Nghiên cứu vấn đề: Các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng tài phán theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển quốc tế 1982 để tìm hiểu sâu vào các cơ quan tài phán với những phán quyết mang tính bắt buộc trong giải quyết tranh chấp, đồng thời mở rộng liên hệ giải quyết tranh chấp trên biển Đông hiện nay ở nước ta
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
B PHẦN NỘI DUNG 1
I Các vấn đề chung về tranh chấp quốc tế 1
1 Khái niệm tranh chấp quốc tế 1
2 Đặc điểm của tranh chấp quốc tế 2
3 Hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 2
4 Các biện pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế 3
II Giải quyết tranh chấp bằng tài phán theo Công ước luật biển 1982 3
III Các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp theo Công Ước 1982 7
1 Tòa án công lý quốc tế ICJ 7
2 Tòa án quốc tế về luật biển 10
3 Toà Trọng tài (An Arbitral Tribunal) được thành lập theo phụ lục VII của Công Ước 13
4 Toà Trọng tài đặc biệt (A Special Arbitral Tribunal) được thành lập theo phụ lục VIII của UNCLOS 15
IV Vấn đề áp dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp theo Công ước trong tranh chấp ở Biển Đông 16
C PHẦN KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU.
Cùng với việc mở rộng, tăng cường hợp tác khu vực, hợp tác quốc tế, các vấn đề về tranh chấp giữa các quốc gia, các tranh chấp quốc tế cũng dần nảy sinh và trở nên phức tạp Trong đó, không thể không kể đến các tranh chấp quốc
tế trên biển, liên quan đến rất nhiều lĩnh vực, từ việc đánh bắt hải sản cho đến các vấn đề về chủ quyền lãnh thổ Sự tồn tại của các tranh chấp này tất yếu đặt
ra việc phải có một hệ thống giải quyết tranh chấp – Công Ước Liên Hợp Quốc
về Luật Biển quốc tế 1982 Bởi lẽ đó, nội dung bài tiểu luận này nghiên cứu vấn
đề: Các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng tài phán theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển quốc tế 1982 để tìm hiểu sâu vào các cơ quan tài phán với
những phán quyết mang tính bắt buộc trong giải quyết tranh chấp, đồng thời mở rộng liên hệ giải quyết tranh chấp trên biển Đông hiện nay ở nước ta
B PHẦN NỘI DUNG
I Các vấn đề chung về tranh chấp quốc tế
1 Khái niệm tranh chấp quốc tế
Đi kèm với xu hướng hợp tác hóa, toàn cầu hòa quốc tế là sự gia tăng những mâu thuẫn, bất đồng giữa các quốc gia hay các chủ thế khác của luật quốc tế Những tiêu cực từ các tranh chấp này đã xuất hiện và tồn tại rất nhiều, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào đưa ra định nghĩa về tranh chấp quốc tế
Hiểu một cách chung nhất, tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong
đó các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn nhau, đồng thời có những yêu cầu, đòi hỏi về mặt lợi ích đối ngược nhau, cần phải được giải quyết hòa bình trên cơ sở Luật Quốc tế
Các tranh chấp quốc tế phát sinh thường bắt nguồn từ việc các quốc gia hay chủ thế khác của luật quốc tế không thỏa hiệp được với nhau về những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích các bên (kinh tế, chính trị, …)
Trang 32 Đặc điểm của tranh chấp quốc tế.
Về chủ thể, các chù thế của tranh chấp quốc tế là chủ thể của luật quốc tế
bao gồm: các quốc gia; các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập; các tổ chức quốc tế liên chính phủ (EU, ASEAN, …) và các chủ thể đặc biệt khác (Vatican, Taiwan,…) Trong đó, các quốc gia là chủ thể cơ bản của tranh chấp quốc tế
Về đối tượng, bao gồm tất cả những vấn đề phát sinh trong đời sống quốc tế
như lãnh thổ, biên giới quốc gia, về nội dung của Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, tư cách thành viên của tổ chức quốc tế, sự kiện pháp lý quốc tế
Về nội dung, là quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế.
Về giải quyết tranh chấp, các tranh chấp quốc tế được giải quyết thông qua
con đường quốc tế
3 Hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
Hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế là nguyên tắc để giải quyết tranh chấp quốc tế Nguyên tắc này được thể hiện qua Chương VI - Giải quyết hoà
bình các vụ tranh chấp, Điều 33 Hiến chương Liên Hợp Quốc: “1 Các bên
đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hoà bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hoà giải, trọng tài, toà án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hoà bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình;
2 Hội đồng bảo an, nếu thấy cần thiết, sẽ yêu cầu các đương sự giải quyết tranh chấp của họ bằng các biện pháp nói trên.”
Ý nghĩa của việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế: Thứ nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp các bên tranh chấp, đặc biệt là bên có vị thể yếu hơn; Thứ hai, góp phần thúc đẩy việc thực thi và tuân thủ pháp luật quốc tế; Thứ
ba, góp phần duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc
Trang 44 Các biện pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế
Trên cơ sở nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, pháp luật quốc tế đã xây dựng hai phương pháp để giải quyết các tranh chấp: Thứ nhất là bằng con đường ngoại giao, gồm có đàm phán, trung gian, hòa giải và thông qua
ủy ban điều tra; Thứ hai, thông qua thủ tục tư pháp hay cơ quan tài phán Trong bài tiểu luận này, nội dung tập trung đi vào khai thác biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán
Cơ quan tài phán được định nghĩa là “những cơ quan hình thành trên cơ sở
sự thỏa thuận hoặc thừa nhận của các chủ thệ luật quốc tế nhằm thực hiện chức năng giải quyết bằng trình tự thủ tục tư pháp các tranh chấp nảy sinh trong quá trình các chủ thể thực thi, tuân thủ luật quốc tế”1
Trong Hiến chương liên hợp quốc 1945, quy chế Tòa án công lý quốc tế được thông qua năm 1946 và nội quy của Tòa được thông qua vào ngày 6/5/1946 có chỉ rõ tòa án là một cơ quan tài phán quốc tế Công ước Lahaye năm
1907 đã định nghĩa trọng tài quốc tế là: “một phương thức giải quyết các tranh
chấp giữa các quốc gia qua các thẩm phán do các quốc gia tự lựa chọn”, là cơ
quan tài phán không thường trực, không có quy chế riêng Như vậy, có thể hiểu
cơ quan tài phán gồm có trọng tài quốc tế và tòa án quốc tế
II Giải quyết tranh chấp bằng tài phán theo Công ước luật biển 1982.
Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982 hay Công Ước), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia
ký là 157).2 Sau Hiến chương Liên Hợp Quốc, Công ước Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia Công ước Luật biển 1982
có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 (12 tháng kể từ ngày Guyana, nước thứ 60 phê chuẩn Công ước ngày 16/11/1993) Là một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ,
bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật, Công
1 Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, Hà Nội – 2015, tr.524.
2 http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/2679-cong-uoc-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-1982-viet-nam-tren-bien-dong
Trang 5ước Luật biển 1982 đã xác lập một trật tự quốc tế đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển
Công Ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc là một văn kiện pháp lý toàn diện
có khả năng áp dụng cho tất cả các vùng biển, với một hệ thống giải quyết tranh chấp vô cùng tiến bộ Hệ thống này toàn diện theo khía cạnh nó có thể giải quyết tất cả các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước Đặc biệt, nó có thể giải quyết các tranh chấp phân giới biển, bao gồm cả những tranh chấp liên quan cùng một lúc đến cả phân giới biển lẫn tranh chấp chủ quyền lãnh thổ hoặc đảo Hệ thống giải quyết tranh chấp vừa toàn diện vừa linh hoạt này có thể giúp đỡ các quốc gia một cách hiệu quả, cùng hợp tác tìm ra giải pháp hòa bình cho các tranh chấp biển của họ.1
Một số nội dung về tranh chấp và giải quyết tranh chấp theo Công Ước:
Thứ nhất, chủ thể của các tranh chấp
Theo Công ước, chỉ riêng việc tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thì chưa đủ để được giải quyết theo những qui định về giải quyết tranh chấp Điều quan trọng là các tranh chấp đó phải phát sinh giữa các quốc gia thành viên của Công ước Hai điều kiện cần thiết được nêu ra khi áp dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp thích hợp của Công ước:
- Quốc gia là một bên của tranh chấp phải ký và phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước
- Bản thân Công ước phải đã có hiệu lực (một năm sau khi nước thứ 60 phê chuẩn) và cũng đã có hiệu lực đối với quốc gia là một bên tranh chấp (30 ngày sau khi các văn kiện phê chuẩn của quốc gia đó được gửi tới ông Tổng Thư ký Liên hợp quốc để lưu chiểu) Công ước Luật Biển năm 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994
Thứ hai, đối tượng của các tranh chấp Mọi tranh chấp phát sinh giữa các
quốc gia thành viên về việc giải thích hay áp dụng Công ước Luật Biển năm
1982 đều là đối tượng để xem xét giải quyết theo các qui định của Phần XV
1 Theo Matthias Fueracker, Chuyên viên Pháp luật, Tòa án Quốc tề về Luật Biển.
Trang 6Về sự tồn tại tranh chấp: Công ước không nêu rõ các điều kiện để làm phát sinh một tranh chấp giữa các quốc gia thành viên Trên thực tiễn quốc tế, các quốc gia hầu như đã chấp nhận cách giải thích của Toà án quốc tế, coi “tranh chấp” là “một sự bất đồng về quan điểm”
Thực tiễn của Toà án quốc tế cho thấy Toà thường lấy thời điểm ghi trong đơn khởi kiện để xác định sự tồn tại của tranh chấp giữa các bên Để làm rõ được điều này, Toà còn kiểm tra xem xét bên bị đơn có phản bác lại yêu cầu của bên khởi kiện không Mặc dù hình thức của tranh chấp ít được coi trọng, song các cơ quan xét xử quốc tế luôn đòi hỏi cần phải trình bày cụ thể về đối tượng tranh chấp để dễ dạng nhận thấy rằng đó là “một sự bất đồng về quan điểm không thể giải quyết bằng cách nào khác”
Tranh chấp về giải thích hay áp dụng Công ước: Chỉ những tranh chấp có đối tượng liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước mới thuộc phạm
vi điều chỉnh của hệ thống giải quyết tranh chấp nêu trong Công ước Quy định này khi dẫn trên thực tế cho thấy, bất kỳ một tranh chấp nào mà việc đạt được một giải pháp phải viện dẫn đến Công ước đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Phần XV
Cần lưu ý, việc giải quyết tranh chấp theo Công Ước không áp dụng cho những cuộc tranh chấp nảy sinh từ những tình huống rộng hơn nhưng có ảnh hưởng đến những vấn đề về biển Ví dụ như vấn đề tranh chấp giữa Bồ Đào Nha
và Austraulia liên quan đến Đông Timo Vấn đề tranh chấp được trình bày trước Toà án Quốc tế là Hiệp ước Biển Timo, đã phân chia các nguồn tài nguyên biển giữa Indonexia và Austraulia Nhưng cuộc tranh chấp thực sự là tranh chấp về việc chuyển giao quyền lực sau khi kết thúc chính quyền thực dân và về việc dùng vũ lực để phủ nhận quyền tự quyết của nhân dân Đông Timor
Thứ ba, các nguyên tắc chủ đạo của hệ thống giải quyết tranh chấp Gồm
bốn nguyên tắc:
Một là, các quốc gia có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình Đây là nguyên tắc nền tảng, được dùng làm cơ sở cho việc giải quyết
Trang 7tranh chấp theo Công ước, được quy định tại Điều 279 Công Ước và viện dẫn theo Điều 2, khoản 3 và Khoản 1 Điều 33 Hiến chương Liên Hợp Quốc
Hai là, các quốc gia trước hết tiến hành thương lượng ngoại giao để giải quyết tranh chấp Điều 283 Công ước Luật Biển năm 1982 ghi nhận vai trò của thương lượng ngoại giao như sau: “Khi có một tranh chấp xảy ra giữa các quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước, các bên tranh chấp tiến hành ngay một cuộc trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay bằng biện pháp hoà bình khác”
Ba là, các quốc gia có quyền tự do lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp Điều 280 (Phần XV) của Công ước quy định rõ: “Không một quy định nào của Phần này ảnh hưởng đến quyền của các quốc gia thành viên đi đến thoả thuận giải quyết vào bất kỳ lúc nào, bằng bất kỳ biện pháp hoà bình nào theo sự lựa chọn của mình một vụ tranh chấp xảy ra giữa họ về vấn đề giải thích hay áp dụng Công ước
Bốn là, các quốc gia có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp giữa họ với nhau
Thứ tư, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng cơ quan tài phán.
Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 đã xây dựng một hệ thống giải quyết tranh chấp bằng tài phán thông qua: Phần XV “Giải quyết tranh chấp” gồm 3 Mục và 21 điều khoản (từ điều 279 đến điều 299); Phụ lục VI
“Quy chế của Toà án quốc tế về luật biển” gồm 41 điều khoản; Phụ lục VII
“Trọng tài” gồm 13 điều khoản; Phụ lục VIII “Trọng tài đặc biệt” gồm 5 điều khoản
Cụ thể tại khoản 1 Điều 287: Việc lựa chọn thủ tục
“1 Khi ký hay phê chuẩn Công ước hoặc tham gia Công ước, hay ở bất kỳ thời điểm nào sau đó, một quốc gia được quyền tự do lựa chọn, hình thức tuyên
bố bằng văn bản, một hay nhiều biện pháp sau đây để giải quyết các tranh chấp
có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước:
Tòa án quốc tế về Luật biển được thành lập theo đúng Phụ lục VII; Toà án quốc tế;
Trang 8Một tòa trọng tài được thành lập theo đúng Phụ lục VII;
Một tòa trọng tài đặc biệt được thành lập theo đúng Phụ lục VIII để giải quyết một hay nhiều loại tranh chấp đã được qui định rõ trong đó.”
Như vậy, hiện có 4 cơ chế và cơ quan tài phán quốc tế giải quyết những vấn
đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh hải, đó là:
-Toà án Công Lý quốc tế (được thành lập theo Hiến chương Liên Hợp quốc);
-Toà án quốc tế về Luật Biển được thành lập theo Phụ lục VI của UNCLOS; -Toà Trọng tài (An Arbitral Tribunal) được thành lập theo phụ lục VII của UNCLOS;
-Toà Trọng tài đặc biệt (A Special Arbitral Tribunal) được thành lập theo phụ lục VIII của UNCLOS
III Các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp theo Công Ước 1982.
1 Tòa án công lý quốc tế ICJ
Toà án Công lý quốc tế (ICJ) là cơ quan tư pháp chính của Liên hợp quốc ICJ được thành lập vào tháng 6 năm 1945 theo Hiến chương Liên hợp quốc và bắt đầu hoạt động vào tháng 4 năm 1946
Trụ sở Tòa án nằm ở Cung điện Hòa bình ở Hague (Hà Lan) Trong số sáu
cơ quan chính của Liên hợp quốc, ICJ là cơ quan duy nhất không nằm ở New York (Hoa Kỳ)
Vai trò của Toà án công lý quốc tế là giải quyết theo pháp luật quốc tế các tranh chấp pháp lý do các quốc gia đệ trình và đưa ra các ý kiến tư vấn về các vấn đề pháp lý mà các cơ quan hữu quan của Liên hiệp quốc và các cơ quan chuyên môn liên quan đề cập đến
Toà án gồm có 15 thẩm phán, do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và Hội đồng Bảo an bầu theo nhiệm kỳ 9 năm Ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh và tiếng Pháp.1
1 https://www.un.org/development/desa/jpo/international-court-of-justice-icj/
Trang 9Thẩm quyền của Toà án quốc tế
Toà án có thẩm quyền xét xử các tranh chấp giữa các quốc gia (là thành viên của quy chế) và thẩm quyền cho ý kiến tư vấn Theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc, mọi thành viên của Liên hợp quốc đương nhiên là thành viên của Quy chế Toà án Công lý quốc tế Ngoài ra, các quốc gia không phải là thành viên của Liên hợp quốc vẫn có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết trước Tòa án nhưng phải tuân theo các điều kiện do Hội đồng bảo an quy định theo các điều khoản cụ thể từ các điều ước quốc tế hiện hành Trong mọi trường hợp, các điều kiện này phải đảm bảo được vị trí bình đẳng giữa các quốc gia trong tranh chấp (Điều 35 Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế)
Chỉ có các quốc gia mới có thể đưa tranh chấp của mình ra giải quyết trước Toà án quốc tế (Điều 34 Quy chế Toà án Công lý Quốc tế) Tuy nhiên, Toà án quốc tế yêu cầu các tổ chức quốc tế cung cấp thông tin liên quan đến một vụ kiện hay có ý nghĩa vụ tiếp nhận thông tin mà các tổ chức quốc tế tự nguyện cung cấp Khi toà xem xét một vụ kiện liên quan tới điều lệ của một tổ chức quốc tế, tổ chức đó phải được thông báo và có quyền nhận bản sao của mọi văn bản liên quan tới vụ kiện
Điều 36 Quy chế Toà án quốc tế quy định Toà án quốc tế có quyền tài phán
trong mọi trường hợp được các bên đưa ra Toà và liên quan đến tất cả các vấn
đề được đặc biệt quy định trong Hiến chương của Liên hợp quốc hoặc các điều ước hiện hành Như vậy, thoả thuận của các bên tranh chấp phải đưa ra giải quyết trước Toà án quốc tế Thoả thuận như vậy không nhất thiết phải theo một thể thức nào và trong một số hoàn cảnh, Toà án sẽ căn cứ vào hành vi của các bên mà quyết định rằng họ có thoả thuận hay không
Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa
ICJ tiến hành giải quyết tranh chấp quốc tế theo trình tự đầy đủ hoặc rút gọn Thành phần của một phiên tòa là tối thiểu 9 thẩm phán Trình tự đầy đủ gồm 2 giai đoạn: giai đoạn tiến hành các thủ tục bổ trợ và giai đoạn xét xử nội dung vụ việc Trong phạm vi chức năng của mình, tòa có thể lập ra ba loại tòa
Trang 10đặc thù: tòa rút gọn trình tự tố tụng, tòa đặc biệt, tòa ad hoc Được quy định rất
rõ trong chương III Quy chế Tòa án Công lý quốc tế
Cụ thể, quá trình thụ lý gồm hai giai đoạn:
- Thủ tục viết, trong đó các quốc gia hoàn thành và trao đổi bị vong lục về lập luận của từng bên và các lý lẽ luận tội hay bào chữa
- Thủ tục nói (tranh tụng trước Toà), Toà sẽ nghe ý kiến của các bên, các luật sư và cố vấn trong phiên Toà xét xử công khai
Ngoài thủ tục chung gòm hai giai đoạn này cho bất kỳ một vụ tranh chấp nào đưa ra trước tòa, thủ tục xét xử của tòa theo từng trường hợp sẽ được tiến hành theo những bước sau:
- Các bên nộp đơn kiện lên Tòa và cử đại diện liên lạc của mình
- Tòa tiến hành các thủ tục bổ trợ cho thủ tục chính về xét xử nội dung: Tòa
sẽ xem xét xác định thẩm quyền của mình trong từng vụ việc cụ thể được nêu Trong từng trường hợp cần thiết, tòa có thể ra những biện pháp bảo đảm tạm thời cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho mỗi bên Hợp các các vụ án có mục tiêu tranh chấp chung Khả năng xử án vắng mặt Tòa xem xét khả năng can dự vào
vụ việc từ bên thứ ba
- Tòa xét xử về mặt nội dung của vụ việc
- Ra quyết định cuối cùng phân giải tranh chấp
Về giá trị phán quyết
Theo Điều 59, 60 Quy chế Toà án quốc tế, phán quyết đã được Toà án quốc
tế đưa ra mang tính chất tối hậu, không thể kháng cáo và có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp Phán quyết phải trình bày các luận cứ và tên các thẩm phán tham gia phán quyết; các thẩm phán có ý kiến phản đối có quyền có ý kiến viết riêng kèm theo phán quyết Các phán quyết của Toà án quốc tế có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình phát triển các quy phạm của luật pháp quốc tế (là phương tiện bổ trợ nguồn của Luật Quốc tế)