ thuộc vào sự hợp tác và bảo vệ mà chúng chỉ có thể được bảo đảm
từ phía bờ biển, bởi vì thềm lục địa có thể được xem như sự mở rộng của lục địa đất liền
của quốc gia ven biển và dường như thuộc quốc gia đó một cách tự nhiên… Nói chung,
vùng đất ngập tiếp liền với lục địa và được bao phủ bởi nước sâu không quá 100 fathom
(200m) được coi là thềm lục địa”
Công ước Giơ ne vơ năm 1958 về thềm lục địa định nghĩa: Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp giáp với bờ biển nhưng nằm bên ngoài lãnh thổ của quốc gia ven biển và có ranh giới ngoài được xác định bởi hai tiêu chuẩn Tiêu chuẩn
độ sâu: 200m và tiêu chuẩn khả năng khai thác Rõ ràng hai tiêu chuẩn này đưa lại sự bất bình đẳng giữa các quốc gia trong việc xác định thềm lục địa cho quốc gia mình
Theo quy định của Công ước Luật biển 1982 thì thềm lục địa bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn
Trường hợp bờ ngoài rìa lục địa của quốc gia ven biển mở rộng quá 200 hải lý kể
từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì ranh giới ngoài của thềm lục địa có thể xác định bằng:
- Đường vạch nối các điểm cố định tận cùng mà bề dày lớp đá trầm tích ít nhất cũng bằng 1% khoảng cách từ điểm được xét tới chân dốc lục địa
- Đường vạch nối các điểm cố định ở cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý
Tuy nhiên, các điểm cố định dùng để xác định trên không được nằm cách đường
cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải vượt quá 350 hải lý hoặc nằm cách đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách không quá 100 hải lý Và các đoạn thẳng nối các điểm cố định này không được dài quá 60 hải lý
Khái niệm thềm lục địa pháp lý cũng như việc công nhận các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa của mình là sự khái quát hóa nguyên tắc đất thống trị biển
3.3.2 Chế độ pháp lý
Quốc gia ven biển được thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa
về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên Các quyền này là đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thực hiện thì không ai được quyền tiến hành các hoạt động như vậy Các tài nguyên nói đến ở đây là các tài nguyên khoáng sản và các tài nguyên không sinh vật khác của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, các sinh vật thuộc loại định
cư hoặc là không có khả năng di chuyển
Trang 9Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không đụng chạm đến chế
độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay vùng trời ở trên vùng nước này Và việc thực hiện các quyền đối với thềm lục địa của quốc gia ven biển không được gây thiệt hại hay cản trở hàng hải, các quyền và tự do khác của các quốc gia khác
Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình ở thềm lục địa
Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa với bất kỳ mục đích gì
Các quốc gia ven biển phải nộp các khoản đóng góp bằng tiền hoặc hiện vật về việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không sinh vật của thềm lục địa nằm ngoài 200 hải
lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải
Tất cả các quốc gia có quyền đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa
4 CÁC VÙNG BIỂN KHÔNG THUỘC VỀ QUYỀN TÀI PHÁN QUỐC GIA
4.1 Biển cả
4.1.1 Khái niệm
Biển cả là những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo
4.1.2 Chế độ pháp lý
Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển Chế độ pháp lý của nó là chế độ tự do biển cả, bao gồm các quyền sau: tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cấp hoặc ống dẫn ngầm, tự do xây dựng các đảo nhân tạo hoặc các thiết bị khác được luật quốc tế cho phép, tự do đánh bắt hải sản, tự do nghiên cứu khoa học
Mỗi quốc gia khi thực hiện quyền tự do biển cả phải tính đến việc thực hiện quyền
tự do biển cả của quốc gia khác, cũng như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quan đến các hoạt động trong vùng
Biển cả được sử dụng vào các mục đích hòa bình Và không một quốc gia nào được đòi đặt một cách hợp pháp một bộ phận nào đó của biển cả thuộc vào chủ quyền của mình
Các quốc gia có nghĩa vụ trấn áp việc buôn bán nô lệ, cướp biển, buôn bán các chất
ma túy và các chất kích thích, phát sóng trái phép từ biển cả và nghĩa vụ giúp đỡ bất kỳ ai nguy khốn trên biển cả
Vùng và tài nguyên của nó là di sản chung của loài người Tài nguyên của Vùng là
tất cả các tài nguyên khoáng sản ở thể rắn, lỏng hoặc khí in situ (ở ngay tại chỗ) trong
Vùng, nằm ở đáy biển hay lòng đất dưới đáy biển này, kể cả các khối đá kim Điều này được thể hiện:
- Vùng và tài nguyên của vùng không phải là đối tượng của việc chiếm hữu
- Vùng được sử dụng vào những mục đích hòa bình
Trang 105 CÁC VÙNG BIỂN ĐẶC THÙ
5.1 Vùng nước quần đảo
5.1.1 Khái niệm
Vùng nước quần đảo là vùng biển nằm bên trong của đường cơ sở quần đảo dùng
để tính chiều rộng của lãnh hải, do quốc gia quần đảo ấn định, trong đó:
- Quần đảo là tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một tổng thể về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử
- Quốc gia quần đảo là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quần đảo và có khi bởi một số hòn đảo khác nữa
- Đường cơ sở của quốc gia quần đảo là các đường cơ sở thẳng nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc nổi lúc chìm của quần đảo, với điều kiện là tuyến đường các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước so với đất phải ở giữa tỷ lệ số 1/1 và 9/1 Chiều dài các đường
cơ sở này không vượt quá 100 hải lý, tuy nhiên có thể tối đa 3% của tổng số các đường cơ
sở quanh một quần đảo nào đó có một chiều dài lớn hơn nhưng không được vượt quá 125 hải lý
5.1.2 Chế độ pháp lý
Ở phía trong vùng nước quần đảo, quốc gia quần đảo có thể vạch ra những đường
khép kín để hoạch định ranh giới nội thủy của mình
Chủ quyền của quốc gia quần đảo mở rộng đến vùng nước quần đảo, vùng trời trên vùng nước quần đảo, cũng như đến đáy vùng nước đó và lòng đất tương ứng và đến các
tài nguyên ở đó
Tất cả tàu thuyền của tất cả các quốc gia đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong vùng nước quần đảo Các tàu thuyền và phương tiện bay nước ngoài được hưởng quyền đi qua vùng nước quần đảo và vùng trời trên vùng nước quần đảo theo các đường hàng hải và hàng không do quốc gia quần đảo ấn định, trong đó bao gồm cả các
con đường thường dùng trong hàng hải quốc tế
Quốc gia quần đảo có nghĩa vụ tôn trọng các dây cáp ngầm hiện có của những quốc gia khác đặt và đi qua vùng nước của quốc gia quần đảo mà không đụng đến bờ biển
Quốc gia ven eo biển không được gây trở ngại cho việc quá cảnh và phải thông báo đầy đủ về mọi nguy hiểm về hàng hải trong eo biển hoặc đối với việc bay trên eo biển mà quốc gia này nắm được Việc thực hiện quyền quá cảnh không thể bị đình chỉ
Quốc gia ven eo biển có quyền:
Trang 11- Ấn định các tuyến đường và quy định các cách phân chia luồng giao thông trong eo biển khi có nhu cầu đảm bảo an toàn cho tàu thuyền đi qua eo biển và khi hoàn cảnh đòi hỏi
- Quy định các luật và văn bản liên quan đến việc quá cảnh qua eo biển trong
4 lĩnh vực: an toàn hàng hải; ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển; cấm đánh bắt hải sản; xếp dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu
Quyền quá cảnh không được áp dụng cho các trường hợp:
- Các eo biển mà việc đi qua đã được quy định toàn bộ hay từng phần trong các công ước quốc tế đặc biệt nhằm vào các eo biển này đã có từ lâu đời và vẫn đang có hiệu lực Đó là các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, Đan Mạch, Magenlan,…
- Các eo biển có thể vượt qua nó bằng một con đường ở biển cả hoặc một con đường qua một vùng đặc quyền kinh tế cũng thuận tiện như thế về phương diện hàng hải
và về các đặc điểm thủy văn
- Các eo biển được tạo thành bởi lãnh thổ đất liền của một quốc gia và một đảo cũng thuộc quốc gia này, và tồn tại ngoài đảo này một đường ở biển cả hay một con đường qua vùng đặc quyền kinh tế cũng thuận tiện như thế về phương diện hàng hải và về các đặc điểm thủy văn; hoặc eo biển nối liền lãnh hải của một quốc gia với một bộ phận của biển cả hay với một vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia khác
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
1 Phân tích khái niệm và các nguyên tắc của Luật biển quốc tế?
2 Khái niệm, chế độ pháp lý của nội thủy?
3 Khái niệm, chế độ pháp lý của lãnh hải?
4 Khái niệm, chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải?
5 Khái niệm, chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế?
6 Khái niệm, chế độ pháp lý của thềm lục địa?
7 Khái niệm, chế độ pháp lý của biển cả?
8 Khái niệm, chế độ pháp lý của Vùng?
9 Khái niệm, chế độ pháp lý của vùng nước quần đảo?
10 Khái niệm, chế độ pháp lý của eo biển quốc tế?
Trang 12CHƯƠNG 8 LUẬT NGOẠI GIAO VÀ LÃNH SỰ
1 KHÁI NIỆM
1.1 Định nghĩa
Ngoại giao là hoạt động chính thức của các cơ quan quan hệ đối ngoại của nhà nước, bằng các biện pháp hòa bình, nhằm thực hiện những mục đích và nhiệm vụ đối ngoại cũng như bảo vệ quyền, lợi ích của nhà nước và công dân mình ở nước ngoài
Quan hệ bang giao giữa các quốc gia hình thành từ rất sớm do sự xuất hiện các nhà nước ở các khu vực khác nhau Và mối quan hệ này cần có sự điều chỉnh của pháp luật Các chế định đầu tiên của luật ngoại giao là các chế định về sứ giả, hình thành từ thời cổ đại, được coi là manh nha của luật ngoại giao Và chế định cổ điển nhất của luật ngoại giao có thể kể đến là chế định về bất khả xâm phạm đối với sứ giả nước ngoài
Về mặt lịch sử, quan hệ lãnh sự và chế định lãnh sự còn xuất hiện sớm hơn quan hệ ngoại giao do nhu cầu về quan hệ thương mại và hàng hải của các quốc gia cổ đại
Vào thế kỷ XI-XVI, hầu hết các nước ở Châu Âu đều có lãnh sự thường trực của mình ở nước ngoài Trong khi đó, đến thế kỷ XV-XVIII mới bắt đầu xuất hiện các cơ quan đại diện ngoại giao thường trực ở nước ngoài Kể từ đó, luật ngoại giao và lãnh sự bắt đầu có bước phát triển mới
Luật ngoại giao và lãnh sự là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc
tế nhằm điều chỉnh trình tự thiết lập quan hệ chính thức giữa các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế với nhau, trên cơ sở đó duy trì hoạt động chức năng của các cơ quan quan
hệ đối ngoại của nhà nước để phục vụ sự phát triển quan hệ hợp tác quốc tế của các nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế liên chính phủ
1.2 Nguồn của Luật ngoại giao và lãnh sự
Nguồn của Luật ngoại giao và lãnh sự bao gồm cả nguồn luật quốc tế và nguồn luật quốc gia Đối với nguồn luật quốc tế thì chính yếu vẫn là các tập quán quốc tế và các điều ước quốc tế Các điều ước quốc tế đa phương với tư cách là nguồn của Luật ngoại giao và lãnh sự là Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên năm
1963 về quan hệ lãnh sự, Công ước Viên năm 1969 về phái đoàn đặc biệt, Công ước Viên năm 1975 về cơ quan đại diện của quốc gia tại các tổ chức quốc tế phổ cập, Công ước Viên năm 1973 về ngăn ngừa và trừng trị tội phạm chống những cá nhân được hưởng sự bảo hộ quốc tế, Công ước năm 1980 về quy chế pháp lý, các quyền ưu đãi và miễn trừ của các tổ chức liên chính phủ, Công ước năm 1946 về quyền ưu đãi và miễn trừ của Liên hợp quốc, Công ước năm 1947 về quyền ưu đãi và miễn trừ của các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc Bên cạnh đó các quốc gia cũng ký kết các điều ước quốc tế song phương điều chỉnh quan hệ ngoại giao giữa các bên hữu quan
Bên cạnh đó, hầu hết các quốc gia đều ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
về cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự Việt Nam đã ban hành các văn bản sau: Pháp lệnh về lãnh sự năm 1990; Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành hoc ơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993,…
Trang 131.3 Các nguyên tắc của Luật ngoại giao và lãnh sự
1.3.1 Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử
Nội dung của nguyên tắc này chính là không được có sự phân biệt đối xử nào giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội, có vị trí địa lý, kinh tế, chính trị khác nhau trong
quan hệ ngoại giao và lãnh sự
Đây là nguyên tắc đặc thù của quan hệ ngoại giao và lãnh sự, xuất phát từ sự bình
đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
1.3.2 Nguyên tắc thỏa thuận
Nguyên tắc thỏa thuận yêu cầu hoạt động thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ lãnh sự và cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự cũng như việc bổ nhiệm những người đứng đầu các cơ quan này là kết quả của quá trình trao đổi, thỏa thuận giữa quốc
gia cử đại diện và quốc gia nhận đại diện
Đây là nguyên tắc được áp dụng triệt để nhất trong quan hệ ngoại giao và lãnh sự, với ý nghĩa là “chìa khóa” để mở ra quan hệ đối ngoại và thiết lập cơ quan quan hệ đối
ngoại ở nước ngoài
1.3.3 Nguyên tắc tôn trọng quyền ưu đãi và miễn trừ của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và thành viên của các cơ quan này
Theo nguyên tắc này, nước nhận đại diện phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quyền ưu đãi và miễn trừ của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và thành viên
của các cơ quan này theo quy định của luật quốc tế và luật quốc gia
Xuất phát điểm để xây dựng nguyên tắc chính là từ nguyên tắc bình đẳng chủ
quyền quốc gia và nguyên tắc tôn trọng quyền miễn trừ của quốc gia
1.3.4 Nguyên tắc tôn trọng pháp luật và phong tục tập quán của nước tiếp nhận trong các hoạt động ngoại giao và lãnh sự
Hoạt động của các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và thành viên của các cơ quan này không những phải luôn luôn phù hợp với pháp luật quốc tế, pháp luật của nước mình mà còn phải tôn trọng pháp luật và phong tục của nước nhận đại diện
Nguyên tắc này là biểu hiện tôn trọng chủ quyền quốc gia trong quan hệ đối ngoại
và nhằm thắt chặt thêm mối quan hệ hữu hảo giữa các quốc gia
1.3.5 Nguyên tắc có đi có lại
Đây là nguyên tắc mang tính tập quán và truyền thống trong quan hệ ngoại giao và lãnh sự giữa các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế Với nội dung chủ yếu là không một quốc gia nào được phép đòi hỏi quốc gia khác hoc ơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và thành viên của các cơ quan này được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ nhiều hơn những gì mình đã, đang và sẽ giành cho quốc gia đó Và các quốc gia có quyền
áp dụng các biện pháp trả đũa tương xứng khi quốc gia nhận đại diện có hành vi xử sự làm ảnh hưởng tới danh dự, uy tín hoặc làm thiệt hại tới lợi ích của mình
1.4 Các cơ quan quan hệ đối ngoại của nhà nước
1.4.1 Các cơ quan đối ngoại ở trong nước
Các cơ quan đối ngoại ở trong nước của mỗi quốc gia được chia thành cơ quan đại diện chung và cơ quan đại diện chuyên ngành
Cơ quan đại diện chung bao gồm Nguyên thủ quốc gia, Quốc hội, Chính phủ và
người đứng đầu Chính phủ, Bộ ngoại giao và người đứng đầu Bộ ngoại giao
Trang 14Đối với nguyên thủ quốc gia, tùy vào hình thức chính thể mà hiến pháp của các nước quy định quyền hạn của nguyên thủ quốc gia không giống nhau Tuy nhiên, nguyên thủ quốc gia luôn là người đại diện cho quốc gia trong quan hệ đối ngoại Theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế thì nguyên thủ quốc gia là được
quyền đại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc tế ex officio (không cần thư ủy nhiệm)
Việc xác định quốc hội/nghị viện có phải là cơ quan đối ngoại của nhà nước hay không được giải quyết khác nhau trong pháp luật, lý luận và thực tiễn của các nước Xu thế chung thì quốc hội không phải là cơ quan đối ngoại Tuy nhiên, quốc hội lại là cơ quan có quyền phê chuẩn điều ước quốc tế và là kênh quan trọng trong công tác đối ngoại
của quốc gia
Chính phủ lãnh đạo việc thực hiện công tác đối ngoại do quốc hội hoặc tổng thống
đề ra Người đứng đầu chính phủ là đại diện có thẩm quyền của nhà nước trong quan hệ đối ngoại Trong quan hệ này, người đứng đầu chính phủ không cần thư ủy nhiệm và
được hưởng đầy đủ quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao
Bộ ngoại giao là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quan hệ đối ngoại Người đứng đầu Bộ ngoại giao được quyền trực tiếp tham gia đàm
phán, ký kết điều ước quốc tế mà không cần thư ủy nhiệm
Cơ quan đại diện chuyên ngành chính là các bộ và cơ quan ngang bộ đều tham gia vào quan hệ đối ngoại với tư cách là cơ quan chuyên ngành trong những lĩnh vực nhất
định mà mình phụ trách
1.4.2 Các cơ quan đối ngoại ở nước ngoài
Các cơ quan đối ngoại ở nước ngoài bao gồm cơ quan thường trực và cơ quan lâm thời Cơ quan thường trực chính là các cơ quan đại diện ngoại giao, các đoàn đại diện thường trực của quốc gia tại tổ chức quốc tế liên chính phủ và cơ quan lãnh sự Còn cơ quan lâm thời gồm các phái đoàn đặc biệt (phái đoàn ad hoc), phái đoàn đi dự hội nghị
quốc tế và phái đoàn đi đàm phán quốc tế
2 CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO
2.1 Khái niệm
Cơ quan đại diện ngoại giao là cơ quan nhà nước của một quốc gia này, có trụ sở trên lãnh thổ của quốc gia khác để thực hiện quan hệ ngoại giao với quốc gia đó
Cơ quan đại diện ngoại giao gồm có 2 loại:
- Đại sứ quán: là cơ quan đại diện ngoại giao cao nhất của một nước ở nước ngoài Người đứng đầu đại sứ quán là đại sứ
- Công sứ quán: là cơ quan đại diện ngoại giao ở mức thấp hơn đại sứ quán Người đứng đầu công sứ quán là công sứ
Từ thời cổ đại đến thế kỷ XV, cơ quan đại diện ngoại giao của nhà nước ở nước ngoài chỉ mang tính chất tạm thời, nhằm thực hiện những nhiệm vụ nhất định trong một thời gian cụ thế
Từ giữa thế kỷ XV, bắt đầu xuất hiện cơ quan đại diện ngoại giao thường trực ở nước ngoài Nhưng cho đến trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, chỉ có các cường quốc mới trao đổi đại diện ở cấp đại sứ quán
Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều đặt cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, nhất là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, số lượng cơ quan đại diện ngoại giao ở cấp công sứ quán giảm mạnh và cấp đại sứ quán tăng nhanh
Trang 15Đến nay, các quốc gia chủ yếu đặt cơ quan đại diện ngoại giao ở cấp đại sứ quán, cấp công sứ quán chỉ còn rất ít
2.2 Chức năng
Chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao do luật quốc tế và luật quốc gia quy định Tuy nhiên, chức năng chính của cơ quan đại diện ngoại giao là (điều 3 – Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao):
- Thay mặt cho nước cử đại diện tại nước nhận đại diện
- Bảo vệ những quyền lợi của nước cử đại diện và của những người thuộc quốc tịch nước đó tại nước nhận đại diện trong phạm vi được luật quốc tế thừa nhận
- Đàm phán với chính phủ của nước nhận đại diện
- Tìm hiểu bằng những phương tiện hợp pháp về điều kiện và sự tiến triển của tình hình nước nhận đại diện và báo cáo tình hình đó cho chính phủ nước cử đại diện
- Đẩy mạnh những quan hệ hữu nghị và phát triển những quan hệ kinh tế, văn hóa và khoa học giữa nước cử đại diện và nước nhận đại diện
Ngoài ra, luật quốc tế không ngăn cấm cơ quan đại diện ngoại giao thực hiện các chức năng lãnh sự
2.3 Cấp, hàm, chức vụ ngoại giao
2.3.1 Cấp ngoại giao
Cấp ngoại giao là thứ bậc của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, được
xác định theo quy định của luật quốc tế và thỏa thuận của các quốc gia hữu quan
Theo quy định của Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao, thì cấp ngoại giao
bao gồm 3 cấp:
- Cấp đại sứ (hoặc đại sứ của Tòa thánh Vatican) do nguyên thủ quốc gia bổ
nhiệm
- Cấp đặc phái viên hoặc công sứ (hoặc công sứ của Tòa thánh Vatican) do
nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm
- Cấp đại biện do Bộ trưởng Bộ ngoại giao bổ nhiệm
Trừ những việc có liên quan đến thứ bậc và nghi thức (tức là thủ tục tiếp đón các người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao đối với từng thứ bậc), không có bất cứ sự
phân biệt nào đối với các người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao
Pháp luật Việt Nam (điều 5 Pháp lệnh về hàm, cấp ngoại giao năm 1995) cũng quy định hàm ngoại giao bao gồm các chức danh như trên Tuy nhiên, chúng được phân loại như sau:
- Cấp ngoại giao cao cấp: gồm đại sứ, công sứ và tham tán
- Cấp ngoại giao trung cấp: gồm bí thư thứ nhất và bí thư thứ hai
- Cấp ngoại giao sơ cấp: gồm bí thư thứ ba và tùy viên
Trang 16Ngoài ra pháp luật nước ta còn quy định, hàm ngoại giao của một người được giữ không chỉ lúc người đó đi công tác ở nước ngoài mà cả khi đã được điều động sang công tác tại cơ quan, tổ chức khác hoặc nghỉ hưu như một vinh dự của ngành ngoại giao
có
Các quốc gia quy định trong pháp luật của mình về chức vụ ngoại giao Còn theo pháp luật Việt Nam (điều 9 Pháp lệnh về hàm, cấp ngoại giao năm 1995) thì chức vụ ngoại giao bao gồm: đại sứ đặc mệnh toàn quyền, công sứ đặc mệnh toàn quyền, đại biện, trưởng đoàn đại diện thường trực tại tổ chức quốc tế liên chính phủ, công sứ, tham tán công sứ, tham tán, bí thư thứ nhất, bí thư thứ hai, bí thư thứ ba và tùy viên
2.4 Khởi đầu và chấm dứt chức năng đại diện ngoại giao
2.4.1 Khởi đầu chức năng đại diện ngoại giao
Quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia được thiết lập theo nguyên tắc thỏa thuận Khi thiết lập quan hệ ngoại giao, các quốc gia hữu quan phải thỏa thuận về việc mở cơ
quan đại diện ngoại giao, cấp của cơ quan này
* Khởi đầu chức năng đại diện ngoại giao của cơ quan đại diện ngoại giao
Cơ quan đại diện ngoại giao được bắt đầu chức năng của mình sau khi đã thực hiện
đầy đủ các công việc sau:
- Hoàn thiện thủ tục đề nghị xin chấp nhận thành lập cơ quan đại diện ngoại
giao của nước nhận đại diện
- Bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao tại nước nhận đại diện Nước cử đại diện phải đảm bảo rằng người mà mình định cử làm người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao đã được nước nhận đại diện chấp nhận Nước đại diện có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận mà không cần thông báo cho nước cử đại diện biết lý
do
- Thông báo hợp lệ tới nước nhận đại diện về người đứng đầu cơ quan đại
diện ngoại giao và các thành viên của cơ quan đó
- Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao đến nước nhận đại diện nhận
nhiệm vụ
* Khởi đầu đảm nhiệm chức vụ của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao:
Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao được coi như đã đảm nhiệm chức vụ tại nước nhận đại diện ngay sau khi báo tin đã đến và đã trao quốc thư hoặc bản sao quốc thư cho Bộ ngoại giao của nước nhận đại diện, hoặc cho một bộ nào khác do hai nước hữu quan đã thỏa thuận, theo thủ tục hiện hành ở nước nhận đại diện Thủ tục nói trên phải được áp dụng một cách thống nhất tại nước nhận đại diện
Việc trình quốc thư hoặc bản sao quốc thư căn cứ vào ngày và giờ đến người đứng
đầu cơ quan đại diện ngoại giao mà ấn định
* Khởi đầu đảm nhiệm chức vụ của các viên chức ngoại giao khác trong cơ quan
đại diện ngoại giao
Trang 17Các viên chức ngoại giao khác được coi là bắt đầu đảm nhiệm chức vụ của mình sau khi được bổ nhiệm và đến nước nhận đại diện từ thời điểm thông báo của cơ quan có thẩm quyền của nước cử đại diện
Việc bổ nhiệm các viên chức này là sự tự do lựa chọn của nước cử đại diện và không cần được nước nhận đại diện chấp thuận trước trừ các trường hợp sau:
- Đối với các tùy viên lục quân, hải quân, không quân, nước nhận đại diện có thể yêu cầu được biết trước tên các tùy viên đó để xét duyệt
- Nước nhận đại diện, có thể báo cho nước cử đại diện biết bất cứ người nào trong cơ quan đại diện ngoại giao không được chấp thuận (nen garta) trước khi vào lãnh thổ nước nhận đại diện mà không cần nói rõ lý do
- Nước nhận đại diện có thể từ chối không chấp nhận một loại viên chức nào
đó của nước cử đại diện trong một phạm vi mức độ nhất định và không có sự phân biệt đối xử
2.4.2 Chấm dứt chức năng đại diện ngoại giao
* Chức năng đại diện ngoại giao của cơ quan đại diện ngoại giao chấm dứt khi:
- Xung đột vũ trang giữa hai nước
- Quan hệ ngoại giao giữa hai nước bị cắt đứt
- Khi một trong hai nước không còn là chủ thể của luật quốc tế
- Khi một trong hai nước có sự thay đổi chính phủ bằng con đường không hợp hiến
* Chức năng đại diện ngoại giao của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao chấm dứt khi:
- Hết nhiệm kỳ công tác
- Bị triệu hồi về nước
- Chính phủ nước tiếp nhận tuyên bố người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao là người không được chấp nhận (persona no grata)
- Từ trần
- Từ chức
* Chức năng đại diện ngoại giao của các viên chức ngoại giao khác chấm dứt khi:
- Hết nhiệm kỳ công tác
- Bị triệu hồi về nước
- Chính phủ nước tiếp nhận tuyên bố là người không được chấp thuận (nen garta) hoặc không được thừa nhận
- Từ trần
- Từ chức
2.5 Cơ cấu tổ chức và thành viên
Cơ cấu tổ chức của cơ quan đại diện ngoại giao của các nước và ở mỗi nước nhận đại diện là khác nhau, do luật pháp mỗi nước cử đại diện quy định khác nhau, do pháp luật và truyền thống, tập quán của nước tiếp nhận, cũng như mối quan hệ và sự thỏa thuận
của hai quốc gia hữu quan
Thông thường trong cơ quan đại diện ngoại giao có các bộ phận: văn phòng, phòng
chính trị, phòng kinh tế, phòng văn hóa, phòng kinh tế, phòng lãnh sự, tùy viên quân sự
Thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao được chia thành các loại sau:
Trang 18- Nhân viên ngoại giao: là những nhân viên có thân phận ngoại giao, tức là có hàm hoặc chức vụ ngoại giao
Về nguyên tắc, nhân viên ngoại giao phải mang quốc tịch của nước cử đại diện, trừ trường hợp nước nhận đại diện cho phép nhân viên ngoại giao là người mang quốc tịch nước nhận đại diện hoặc của nước thứ ba Tuy nhiên, đây là sự đồng ý đơn phương của nước nhận đại diện và nước này có quyền hủy bỏ sự đồng ý bất cứ lúc nào
Vào bất cứ lúc nào và không cần nói rõ lý do, nước nhận đại diện cũng có quyền thông báo cho nước cử đại diện biết rằng một nhân viên ngoại giao không được chấp thuận hoặc không được thừa nhận
- Nhân viên hành chính kỹ thuật: là những người làm công việc hành chính
và kỹ thuật trong cơ quan đại diện ngoại giao
- Nhân viên phục vụ: là những người làm công việc phục vụ cho đoàn Tuy nhiên, nhân viên phục vụ không bao gồm người giúp việc riêng – là những người phục vụ riêng cho một thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao mà không phải là người làm công của nước cử đại diện
Quan hệ lãnh sự được thiết lập theo sự thỏa thuận giữa các bên Khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao thì mặc nhiên đã thỏa thuận thiết lập quan hệ lãnh sự, trừ trường
hợp có nói rõ không làm như thế
Việc cắt đứt quan hệ ngoại giao không có nghĩa là cắt đứt quan hệ lãnh sự Và cũng có trường hợp, quan hệ lãnh sự được thiết lập giữa các quốc gia không có quan hệ
ngoại giao với nhau
3.1.2 Thiết lập cơ quan lãnh sự
Khi thiết lập quan hệ lãnh sự, các nước cũng thỏa thuận về việc mở cơ quan lãnh
sự Cơ quan lãnh sự là cơ quan quan hệ đối ngoại của nhà nước ở nước ngoài, nhằm thực hiện chức năng lãnh sự trong một khu vực lãnh thổ nhất định của nước tiếp nhận, trên cơ
sở thỏa thuận giữa hai nước hữu quan
Trụ sở của cơ quan lãnh sự, việc xếp hạng và khu vực lãnh sự do nước cử lãnh sự quy định và phải được nước tiếp nhận lãnh sự chấp nhận Trong đó, khu vực lãnh sự là khu vực lãnh thổ tại nước tiếp nhận lãnh sự mà cơ quan lãnh sự thực hiện chức năng của mình
3.2 Cơ cấu tổ chức
3.2.1 Cấp của cơ quan lãnh sự
Theo quy định tại điều 1 Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự thì cơ quan lãnh
Trang 193.2.2 Người đứng đầu cơ quan lãnh sự
Người đứng đầu cơ quan lãnh sự là người được giao nhiệm vụ hoạt động trên cương vị này và được nước tiếp nhận lãnh sự chấp thuận Người đứng đầu cơ quan lãnh
sự có thể được chia thành 04 cấp như sau (điều 9 Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh
sự):
- Tổng lãnh sự
- Lãnh sự
- Phó lãnh sự
- Đại lý lãnh sự (theo pháp luật Việt Nam, là tùy viên lãnh sự)
Người đứng đầu cơ quan lãnh sự chính thức được thực hiện nhiệm vụ của mình khi
trải qua các thủ tục sau:
- Nước cử lãnh sự cấp thư ủy nhiệm (hoặc văn kiện tương tự) cho người đứng đầu cơ quan lãnh sự chứng nhận chức vụ và thường ghi rõ họ tên, cấp bậc và loại hạng
của người này, khu vực lãnh sự và trụ sở cơ quan lãnh sự
- Nước cử lãnh sự sẽ chuyển thư ủy nhiệm qua con đường ngoại giao hoặc
con đường thích hợp tới chính phủ nước tiếp nhận lãnh sự
- Nếu nước tiếp nhận lãnh sự thừa nhận người đứng đầu cơ quan lãnh sự thì
sẽ cấp Giấy chứng nhận lãnh sự (Exequalur) cho người đó Và người đứng đầu cơ quan lãnh sự chính thức bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi được cấp giấy chứng nhận, người đó có thể tạm thời được thừa nhận để thi hành chức năng của mình Còn nếu nước tiếp nhận từ chối cấp giấy chứng nhận lãnh sự thì không
phải thông báo rõ lý do
3.2.3 Thành viên cơ quan lãnh sự
Thành viên cơ quan lãnh sự được chia thành 03 loại như sau:
- Viên chức lãnh sự: là những người có nhiệm vụ thi hành các chức năng lãnh
sự, bao gồm cả người đứng đầu cơ quan lãnh sự
Về nguyên tắc, viên chức lãnh sự phải có quốc tịch nước cử lãnh sự, trừ trường hợp nước tiếp nhận cho phép viên chức đó được mang quốc tịch nước mình hay một nước thứ ba Tuy nhiên, việc cho phép này mang tính đơn phương và nước tiếp nhận có thể hủy
- Nhân viên lãnh sự: là những người được cơ quan lãnh sự tuyển dụng để làm công việc hành chính hoặc kỹ thuật
- Nhân viên phục vụ: là những người được cơ quan lãnh sự tuyển dụng để làm công việc phục vụ nội bộ Những người này không bao gồm những người được một thành viên cơ quan lãnh sự tuyển riêng gọi là nhân viên phục vụ riêng
Vào bất cứ lúc nào và không cần nói rõ lý do, nước tiếp nhận lãnh sự có thể thông báo cho nước cử lãnh sự rằng một viên chức lãnh sự nào đó là không được chấp thuận hoặc một nhân viên khác của cơ quan lãnh sự là người không thể chấp nhận được Và
Trang 20nước cử đại diện phải triệu hổi đương sự hoặc đình chỉ công việc của người đó tại cơ quan lãnh sự
Chức trách của một nhân viên của cơ quan lãnh sự chấm dứt trong các trường hợp sau:
- Khi nước cử lãnh sự báo cho nước tiếp nhận lãnh sự biết chức trách của người đó đã chấm dứt
- Khi người đó bị thu hồi giấy chứng nhận nhân viên lãnh sự
- Khi nước tiếp nhận lãnh sự báo cho nước cử lãnh sự biết mình thôi không coi người đó là nhân viên cơ quan lãnh sự nữa
3.3 Chức năng của cơ quan lãnh sự
Chức năng của cơ quan lãnh sự do luật quốc tế, pháp luật của nước cử lãnh sự quy định và theo sự thỏa thuận giữa hai quốc gia Tuy nhiên, chức năng chính của cơ quan lãnh sự theo quy định tại điều 5 Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự bao gồm:
- Bảo vệ tại nước tiếp nhận lãnh sự các quyền lợi của nước cử lãnh sự, của cá nhân và pháp nhân trong phạm vi luật pháp quốc tế cho phép
- Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại, kinh tế, văn hóa và sự phát triển bằng mọi cách khác mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước
- Bằng mọi phương tiện hợp pháp, tìm hiểu tình hình sinh hoạt, thương mại, kinh tế, văn hóa và khoa học của nước tiếp nhận lãnh sự và báo cáo cho chính phủ nước
cử lãnh sự, cũng như cung cấp tài liệu cho những người hữu quan
- Cấp hộ chiếu, giấy tờ đi đường cho người dân nước cử lãnh sự, cũng như cấp thị thực và các tài liệu thích ứng cho người muốn đến nước cử lãnh sự
- Cứu trợ và giúp đỡ những công dân, cá nhân, pháp nhân của nước cử lãnh
sự
- Hoạt động công chứng, hộ tịch và các chức năng tương tự, cũng như một số chức năng có tính chất hành chính
- Bảo vệ lợi ích của người dân, cá nhân cũng như pháp nhân của nước cử lãnh
sự trong trường hợp có thừa kế di sản trên lãnh thổ nước tiếp nhận lãnh sự
- Bảo vệ lợi ích của những vị thành niên và những người không đủ năng lực
mà là người dân của nước cử lãnh sự, nhất là trong trường hợp lập giám hộ hoặc sự ủy thác tài sản đối với họ
- Làm đại diện hoặc cử đại diện thích ứng cho người dân của nước cử lãnh sự trước Tòa án hoặc cơ quan khác của nước tiếp nhận, nhằm mục đích thực hiện các biện pháp tạm thời để bảo vệ quyền lợi của người dân đó trong trường hợp người đó vắng mặt hoặc vì một lý do mà không thể bảo vệ quyền lợi của mình
- Chuyển giao các tài liệu tư pháp và các tài liệu khác, thực hiện các ủy nhiệm điều tra thu thập chứng cứ cho Tòa án nước cử lãnh sự theo đứng các quy định của luật quốc tế hoặc luật lệ của nước tiếp nhận lãnh sự
- Thực hiện quyền giám sát và kiểm tra đối với tàu thủy có quốc tịch nước cử lãnh sự, máy bay đăng ký ở nước này và đối với các nhân viên công tác trên tàu thủy, máy bay đó Bên cạnh đó, giúp đỡ các tàu thủy, máy bay này và các nhân viên công tác trên
đó, tiếp nhận các lời khai về chuyến đi, xem xét và đóng dấu giấy tờ của tàu, tiến hành điều tra về bất cứ sự việc nào xảy ra trong chuyến đi, giải quyết các tranh chấp giữa thuyền trưởng, nhân viên và thủy thủ
Trang 21- Thi hành các chức năng khác do nước cử lãnh sự giao cho mà không bị luật
lệ nước tiếp nhận lãnh sự cấm hoặc nước đó không chấp nhận hoặc theo điều ước quốc tế
ký kết giữa hai nước
Chức năng lãnh sự không bao gồm tất cả mọi lĩnh vự quan hệ giữa nước cử lãnh sự
và nước tiếp nhận lãnh sự Không những thế, cơ quan lãnh sự không trực tiếp quan hệ với chính quyền trung ương mà chỉ với chính quyền địa phương của nước sở tại trong phạm
vi khu vực lãnh sự
Việc thực hiện chức năng lãnh sự chỉ trong phạm vi khu vực lãnh sự Chỉ trong trường hợp nước tiếp nhận lãnh sự đồng ý thì một viên chức lãnh sự có thể thi hành những chức năng của mình ngoài khu vực lãnh sự của mình hoặc trường hợp các quốc gia hữu quan đồng ý thì cơ quan lãnh sự có thể thực hiện chức năng của mình ở nước thứ ba hay thay mặt nước thứ ba thực hiện chức năng lãnh sự ở nước sở tại
Trên cơ sở đồng ý của nước tiếp nhận, cơ quan lãnh sự có thể thực hiện chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao nếu như hai nước chưa thiết lập quan hệ ngoại giao
3.4 Lãnh sự danh dự
3.4.1 Khái niệm
Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự không định nghĩa về lãnh sự danh dự, tuy nhiên có thể hiểu, lãnh sự danh dự là những người không nằm trong biên chế của nhà nước cử lãnh sự nhưng được bổ nhiệm để thực hiện một số chức năng lãnh sự do nước cử
lãnh sự giao cho sau khi được tiếp nhận lãnh sự đồng ý
Chế định lãnh sự danh dự là chế định tùy nghi, trong đó các nước có quyền tự do
định đoạt về việc cử hoặc nhận viên chức lãnh sự danh dự đó
Về nguyên tắc, viên chức lãnh sự phải là người có quốc tịch nước cử lãnh sự Tuy nhiên, đối với lãnh sự danh dự, họ có thể là người mang quốc tịch của nước cử lãnh sự
hoặc nước tiếp nhận lãnh sự, tùy theo sự thỏa thuận của hai nước
Lãnh sự danh dự được bổ nhiệm ở những nơi có yêu cầu về công việc lãnh sự
nhưng nước cử lãnh sự không có điều kiện thành lập cơ quan hoặc cử nhân viên lãnh sự
Thẩm quyền bổ nhiệm lãnh sự danh dự thường thuộc về Bộ trưởng Bộ ngoại giao
3.4.2 Chức năng
Lãnh sự danh dự được thực hiện các chức năng lãnh sự thông thường nhưng không được thực hiện mọi chức năng của một người đứng đầu cơ quan lãnh sự mà chỉ theo sự ủy nhiệm của Bộ trưởng Bộ ngoại giao Khi thực hiện chức năng này, lãnh sự danh dự được
hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ gần như một viên chức lãnh sự
4 QUYỀN ƯU ĐÃI VÀ MIỄN TRỪ NGOẠI GIAO, LÃNH SỰ
4.1 Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao
4.1.1 Khái niệm
Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao là những quyền ưu đãi và miễn trừ đặc biệt
mà nước tiếp nhận, phù hợp với luật quốc tế, dành cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước khác và thành viên của cơ quan này, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
hiệu quả chức năng và nhiệm vụ ngoại giao của cơ quan đó
Về bản chất, các quyền này xuất phát từ quyền ưu đãi và miễn trừ của các quốc gia Đây là những quyền các quốc gia dành cho nhau, chứ không phải cho các cá nhân nhất định, nhằm bảo đảm việc các cơ quan đại diện ngoại giao thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
Trang 224.1.2 Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao
* Quyền bất khả xâm phạm về trụ sở
Trụ sở của cơ quan đại diện ngoại giao là bất khả xâm phạm Các viên chức của nước nhận đại diện không được phép vào trụ sở nếu không nhận được sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao Và nước nhận đại diện có nghĩa vụ đặc biệt phải thi hành mọi biện pháp thích đáng để ngăn ngừa trụ sở của cơ quan khỏi bị xâm chiếm hực làm hư hại, an ninh của cơ quan không bị quấy rối hoặc phẩm cách của cơ quan không bị xâm phạm
Trụ sở của cơ quan đại diện ngoại giao, đồ đạc và các vật dụng khác trong trụ sở, phương tiện giao thông của cơ quan đại diện ngoại giao không bị khám xét, tịch biên hoặc thi hành án
Tuy nhiên, quyền bất khả xâm phạm về trụ sở của cơ quan đại diện ngoại giao không cho phép cơ quan này sử dụng trụ sở của mình để che chở những tội phạm đang bị chính quyền nước tiếp nhận truy nã
* Quyền được miễn thuế và lệ phí
Cơ quan đại diện ngoại giao được miễn các loại thuế và lệ phí của nhà nước, của địa phương/thành phố đánh vào trụ sở của mình (mà cơ quan này là chủ nhà hay người thuê), trừ các loại thuế và lệ phí trả cho dịch vụ riêng và các loại thuế, lệ phí mà theo luật
đã ký kết giữa hai nước là phải nộp
Những khoản phí và đóng góp mà cơ quan ngoại giao thu được từ hoạt động chính
thức thì được miễn thuế và lệ phí
* Quyền bất khả xâm phạm về giấy tờ hồ sơ và tài liệu
Hồ sơ và tài liệu của cơ quan đại diện ngoại giao là bất khả xâm phạm bất cứ lúc nào và bất cứ đâu Quyền này áp dụng cả khi hai nước cắt đứt quan hệ ngoại giao
* Quyền tự do thông tin liên lạc
Nước nhận đại diện cho phép và bảo vệ quyền tự do liên lạc của cơ quan đại diện
ngoại giao về mọi công việc chính thức
Khi liên lạc với chính phủ, với các cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự khác ở bất cứ nơi nào, cơ quan đại diện ngoại giao có thể sử dụng tất cả các phương tiện liên lạc thích hợp, kể cả giao thông viên ngoại giao và các điện tín bằng mật mã hoặc
bằng số hiệu
* Quyền bất khả xâm phạm về va-li và thư tín ngoại giao
Những thư từ chính thức của cơ quan đại diện ngoại giao là bất khả xâm pham
“Thư từ chính thức” là tất cả các thư từ giao dịch có liên quan đến cơ quan và các chức
năng của nó
Va-li ngoại giao không ai được mở hoặc giữ lại Hàng hóa trong va-li ngoại giao phải ghi rõ bên ngoài những dấu hiệu về tính chất của nó và chỉ được đựng những tài liệu
ngoại giao hoặc những đồ dùng chính thức
* Quyền treo quốc kỳ, quốc huy
Cơ quan đại diện ngoại giao và người đứng đầu cơ quan được quyền treo quốc kỳ, quốc huy tại trụ sở của mình, kể cả nhà riêng và phương tiện đi lại của người đứng đầu cơ
quan đại diện ngoại giao
4.1.3 Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho viên chức ngoại giao
* Quyền bất khả xâm phạm về thân thể:
Trang 23Thân thể của viên chức ngoại giao là bất khả xâm phạm Họ không thể bị bắt hoặc
giam giữ dưới bất kỳ hình thức nào
Nước nhận đại diện phải đối xử với sự kính trọng thích đáng và có những biện
pháp hợp lý để tránh xúc phạm tới thân thể, tự do và nhân phẩm của họ
* Quyền bất khả xâm phạm về nơi ở, tài liệu, thư từ, tài sản của viên chức ngoại
giao
Nơi ở riêng của viên chức ngoại giao được hưởng quyền bất khả xâm phạm
Tài liệu, thư từ và tài sản của viên chức ngoại giao cũng được hưởng quyền bất khả
xâm phạm
* Quyền miễn trừ về tài phán
Viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn tài phán hình sự
Viên chức ngoại giao cũng được hưởng quyền miễn trừ tài phán dân sự và hành
chính, trừ các trường hợp sau:
- Một vụ kiện về một bất động sản của nước nhận đại diện, trừ khi viên chức
đó có bất động sản nhân danh danh nước cử đại diện và để phục vụ 94oil à quan đại diện
ngoại giao
- Một vụ kiện về thừa kế mà viên chức ngoại giao là người chấp hành di chúc, người quản lý, người thừa kế nhân danh cá nhân mình chứ không phải nhân danh
nước cử đại diện
- Một vụ kiện về bất cứ một nghề tự do hoặc hoạt động thương mại của viên
chức ngoại giao làm ngoài chức vụ chính thức của mình ở nước nhận đại diện
Viên chức ngoại giao không bắt buộc phải ra làm chứng Và viên chức ngoại giao
không bị thi hành bất cứ biện pháp nào
Quyền miễn trừ tài phán này không được áp dụng tại nước cử đại diện
Nước cử đại diện có thể bỏ quyền miễn trừ về tài phán của viên chức ngoại giao và
những người trong gia đình của họ
* Quyền được miễn thuế và lệ phí
Viên chức ngoại giao được miễn các loại thuế và lệ phí trừ:
- Các loại thuế gián tiếp, thông thường được bao gồm trong giá cả hàng hóa
hoặc công dịch vụ
- Các thuế và lệ phí về bất động sản ở trên lãnh thổ nước nhận đại diện, trừ khi viên chức ngoại giao có những tài sản đó vì lợi ích của nước cử đại diện và nhằm mục
đích vào công việc của cơ quan đại diện ngoại giao
- Những loại thuế và lệ phí về thừa kế mà nước nhận đại diện thu, trừ thuế thừa kế đối với các động sản sở dĩ có trong nước nhận đại diện cho người đã quá cố có mặt ở nước này là thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc người ở trong gia đình
của thành viên đó
- Các loại thuế và lệ phí về các khoản thu nhập có nguồn gốc từ nước nhận
đại diện và các loại thuế thu theo vốn đầu tư vào các doanh nghiệp ở nước nhận đại diện
- Các loại thuế và lệ phí coi như là tiền công về các công việc đã phục vụ
- Các loại thuế trước bạ, lệ phí của Tòa án, thuế cầm cố và thuế tiệm chi đối
với các bất động sản trừ thuế và lệ phí đánh vào nhà cửa của viên chức ngoại giao
* Quyền ưu đãi và miễn trừ hải quan
Trang 24Viên chức ngoại giao được cho phép nhập nội và miễn thuế quan đối với mọi thứ thuế khác có liên quan, trừ các khoản tiền cước về gửi kho, chuyên chở hoặc các chi phí
về những công việc với các đồ vật dùng cho các nhân viên chức ngoại giao hay cá nhân những người trong gia đình của viên chức, bao gồm cả những thứ cần thiết cho việc trang trí chỗ ở
Những người trong gia đình của viên chức ngoại giao cũng được hưởng những
quyền ưu đãi và miễn trừ như viên chức ngoại giao
4.1.4 Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho các nhân viên còn lại của cơ quan đại diện ngoại giao
* Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao dành cho nhân viên hành chính kỹ thuật
Nhân viên hành chính kỹ thuật của cơ quan đại diện ngoại giao cùng với những người trong gia đình của họ, nếu không phải là công dân của nước nhận đại diện hoặc không có trú quán thường xuyên ở nước đó, thì được hưởng những quyền ưu đãi và miễn trừ như viên chức ngoại giao, trừ quyền ưu đãi và miễn trừ hải quan (tuy nhiên vẫn được miễn trừ cho các vật dụng nhập khẩu trong lần đầu bố trí chỗ ở), quyền miễn trừ về tài
phán khi thực hiện các hành vi ngoài công vụ
* Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao dành cho nhân viên phục vụ
Nhân viên phục vụ của cơ quan đại diện ngoại giao mà không phải là công dân của nước nhận đại diện hoặc không có trú quán thường xuyên ở nước đó thì được hưởng quyền miễn trừ đối với các hành vi thực hiện khi thừa hành chức vụ của mình, và quyền
miễn trừ các loại thuế và lệ phí về tiền công thu được từ công vụ
4.2 Quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự
4.2.1 Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho cơ quan lãnh sự
* Quyền bất khả xâm phạm về trụ sở
Trụ sở của cơ quan lãnh sự là bất khả xâm phạm Nước tiếp nhận lãnh sự không được vào phần của trụ sở cơ quan lãnh sự là nơi làm việc, trừ khi có sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan lãnh sự hoặc của người do người đó chỉ định hoặc người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao của nước cử lãnh sự Trường hợp có hỏa hoạn hoặc tai biến khác cần biện pháp bảo vệ khẩn cấp thì có thể mặc nhiên coi như người đứng đầu cơ quan lãnh
* Quyền bất khả xâm phạm về giấy tờ hồ sơ và tài liệu
Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan lãnh sự là bất khả xâm phạm bất cứ lúc nào và
ở bất cứ đâu
* Quyền tự do thông tin liên lạc
Nước tiếp nhận lãnh sự cho phép và bảo vệ quyền tự do liên lạc về mọi mục đích công vụ trong việc liên lạc với chính phủ, các cơ quan đại diện ngoại giao và các cơ quan lãnh sự của nước cử lãnh sự đóng ở bất cứ đâu
Cơ quan lãnh sự có thể dùng tất cả phương tiện thích hợp kể cả giao thông ngoại giao hoặc lãnh sự, va-li ngoại giao hoặc lãnh sự và điện mật mã
Trang 25Thư từ chính thức của cơ quan lãnh sự là bất khả xâm phạm
Va-li lãnh sự không bị mở hoặc giữ lại, trừ trường hợp có lý do chính đáng để tin rằng trong đó có chứa các thứ khác ngoài thư từ tài liệu, công văn hoặc vật dụng dùng vào việc công Việc mở va-li này phải được nhà đương cục có thẩm quyền của nước tiếp nhận lãnh sự yêu cầu một người đại diện có thẩm quyền của nước cử lãnh sự mở va-li trước mặt họ Nếu người này từ chối thì va-li sẽ được gửi về nơi xuất phát
* Quyền được miễn thuế và lệ phí
Trụ sở cơ quan lãnh sự và nhà ở của người đứng đầu cơ quan lãnh sự được miễn các thứ thuế, trừ tiền trả cho các dịch vụ
* Quyền được treo quốc kỳ, quốc huy
Cơ quan lãnh sự và nhà riêng, phương tiện đi lại của người đứng đầu cơ quan lãnh
sự được quyền treo quốc kỳ và quốc huy của nước cử lãnh sự
4.2.2 Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho viên chức lãnh sự
* Quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Thân thể của viên chức lãnh sự là bất khả xâm phạm, trừ các trường hợp:
- Nhân viên lãnh sự bị bắt hoặc bị tạm giam để chờ xét xử trong trường hợp phạm trọng tội và theo quyết định của cơ quan nhà có thẩm quyền của nước tiếp nhận lãnh sự
- Phải thi hành một quyết định chung thẩm của Tòa án một quốc gia vè hình phạt tù hoặc hình phạt hạn chế quyền tự do thân thể
* Quyền miễn trừ tài phán
Viên chức lãnh sự được miễn trừ tài phán về các hành động của họ trong khi thừa hành nhiệm vụ Tuy nhiên, quyền miễn trừ tố tụng dân sự không được áp dụng trong các trường hợp sau:
- Vụ tố tụng dân sự xảy ra vì một hợp đồng do viên chức lãnh sự ký kết mà không phải rõ ràng hoặc hàm ý ký kết với danh nghĩa là nước cử lãnh sự
- Vụ tố tụng do một bên thứ ba tiến hành về thiệt hại do tai nạn ô tô, tàu thủy hoặc máy bay xảy ra tại nước tiếp nhận lãnh sự
Một viên chức lãnh sự có quyền từ chối ra làm chứng trước tòa mà không được dùng biện pháp cưỡng chế hoặc áp dụng chế tài đối với người đó
Khi viên chức lãnh sự kiện tụng về một vấn đề mà người đó có thể được hưởng quyền miễn trừ tài phán thì sẽ không được quyền miễn trừ tài phán nữa đối với mọi sự phản tố trực tiếp đối với đơn khởi tố Tuy nhiên không có nghĩa là người đó từ bỏ quyền miễn trừ đối với các biện pháp thi hành án mà phải có sự từ bỏ riêng
* Quyền được miễn thuế và lệ phí
Viên chức lãnh sự được miễn thuế và lệ phí đánh vào thân thể và tài sản, trừ:
- Thuế gián thu thuộc loại thường gộp vào giá cả hàng hóa hay dịch vụ
- Thuế hoặc lệ phí đánh vào bất động sản của tư nhân trên lãnh thổ của nước tiếp nhận lãnh sự
- Thuế do nước tiếp nhận lãnh sự đánh vào nhà đất, vào việc thừa kế di sản và vào việc chuyển giao tài sản
- Thuế và lệ phí đánh vào lợi tức riêng, kể cả tiền lời và tư bản thu được ở nước tiếp nhận lãnh sự và thuế đánh vào tư bản thuộc về số vốn đầu tư vào những công trình thương mại hoặc tài chính ở nước tiếp nhận lãnh sự
Trang 26- Thuế và lệ phí thu về tiền công đối với những công việc phục vụ cụ thể
- Thuế trước bạ, lệ phí của tòa án, thuế cầm cố bất động sản và thuế tiệm thu
* Quyền miễn trừ và ưu đãi hải quan
Nước tiếp nhận lãnh sự cho phép nhập khẩu và cho miễn tất cả các thứ thuế quan
và lệ phí liên quan, trừ tiền cước kho, cước vận chuyển và cước phí về những việc phục
vụ tương tự đối với các vật phẩm dành cho nhân viên chức lãnh sự và thành viên gia đình của người đó, và các vật phẩm đó không được vượt quá số lượng cần thiết cho việc tiêu
dùng trực tiếp của những người liên quan
Hành lý và cá nhân đi theo viên chức lãnh sự và thành viên gia đình họ được miễn khám xét thuế quan Chỉ có thể khám xét khi có lý do tin chắc rằng trong đó có chứa những vật phẩm dành riêng cho những người đó hoặc những vật phẩm mà luật lệ của nước tiếp nhận lãnh sự cấm nhập hoặc xuất khẩu hoặc những vật phẩm phải cách ly để phòng dịch Việc khám xét phải tiến hành trước mặt viên chức lãnh sự đó hoặc người hữu quan trong gia đình họ
4.2.3 Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho nhân viên lãnh sự
Nhân viên lãnh sự được hưởng quyền miễn trừ tài phán về các hành động của mình trong khi thừa hành nhiệm vụ lãnh sự như viên chức lãnh sự, được hưởng quyền miễn mọi thứ thuế và lệ phí đánh vào thân thể và tài sản của họ như viên chức lãnh sự, được hưởng quyền ưu đãi hải quan và miễn trừ thuế quan đối với đồ đạc nhập khẩu lúc mới đến
4.2.4 Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho nhân viên phục vụ
Nhân viên phục vụ dược miễn thuế và lệ phí đánh vào tiền công thu được từ thời gian làm việc tại lãnh sự quán
5 QUYỀN ƯU ĐÃI, MIỄN TRỪ DÀNH CHO TỔ CHỨC QUỐC TẾ VÀ PHÁI ĐOÀN ĐẠI DIỆN CỦA QUỐC GIA TẠI TỔ CHỨC QUỐC TẾ
5.1 Quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho tổ chức quốc tế liên chính phủ và thành viên của tổ chức
Quyền ưu đãi, miễn trừ của tổ chức quốc tế liên chính phủ được quy định trong điều lệ của từng tổ chức, trong các điều ước quốc tế đa phương và trong các thỏa thuận song phương với nước sở tại, nơi có trụ sở của tổ chức quốc tế Các quy phạm của luật tập quán quốc tế cũng giữ vị trí nhất định trong các quyền ưu đãi và miễn trừ này
Nguồn gốc của quyền ưu đãi, miễn trừ của tổ chức quốc tế liên chính phủ xuất phát
từ quyền ưu đãi và miễn trừ của các quốc gia thành viên cũng như xuất phát từ đặc điểm của chủ quyền quốc gia Chính các quốc gia thành viên thỏa thuận trao cho tổ chức quốc
tế liên chính phủ các quyền ưu đãi và miễn trừ này
5.2 Phái đoàn đại diện thường trực của quốc gia tại tổ chức quốc tế
5.2.1 Chức năng của phái đoàn đại diện thường trực
Là cơ quan đại diện của quốc gia tại tổ chức quốc tế, phái đoàn đại diện thường trực có các chức năng cơ bản sau:
- Đại diện cho nước mình tại tổ chức quốc tế
- Duy trì và phát triển mọi mối quan hệ giữa nhà nước mình với tổ chức quốc
tế
- Tiến hành đàm phán trong khuôn khổ của tổ chức quốc tế
- Tìm hiểu và báo cáo với chính phủ nước mình về hoạt động của tổ chức quốc tế
Trang 27- Đảm bảo sự tham gia của nhà nước mình trong các hoạt động của tổ chức quốc tế
- Bảo vệ quyền lợi của nhà nước mình trong quan hệ với tổ chức quốc tế
- Thúc đẩy sự phát triển hợp tác giữa các nước thành viên của tổ chức nhằm thực hiện mục đích và tôn chỉ của tổ chức
5.2.2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động của phái đoàn đại diện thường trực
- Các điều ước quốc tế song phương giữa tổ chức quốc tế với các quốc gia nơi có trụ sở của tổ chức được coi là nguồn chính thức của luật ngoại giao của tổ chức quốc tế
- Công ước Viên 1975 của Liên hợp quốc về quyền đại diện của quốc gia trong quan hệ với các tổ chức quốc tế phổ cập đến nay vẫn chưa có hiệu lực, nhưng nó được các quốc gia áp dụng với tư cách là nguồn của luật tập quán quốc tế
5.2.3 Quyền ưu đãi và miễn trừ
Quyền ưu đãi và miễn trừ của phái đoàn đại diện thường trực của quốc gia tại tổ chức quốc tế liên chính phủ nhìn chung giống như quyền ưu đãi và miễn trừ của cơ quan đại diện ngoại giao
Thành viên của phái đoàn đại diện thường trực của quốc gia cũng được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ tương tự như các thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao
Tuy vậy, quyền ưu đãi và miễn trừ này được ghi nhận trong điều lệ của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, trong các điều ước quốc tế đa phương và song phương giữa tổ chức quốc tế và nước chủ nhà Các quyền ưu đãi và miễn trừ này do tổ chức quốc tế dành cho phái đoàn đại diện của quốc gia và thành viên của nó, thông qua thỏa thuận với nước chủ nhà, không phụ thuộc vào quan hệ giữa nước chủ nhà với các nước thành viên của tổ chức quốc tế
- Việc bổ nhiệm trưởng phái đoàn đại diện của quốc gia thành viên không đòi hỏi phải có sự chấp thuận của tổ chức quốc tế và nước chủ nhà, nơi có trụ sở của phái đoàn Nước chủ nhà cũng không có quyền đơn phương tuyên bố persona non grata đối với thành viên của phái đoàn đại diện
- Không áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong quan hệ giữa nước có phái đoàn đại diện thường trực và nước chủ nhà
5.3 Quy chế pháp lý của phái đoàn quốc gia tại các cơ quan hoặc hội nghị của tổ chức quốc tế
Trên cơ sở quy định của từng tổ chức quốc tế, các quốc gia thành viên có thể cử các đoàn đại biểu của mình vào các cơ quan hoặc tham dự vào hội nghị của tổ chức
Nước chủ nhà phải đảm bảo cho các thành viên của đoàn quyền tự do đi lại ở mức
độ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ
Phái đoàn có thể sử dụng mọi phương tiện hợp pháp, bao gồm cả giao thông viên ngoại giao và các điện tín bằng mật mã hoặc số lieeuj
Quyền và nghĩa vụ của quốc gia cử phái đoàn của mình tham gia vào hội nghị của
tổ chức quốc tế không phụ thuộc vào quan hệ giữa nước mình với nước chủ nhà
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
1 Phân tích các nguyên tắc của luật ngoại giao và lãnh sự?
2 Nêu các cơ quan đối ngoại của nhà nước?
3 Khái niệm, chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao?
Trang 284 Cấp, hàm, chức vụ ngoại giao? Khởi đầu và chấm dứt chức năng đại diện ngoại giao?
5 Cơ cấu tổ chức và thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao?
6 Việc thiết lập cơ quan lãnh sự? Cơ cấu tổ chức của cơ quan lãnh sự?
7 Chức năng của cơ quan lãnh sự? Vấn đề lãnh sự danh dự?
8 Phân biệt quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao với quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự?
9 Vấn đề quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho tổ chức quốc tế và phái đoàn đại diện của
quốc gia tại tổ chức quốc tế?
Trang 29CHƯƠNG 9 GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP QUỐC TẾ
1 KHÁI NIỆM TRANH CHẤP QUỐC TẾ
1.1 Định nghĩa
Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy, trong quá trình các chủ thể luật quốc tế thiết lập các mối quan hệ này, nguy cơ nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng là có thật, xuất phát từ sự đan xen, thậm chí là đối lập về quyền và lợi ích của các chủ thể đó Thậm chí, số lượng tranh chấp thường tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của quan hệ quốc tế Do đó, vấn đề đặt
ra là phải giải quyết các tranh chấp phát sinh như thế nào để đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên liên quan và không làm phương hại đến hòa bình, an ninh quốc tế
Cho đến hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp
lý quốc tế về tranh chấp quốc tế Tuy vậy, căn cứ vào thực tiễn quốc tế, có thể hiểu tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong đó các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược nhau hoặc mâu thuẫn nhau và có những yêu cầu hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau Đó là sự không thỏa thuận được với nhau về quyền hoặc sự kiện, đưa đến sự mẫu thuấn, đối lập nhau về quan điểm pháp lý hay quyền giữa các bên chủ thể luật quốc tế với nhau
Các điều kiện của một tranh chấp quốc tế bao gồm:
Về chủ thể: chủ thể tham gia tranh chấp phải là chủ thể của luật quốc tế mà trước
tiên và chủ yếu là các quốc gia
Về đối tượng tranh chấp: phải là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật quốc
tế Vì thế mà chúng rất đa dạng, có thể là lãnh thổ, biên giới quốc gia, các vùng lãnh thổ quốc gia có quyền chủ quyền và quyền tài phán, là các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế, là các sự kiện pháp lý quốc tế, là tư cách thành viên của tổ chức quốc tế liên chính phủ,…
Về luật áp dụng giải quyết tranh chấp: phải là luật quốc tế
- Tranh chấp hai bên (hay còn gọi là tranh chấp song phương)
- Tranh chấp nhiều bên (hay còn gọi là tranh chấp đa phương) Loại tranh chấp này lại được phân thành tranh chấp có tính chất khu vực và tranh chấp có tính chất toàn cầu
Căn cứ vào tính chất của vụ tranh chấp có thể chia tranh chấp quốc tế thành:
- Tranh chấp có tính chất chính trị: có nhiều dạng và thường là những tranh chấp về chủ quyền quốc gia đối với dân cư, lãnh thổ, về lợi ích giữa các bên,…liên quan đến đòi hỏi phải thay đổi các quy định hiện hành, gắn liền với quyền và nghĩa vụ của các bên Đây là loại tranh chấp nguy hiểm bởi tính chất phức tạp của nó và dễ làm bùng phát các cuộc xung đột, đe dọa hòa bình, ổn định của khu vực cũng như của thế giới
- Tranh chấp có tính chất pháp lý: là những tranh chấp giữa các bên liên quan đến sự bất đồng trong việc giải thích hay áp dụng các quy định hiện hành, như những
Trang 30Căn cứ vào đối tượng tranh chấp thì tranh chấp quốc tế được chia thành: tranh
chấp về lãnh thổ, biên giới quốc gia, về các vùng lãnh thổ quốc gia có quyền chủ quyền
và quyền tài phán, về tư cách thành viên của tổ chức quốc tế, về thực hiện nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế hoặc tổ chức quốc tế,…
Căn cứ vào mức độ nguy hiểm, tranh chấp quốc tế bao gồm:
- Tranh chấp nghiêm trọng: là những tranh chấp có khả năng đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế
- Tranh chấp thông thường: là những tranh chấp không có nguy cơ phá hoại hòa bình và an ninh quốc tế
1.3 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế
Việc sử dụng các biện pháp hòa bình như đàm phán, trung gian, hòa giải,… để giải quyết các tranh chấp nói chung và tranh chấp quốc tế nói riêng đã được biết đến từ rất lâu trong lịch sử loài người cũng như trong quan hệ quốc tế
Giải quyết tranh chấp quốc tế bản thân nó cũng là một quan hệ pháp lý quốc tế Vì vậy luật quốc tế hiện đại đã xác định nghĩa vụ chung của mọi chủ thể liên quan đến tranh chấp quốc tế phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế khi giải quyết tranh chấp, đặc biệt là nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế Với sự tôn trọng các nguyên tắc cơ bản sẽ làm hạn chế đáng kể sự xuất hiện của các tranh chấp quốc tế và cũng bảo đảm việc giải quyết chúng được nhanh chóng, hiệu quả
Đặc trưng của việc giải quyết các tranh chấp quốc tế hiện đại chính là việc áp dụng nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế đã xác lập nghĩa vụ của các bên trong vụ tranh chấp là phải giải quyết tranh chấp bằng bất cứ phương pháp hòa bình nào Bên cạnh đó, nó cũng thừa nhận quyền của các bên trong tranh chấp được lựa chọn những biện pháp hòa bình thích hợp
Để thực hiện nguyên tắc này, các bên tranh chấp phải tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận Pháp luật quốc tế không thể quy định hay tạo ra một công thức giải quyết bắt buộc, khuôn mẫu cứng nhắc cho các tranh chấp quốc tế phức tạp cả về chủ thể, đối tượng và tính chất tranh chấp được Việc sử dụng một biện pháp nào đó hoàn toàn là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên liên quan, chỉ với một yêu cầu duy nhất đó phải là biện pháp hòa bình
1.4 Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp
Thông qua giải quyết tranh chấp, quyền lợi hợp pháp của các bên là đối tượng của
vụ tranh chấp sẽ được khẳng định và đảm bảo, nhất là những tranh chấp mà một bên ở vị thế yếu hơn
Giải quyết tranh chấp quốc tế góp phần thúc đẩy việc thực thi, tuân thủ luật quốc
tế Bởi vì nguyên nhân cơ bản làm nảy sinh các tranh chấp quốc tế là do việc vi phạm pháp luật quốc tế Tranh chấp được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả sẽ chấm dứt hành vi
vi phạm và trật tự quan hệ quốc tế được khôi phục
Giải quyết tranh chấp quốc tế còn góp phần duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế Bởi vì giải quyết tranh chấp quốc tế hiệu quả sẽ chấm dứt các tranh chấp, xung đột, bất đồng, căng thẳng giữa các bên Qua đó nó còn tạo điều kiện cho việc duy trì, triển khai các hoạt động hợp tác không những giữa các bên tranh chấp mà còn với các quốc gia khác